Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của Hội LHPN vẫn còn bộc lộ những vấn đề nhất định cần được giải quyết như: phương thức quản lý, tổ chức thực hiện theo kinh nghiệm và cách thức từ năm 1997
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN TH Ị XINH HƯỞNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG NHỎ DO HỘI LHPN TỈNH SÓC TRĂNG CUNG CẤP TRONG
HỖ TRỢ HỘI VIÊN KHMER GIẢM NGHÈO
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3L ời cam đoan
Tôi xin cam đoan lận văn “Nghiên cứu tác động của tín dụng nhỏ do Hội Liên
Hiệp Phụ nữ tỉnh Sóc Trăng cung cấp trong hỗ trợ hội viên Khmer giảm nghèo” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào
và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
trước đây
TP.HCM, ngày 19 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Thị Xinh Hưởng
Trang 4L ời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Kinh tế TP HCM đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Lê Ngọc Uyển đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người giúp tôi trả
lời bảng câu hỏi khảo sát làm nguồn dữ liệu cho việc phân tích và cho ra kết quả
nghiên cứu của luận văn thạc sĩ này
Trang 5M ỤC LỤC
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH M ỤC CÁC BẢNG 8
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 K ết cấu 3
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý thuyết 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Các lý thuyết về tác động của tín dụng đối với việc giảm nghèo (hay tăng thu nhập) 22
1.2 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến đề tài 27
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VI MÔ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SÓC TRĂNG GIAI ĐOẠN 2012 – 2014 30
2.1 Mô tả địa điểm nghiên cứu 30
2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN t ỉnh Sóc Trăng cung cấp 34
2.2.1 Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm của những người trong tổ chức 34
2.2.2 Kết quả hoạt động nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnh cung cấp đến giảm nghèo của hội viên Khmer 36
2.2.3 Góp phần xây dựng tổ chức Hội 37
2.2.4 Điểm mạnh và hạn chế trong hoạt động nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN cung cấp 39
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
Trang 63.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 41
3.2 Phương pháp chọn mẫu 41
3.3 Phương pháp thu thập số liệu 42
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 43
3.5 Mô tả các biến số 44
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 CH ẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SÓC TRĂNG 46
4.1.1 Ch ất lượng hoạt động của Hội theo đánh giá của các thành viên 46
4.1.2 M ột số khó khăn/hạn chế khi hội viên tham gia chương trình 47
4.2 Những lợi ích của phụ nữ nghèo người Khmer khi tham gia vào các nhóm hỗ trợ phụ nữ 50
4.2.1 Lợi ích từ việc tiếp cận tín dụng 50
4.2.2 Lợi ích từ việc có thêm việc làm 53
4.2.3 L ợi ích từ việc tham gia các lớp tập huấn 55
4.2.4 L ợi ích khác 56
4.3 K ẾT QUẢ PHÂN TÍCH 58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 K ết luận 62
5.2 Ki ến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PH Ụ LỤC 3
Trang 7UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dân số trung bình tỉnh Sóc Trăng năm –2012-2014 31
Bảng 2.2: Dân tộc Khmer phân theo huyện và thành phố 32
Bảng 2.3 Kế quả hoạt động tín dụng từ năm 2012-2014 37
Bảng 3.1: Ký hiệu và đơn vị các biến đưa vào mô hình 45
Bảng 4.1: Khó khăn, hạn chế khi tham gia chương trình 48
Bảng 4.2: Những đề xuất khắc phục khó khăn, hạn chế 49
Bảng 4.3: Mục đích sử dụng vốn vay 52
Bảng 4.4: Thu nhập tăng thêm khi được hỗ trợ việc làm 54
Bảng 4.5: Đánh giá mức độ áp dụng các khóa tập huấn của thành viên 55
Bảng 4.6: Mức độ tham gia vào các quyết định sau khi tham gia chương trình 57
Bảng 4.7: Kết quả xử lý các biến trong mô hình OLS 58
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 4.1: Chất lượng hoạt động của chương trình 46
Hình 4.2: Số đáp viên gặp khó khăn và không gặp khó khăn 47
Hình 4.3: Đồ thị đánh giá lãi suất cho vay của chương trình 51
Hình 4.4: Đồ thị những việc làm thành viên được hỗ trợ 54
Trang 11Song song với thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng còn thực hiện các dự án nâng cao năng lực, tín dụng tiết kiệm, bình đẳng giới,
phòng, chống bạo lực gia đình do các tổ chức phi Chính phủ tài trợ
Nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ then chốt, tạo điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác Trước yêu cầu công tác Hội và nguyện vọng của đa số hội viên, công tác hỗ trợ phụ nữ nghèo được các cấp Hội đẩy mạnh, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả, coi trọng phát huy nội lực
của phụ nữ để giảm nghèo bền vững Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển
kinh tế”,“Giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ”, v.v được duy trì trong suốt những năm
qua, cùng các cuộc vận động lớn như “Mái ấm tình thương”,“Thực hành tiết kiệm
theo gương Bác” với nhiều hình thức sáng tạo “Hũ gạo tiết kiệm”, “Nuôi heo đất”,
v.v được triển khai sâu rộng khắp cả tỉnh với tinh thần tương thân, tương ái, đã tạo nên nguồn nội lực to lớn trị giá gần 50 tỷ đồng (2014), hỗ trợ hàng chục nghìn lượt phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo; việc khai thác, quản lý các nguồn vốn tín dụng được đẩy mạnh, v.v Trong đó, có nguồn vốn tín dụng nhỏ do tổ chức OXFAM, CIDSE tài trợ từ năm 1997 để hỗ trợ cho hội viên nghèo, phụ nữ Khmer trong tỉnh Gần 20 năm thực hiện dự án, Hội LHPN đã cung cấp tín dụng cho
Trang 122
38.299 lượt hội viên với số tiền hơn 57 tỷ đồng để chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán
nhỏ, góp phần tăng thu nhập cho gia đình, giúp hội viên có thói quen tiết kiệm, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh Qua đó, góp phần nâng cao vai trò phụ nữ trong gia đình, thu hút phụ
nữ vào tổ chức Hội, nâng cao năng lực cho hội viên và cán bộ Hội xây dựng nguồn vốn tiết kiệm tạo sự chủ động về vốn hỗ trợ sản xuất, xây dựng các mô hình phát triển kinh tế phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của Hội LHPN vẫn còn bộc lộ những vấn đề nhất định cần được giải quyết như: phương thức quản lý, tổ chức thực hiện theo kinh nghiệm và cách thức từ năm 1997 đến nay ít được đổi mới trong khi bối cảnh
đã có nhiều thay đổi; nợ xấu phát sinh, tan rã nhóm ngay cả ở những địa bàn mới;
có nhiều ý kiến trái chiều về định mức cho vay/hội viên, phương thức thanh toán
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của tín dụng nhỏ
do Hội Liên Hiệp Phụ nữ tỉnh Sóc Trăng cung cấp trong hỗ trợ hội viên Khmer giảm nghèo” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, bởi đây là vấn đề cần được nghiên cứu
nhằm đề ra những giải pháp vừa giúp cho Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng quản lý tốt nguồn vốn tín dụng, vừa hỗ trợ hội viên nói chung, hội viên Khmer nói riêng giảm nghèo có hiệu quả
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng đang quản lý, tổ chức thực hiện nguồn vốn tín
dụng nhỏ như thế nào?
- Ảnh hưởng tích cực, tiêu cực từ nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng cung cấp đến việc tăng thu nhậpcủa hội viên phụ nữ dân tộc Khmer ra sao?
- Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng cần làm gì để quản lý tốt nguồn vốn tín dụng và giúp hội viên Khmer tăng thu nhập khi tiếp cận nguồn vốn này?
Trang 133
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá cách thức quản lý, tổ chức thực hiện nguồn vốn tín dụng
nhỏ của Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng
- Đánh giá tác động của nguồn vốn tín dụng nhỏ trong việc hỗ trợ cho hội viên
phụ nữ dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng giảm nghèo
- Đề xuất giải pháp để Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng quản lý tốt nguồn vốn tín
dụng và giúp hội viên phụ nữ dân tộc Khmer tăng thu nhập khi tiếp cận nguồn vốn này
4 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi địa bàn đã và đang hưởng lợi nguồn vốn tín dụng nhỏ do Hội LHPN tỉnh Sóc Trăng cung cấp và có đông đồng bào Khmer
- Giới hạn thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến tháng 2014
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP) thì “Tài chính vi
mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu cảu người nghèo bao gồm: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm,…”
Từ khái niệm về TCVM ta có thể định nghĩa tín dụng vi mô như sau: Tín dụng
vi mô là một khoản vay nhỏ do ngân hàng hoặc một tổ chức nào đó cung cấp Khoản vay nhỏ này thường dành cho cá nhân, không cần tài sản thế chấp hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm
b) Đối tượng của tài chính vi mô
Những người nghèo chính là đối tượng của TCVM, tuy nhiên những người này không phải là nghèo nhất xã hội Họ là những người có thu nhập thấp nhưng có việc làm Họ chỉ có nhu cầu về quy mô vốn vay nhỏ để mở rộng thêm hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho gia đình
Bên cạnh đó, phụ nữ cũng là đối tượng chính của TCVM Có rất nhiều nguyên nhân để phụ nữ trở thành mục tiêu đầu tiên của dịch vụ TCVM Bởi vì
khoảng 70% người nghèo trên thế giới là phụ nữ Tỷ lệ thất nghiệp ở phụ nữ cũng cao hơn là nam giới Việc cấp vốn cho phụ nữ sẽ giúp nâng cao vị thế của họ trong
xã hội
Trang 155
c) Đặc điểm của tài chính vi mô
Theo quan điểm của các nhà chính sách, để thanh tra, giám sát một cách có hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính, cần hiểu đúng về tính chất và các đặc điểm hoạt động của mỗi loại hình tổ chức tài chính đó Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “Basel: Các nguyên tắc cơ bản nhằm giám sát có hiệu quả hoạt động tài chính vi mô”, Ủy ban Basel đưa ra 10 đặc điểm cơ bản của TCVM như sau:
TCVM thường xuyên cung cấp tín dụng cho những khách hàng có thu nhập thấp (như lao động bán thất nghiệp và các hộ kinh doanh không chính thức như người bán hàng rong, các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ và vừa,…) Các đối tượng khách hàng này có đặc điểm chung là sống tập trung trong một khu vực địa lý
và cùng nhóm xã hội (hội phụ nữ, nông dân, đồng hương,…) Vì đối tượng khách hàng là người có thu nhập thấp nên các khoản cho vay thường có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn và không có tài sản bảo đảm Tuy nhiên, chu kỳ trả nợ của khoản vay lại thường xuyên hơn với mức lãi suất áp dụng thường cao hơn so với các khoản vay thông thường Nhằm mục đích bù đắp chi phí hoạt động liên quan đến phương thức cho vay vi mô tập trung nhiều nhân lực, các khoản vay TCVM thường áp dụng mức lãi suất cao hơn so với cho vay thương mại
cán bộ tín dụng phải thu thập rất nhiều thông tin về khách hàng thông qua những lần thăm gia đình hoặc địa điểm kinh doanh của họ Người đi vay thường xuyên thiếu các báo cáo tài chính chính thức; do vậy cán bộ tín dụng phải giúp đỡ khách hàng chuẩn bị tài liệu để đánh giá các dòng tiền tương lai và giá trị ròng của các khoản tiền, qua đó xác định thời hạn và khối lượng của khoản vay Các đặc điểm của người đi vay và sự sẵn sàng trả nợ của họ cần được cán bộ tín dụng đánh giá trong suốt quá trình viếng thăm khách hàng và xét duyệt khoản vay Mặc dù trung tâm thông tin tín dụng thường không có sẵn các thông tin về các khách hàng có thu nhập thấp hoặc về tất cả các tổ chức TCVM hiện tại Tuy nhiên, khi có các thông tin này
Trang 166
tại trung tâm, các thông tin được xem là rất hữu ích và được sử dụng làm tài liệu phục vụ quá trình xét duyệt khoản vay Đối với cho vay vi mô, xếp hạng tín dụng, nếu được sử dụng trong quá trình xét duyệt khoản vay, được coi là yếu tố bổ sung
(điều kiện cần) hơn là yếu tố quyết định (điều kiện đủ)
sản ký quỹ - vật được các ngân hàng thương mại sử dụng làm tài sản thế chấp cho các khoản vay Cũng có trường hợp khách hàng TCVM có tài sản ký quỹ, tuy nhiên giá trị của tài sản đó rất thấp (như tivi, đồ nội thất…) Trong trường hợp này, tài sản thế chấp được sử dụng như một phương pháp ràng buộc người đi vay phải trả nợ hơn là sử dụng để bù đắp các khoản lỗ
độ phân tán cao, nên phê duyệt tín dụng phải dựa vào kỹ năng và “độ thâm nhập” của cán bộ tín dụng và các nhà quản lý để tìm ra các thông tin chính xác và kịp thời
chậm trả là cần thiết, vì các khoản cho vay TCVM có đặc điểm là không có tài sản đảm bảo, chu kỳ thanh toán nhanh (thường là hàng tuần hoặc hai tuần một lần) và
có tác động lây lan Thông thường, kiểm soát tín dụng TCVM hoàn toàn phụ thuộc cán bộ tín dụng, do họ là người nắm rõ nhất những thông tin về hoàn cảnh cá nhân của khách hàng - là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả công tác thu hồi
nợ
năng tiếp cận đối với các nguồn tài chính khác (do không có tài sản đảm bảo, quy
mô sản xuất kinh doanh quá nhỏ bé…) nên họ phải phụ thuộc rất nhiều vào các tiếp cận tín dụng vi mô hiện tại Cho vay TCVM sử dụng rất nhiều các chương trình khuyến khích nhằm động viên, khen thưởng những người đi vay tốt (như tạo điều kiện cho vay dễ dàng đối với khoản vay kế tiếp, cung cấp khoản vay có giá trị lớn hơn, mức lãi suất thấp hơn, thời hạn trả nợ kéo dài hơn) Các chương trình như vậy được gọi là cho vay lũy tiến Tuy nhiên, các chương trình này có thể làm gia tăng
Trang 17trên thị trường
vay theo nhóm, theo đó các khoản cho vay sẽ được giải ngân cho những nhóm khách hàng nhỏ - các cá nhân trong nhóm có cam kết cùng bảo đảm thanh toán cho nhau Phương thức cho vay này được xây dựng dựa trên giả thiết áp lực nhóm sẽ nâng cao mức bảo đảm trả nợ, bởi vì sự chậm trả của một cá nhân trong nhóm sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng nhận tín dụng của các thành viên khác trong nhóm
nợ chậm trả và áp lực nhóm đã đem lại tỷ lệ trả nợ cao hơn rất nhiều Tuy nhiên, chất lượng tín dụng của các khoản vay cá nhân có thể thay đổi rất nhanh bởi vì bản chất của các khoản vay vi mô là không có tài sản bảo đảm và có hiệu ứng Domino Hiệu ứng Domino xảy ra khi người đi vay có thể dừng việc trả nợ cho tổ chức TCVM vì họ cho rằng tổ chức TCVM đang rơi vào tình trạng gia tăng nợ quá hạn
và như vậy thì tổ chức đó sẽ không có khả năng cung cấp các khoản cho vay vi mô tiếp theo cho mình
tiền mà mình sẽ thu về Trong trường hợp đó, sự thay đổi tỷ giá có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của người đi vay
công cụ chính trị Các chính trị gia có thể công bố xóa nợ hoặc cấm cung cấp tín dụng vi mô cho người nghèo khi nền kinh tế rơi vào giai đoạn trì trệ
Trang 188
d) Vai trò của tài chính vi mô
Tạp chí tài chính “Vai trò của tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam” đăng ngày 17/9/2014, có viết:
nghiệp với năng suất lao động thấp và ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và kiến thức Tài chính vi mô có khả năng cung cấp các loại hình dịch vụ và sản phẩm tài chính cho cộng đồng người nghèo nhằm giúp họ cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và đóng góp cho xã hội Mặc dù vốn vay của TCVM không lớn như các ngân hàng thương mại hay ngân hàng chính sách nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những khoản vay này đến được với người nghèo và nghèo nhất vào đúng thời điểm cần thiết nhất, giúp họ khởi tạo sản xuất kinh doanh, tạo dựng tài sản, ổn định chỉ tiêu và bảo vệ họ khỏi nghèo đói mặc dù việc này cần thời gian
dịch vụ tài chính đa dạng như cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, (giáo dục tài chính cho khách hàng lập ngân sách và tiết kiệm, hỗ trợ tài chính kịp thời cho khách hàng gặp khó khăn…), giúp người nghèo tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng các khoản thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp, có các khoản thu nhập khác từ tiểu thủ công nghiệp, thương mại, kinh doanh doanh nhỏ Đồng thời, góp phần giúp người nghèo tránh, giảm rủi ro về kinh tế và cuộc sống, từ đó, tăng thu nhập hộ gia đình Trong khi thu nhập không tự động tăng lên, nguồn vốn vay đáng tin cậy không cần tài sản thế chấp ban đầu là cơ sở nền tảng cho việc lên kế hoạch khởi động sản xuất, mở rộng kinh doanh, cộng thêm tổ chức cung cấp vốn luôn tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng sử dụng đồng vốn vay hiệu quả, tiết kiệm và không phải bán hay cầm cố tài sản khi gặp rủi ro thất bại Hơn nữa, cán bộ tín dụng của tổ chức luôn gần gũi với dân, có những sự giúp đỡ kịp thời để người dân nghèo luôn phát huy được hết khả năng sản xuất kinh doanh nhằm cải thiện thu nhập và cuộc sống của chính họ
Trang 199
Nhờ tăng thu nhập, người nghèo có thể tích lũy tài sản, tiết kiệm và khả năng vay vốn, để tái đầu tư mở rộng sản xuất, nhà xưởng, thuê thêm nhân công tạo công ăn việc làm cho lao động tại địa phương; mua đất đai xây dựng hoặc cải tạo nhà ở, vật nuôi Bên cạnh đó, nhờ tiết kiệm và tài sản được tích lũy, người nghèo thay vì phải chạy ăn từng bữa, tồn tại từ ngày này sang ngày khác, sẽ có những kế hoạch dài lâu
và định hướng cho tương lai Hộ gia đình có nhiều điều kiện để quan tâm đến dinh dưỡng, cải thiện điều kiện sống, chủ động tìm kiếm và chi trả cho dịch vụ y tế thay
vì đến các cơ sở y tế khi tình trạng sức khỏe trở nên tồi tệ Tăng thu nhập đồng nghĩa với việc hộ gia đình có thể cho các con của họ tiếp cận dịch vụ giáo dục với thời gian dài hơn và đầu tư nhiều hơn vào giáo dục cho con cái
- Tăng quyền cho người phụ nữ: Trong rất nhiều chương trình TCVM,
phụ nữ nghèo là đối tượng khách hàng tuyệt vời, chủ yếu của các sản phẩm tài chính Bởi phụ nữ là những người tiết kiệm tích cực và có tỉ lệ hoàn trả các khoản vay cao hơn đàn ông Đồng thời, phần lớn trong các hộ gia đình nghèo, họ là trụ cột chính kiếm tiền nuôi cả gia đình Tuy nhiên, phụ nữ nghèo cũng chính là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi và dễ bị tổn thương ngay tại gia đình mình Tham gia chương trình của tổ chức TCVM, phụ nữ sẽ được quản lý tiền, tiếp cận với tri thức dẫn tới nhiều lựa chọn hơn đã khiến họ có quyền nhiều hơn trong các vấn đề của gia đình
và xã hội, họ và chồng đã cùng nhau ra quyết định trong những khía cạnh quan trọng của đời sống Bằng cách này hay cách khác, họ đang đóng góp đáng kể vào tài chính gia đình và thực tế này giúp họ giành thêm sự tôn trọng từ phía chồng con, có thể thương lượng với chồng giúp đỡ việc nhà, tránh các cãi vã về tiền bạc, và được
họ hàng, gia đình nhà chồng coi trọng hơn
Khách hàng của TCVM là người nghèo tại thời điểm vay vốn, không cần tài
sản thế chấp Tài chính vi mô cung cấp dịch vụ tín dụng ngay trên địa bàn mà người vay và tiết kiệm sinh sống, thường là ở khu vực nông thôn Đây là lý do thu hút
Trang 20với bảo hiểm vi mô, người nghèo có thể đương đầu với sự tăng giá đột ngột, hay tài
sản, vật nuôi bị bệnh dịch, chết, hoặc bị mất Việc được mượn vốn cũng cho phép người nghèo tận dụng được những cơ hội phát triển kinh tế Theo đó, khi vay vốn
những người nghèo này phải có kế hoạch kinh doanh cụ thể để có khả năng trả nợ trong một kỳ hạn được yêu cầu Nếu không thì các khách hàng có thể sẽ không được lợi từ số tiền mượn và có nguy cơ bị đẩy vào tình trạng nợ nần Từ đó người nghèo sẽ có nhưng thay đổi trong thói quen tiêu dùng biến đổi từ “kiếm sống hằng ngày” sang “lập kế hoạch cho tương lai”, nhờ đó mà cải thiện dần dần đời sống gia đình
1.1.1.2 Quá trình phát triển của tài chính vi mô ở Việt Nam
Trang 2111
giúp đỡ trước tiên cho các thành viên là những nông dân, những nhà sản xuất nhỏ trong khu vực nông nghiệp Qua đó, giúp cho các thành viên không phải đối diện
với các nguồn lực bên ngoài, được tính theo các điều kiện thị trường, thường với
mức lãi suất rất cao, và kèm thêm các điều kiện thế chấp về tài sản Trong những nguồn lực của nhóm, nguồn tài chính quan trọng nhất là sự tham gia đóng góp vốn
của các thành viên Những nguồn vốn đóng góp là cơ hội để cho các thành viên được vay, đầu tư vào sản xuất, cho các nhu cầu chi tiêu khác, bên cạnh đó, từ sự đóng góp vốn cũng tạo ra thu nhập cho những người góp vốn Mô hình của F.W.Raiffeisen được hình thành và phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp,
mà còn được nhân rộng trong cộng đồng của xã hội, ngay cả trong khu vực thành
thị Cách thức tổ chức thành các nhóm tiết kiệm, vay vốn giúp cho nhiều người nghèo, đối tượng kinh doanh nhỏ trong khu vực thành thị, được đáp ứng nhu cầu về
vốn và các nguồn lực thiếu hụt khác, nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu nhập ổn định
Năm 1872, Raiffeisen đã lập nên Hội Liên hiệp cấp quốc gia, kết hợp cấu trúc theo hàng ngang với cấu trúc theo chiều dọc Sau đó những nguyên tắc cơ bản của Raiffeisen tiếp tục là bài học cho việc thành lập các tổ chức hợp tác tín dụng trên toàn thế giới và được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước Những kiến thức và kinh nghiệm đó đã được lan rộng và phổ biến khắp nơi ở châu Âu, châu Á – Philippines, Trung Quốc, Bangladesh và Việt Nam, tạo ra nhiều
mô hình TCVM thích hợp với người nghèo hơn Hiện nay, có khoảng trên 100 nghìn tổ chức cung cấp TCVM dưới nhiều dạng khác nhau Đặc biệt là mô hình ngân hàng Grameen do Muhammad Yunus sáng lập ở Bangladesh, Ngân hàng Grameen cũng đi theo con đường tương tự là hoạt động TCVM theo mô hình truyền
thống của Raiffeisen, đã có tác động mạnh mẽ đến công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Bangladesh Grameen bây giờ là một ngân hàng chính quy, nó được coi như là một
mô hình phát triển lý tưởng cho mọi tổ chức TCVM học tập Mô hình này đã trở thành mẫu hình cho hơn 23 quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam
Trang 2212
Ở Việt Nam
Năm 1986, Chính phủ Việt Nam quyết định thực hiện chính sách quốc gia về xóa đói giảm nghèo thông qua việc thúc đẩy các hoạt động sản xuất của người nghèo Cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các chương trình
hỗ trợ phát triển chính thức song phương và đa phương, các cơ quan đoàn thể xã hội
và chính quyền địa phương, các chương trình TCVM ở Việt Nam đã được hình thành và phát triển với mục đích chính là giảm nghèo cho phụ nữ, nam giới, trẻ em thông qua các việc đảm bảo các quyền và điều kiện sống công bằng và đảm bảo công lý Tuy nhiên, lúc đầu không có một khung pháp lý nào cho sự hoạt động của các TCVM và đa số các tổ chức tài chính đều nhận hỗ trợ vốn và kỹ thuật từ các tổ
chức NGO nước ngoài Cho đến năm 1998, Ngân hàng Nhà nước mới cấp vốn cho các ngân hàng như Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện hoạt động TCVM Đến ngày 09/3/2005, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Nghị định số 28/2005/NĐ-CP của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam Nghị định này là nền tảng pháp lý quant trọng giúp những cơ sở tài chính và tín dụng vi mô
vững tâm triển khai những thành quả đã gặt hái được và tiếp tục nỗ lực giúp đỡ người nghèo tại Việt Nam
Có thể chia quá trình phát triển TCVM ở Việt Nam theo 3 giai đoạn: Khởi đầu, mở rộng và phát triển chiều sâu
Cũng giống như các nước trên thế giới, tài chính vi mô tại Việt Nam, với định nghĩa truyền thống, nó được hiểu là cho vay các món nhỏ, không hoặc có đòi hỏi
vật bảo đảm, không lãi hoặc lãi cao Như vậy, có thể nói TCVM xuất hiện và tồn tại
ở Việt nam đã từ lâu đời, gắn với nền kinh tế tiểu nông và nếp sống làng xã thường ngày của người dân trên tất cả các vùng miền, đặc biệt là khu vực nông thôn Nó ít ý nghĩa với việc phát triển kinh tế nhưng lại có vai trò to lớn trong việc cứu giúp
Trang 23Các tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò to lớn trong việc đặt
nền móng cho sự phát triển TCVM tại Việt Nam, họ đã cung cấp một nguồn lực đáng kể và tạo đà cho các tổ chức địa phương tiếp tục phát triển và trưởng thành Các nhà tài trợ và các tổ chức TCVM bên ngoài cũng có nhiều đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kĩ thuật và đào tạo cán bộ cho Việt Nam
c) Giai đoạn phát triển theo chiều sâu (sau năm 2000 tới nay)
Vào đầu thế kỷ 20, TCVM không còn là xu hướng của thế giới Tại Việt Nam, các dự án, các chương trình có hợp phần TCVM lần lượt đóng cửa hay lần lượt bàn giao cho địa phương tự quản lí trong lúc mô hình còn chưa hoàn chỉnh, chưa rõ ràng
về mặt tổ chức, về tính pháp lí và quyền sở hữu, v.v Có thể nói đây là giai đoạn cực
kì khó khăn với các tổ chức có hoạt độngTCVM Về phía người thực hiện lại chưa
phải là pháp nhân độc lập để trực tiếp nhận bàn giao Cơ quan nhận bàn giao lại không hiểu biết về TCVM Trong khi đó, cơ sở pháp lí để tiếp nhận chương trình còn nhiều bất cập, không rõ ràng về quyền sở hữu Cơ chế kiểm tra giám sát hành chính không phù hợp với giám sát hoạt động TCVM Tất cả những khó khăn đó đã
dẫn tới hàng loạt chương trình bị thu hẹp hoặc tàn lụi (UNICEF, UNFPA, CIDSE, Oxfam GB, Oxfam Hongkong,…)
Trang 2414
Trong bối cảnh như vậy một số tổ chức đã nỗ lực tìm mọi cách để tồn tại, chuyển đổi cơ cấu tổ chức và tài chính, tăng cường năng lực và chuyên nghiệp hóa,
sẵn sàng hòa vào dòng tài chính chính thức khi luật pháp cho phép Hàng loạt các
quỹ xã hội được thành lập dựa trên cơ sở pháp lí là Nghị định 177-1999/NĐ-CP về
tổ chức và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện nhân đạo Năm 2005 Chính
phủ mới ban hành Nghị định 28-2005/NĐ-CP, và sau đó là Nghị định 165 về tổ
chức và hoạt động của Tổ chức tài chính qui mô nhỏ
1.1.1.3 Một số mô hình tài chính vi mô trên thế giới
Ngân hàng Grameen:
Mô hình này do ngân hàng Grameen tại Bangladesh phát triển, được thành lập vào năm 1976, và đến năm 1983 thì chuyển đổi thành một ngân hàng chính thống theo một đạo luật đặc biệt của Chính phủ dành cho ngân hàng này Đây là một mô hình đặc biệt bởi 94% vốn của nó là của chính những khách hàng và khách hàng
chủ yếu là phụ nữ Phần còn lại, 6% cổ phần, thuộc sở hữu của Nhà nước Với mục đích chính là nhằm phục vụ những người phụ nữ nông thôn, không có ruộng đất, mong muốn tài trợ cho các hoạt động thu nhập của họ
Bắt đầu bằng thử nghiệm nhỏ (bỏ 27 USD tiền túi cho 42 hộ gia đình nghèo vay) thành công, Yunus đã thành lập ngân hàng Grameen
Phương pháp thực hiện: Sẽ không cho vay theo cá nhân mà vay theo nhóm:
Các nhóm thành viên không có quan hệ huyết thống hay hôn nhân được tự thành lập
và tập trung thành các “trung tâm” gồm khoảng 8 nhóm Các thành viên bắt buộc
phải tham dự các buổi sinh hoạt hàng tuần và đóng góp tiền tiết kiệm, đóng góp vào
quỹ nhóm và đóng tiền bảo hiểm Đóng góp tiền tiết kiệm được thực hiện từ bốn đến năm tuần trước khi nhận được món vay và phải tiếp tục trong thời gian vay vốn
Quỹ nhóm được nhóm tự quản lý và có thể được sử dụng để cho vay đến các thành viên trong nhóm Các thành viên trong nhóm cùng bảo lãnh những món vay của nhau và chịu trách nhiệm liên đới về pháp luật về việc hoàn trả nợ của các thành
Trang 2515
viên khác trong cùng nhóm Bất kỳ thành viên nào cũng không được vay thêm nếu các thành viên khác trong nhóm không trả hết nợ Không cần tài sản thế chấp
được thực hiện hàng tuần Số tiền vay thường dao động từ 100 USD đến 300 USD
với lãi suất khoảng 20% /năm Tiết kiệm là hoàn toàn bắt buộc
Mô hình nhóm đoàn kết (Accion International):
Tổ chức tiên phong được thành lập bởi một sinh viên luật, Joseph Blatchford,
để giải quyết vấn đề đói nghèo ở các thành phố của châu Mỹ La-tinh Khởi đầu mọi
thứ là nỗ lực của các sinh viên tình nguyện trong khu ổ chuột Caravas, phát triển cùng khoản tiền 90.000 USD từ các công ty tư nhân, Accion ngày hôm nay là một trong các tổ chức tài chính vi mô hàng đầu trên thế giới, với mạng lưới đối tác cho vay trải rộng khắp châu Mỹ La-tinh, Hoa Kỳ và châu Phi
Phương pháp thực hiện: Vốn vay được cung cấp cho các nhóm từ 4 - 7 thành
viên hơn là cho cá nhân, tự các thành viên sẽ chia đều vốn cho nhau Khách hàng thường là những doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực phi chính thức, chẳng hạn những nhà buôn hoặc người kinh doanh cần một lượng vốn hoạt động nhỏ Các thành viên trong nhóm cùng bảo đảm việc hoàn trả món vay, và việc tiếp cận các món vay tiếp theo phụ thuộc vào sự hoàn trả thành công của tất cả các thành viên trong nhóm Các khoản thanh toán được thực hiện hoàn toàn tại trụ sở của chương trình Mô hình cũng kết hợp sự hỗ trợ kỹ thuật tối thiểu tới người vay, chẳng hạn huấn luyện
và xây dựng tổ chức Các khoản tiết kiệm thường được đòi hỏi nhưng nhiều khi được khấu trừ số tiền vay vào thời điểm giải ngân món vay chứ không nhất thiết đòi
hỏi khách hàng phải tiết kiệm trước khi nhận được món vay Số tiện tiết kiệm về cơ
bản phục vụ nhu một số dư bù đắp, bảo đảm cho một phần của số tiền vay
USD Những món vay sau đó không có giới hạn trên Lãi suất thường khá cao và
dịch vụ cũng được tính gộp Các khoản tiết kiệm thường được yêu cầu như một
Trang 2616
phần của món vay Một vài tổ chức khuyến khích việc thiết lập các quỹ cứu trợ
khẩn cấp trong nội bộ nhóm để hoạt động như một phương tiện bảo đảm an toàn
Có rất ít sản phẩm tiết kiệm tự nguyện được cung cấp
Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI):
Bank Rakyat Indonesia (BRI) là ngân hàng thương mại nhà nước ở Indonesia Trong 30 năm hình thành và phát triển BRI là ngân hàng của khu vực nông thôn và
hoạt động nông nghiệp Hệ thống ngân hàng đơn vị đã thiết lập trần cho vay Kupedes, xem đây là công vụ để tập trung dịch vụ tài chính cho bộ phận doanh nghiệp nhỏ Ban đầu khoản vay có giá trị tối đa cố định là 1.000 USD và liên tục được nâng lên thành 5.000 USD Những khoản vay nhỏ không tập trung vào khách hàng lớn, có quyền lực chính trị, vậy nên giảm được sự can thiệp, ảnh hưởng của khách hàng đến quá trình vận hành
Mô hình ngân hàng làng:
Mô hình này được Tổ chức trợ giúp cộng đồng quốc tế (FINCA) phát triển vào
giữa những năm 80
Phương pháp thực hiện: Khách hàng lập thành các nhóm tối thiểu từ 15 – 20
thành viên, đa số là phụ nữ, vốn vay được chia đều cho các thành viên, và mỗi thành viên đều sở hữu một “cổ phần” của ngân hàng Tất cả các thành viên đều phải ký
một thảo ước vay vốn nhằm đưa ra sự bảo đảm chung Số tiền cho ngân hàng làng
xã vay thường dựa trên tổng tất cả các yêu cầu vay của các thành viên Các món vay
với ngân hàng làng xã thường được cung ứng theo chu kỳ cố định, thường từ 10 đến
12 tháng, với việc thanh toán toàn bộ số tiền vào cuối kỳ Số tiền vay tiếp sau có liên hệ với số tiền tổng cộng được tiết kiệm bởi các thành viên ngân hàng Các ngân hàng lãng xã có mức độ kiểm soát dân chủ cao và độc lập Các cuộc họp hàng tháng
nhằm thu các khoản tiền tiết kiệm, giải ngân các món vay, tham dự các vấn đề về
quản lý vầ nếu có thể, tiếp tục các khoá đào tạo với cán bộ tổ chức tài chính vi mô
Trang 2717
cao hơn nếu nguồn cho vay xuất phát từ một khoản tài trợ nội bộ Một vài ngân hàng đã mở rộng cung cấp dịch vụ bao gồm cả giáo dục về đổi mới nông nghiệp, dinh dưỡng và y tế Tiết kiệm của các thành viên gắn liền với số tiền vay và được sử
dụng để tài trợ cho những món vay mới hoặc cho những hoạt động tạo thu nhập
1.1.1.4 Bài học kinh nghiệm cho sự phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam
Tài chính vi mô bao gồm nhiều hoạt động, không chỉ cung cấp dịch vụ tín
dụng mà còn các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, các dịch vụ xã hội… nhưng cho đến nay, rất nhiều người còn nhầm lẫn TCVM với tín dụng vi mô Mặt khác, việc cung
cấp các dịch vụ tài chính và dịch vụ xã hội không phải là một hoạt động từ thiện
Hoạt động TCVM cần áp dụng các nguyên tắc kinh doanh lành mạnh, hoạt động theo hướng bù đắp đủ chi phí và có lãi
Ban đầu khi các tổ chức TCVM chưa có khả năng huy động tiết kiệm, có thể
do quy định của luật pháp hoặc chưa huy động được số tiền tiết kiệm lớn Lúc này, các nguồn trợ giúp ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển của các tổ chức TCVM
Hệ thống tín dụng của các nước như Ailen vào thế kỷ thứ 17, Đức và các nước châu
Âu khác vào thế kỉ 19 đã chỉ rõ điều này, có thể ở từng quốc gia sự hỗ trợ là rất khác nhau nhưng có vai trò quan trọng Một số nước thông qua cách thức hỗ trợ
trực tiếp, nhưng đa phần đều có sự hỗ trợ gián tiếp như chính sách lãi suất ưu đãi, các khoản vốn góp từ thiện của cộng đồng
Một trong những chính sách kinh tế vĩ mô đầu tiên phải kể đến là chính sách lãi suất, lãi suất phải đủ bù đắp được chi phí hoạt động, tình trạng mất vốn, tình
trạng lạm phát Như kinh nghiệm của Indonesia, kể từ khi chính sách lãi suất được
Trang 2818
thay đổi theo hướng thị trường, các tổ chức TCVM được quyền quyết định lãi suất cho vay theo đối tượng khách hàng Những khoản vay nhỏ, rủi ro lớn thường được tính lãi suất cao hơn còn những khoản vay lớn, rủi ro thấp được tính lãi suất thấp hơn
Bên cạnh đó, cũng phải đưa ra chính sách thuế hợp lý, tại Argentina, hoạt động của các tổ chức TCVM không thành công được như những khu vực khác trên
thế giới là do chính sách thuế giá trị gia tăng của nước này quá cao, lên tới 21%, đã làm tăng chi phí cho các khoản vốn vay, người nghèo khó có khả năng tiếp cận Trong khi ở những nước khác, mức thuế giá trị gia tăng thường thấp hơn rất nhiều,
thậm chí còn được miễn thêm các khoản thuế như thu nhập, đối với các tổ chức TCVM trong những thời gian đầu thành lập Còn trong quá trình hoạt động, khi mà các tổ chức TCVM theo đuổi các mục tiêu xã hội, hoặc đưa ra thêm các dịch vụ không tính lãi hay mức lãi suất thấp sẽ được một số Chính phủ xem xét miễn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp
Một trong những nguyê nhân dẫn đến tình trạng người nghèo bị tính lãi suất quá cao khi vay vốn, là do các tổ chức TCVM đã không minh bạch Một mặt, họ công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng một tỷ lệ lãi suất thấp hơn, nhưng
thực tế, đằng sau các khoản vay vốn là các khoản phí được tính thêm làm cho lãi
suất các khoản vay rất cao Trường hợp của Banco Compartamos ở Mỹ La-tinh là
một điển hình, bên cạnh đó, họ còn mập mờ trong cách tính thời gian để tính lãi, làm cho các khoản vay tính theo năm đã phải tính dư thêm một tháng
Qua mô hình thành công của nhiều tổ chức TCVM cho thấy TCVM có khả năng sinh lời cao, không thua kém bất kỳ một ngành kinh doanh trong các lĩnh vực khác Điều này, có cơ sở để tin tưởng rằng TCVM có khả năng phát triển bền vững
Hoạt động sinh lời của TCVM góp phần tăng trưởng nguồn vốn, tăng số lượng
Trang 29với người nghèo
1.1.1.5 Nghèo đói (hay Thu nhập)
Khái niệm nghèo
Nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo không
chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận các dịch vụ
của xã hội như: giáo dục, văn hóa, y tế; không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều
kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong
đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế Nhà nước được
cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi Tình trạng nghèo còn đe dọa làm con người bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng
Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống
đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như sau: Nghèo là tình trạng một bộ
phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà
những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã
hội và phong tục tập quán của địa phương Nghèo được chia thành nghèo tuyệt đối
và nghèo tương đối
- Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn
chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dể bị tổn thương trước những đột biến, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định
- Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (9/1993): Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư
Trang 3020
không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu của con người, mà những nhu cầu này
đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Nghèo tuyệt đối
Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta Hay nói cách khác,
nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương
Nghèo tương đối
Trong xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn
tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hoá – xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng
Nói một cách dễ hiểu hơn là nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân
cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng
Để đo lường mức độ nghèo của một quốc gia người ta dùng mức chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là một tiêu chuẩn để đo mức độ nghèo của các hộ dân, là căn
Trang 3121
cứ cho các hỗ trợ về chính sách cho hộ đó Chuẩn nghèo ở mỗi quốc gia là khác nhau và sẽ thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Ngân hàng Thế giới (WB) xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương (so với đô la thế giới) Đối với Việt Nam, hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập dưới một mức tối thiểu nào đó, tuỳ theo từng giai đoạn mà mức chuẩn nghèo này sẽ thay đổi Cụ thể như sau:
- Mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2007 - 2010: Ở khu vực nông thôn
những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000đ/người/tháng (dưới 3.120.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo (Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg)
- Mức chuẩn nghèo và cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011–2015: Chỉ thị
số 1752/CT-TTg ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định
mức chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo như sau:
+ Chuẩn nghèo: Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng /người/năm) trở xuống và
những hộ ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
+ Chuẩn cận nghèo: Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng (4.812.000 đồng/người/năm đến 6.240.000 đồng/người/năm) và khu vực thành thị có mức thu
nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng (6.012.000 đồng/người/năm đến 7.800.000 đồng/người/năm)
Ngoài những định nghĩa về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối còn có ranh giới nghèo tương đối Nắm rõ các định nghĩa này giúp ta phân biệt được nghèo và các chuẩn mực để xác định tỷ lệ nghèo
Trang 3222
Ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không thể xác định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước Việc chọn lựa một con số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng hoá để tính sức mua tương đương đều không thể giải thích bằng các giá trị tự do (những giá trị được đưa ra mang tính chủ quan) Vì vậy, một số trường hợp chúng được quyết định qua những quá trình chính trị
1.1.1.6 Định nghĩa nghèo theo tình trạng sống
Cái gọi là định nghĩa tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khác ngoài thu nhập khi định nghĩa "nghèo con người" Tình trạng sống bao gồm những yếu tố như: cơ hội đào tạo, mức sống, quyền tự quyết định, ổn định về luật lệ, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) cũng đã đưa ra chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI) Các chỉ tiêu để đo lường HDI bao gồm tuổi
thọ dự tính vào lúc mới sinh, tỷ lệ mù chữ, trình độ học vấn, sức mua thực trên đầu người và nhiều chỉ tiêu khác
1.1.2 Các lý thuyết về tác động của tín dụng đối với việc giảm nghèo (hay tăng thu nhập)
1.1.2.1 Khái niệm về tín dụng
Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Như vậy, tín dụng là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay
hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi theo đúng
thời gian đã thỏa thuận Phần lãi hay còn gọi là lãi suất tín dụng là phần giá trị lớn hơn giá trị mà người đi vay đã nhận phải trả cho người cho vay Quan hệ tín dụng ở
bất cứ nơi nào cũng thể hiện ở 3 mặt cơ bản:
Trang 3323
- Có sự chuyển giao quyền sở hữu từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao này chỉ mang tính chất tạm thời
- Khi đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, phần giá trị tăng thêm này gọi là
phần lời hay lãi suất
1.1.2.2 Tín dụng dành cho hộ nghèo
a) Tín dụng dành cho hộ nghèo theo quan điểm cũ
Tín dụng cho người nghèo là một hoạt động mang tính từ thiện do Chính phủ hay các tổ chức xã hội tài trợ, loại hình dịch vụ này đã xuất hiện ở châu Âu từ thế
kỷ 19 Số người hưởng thụ dịch vụ tài chính này trong thời kỳ Chiến tranh thế giới
thứ nhất ở Đức là 1,4 triệu người; năm 1946 tại Ấn Độ số người được hưởng dịch
vụ là 9 triệu người
Qua thực tiễn thực hiện của các dịch vụ này tại các nước cho thấy Chính phủ
đã phải bỏ rất nhiều tiền vào các dịch vụ này do các lý do:
+ Chi phí quản lý cao do địa bàn cho vay quá rộng
+ Phải quản lý nhiều khoản vay nhỏ
+ Hiện tượng xin cho (đút lót cho cán bộ tín dụng để có được khoản vay) + Tỷ lệ thu hồi nợ cực thấp
Đằng sau dịch vụ tài chính cho người nghèo như trên là các quan niệm lạc
hậu:
+ Kinh doanh tài chính: Tín dụng cho người nghèo không có khả năng sinh
lời, do người nghèo không biết làm ăn và hay gặp rủi ro trong cuộc sống
+ Phương pháp giải quyết vấn đề: Xem người nghèo là vấn đề mà Chính
phủ phải giải quyết
Trang 3424
+ Chi phí quản lý cao: Trước đây do trình độ lạc hậu và phương tiện thông tin liên lạc còn kém phát triển nên phát sinh nhiều chi phí trong hoạt động và quản
lý
Việc ngân hàng Grameen của Yunus chính thức ra đời vào năm 1983 ở Bangladesh đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm tín dụng cho người nghèo Về mặt
bản chất, tín dụng cho người nghèo theo quan điểm mới là:
+ Người nghèo quá nhiều (hàng tỷ) Họ vừa là vấn đề phải giải quyết, họ cũng chính là phương tiện giải quyết vấn đề Hay nói cách khác, họ phải tự giúp họ
+ Người nghèo, nếu có cơ hội làm ra tiền, sẽ thanh toán nợ (tất nhiên tâm lý
xù nợ ở người nghèo là có, nhưng sẽ có cách kiểm soát)
+ Tài chính vi mô (microfinance) sẽ là trung gian tài chính để đưa vốn đến người nghèo
Và với vai trò trung gian này, tín dụng vi mô phải là dịch vụ tài chính có sinh
lời, chứ không phải là làm từ thiện Ngoài ra tín dụng vi mô nên là tư nhân, tránh sử
dụng trợ giá của nhà nước để không sa vào họat động kém hiệu quả do tham nhũng, cho vay nhầm đối tượng để hưởng chênh lệch lãi suất
1.1.2.3 Vai trò của tín dụng đối với giảm nghèo
nguyên nhân như thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh (SXKD), điều kiện tự nhiên bất lợi, không được đầu tư, thiếu vốn, v.v Trong đó, vốn là điều kiện tiên quyết đối với họ, là động lực để họ vượt qua khó khăn để thoát nghèo Khi có vốn, với bản chất cần cù cùng với sức lao động họ sẽ có điều kiện mua sắm các nguyên liệu đầu vào phục vụ cho SXKD, từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống
kinh tế được nâng cao hơn: Những người nghèo do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để sản
Trang 3525
xuất hoặc duy trì cuộc sống, họ phải vay tiền với lãi suất rất cao từ những người cho vay nặng lãi Nếu nguồn vốn tín dụng đến được tận tay người nghèo thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường để hoạt động
hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường: Cung ứng vốn cho người nghèo theo
chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải có kế hoạch rõ ràng như trồng cây
gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao Để làm được như vậy, họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật, biện pháp quản lý; từ đó tạo cho
họ tính năng động sáng tạo trong SXKD, tích lũy được kinh nghiệm Mặt khác, khi phần lớn người nghèo tạo ra được sản phẩm hàng hóa thông qua việc trao đổi trên thị trường giúp họ tiếp cận được nền kinh tế thị trường một cách trực tiếp
cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể của nó như việc bình xét công khai những người được vay vốn, việc thực hiện các tổ vay vốn, tạo ra
sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp ủy, chính quyền đã có tác dụng:
+ Tăng cường hiệu lực của cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế ở địa phương
+ Tạo sự gắn bó giữa các hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mình thông qua việc hướng dẫn giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản
lý kinh tế gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn
+ Thông qua các tổ vay vốn tạo điều kiện để những người vay có cùng hoàn cảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau
Trang 3626
1.1.2.4 Lý thuyết thu nhập
Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó hay là các khoản thu nhập được trong một khoản thời gian nhất định thường tính theo tháng, năm… (trang 95, Từ điển Tiếng Việt năm 1994)
Mức thu nhập là các khoản thu nhập được định mức quy đổi ra tiền tệ hoặc sản phẩm nhằm so sánh lẫn nhau, mức thu nhập thường được đánh giá là cao hoặc thấp
b) Cơ cấu thu nhập
Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể Như vậy có thể hiểu cơ cấu thu nhập trên bình diện theo các loại tổ chức thành phần Tuy nhiên ở đây xét theo chủ thể của thu nhập là các hộ gia đình, các nhóm
xã hội tạo nên thu nhập Vậy cơ cấu của nhóm xã hội đó là các yếu tố xã hội như nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, học vấn,…
1.1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo
Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2010), các nhân
tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo người dân tộc thiểu số bao gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ học vấn của người lao động, nhân khẩu, số hoạt động tạo thu nhập, độ tuổi lao động, tham gia hội đoàn thể, tình trạng vay vốn của hộ Theo nghiên cứu của Lê Văn Toàn, Những yếu tố tác động đến phân tầng mức sống ở Việt Nam, các nhân tố như quy mô hộ gia đình, dân tộc, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp có ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân cũng như của
hộ
Bên cạnh những nghiên cứu còn có những lý thuyết kinh tế giúp giải thích thu nhập được tạo ra từ đâu và nhân tố nào có ảnh hưởng đến thu nhập của cá nhân hay của hộ Lý thuyết sản xuất của trường phái Kinh tế học cổ điển cho rằng có 3 nhân
tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập là đất đai, lao động và vốn vật chất Tuy
Trang 3727
nhiên các nhà kinh tế học Tân cổ điển cho rằng những yếu tố này chỉ là điểm đầu của câu chuyện, họ đã đưa ra Lý thuyết vốn nhân lực, lý thuyết thu nhập và sự phân biệt đối xử, lý thuyết phát tín hiệu,… để giải thích cho nguồn gốc sâu xa của sự khác biệt về thu nhập giữa các cá nhân
1.2 Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu này thực hiện một cuộc khảo sát thông qua phỏng vấn cá nhân
và nhóm tại Tanzania, Zanzibar vào năm 2006 nhằm đánh giá tác động của Hiệp hội tiết kiệm và cho vay (VSLA) tạo điều kiện tiết kiệm và vay vốn tự tài trợ cho các nhóm từ 15 đến 30 người tiết kiệm mỗi tuần, và một khi các khoản tiết kiệm trở nên
đủ lớn để các thành viên có thể vay các khoản vay ngắn hạn (khoảng một tháng) tại mức lãi suất 5 % một tháng
- Mẫu: Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng được sử dụng để chọn 120 khách hàng
và 50 thành viên chưa tham gia vào tiết kiệm hoặc cho vay
- Phương pháp phân tích: Hồi quy OLS
- Kết quả: Các thành viên của VSLA được gia tăng các hoạt động tạo thu nhập Đối với phụ nữ thì điều này tăng thêm cho mỗi năm trong chương trình TCVM Có tác động tích cực đối với các thành viên VSLA trong việc chi tiêu vào tài sản hộ gia đình
Nghiên cứu của Chen và Snodgrass D (2001)
- Nghiên cứu này thực hiện hai cuộc điều tra hai năm để xem sự thay đổi theo thời gian (1998 và 2000) tại thành phố Ahmedabad, Ấn Độ để đánh giá các tác động của việc cung cấp tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô cho phụ nữ sử dụng mô hình dịch vụ của ngân hàng SEWA Thành viên tham gia tiết kiệm 6 tháng trước khi họ
có các tùy chọn để vay Các khoản vay sau đó có thể lên đến 538 USD cho ba năm với lãi suất 17%, hoàn trả trong 20 tháng góp
Trang 3828
- Phương pháp phân tích: ANOVA, ANCOVA, phân tích điểm số đạt được
- Kết quả: Các thành viên tham gia TCVM (gửi tiết kiệm và cho vay) có mức thu nhập và chi tiêu vào nhà ở cao hơn so với nhóm không phải là thành viên Không có bằng chứng cho thấy là thành viên TCVM liên quan đến đa dạng hóa thu nhập
Nghiên cứu Nguyễn Việt Cường (2008)
- Nghiên cứu về đánh giá tác động chương trình tín dụng vi mô của Ngân hàng Chính sách xã hội đến giảm nghèo và giảm bất bình đẳng
- Quốc gia: Việt Nam
- Thiết kế nghiên cứu: Phân tích hồi quy sử dụng dữ liệu bảng Điều tra mức
sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) trong hai năm 2002 và 2004
- Thời gian thu thập số liệu: 2002 và 2004
- Mẫu: 2.776 hộ gia đình đã được lựa chọn bao gồm cả những người có và không có các khoản vay sử dụng phân tầng mẫu cụm ngẫu nhiên
- Phương pháp phân tích: Mô hình hiệu quả cố định kết hợp với biến công cụ, hồi quy hai giai đoạn bình phương nhỏ nhất (2SLS)
- Kết quả: Việc tham gia chương trình TCVM giúp cải thiện thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người hộ gia đình Tuy nhiên chỉ có 1/3 số hộ thực sự nghèo tiếp
cận được chương trình, ước tính của tác giả chương trình chỉ giúp giảm khoảng 4%
số hộ nghèo Trong nghiên cứu này tác giả nhận thấy hạn chế về số liệu nên không
thể đánh giá tác động trong một mối quan hệ dài hạn hơn Các yếu tố liên quan đến
chủ hộ, tình trạng phụ thuộc, tình trạng việc làm, trình độ giáo dục có tác động đến thu nhập hộ gia đình trong nghiên cứu
Như vậy, các nghiên cứu tác động có kết luận không đồng nhất về tác động của chương trình TCVM Điểm qua các nghiên cứu có thể thấy rằng việc đánh giá tác động TCVM về giảm nghèo cần xem xét mối quan hệ này trong trong dài hạn
Trang 3929
Khandker et al (2010) đánh giá cao việc sử dụng dữ liệu bảng để phân tích, điều này có thể mang lại một kết quả toàn diện hơn về vai trò của TCVM đối với giảm nghèo
Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực tế có liên quan
Conner
Đánh giá tác động của Hiệp hội tiết kiệm và cho vay tạo điều kiện tiết kiệm và vay vốn tự tài trợ, và một khi các khoản tiết kiệm trở nên lớn đủ để các thành viên cũng có thể vay các khoản vay ngắn hạn tại mức lãi suất 5%/ tháng
Hồi quy OLS Các thành viên
của VSLA được gia tăng các hoạt động tạo thu nhập
Snodgrass D
(2001)
Đánh giá các tác động của việc cung cấp tín dụng vi mô và tiết kiệm vi mô cho phụ nữ
sử dụng mô hình dịch
vụ của ngân hàng SEWA
ANOVA, ANCOVA, phân tích điểm
số đạt được
Các thành viên tham gia TCVM (gửi tiết kiệm và cho vay) có mức thu nhập và chi tiêu vào nhà ở cao hơn so với nhóm không phải là thành viên
Trang 40ĐỘNG TÍN DỤNG VI MÔ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH SÓC
TRĂNG GIAI ĐOẠN 2012 – 2014
2.1 Mô tả địa điểm nghiên cứu
Tỉnh Sóc Trăng có 8 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố Sóc Trăng Ba huyện
được chọn làm địa bàn nghiên cứu khảo sát là xã Phú Tâm - huyện Châu Thành, xã
Thạnh Phú - huyện Mỹ Xuyên, xã Long Phú - huyện Long Phú
Erulkar và
Chong(2005)
Đánh giá tác động của tiết kiệm và tín dụng vi
mô đối phụ nữ
Biến công cụ Giai đoạn đầu,
tiết kiệm nhóm can thiệp thấp hơn, thu nhập bằng nhau Giai đoạn sau, tiết kiệm nhóm can thiệp gấp đôi, thu nhập nhóm can thiệp cao hơn 20%/
Nguyễn Việt
Cường (2008)
Đánh giá tác động chương trình tín dụng
vi mô của NHCSXH đến giảm nghèo và
giảm bất bình đẳng
Mô hình hiệu quả cố định kết hợp với biến công cụ, hồi quy hai giai đoạn bình phương nhỏ nhất
Việc tham gia chương trình TCVM giúp cải thiện thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người hộ gia đình