1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp sản xuất phần mềm trên địa bàn TP HCM

108 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả lựa chọn DN sản xuất phần mềm làm đối tượng nghiên cứu về sự lựa chọn CSKT với những lý do sau: trong những năm gần đây, ngành sản xuất phần mềm trở thành một trong những ngành q

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Hoàng Tâm Vân Anh

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

Hoàng Tâm Vân Anh

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Ph ạm Ngọc Toàn

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết quả của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TPHCM, ngày tháng năm

Tác giả

Hoàng Tâm Vân Anh

Trang 4

M ỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa 3

7 Kết cấu của luận văn 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CSKT CỦA CÁC DN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 5

Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng việc lựa chọn CSKT 5

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam 10

1.1.2 Khe hổng nghiên cứu 12

1.2 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN CSKT 15

Tổng quan về CSKT và sự lựa chọn CSKT 15 2.1

Trang 5

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN 17 2.2.

Đặc điểm DN sản xuất phần mềm ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT 18 2.3

Lý thuyết nền 24 2.4

Mô hình nghiên cứu 27 2.5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 31 3.1

Phương pháp nghiên cứu 31 3.1.1

Quy trình nghiên cứu 32 3.1.2

Mô hình hồi quy 34 3.2

Thiết kế nghiên cứu 37 3.3

Mẫu nghiên cứu 37 3.3.1

Thu thập dữ liệu 37 3.3.2

Quy trình phân tích dữ liệu 38 3.3.3

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 41 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 42

Kết quả phỏng vấn chuyên gia 42 4.1

Kết quả nghiên cứu định lượng 44 4.2

Mô tả mẫu 44 4.2.1

Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha 46 4.2.2

Phân tích nhân tố khám phá EFA 50 4.2.3

Phân tích tương quan 55 4.2.4

Phân tích hồi quy đa biến 57 4.2.5

Kiểm định các giả thiết cần thiết trong mô hình phân tích hồi quy 59 4.2.6

Trang 6

Bàn luận 62 4.3.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 64 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 65

Kết luận 65 5.1

Kiến nghị 67 5.2

Đối với DN sản xuất phần mềm 67 5.2.1

Đối với cơ quan quản lý nhà nước 72 5.2.2

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 72 5.3

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 74 PHẦN KẾT LUẬN 75

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp biến quan sát biến độc lập 34

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp biến quan sát biến phụ thuộc 37

Bảng 4.1: Bảng kết quả đánh giá của chuyên gia đối với thang đo nghiên cứu 42

Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả mẫu khảo sát 44

Bảng 4.3: Kết quả độ tin cậy thang đo biến NCTT 47

Bảng 4.4: Kết quả độ tin cậy thang đo biến HADN (lần 1) 47

Bảng 4.5: Kết quả độ tin cậy thang đo biến HADN (lần 2) 48

Bảng 4.6: Kết quả độ tin cậy thang đo biến GNKT 48

Bảng 4.7: Kết quả độ tin cậy thang đo biến DDDN 49

Bảng 4.8: Kết quả độ tin cậy thang đo biến LC 50

Bảng 4.9: Bảng kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s 51

Bảng 4.10: Bảng tổng phương sai trích 52

Bảng 4.11: Ma trận xoay 53

Bảng 4.12: Bảng kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s 54

Bảng 4.13: Bảng tổng phương sai trích 55

Bảng 4.14: Ma trận xoay 55

Bảng 4.15: Bảng kết quả phân tích tương quan 56

Bảng 4.16: Kiểm tra độ phù hợp của mô hình- Model Summay 57

Bảng 4.17: Bảng phân tích ANOVA 58

Bảng 4.18: Bảng hệ số hồi quy - Coefficients 58

Bảng 4.19: Bảng kiểm định giả định phương sai của sai số 59

DANH M ỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu luận văn 28

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu luận văn 33

Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy 59

Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 61

Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 61

Hình 5.1: Kết quả mô hình nghiên cứu 65

Trang 8

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

T ừ viết tắt N ội dung

Trang 9

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Tính c ấp thiết của đề tài nghiên cứu

Chính sách kế toán là một trong những chính sách quan trọng của DN mà căn

cứ vào đó để vận dụng cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính Việc vận dụng CSKT khác nhau thì thông tin trên báo cáo tài chính cũng sẽ khác nhau Mỗi DN được phép lựa chọn CSKT phù hợp với đặc điểm kinh doanh của DN đó nhưng cũng cần tuân thủ các chuẩn mực đề ra nhằm đảm bảo mức độ trung thực và hợp lý của thông tin kế toán Tuy nhiên, trên thực tế, CSKT ở mỗi DN bị chi phối bởi nhiều nhân tố chủ quan với mục đích tối đa hóa giá trị DN làm giảm độ tin cậy của thông tin tài chính Vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là rất cần thiết trước thực trạng đáng lo ngại về chất lượng BCTC của các

DN Việt Nam hiện nay

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về vấn đề này nhưng đối tượng khảo sát lại quá rộng và bao quát, không tập trung vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh để áp dụng CSKT cụ thể hơn và cho ra kết quả nghiên cứu chính xác hơn Tác giả lựa chọn DN sản xuất phần mềm làm đối tượng nghiên cứu

về sự lựa chọn CSKT với những lý do sau: trong những năm gần đây, ngành sản

xuất phần mềm trở thành một trong những ngành quan trọng, là mũi nhọn chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam; để đẩy mạnh và khuyến khích sự đầu tư trong lĩnh

vực công nghệ thông tin, Chính phủ đã đưa ra rất nhiều ưu đãi đối với DN sản xuất

phần mềm trong việc sử dụng đất, ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế và thuế suất ưu đãi thuế TNDN cũng như được miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu vật

tư phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất phần mềm mà trong nước chưa sản xuất được Hơn nữa, những đặc điểm khác biệt so với các ngành khác đã tác động đến việc lựa chọn CSKT của DN sản xuất phần mềm Vì vậy, việc nghiên các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN sản xuất phần mềm hiện nay là thật sự

cần thiết

Trang 10

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài luận văn “Các nhân

t ố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TP.HCM” Đây là vấn đề mang tính thiết yếu, giúp làm rõ động cơ lựa chọn

CSKT của DN sản xuất phần mềm vốn là một trong những ngành tiềm năng hiện nay, góp phần làm lành mạnh hóa thông tin báo cáo tài chính, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

2 M ục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT

của DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM

 Mục tiêu cụ thể:

 Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về lựa chọn CSKT của các DN

 Xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của

DN, cụ thể là tại các DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TP.HCM

 Từ đó đưa ra các đề xuất kiến nghị đối với DN và cơ quan quản lý nhà nước

về vấn đề lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính

3 Câu h ỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu của luận văn đặt ra, nội dung chính của luận văn cần

phải trả lời được các câu hỏi sau:

 Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM ?

 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản

xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM như thế nào?

 Các giải pháp nào được đề xuất liên quan đến việc lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC của các công ty sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM ?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các

DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

 Ph ạm vi nghiên cứu

 Phạm vi không gian: các DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM

 Phạm vi về thời gian: trong khoản thời gian 2015-2016

5 Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Phương pháp định tính nhằm khái quát hóa lý thuyết

kế toán, xem xét các nghiên cứu liên quan, tìm hiểu phân tích đặc điểm DN sản xuất

phần mềm ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT kết hợp xin ý kiến chuyên gia để xây dựng thang đo cho nhân tố nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu định lượng dùng

phần mềm SPSS với kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy được

sử dụng để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và là cơ sở đề xuất giải pháp hoàn thiện

phần mềm Dựa vào kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, trong đó có các nhân tố ảnh hưởng được tác giả tổng hợp từ nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó và 1 nhân tố được tác giả thêm vào dựa vào đặc điểm DN sản xuất

phần mềm, luận văn hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết mô hình các nhân

tố ảnh hưởng đến CSKT của DN sản xuất phần mềm, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan

 Về mặt thực tiễn, kết quả kiểm định sẽ cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất phần mềm

Trang 12

tại TPHCM, những kết quả này là cơ sở khoa học hữu ích không chỉ giúp DN trong việc lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC mà còn là hỗ trợ các cơ quan quản lý hành chính tham khảo khi thực hiện thanh tra, rà soát

Mặc dù đề tài về CSKT không mấy xa lạ trong các nghiên cứu luận văn nhưng đối với một ngành nghề đặc trưng đang được chính phủ quan tâm đẩy mạnh phát triển như sản xuất phần mềm thì đây là nghiên cứu mới tại Việt Nam Đây cũng là cơ sở để các DN phần mềm mới thành lập tại VN sẽ lưu ý về các nhân tố ảnh hưởng khi xây dựng CSKT phù hợp

7 K ết cấu của luận văn

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN trên thế giới và Việt Nam

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về sự lựa chọn CSKT

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 13

PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CSKT CỦA CÁC DN TRÊN THẾ GIỚI VÀ

VI ỆT NAM

Trong nội dung chương này, tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trên

thế giới và Việt Nam về tiếp cận đo lường các nhận tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN, từ cơ sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu của luận văn

Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng việc lựa chọn CSKT 1.1.

Các nghiên c ứu trên thế giới

1.1.1

 Nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990)

Nghiên cứu của Watts và Zimmerman tập trung xem xét các lý thuyết kế toán để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT

Watts và Zimmerman (1978) cho rằng các quy định kế toán (chuẩn tắc) rất không thực tiễn bởi vì nó tập trung vào miêu tả các quy định thay vì xem xét các quy định kế toán được áp dụng trong thực tế có phù hợp và đạt hiểu quả kinh tế để

từ đó đưa ra các điều chỉnh cần thiết Watt và Zimmerman (1978, 1979, 1980) chỉ ra

rằng kế toán thực chứng nhằm phát triển các giả thuyết để giải thích cho các sự vật

hiện tượng mà chúng ta chưa nhận biết được Do vậy, lý thuyết kế toán thực chứng

có thể giúp các nhà tạo lập chính sách đưa ra các CSKT mới cho các giao dịch kinh

tế mới phát sinh

Trong bài báo “Positive accounting theory: A ten year perspective”, tác giả

đề cập cho rằng có 3 nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT bao gồm nhân tố tiền

thưởng, nhân tố nợ và nhân tố chi phí chính trị với giả thiết đặt ra là người quản lý theo chủ nghĩa cơ hội và chi phí kí kết hợp đồng hiệu quả

Theo đó, tác giả đưa ra giả thuyết với nhân tố thưởng là nếu mức thưởng của nhà quản lý phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty thì nhà quản lý có động cơ tác động vào CSKT điều chỉnh lợi nhuận DN từ đó đem lại các lợi ích cho bản thân nhà

Trang 14

quản lý Với nhân tố nợ, giả thuyết đặt ra là nếu tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của

DN càng cao thì có khả năng DN lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận nhằm hạn chế các vi phạm trong cam kết vốn vay Về nhân tố chính trị tác giả cho rằng để giảm thiểu chi phí chính trị tiềm tàng, những DN định hướng lâu dài đưa ra các chính sách tác động tích cực đến hình ảnh của họ nhằm tránh được sự chú ý từ cơ quan

quản lý

Tuy nhiên, thử nghiệm ban đầu cho thấy nhân tố tiền thưởng không thực sự ảnh hưởng trong nhiều trường hợp, trong khi đó bằng chứng thực nghiệm lại phù

hợp với nhân tố nợ và chi phí chính trị

Nhìn chung, nghiên cứu của Watts và Zimmerman đã thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết và điều tra thực nghiệm, là cơ sở dẫn chứng cho các nghiên

cứu về sau Các nhân tố thưởng, nợ và chi phí chính trị đều được đề cập trong nhóm nhân tố “Hình ảnh DN” trong nghiên cứu của Bosnyák (2003) và Szilveszter Fekete (2010)

 Nghiên cứu của Steven Young (1998)

Nghiên cứu xác định các nhân tố quyết định sự lựa chọn chính sách kinh tế ở Anh tại các công ty thuộc ngành công nghiệp và thương mại Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết chi phí ký kết hợp đồng (costly contracting theory) và lý thuyết ổn định lợi nhuận (income smoothing theory)

Lý thuyết ký kết hơp đồng đề cập đến hai nhân tố ảnh hưởng tích cực đến

lựa chon CSKT là tỷ lệ đòn bẩy (tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu) và yếu tố tiền thưởng Đối với nhân tố tỷ lệ đòn bẩy, bài nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho

thấy nhà quản lý có xu hướng lựa chọn CSKT sao cho giảm xác suất vi phạm cam

kết vốn vay và điều này phụ thuộc vào tỷ lệ đòn bẩy hiện tại của công ty Tuy nhiên, mối quan hệ giữa CSKT và nhân tố đòn bẩy cũng được thể hiện khác nhau qua các giai đoạn, phản ánh thay đổi trong khả năng vi phạm cam kết vốn vay trong từng giai đoạn

Lý thuyết ổn định lợi nhuận cho rằng yếu tố mong muốn duy trì lợi nhuận ổn định ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách Cụ thể, nếu lợi nhuận mong muốn của

Trang 15

DN dưới mức lợi nhuận mục tiêu đặt ra thì DN sẽ lựa chọn CSKT sao cho lợi nhuận ngày càng giảm Đây được xem như một CSKT thận trọng , các nhà quản trị có thể thấy được dòng tiền mong muốn đồng thời giảm vi phạm cam kết vốn vay Từ

những nhân tố trên, trong từng thời kỳ, nhà quản trị sẽ đề ra CSKT có lợi nhất cho

DN

 Nghiên cứu của Bosnyák (2003)

Một nghiên cứu được xem là hiệu quả của Bosnyák (2003) nghiên cứu về sự lựa chọn CSKT của cả các tập đoàn lớn và DN nhỏ ở Hungary Nghiên cứu của Bosnyák xác định các nhân tố tác động đến sự lựa chọn CSKT bao gồm chi phí thuế, hình ảnh của DN, nhu cầu thông tin kế toán, tính nghề nghiệp và cách ghi nhận nghiệp vụ kế toán Kết quả khảo sát cho thấy đối với các DN vừa và nhỏ thì nhân tố chi phí thuế là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất, trong khi đó nhân tố nhu cầu thông tin lại tác động lớn nhất đến sự lựa chọn CSKT trong các tập đoàn lớn

Nghiên cứu của Bosnyák đã đưa ra mô hình cũng như các biến quan sát cụ

thể, có thể nói đây là nghiên cứu nền tảng cho các nghiên cứu sau này liên quan đến

sự lựa chọn CSKT

 Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006)

Cả hai nghiên cứu đề cập bên trên đều nhấn mạnh đến nhân tố thuế tác động đến việc lựa chọn CSKT Tuy nhiên, Christos Tzovas, (2006) cho rằng dù CSKT

tiết kiệm thuế có thể giúp cải thiện dòng tiền của DN, mang lại ảnh hưởng kinh tế nói chung nhưng việc tìm cách giảm đi tiền thuế phải đóng luôn đi đôi với việc tìm cách công bố lợi nhuận thấp đi, và điều này lại ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên sử dụng những thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định Tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ra quyết định CSKT trong điều kiện kế toán và thuế là đồng nhất thông qua khảo sát các nhà quản lý của 200 DN

lớn nhất Hy Lạp Theo đó, sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố gồm

mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế và sự nhận thức của các bên liên quan Có thể nhận thấy sự mâu thuẫn lẫn liên quan giữa các nhân tố trên,

Trang 16

khi DN tìm cách tối thiểu hóa thuế phải đóng dẫn đến giảm mức lợi nhuận báo cáo cung cấp cho các bên liên quan, điều này sẽ tác động xấu đến nhận thức của họ và làm chi phí vay vốn gia tăng Hay nói cách khác, việc thực hiên chính sách nhằm

mục tiêu giảm thuế sẽ kéo theo những chi phí khác không liên quan đến thuế do tác động số liệu kế toán dẫn đến thông tin không phù hợp cho các bên đầu tư Cụ thể sự ảnh hưởng ở đây là quyết định cho vay vốn từ các bên đầu tư , ảnh hưởng đến giá

cổ phiếu của DN hay để tránh việc vi phạm cam kết vốn vay Vì vậy, nghiên cứu đã ghi lại bằng chứng về mức độ lợi nhuận giảm mà DN mong muốn để giảm thuế và

mức độ lợi nhuận tăng nhằm tạo điều kiện đi vay, tăng giá cố phiếu hay tránh cam

kết vi phạm vốn vay

Nghiên cứu không chỉ áp dụng ở Hy Lạp mà còn ở các quốc có đặc điểm môi trường kế toán tương tự như một số quốc gia ở Châu Âu mà phần lớn nguồn vốn

phụ thuộc vào vay nợ ngân hàng Việc hiểu rõ về ảnh hưởng qua lại giữa các nhân

tố của sự lựa chọn kế toán không chỉ đóng góp cho các nghiên cứu học thuật, mà còn là cơ sở phân tích kế toán và tài chính quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong

hầu hết các quyết định đầu tư

 Nghiên cứu của Michael J.Aitken và Janice A.Loftus (2009)

Nghiên cứu yếu tố quyết định lựa chọn CSKT thuộc ngành bất động sản ở Úc Tương tự lý thuyết Steven Young (1998), nghiên cứu xây dựng giả thuyết dựa trên

lý thuyết ký kết hợp đồng, tập trung vào yếu tố nguồn vốn cũng như thu nhâp của

chủ sở hữu tác động thế nào đến sự lựa chọn CSKT Kết quả cho thấy tầm quan trọng của một thỏa thuận bồi thường (tức là khoản thưởng cho nhà quản trị hay thu

nhập cho chủ sở hữu) đến các quyết định chính sách Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không cung cấp bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của nhận tố nợ (đòn bẩy) hay chính trị đối với sự lựa chọn chính sách

Nhìn một cách tổng quan, nghiên cứu thu hẹp phạm vị dựa trên đặc trưng DN

sẽ cho ra các kết quả chính xác hơn

 Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010)

Trang 17

Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và các cộng sự (2010) dựa trên nghiên cứu

của Bosnyák (2003), đã giải thích sự lựa chọn CSKT của các DN vừa và nhỏ ở Rumani Theo tác giả, các nhân tố tác động đến lựa chọn CSKT bao gồm 6 nhân tố

là thuế, nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng BCTC, hình ảnh DN bên ngoài (đối với các bên liên quan), hình ảnh DN bên trong (đối với cổ đông hiện hành), kinh tế, tính xem xét trung thực và hợp lý

Dữ liệu được thu thập từ những người đại diện như giám đốc tài chính, kế toán trưởng của các DN vừa và nhỏ Đối với việc xác định các biến trong mô hình, tác

giả dựa trên khuôn mẫu đề xuất của Bosnyák (2003) để xây dựng 20 biến đo lường (biến quan sát) các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT

Kết quả từ nghiên cứu của Szilveszter Fekete cho thấy nhân tố nhu cầu thông tin của người sử dụng BCTCcó ảnh hưởng lớn nhất đến sự lựa chọn CSKT của DN,

và thuế là nhân tố ảnh hưởng thứ hai Các nhân tố theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần đến sự lựa chọn CSKT là hình ảnh DN, sự xem xét trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, và cuối cùng là nhân tố kinh tế của DN

 Nghiên cứu của Mariana Gurău (2014)

Theo Mariana Gurău và các cộng sự, việc lựa chọn CSKT trong từng trường

hợp cụ thể với những mục tiêu khác nhau sẽ tác động đến BCTC, nhằm phản ánh tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của DN, từ đó cung cấp thông tin cho người sử dụng ra các quyết định kinh tế

Theo tác giả, việc lựa chọn CSKT là kết quả giữa mong muốn, kỳ vọng từ các nhà quản trị hay chủ đầu tư và sự tác động của các chuẩn mực được ban hành

cần tuân thủ Vì vậy, thông tin phản ánh trên BCTC không được xem là hoàn toàn trung thực và hợp lý Đối với việc lựa chọn CSKT, tác giả đưa ra ba mục tiêu gồm: điều chỉnh lợi nhuận kế toán trong kỳ, bảo toàn vốn dài hạn và tuân thủ các quy tắc

kế toán cũng như quy định luật thuế

Nhìn chung, nghiên cứu của Mariana Gurău góp phần làm rõ các phương pháp, hướng dẫn cụ thể khi lựa chọn CSKT nhằm đáp ứng các mục tiêu của DN Và

Trang 18

đây cũng là nghiên cứu được tác giả sử dụng trong luận văn để xây dựng thang đo cho biến lựa chọn CSKT của DN

Các nghiên c ứu tại Việt Nam

1.1.2

 Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012)

Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của thuế thu nhập DN đến sự lựa chọn các CSKT của các DN trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng Mục tiêu của nghiên cứu nhằm phân tích sự ảnh hưởng của thuế đến sự lựa chọn các CSKT của các DN ở cả góc độ

lý thuyết và thực tiễn, giúp cho DN nhận thức rõ ràng hơn tính độc lập và phụ thuộc

giữa kế toán và thuế, qua đó thay đổi cách nhìn về ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán nói chung và lựa chọn CSKT nói riêng Tác giả tiến hành điều tra số liệu

190 DN, trong đó có 15 DN có vốn nhà nước chi phối (chiếm tỷ lệ 7.9%); 39 công

ty cổ phần (chiếm tỷ lệ 20.5%); 114 công ty trách nhiệm hữu hạn (chiếm tỷ lệ 60%)

và số lượng DN tư nhân là 22 (chiếm tỷ lệ 11.6%) Kết quả nghiên cứu cho thấy sự

ưu tiên của báo cáo tài chính trong việc cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng khác nhau giữa các loại hình DN có sự khác nhau Nhưng về mặt tổng thế, các loại hình DN có xu hướng lập báo cáo tài chính ưu tiên cung cấp cho cơ quan thuế và chính DN Điều này được lý giải bởi các lý do sau: quy mô DN, trình độ và đội ngũ nhân viên kế toán, hai hệ thống sổ thuế và nội bộ cùng tồn tại, DN thờ ơ với

Luật, quy định của pháp luật, quy định cho vay của các ngân hàng và các tổ chức tín

dụng, các chuẩn mực kế toán nói chung và VAS 17 khó hiểu, trình độ chuyên môn

của chủ DN Mặc dù nghiên cứu đem lại bằng chứng giải thích ảnh hưởng của thuế đối với sự lựa chọn CSKT của DN nhưng cần hiểu rằng thuế không phải là nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT và đây cũng là hạn chế lớn nhất của nghiên cứu

 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014)

Việc nghiên cứu nhìn chung được xem xét dựa trên các ảnh hưởng kinh tế (economic consequences) mà các chính sách này mang lại Ảnh hưởng kinh tế, theo Holthausen và Leftwich (1983), là kết quả của sự thay đổi CSKT dẫn đến thay đổi

Trang 19

các chỉ tiêu kinh tế của DN như sự phân phối dòng tiền hoặc quyền lợi của các bên

sử dụng những thông tin này cho việc ký kết hợp đồng hay ra quyết định Theo đó, tác giả đã xây dựng giả thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định CSKT dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới gồm chi phí thuế TNDN, mức vay nợ,

khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị, tình trạng niêm yết, sự ổn định giữa các mức lợi nhuận và mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán

Dựa vào kết quả khảo sát, chỉ có bốn nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT của DN tại Việt Nam, đó là: chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, tình trạng niêm yết của DN và sự ổn định giữa các mức lợi nhuận (trị trung bình 3.41-5.0) Các nhân tố còn lại Khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị, và mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán không được xem là có ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN Việt Nam (trị trung bình từ 1,00 – 2,60) Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số

đề xuất nhằm nâng cao chất lượng BCTC Việt Nam giúp người sử dụng BCTC có được những nhận thức rõ về những động cơ này ở mỗi DN, qua đó có cái nhìn khách quan và rõ ràng hơn về thông tin trên BCTC của DN mình quan tâm để đưa

ra các quyết định phù hợp Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định, trong đó việc xây dựng mô hình tổng hợp từ các nhân tố rời rạc và chưa hình thành được mối quan hệ giữa các nhân tố trên

 Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Hà (2015)

Tác giả tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa

chọn CSKT của DN vừa và nhỏ trên địa bàn TPHCM Dựa trên kết quả công trình nghiên cứu của Szilveszter (2010), tác giả kế thừa 20 biến đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT Bên cạnh đó, tác giả cũng kết hợp mô hình Mariana Gurau (2014) bổ sung thêm thang đó gồm các biến sau: mức độ hay khả năng tăng

lợi nhuận khi lựa chọn CSKT của DN, mức độ hay khả năng bảo toàn vốn, đảm bảo hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn của DN; mức độ phù hợp giữa CSKT với quy định của luật thuế hiện hành

Trang 20

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự lưa chọn CSKT

của DN là thuế, kinh tế, thông tin, hình ảnh bên ngoài, hình ảnh bên trong, trung thực và hợp lý nhưng để giải thích cho sự lựa chọn chính sách kinh tế của các DN

vừa và nhỏ trên địa bàn TPHCM thì chỉ dựa vào nhân tố thuế

Luận văn đóng góp tổng kết hầu hết các nghiên cứu có liên quan đến đề tài này giúp người đọc có cái nhìn bao quát và hiểu hơn về CSKT Kết quả nghiên cứu

của luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DNVVN tại TP.HCM hiện nay, góp phần bổ sung vào tổng quan nghiên cứu về CSKT ở Việt Nam Tuy nhiên, việc thực hiện khảo sát trên nhiều loại hình DN với nhiều đặc điểm kinh doanh khác nhau sẽ khó cho ra kết quả chính xác thay vì chỉ tập trung nghiên cứu vào một ngành nghề nhất định

 Nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015)

Tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Bằng việc thu hẹp đối tượng nghiên cứu trong một ngành nghề kinh doanh cụ thể, kết quả nghiên cứu được mong đợi tin cậy đáng kể Tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014), các nhân tố được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu khá rời rạc được tìm thấy từ các nghiên cứu khác nhau, gồm 8 nhân tố: chi phí thuế, mức vay

nợ, khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản

trị, tình trạng niêm yết, mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán, quy mô DN, trình độ của kế toán viên Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN Việt Nam, và có sự

thống nhất khá cao trong quan điểm của kế toán viên và kiểm toán viên khi đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc lựa chọn CSKT, đó là: chi phí thuế, mức vay nợ, tình trạng niêm yết, trình độ kế toán viên Bài nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP.Đà Nẵng

Khe hổng nghiên cứu

1.2.

Trang 21

Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu , tác giả nhận thấy sự lựa chọn CSKT là một trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đặc biệt quan tâm Do đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này Các nghiên cứu đi sau hầu như đều tiếp cận theo quy trình các nghiên cứu trước để xây dựng và phát triển mô hình Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu mang tính chất riêng lẻ phát triển mô hình nghiên cứu gồm các biến rời rạc, thiếu tính liên kết Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích vào một nhân tố nào đó mà cụ thể là nhân tố thuế và xem nhẹ các nhân tố còn lại

Như đã đề cập, mỗi DN với đặc điểm kinh doanh khác nhau sẽ lưa chọn CSKT khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn CSKT trên diện rộng gồm tất cả loại hình DN trên một địa bàn quốc gia sẽ khó cho ra kết quả nghiên cứu chính xác Điều đó có nghĩa là nên tập trung nghiên cứu đối tượng có đặc điểm kinh doanh cụ

thể, sẽ thuận lợi cho việc xác định, tìm hiểu động cơ lựa chọn CSKT của chính DN

đó Hơn nữa, ngành nghề lựa chọn nghiên cứu phải mang tính đặc trưng, có sự khác

biệt so với các ngành nghề còn lại và nên là một trong những ngành đang có xu hướng phát triển nhận được sự khuyến khích đầu tư của chính phủ

Từ việc phân tích những mặt đạt được và hạn chế của các công trình nghiên

cứu trên thế giới và Việt Nam, tác giả nhận thấy cần có một công trình nghiên cứu

về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN với một ngành nghề kinh doanh cụ thể Và ở đây, tác giả đã lựa chọn DN sản xuất phần mềm Lý do cho

sự lựa chọn này là vì DN sản xuất phần mềm có sự khác biệt về việc lựa chọn CSKT trong cách ghi nhận doanh thu, chi phí sản xuất cũng như cách tính giá thành Bên cạnh đó, ngành nghề này ở Việt Nam hiện nay đang được hưởng các ưu đãi thuế từ chính phủ nhằm thúc đẩy hơn nữa ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam Những đặc thù như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN nhằm đạt được mục tiêu đề ra Trên cơ sở đó, kết quả nghiên cứu sẽ

là thông tin tham khảo hữu ích cho ban quản trị DN sản xuất phần mềm trong việc xây dựng CSKT cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt là cơ quan thuế khi thực hiện kiểm tra, giám sát…nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC

Trang 22

Chương tiếp theo tác giả trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết nền tảng,

từ đó kết hợp với tổng quan các nghiên cứu đã nêu trên để xây dựng mô hình nghiên

cứu cho luận văn

Trang 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN CSKT

đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”

Theo James Anderson (2003): “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là các nguyên tắc, phương pháp cụ thể được

thực hiện bởi một hoặc nhiều chủ thể trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của người đó

lập và trình bày BCTC”

 Sự lựa chọn CSKT

Từ những định nghĩa bên trên, sự lựa chọn CSKT được hiểu là việc lựa chọn

có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở

và phương pháp kế toán cụ thể mà DN có thể áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC nhằm đạt được mục tiêu nhất định (Szilveszter Fekete, 2010)

Trang 24

Việc lựa chọn, áp dụng CSKT được quy định khác nhau mỗi quốc gia nhưng

về căn bản vẫn dựa trên quy định của IAS 8 như sau:

 Trước tiên, cần căn cứ vào các chuẩn mực và hướng dẫn quy định hiện hành Một số chính sách kế toán được xem như những nguyên tắc được

thừa nhận và bắt buộc DN phải tuân thủ Một số CSKT thì DN được lựa

chọn như phương pháp khấu hao, phương pháp tính giá vốn công trình, phương pháp tính giá hàng tồn kho Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau sẽ tác động đến thông tin trình bày trên BCTC khác nhau,

từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

 Nếu không có các chuẩn mực hay hướng dẫn thì xem xét đến yêu cầu và các hướng dẫn đối với các vấn đề tương tự về các khái niệm, tiêu chuẩn ghi

nhận, cách xác định tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí trong các quy định chung cho việc lập và trình bày BCTC

 Ban giám đốc có thể xem xét đến các chính sách của tổ chức khác có cùng đặc điểm với DN mình để xây dựng các nguyên tắc, phương pháp và các

thực hành được chấp nhận trong cùng ngành

 Vai trò của CSKT

Đối với nhà quản trị: CSKT là công cụ đắc lực của nhà quản trị trong quá trình

quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kiểm soát, điều chỉnh lợi nhuận mong muốn của doanh nghiệp Bên cạnh hướng đến mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, nhà quản trị cũng cân nhắc đến các lợi ích bản thân, tìm cách đề ra CSKT sao cho thỏa mãn được mục tiêu đó Điều này thể hiện khá rõ qua lý thuyết ủy nhiệm được nghiên cứu ở phần sau

Đối với người hành nghề kế toán, kiểm toán: kế toán viên xử lý thông tin, số

liệu và trình bày BCTC căn cứ theo CSKT mà DN đã lựa chọn, bên cạnh đó cũng góp phần đề xuất với nhà quản trị các CSKT phù hợp với mục tiêu của DN; kiểm toán viên căn cứ vào CSKT để kiểm tra, phân tích số liệu, thông tin trên BCTC do

kế toán viên cung cấp từ đó đưa ra các ý kiến cho rằng CSKT đã phù hợp với quy định chuẩn mực hiện hành hay chưa

Trang 25

Đối với cơ quan thuế: CSKT là căn cứ để cơ quan thuế kiểm tra tính hợp pháp,

hợp lý các thông tin công bố trên BCTC từ đó ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán

Đối với chủ đầu tư, ngân hàng, tổ chức tín dụng: CSKT là cơ sở xem xét khả năng, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư cũng như cho vay

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN

2.2.

 Nhu cầu thông tin

Kế toán cung cấp thông tin quan trọng cho các cổ đông, chủ sở hữu cũng như ban quản lý và điều hành dự án phần mềm nhằm đưa ra các định hướng đường lối phát triển DN, giúp cho việc kiểm soát hoạt động sản xuất hiệu quả Bên cạnh đó, các chủ nợ vay cũng cần nắm thông tin của DN để kiểm soát, rà soát hoạt động cho vay hiệu quả Như vậy, việc đề ra CSKT cần căn cứ trên nhu cầu thông tin của các bên liên quan là cơ sở thông tin để họ đưa ra các quyết định kinh tế hiệu quả Bosnyák (2003) và Szilveszter Fekete (2010) cũng đã thực hiện các nghiên cứu

chứng minh được sự ảnh hưởng của nhân tố này

 Hình ảnh doanh nghiệp

Các thông tin cung cấp trên BCTC không chỉ phục vụ nhu cầu thông tin cho nhà quản lý hay cổ đông trong việc điều hành, quản lý DN mà còn là cơ sở để tạo nên hình ảnh của DN đối với cơ quan ban ngành, quần chúng (nghiên cứu của Watts

và Zimmerman 1990), với các cổ đông hiện tại và tiềm năng (nghiên cứu của Christos Tzovas 2006), các đơn vị xin vay vốn, trợ cấp (Szilveszter Fekete 2010),

…Sự lựa chọn CSKT phù hợp sẽ giúp cho DN được đánh giá tốt hơn, từ đó dễ dàng đạt được các mục tiêu đề ra Bên cạnh việc tối đa hóa lợi ích của DN, nhà quản trị cũng như ban quản lý điều hành dự án cũng tìm cách tối đa lợi ích của bản thân sao cho có thể nâng cao mức lương, thưởng đặc biệt với các DN có chính sách thưởng

tỷ lệ với lợi nhuận trên BCTC (nghiên cứu của Steven Young 1998, Michael J.Aitken và Janice A.Loftus 2009)

Trang 26

 Sự ghi nhận kế toán

DN lựa chọn CSKT sao cho khi ghi nhận các nghiệp vụ kế toán có thể đạt được mục tiêu trong việc phản ánh tốt đặc điểm nguồn lực của tổ chức hay hướng đến việc phản ánh trung thực và hợp lý BCTC theo Luật kế toán cũng như tuân thủ các chuẩn mực Bên cạnh đó, trình độ và sự chuyên nghiệp của kế toán viên cũng có tác động đến sự lựa chọn CSKT, giúp tránh các sai phạm nghiệm trọng dẫn đến

những khoản phạt hành chính cho DN và hơn nữa là nhận được sự chấp nhận của kiểm toán viên và thanh tra thuế đối với BCTC của DN Tuy nhiên, một số kế toán viên thường e ngại và có thái độ không ủng hộ với sự đổi mới do họ đã quen với kế toán truyền thống và cho rằng việc đối mới chỉ làm phức tạp hóa công tác kế toán

DN Do đó, thái độ cũng như kinh nghiệm của kế toán viên cũng có tác động đến

việc xây dựng CSKT của DN Bosnyák (2003) và Szilveszter Fekete (2010) cũng đã

thực hiện các nghiên cứu chứng minh được sự ảnh hưởng của nhân tố sự ghi nhận

kế toán đến việc lựa chọn CSKT

 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

Mặc dù việc xây dựng CSKT được xem là quan trọng, thiết yếu cho tất cả các

DN nhưng mỗi DN tùy thuộc vào từng ngành nghề, đặc điểm lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể để xây dựng CSKT khác nhau sao cho đạt được mục tiêu, chiến lược

DN đặt ra Ví dụ, các DN kinh doanh dịch vụ có cách ghi nhận kế toán khác biệt so

với DN sản xuất về doanh thu, giá vốn, các khoản thuế từ đó ảnh hưởng đến việc xây dựng CSKT khác nhau Nhân tố này được tìm ra trong lý thuyết dự phòng nhưng chủ yếu được nghiên cứu sâu trong mảng kế toán quản trị bởi Otley (1980), Waterhouse và Tiessen (1978)

Đặc điểm DN sản xuất phần mềm ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT 2.3.

 Khái niệm sản xuất phần mềm

“Phần mềm (hay sản phẩm phần mềm) là một tập hợp gồm những câu lệnh

hoặc chỉ thị được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình, theo một trật tự xác

Trang 27

định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó” (Thông tư 16/2014/TT-BTC)

“Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng” (Nghị định số 71/2007/NĐ-CP)

 Quy trình sản xuất phần mềm

“Hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng đúng quy trình là hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có tư cách pháp nhân theo quy định pháp luật, tham gia thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quy trình sản xuất sản phẩm

phần mềm nhằm tạo mới hoặc nâng cấp, chỉnh sửa, hoàn thiện sản phẩm phần mềm Quy trình sản xuất sản phẩm phần mềm bao gồm 07 công đoạn sau:

 Xác định yêu cầu, bao gồm một trong những tác nghiệp như: khảo sát yêu

cầu của khách hàng, phân tích nghiệp vụ; thu thập, xây dựng yêu cầu; tư vấn điều chỉnh quy trình; thống nhất yêu cầu, xét duyệt yêu cầu

 Phân tích và thiết kế, bao gồm một trong những tác nghiệp như: đặc tả yêu cầu; thiết lập bài toán phát triển; mô hình hóa dữ liệu; mô hình hóa chức năng; mô hình hóa luồng thông tin; xác định giải pháp phần mềm; thiết kế

hệ thống phần mềm; thiết kế các đơn vị, mô đun phần mềm

 Lập trình, viết mã lệnh, bao gồm một trong những tác nghiệp như: viết chương trình phần mềm; lập trình các đơn vị, mô đun phần mềm; chỉnh sửa, tùy biến, tinh chỉnh phần mềm; tích hợp các đơn vị phần mềm; tích hợp hệ

thống phần mềm

 Kiểm tra, thử nghiệm phần mềm, bao gồm một trong những tác nghiệp như: xây dựng các kịch bản kiểm tra, thử nghiệm các đơn vị, mô đun phần mềm;

thử nghiệm phần mềm; kiểm thử hệ thống phần mềm; kiểm thử chức năng

phần mềm; thẩm định chất lượng phần mềm; đánh giá khả năng gây lỗi; xác định thỏa mãn yêu cầu khách hàng; nghiệm thu phần mềm

Trang 28

 Hoàn thiện, đóng gói phần mềm, bao gồm một trong những tác nghiệp như: xây dựng tài liệu mô tả phần mềm, tài liệu hướng dẫn cài đặt, sử dụng phần

mềm; đóng gói phần mềm; đăng ký mẫu mã; đăng ký quyền sở hữu trí tuệ

 Cài đặt, chuyển giao, hướng dẫn sử dụng, bảo trì, bảo hành phần mềm, bao gồm một trong những tác nghiệp như: hướng dẫn cài đặt phần mềm; triển khai cài đặt phần mềm; đào tạo, hướng dẫn người sử dụng; kiểm tra phần

mềm sau khi bàn giao; sửa lỗi phần mềm sau bàn giao; hỗ trợ sau bàn giao, bảo hành phần mềm; bảo trì phần mềm

 Phát hành, phân phối sản phẩm phần mềm, bao gồm một trong những tác nghiệp như: tiếp thị, quảng bá, bán, phân phối sản phẩm phần mềm; phát hành sản phẩm phần mềm” (Thông tư 16/2014/TT-BTC)”

 Đặc điểm chính sách kế toán của DN sản xuất phần mềm

Chính sách k ế toán liên quan đến giá thành:

Do đặc điểm ngành nghề là hoạt động thiết kế website, phần mềm… nên yếu

tố cấu thành giá thành sản phẩm là nhân công và chi phí sản xuất chung (khác với các ngành sản xuất khác bao gồm cả chi phí nguyên vật liệu sản xuất)

Giá thành sản phẩm = lương nhân viên thiết kế + với chi phí phục vụ hoạt động sản

xuất thiết kế

 Lương nhân viên thiết kế được theo dõi chấm công chi tiết cho từng hợp đồng dự án Để hợp lý hóa chi phí lương nhân viên, các DN đều chuẩn bị: hợp đồng lao động, bảng chấm công, bảng lương, chứng từ thanh toán lương…

 Chi phí sản xuất chung: để phục vụ cho công tác thiết kế DN cần phải trang

bị cho nhân viên vật dùng và đồ dùng phục vụ việc thiết kế như phần mềm chuyên dụng, laptop, bút, thước kẻ,…

Như vậy, để điều chỉnh lợi nhuận của DN cho một mục đích nhất định, nhà

quản trị và kế toán có thể tác động vào 2 yếu tố lương và chi phí sản xuất chung

nhằm tăng hay giảm giá thành sản xuất vốn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí của

Trang 29

toàn DN Đối với chi phí lương, DN thường tác động bằng cách đưa ra các quy chế, điều lệ tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, phụ cấp cho người lao động DN có thể lựa chọn trả lương theo thời gian, sản phẩm hay khoán tùy theo mục đích DN Tuy nhiên, việc đưa ra các chính sách lương, thưởng DN cũng rất chú trọng đến nguyện

vọng của nhân viên- nguồn lực sản xuất chính của DN nhằm khuyến khích người lao động làm việc, hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty Về chi phí sản xuất chung, với những công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất có giá trị cao, DN

có thể tiến hành phân bổ nhiều kì DN sẽ lựa chọn thời gian phân bổ công cụ để điều chỉnh lợi nhuận tùy theo mục đích DN nhưng không được phân bổ vượt quá 36 tháng (tức 3 năm), chi phí phân bổ từ năm 4 trở đi sẽ không được tính vào chi phí hợp lệ khi tính thuế TNDN

Chính sách k ế toán liên quan đến doanh thu:

Theo quy định tại điều 5 thông tư 78/2014/TT-BTC:

“2 Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

b) Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ

Trường hợp thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ xảy ra trước thời điểm

dịch vụ hoàn thành thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế được tính theo thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ”

Nhưng từ ngày 06/08/2015 theo điều 3 thông tư 96/2015/TT-BTC quy định sửa đổi Khoản 2, điều 5 thông tư 78/2014/TT-BTC như sau:

“2 Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:

b) Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng

dịch vụ hoặc hoàn thành từng phần việc cung ứng dịch vụ cho người mua trừ trường hợp nêu tại khoản 3 Điều 5 thông tư 78/2014/TT-BTC, Khoản 1 Điều 6 Thông tư 119/2014/TT-BTC”

Trang 30

Như vậy, DN có thể lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu cung ứng dịch vụ

là thời điểm hoàn thành toàn bộ việc cung ứng dịch vụ hoặc hoàn thành từng phần việc cung ứng dịch vụ

Chính sách thu ế áp dụng đối với DN sản xuất phần mềm

Lĩnh vực sản xuất phần mềm được xem là ngành kinh tế - kỹ thuật tăng trưởng nhanh, trở thành công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới Tuy nhiên,

so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới, ngành công nghệ thông tin vẫn đang ở quy mô nhỏ, năng lực nghiên cứu và phát triển chưa cao Để nâng cao sức

mạnh cạnh tranh của DN sản xuất phần mềm, đẩy mạnh thu hút đầu tư phục vụ cho phát triển công nghệ, Chính phủ đã ra các chủ trương hỗ trợ cho các DN hoạt động trong lĩnh vực này, trong đó có chính sách ưu đãi thuế nhằm thúc đẩy hơn nữa ứng

dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam

Trong thời điểm hiện nay, Chính phủ ban hành khá nhiều ưu đãi cho các DN

và cá nhân chuyên sản xuất phần mềm hay ứng dụng điện tử Ưu đãi thuế là một trong các chính sách đó Và sau đây là ba ưu đãi thuế lớn nhất dành cho DN sản

xuất phần mềm:

 Không ch ịu thuế GTGT: “Đối tượng không chịu thuế GTGT: Chuyển

giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Trường

hợp hợp đồng chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ

có kèm theo chuyển giao máy móc, thiết bị thì đối tượng không chịu thuế GTGT tính trên phần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyển nhượng; trường hợp không tách riêng được thì thuế GTGT được tính trên cả phần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyển nhượng cùng với máy móc, thiết bị Phần mềm máy tính bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật” (Thông tư 219/2013/TT-BTC)

Hưởng ưu đãi thuế TNDN 10% trong 15 năm: “Thuế suất ưu đãi 10%

trong thời hạn mười lăm năm (15 năm) áp dụng đối với: Thu nhập của

Trang 31

doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ

thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sắt; cảng hàng không, cảng

biển, cảng sông; sân bay, nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định; sản xuất sản phẩm phần

mềm; sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ sinh học” (Thông tư 78/2014/TT-BTC)

 Mi ễn thuế TNDN trong 4 năm và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo: “Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp

trong 9 năm tiếp theo đối với: Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự

án đầu tư mới quy định tại khoản 1 Điều 19 Thông tư này (Thông tư 78/2014/TT-BTC)”

Mặc dù được hưởng ưu đãi thuế, nhưng DN không hẳn không quan tâm chi phí thuế phát sinh trong DN mà còn tìm cách để tối đa hóa các ưu đãi này Điều đó được thể hiện rõ nhất qua việc DN áp dụng quy định về thời gian tính miễn, giảm thuế Theo quy định từ thông tư 78/2014/TT-BTC: “DN thực hiện dự án đầu tư sản

xuất phần mềm được miễn TNDN tối đa không quá 4 năm kể từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư; trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong 3 năm kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án thì thời gian miễn thuế được tính từ năm thứ 4 dự án đầu tư phát sinh doanh thu” Các DN sản xuất phần mềm đều căn

cứ vào quy định này để lựa chọn các CSKT với mục đích sao cho không phát sinh

Trang 32

thu nhập chịu thuế trong năm đầu tiên, tìm cách kéo dài thời gian hưởng ưu đãi càng dài càng tốt

Lý thuyết nền

2.4.

Phần lớn các nghiên cứu đã trình bày trong phần tổng quan đều đưa ra các nhân tố ảnh hưởng cũng như phát triển giả thiết từ các lý thuyết nền tảng có liên quan mà cụ thể là lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết chính trị và lý thuyết dự phòng

 Lý thuyết bất cân xứng thông tin và lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất

hiện vào thập niên 70 bởi George Akerlo Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn một bên khác hoặc cố tình che đậy thông tin Trong một nghiên cứu của Myers và Majluf 1984, đã chỉ ra việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp Theo đó, so với các nhà đầu tư, các nhà quản lý thường có thông tin đầy đủ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, họ có thể đưa ra các CSKT theo hướng tăng

lợi nhuận làm tăng giá cổ phiếu trong khi kết quả kinh doanh không thực sự như vậy

Thực chất, thông tin bất cân xứng vừa mang tính chủ quan, vừa mang tính khách quan Tính khách quan là do cấp độ hiệu quả của thị trường gây ra những hạn

chế về truyền tải và cập nhật thông tin Tính chủ quan là do sự thiếu nổ lực cũng như chưa quan tâm đầu tư tìm kiếm khai thác thông tin của các đối tượng là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia thị trường

Lý thuyết tín hiệu dựa trên cơ sở đóng góp của 2 nghiên cứu của Arrow (1972)

và Schipper (1981) Lý thuyết tín hiệu giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư Theo đó, để khẳng định được chất lượng hoạt động

của mình, công ty công bố thông tin ra thị trường và đưa tín hiệu tới nhà đầu tư Nhà đầu tư cũng sử dụng các biện pháp để tăng cường thông tin cho mình Từ đó,

giảm dần tình trạng thông tin bất cân xứng gây thiệt hại cho cả hai bên

Trang 33

Như vậy, lý thuyết bất cân xứng thông tin giúp giải thích cho nhân tố nhu cầu

thông tin từ các bên liên quan Nhà quản trị sẽ dựa vào thông tin mong muốn từ chủ đầu tư hoặc chủ nợ để từ đó tìm cách tác động vào CSKT nhằm cung cấp những thông tin đem lại lợi ích hoặc che đậy những thông tin xấu gây thiệt hại cho DN Nhà đầu tư cần phải hiểu rõ các rủi ro mà họ đang đối mặt, căn cứ vào lý thuyết tín

hiệu để giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa họ và chính DN được đầu tư

 Lý thuyết ủy nhiệm

Lý thuyết ủy nhiệm được xây dựng đầu tiên bởi Ross (1973) và phát triển bởi Jensen và Meekling (1976) , nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal)

và bên được ủy nhiệm (agent) Thông qua hợp đồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho bên được ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên cổ đông (bên ủy nhiệm) và nhà quản lý (bên được ủy nhiệm) đều tối đa hóa

lợi ích của mình Chính điều này đã dẫn đến tồn tại những mâu thuẫn trong mối quan hệ này và từ đó phát sinh một khoản chi phí đại diện (agent cost)

Mối quan hệ ủy nhiệm xuất hiện rõ nhất trong 2 trường hợp sau:

Quan hệ nhà quản lý- cổ đông: trong quan hệ nhà quản lý – cổ đông, các cổ đông ủy nhiệm cho nhà quản lý thay mình sử dụng vốn kinh doanh và mong muốn nhà quản lý sẽ tìm cách để tăng giá trị công ty và tối đa hóa lợi ích cổ đông Từ đó,

xuất hiện mâu thuẫn trong mối quan hệ này, cổ đông mong muốn có kết quả hoạt động lâu dài trong tương lai trong khi nhà quản lý có khuynh hướng tăng lợi nhuận trong thời gian mà họ còn ở công ty nhằm hướng đến lợi ích riêng của bản thân Và như vậy, nhà quản lý sẽ đề ra các CSKT làm tăng lợi nhuận (như giảm chi phí sữa

chửa, nâng cấp, bảo dưỡng…), tìm cách tác động vào báo cáo tài chính để đạt dược

mục đích hưởng lợi ích cá nhân của mình Việc các cổ đông đánh giá năng lực nhà quản lý thông qua các thông tin tài chính là tác nhân khiến nhà quản lý tìm cách đề

ra CSKT để tác động lên thông tin BCTC cho mục đích cá nhân của mình Vì vậy,

mà cổ đông, các chủ đầu tư cần xây dựng cơ chế giám sát nhằm hạn chế hành vi tư

lợi của nhà quản lý

Trang 34

Quan hệ cổ đông – chủ nợ: trong hợp đồng vay, chủ nợ là bên ủy nhiệm và doanh nghiệp là bên được ủy nhiệm Người quản lý đại diện cho doanh nghiệp nên

là đại diện cho các cổ đông, sẽ tìm cách để tối đa hóa lợi ích của các cổ đông bằng cách đề ra các phương pháp như : chia cổ tức nhiều hơn, đầu tư vào các dự án rủi

ro cao hơn tương ứng với mức sinh lợi lớn hơn, pha loãng nợ thông qua sử dụng nợ nhiều hơn Công ty vay càng nhiều thì đòn bẩy tài chính càng cao, góp phần tăng

suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu tuy nhiên lại làm cơ cấu nguồn vốn của công ty rủi

ro hơn, khả năng thu hồi vốn cho vay của chủ nợ giảm Điều này sẽ tạo nên chi phí

ủy nhiệm mà chủ nợ gánh chịu khi đi vay Lúc này, chủ nợ sẽ sử dụng biện pháp

bảo vệ bằng các điều khoản hạn chế: kiểm soát chia cổ tức nhằm hạn chế việc chia

cổ tức quá nhiều, kiểm soát chính sách tài trợ để chống lại việc pha loãng nợ, kiểm soát các khoản đầu tư, yêu cầu cung cấp thông tin Tuy nhiên, việc sử dụng các điều khoản này lại phải căn cứ vào số liệu kế toán của doanh nghiệp Như vậy, một lần nữa, các nhà quản trị có thể tác động vào CSKT để cho ra các thông tin trên BCTC sao cho đạt được mục đích của mình

Qua phân tích như trên, ta nhận thấy lý thuyết ủy nhiệm đã giải thích cho

nhân t ố hình ảnh và sự ghi nhận kế toán của DN Nhà quản trị lựa chọn CSKT

phản ánh tốt đặc điểm nguồn lực của tổ chức từ đó xây dựng hình ảnh đẹp của DN trong mắt cổ đông, các bên cho vay nhằm mang lại lợi ích cho chính cá nhân nhà

quản trị trong việc đạt được mức lương thưởng mong muốn hay đem lại lợi ích cho công ty trong việc đi vay vốn từ ngân hàng và các chủ nợ khác

 Lý thuyết chi phí chính trị

Lý thuyết chi phí chính trị được đề cập trong nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1978) nghiên cứu về ảnh hưởng của việc điều chỉnh BCTC theo chỉ số giá ảnh hưởng đến số liệu kế toán và các khoản khen thưởng cho nhà quản lý Chi phí chính trị là chi phí mà một nhóm bên ngoài (Nhà nước, nghiệp đoàn hay các nhóm cộng đồng) có thể buộc DN phải chịu thông qua một hành vi mang tính chính

trị Ví dụ như các chi phí liên quan đến bảo vệ hay phá hoại môi trường, các khoản tăng lương cho nhân viên khi DN có tăng lãi theo yêu cầu từ phía công đoàn, các

Trang 35

khoản bảo hiểm, trợ cấp v.v… Những chi phí trên ảnh hưởng đến lợi nhuận, do đó

DN sẽ lựa chọn chính sách với các định hướng lâu dài tác động tích cực đến hình ảnh của họ và tránh được sự chú ý của công chúng và cơ quan quản lý nhằm tối thiểu hóa chi phí chính trị Như vậy, lý thuyết chi phí chính trị cũng đã giải thích

cho nhân t ố hình ảnh trong việc tác động đến sự lựa chọn CSKT của DN

 Lý thuyết dự phòng

Lý thuyết dự phòng đã được phát triển vào giữa những năm 1960 và được sử dụng bởi các nhà kế toán quản trị giữa năm 1970 đến những năm 1980 như Otley (1980), Waterhouse và Tiessen (1978) Lý thuyết dự phòng xem CSKT là một thành phần cơ cấu tổ chức của DN, nghiên cứu kế toán là quá trình điều chỉnh sự phù hợp giữa CSKT cụ thể và các biến theo ngữ cảnh của 1 DN Theo đó, lý thuyết

dự phòng nghiên cứu CSKT trong mối quan hệ tương tác với môi trường hoạt động

của DN Nói cách khác một CSKT thích hợp với DN phụ thuộc vào đặc điểm DN

và môi trường mà DN đó hoạt động Điều này cho thấy không thể xây dựng một mô hình CSKT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả các DN Việt Nam mà việc vận dụng CSKT vào DN phải tùy thuộc vào đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh

doanh Qua đó, ta nhận thấy lý thuyết dự phòng giúp giải thích cho nhân tố đặc

điểm ngành nghề ảnh hưởng sự lựa chọn CSKT phù hợp của DN

Mô hình nghiên cứu

2.5.

Dựa vào cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả xây

dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT bao gồm biến phụ thuộc sự lựa chọn CKST và 4 biến độc lập là nhu cầu thông tin, hình ảnh

DN, sự ghi nhận kế toán và đặc điểm DN sản xuất phần mềm:

Sau đây là mô hình nghiên cứu của luận văn:

Trang 36

Hình 2.1: Mô hình nghiên c ứu luận văn

Đồng thời, tác giả đưa ra các giả thuyết nhằm kiểm định về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT như sau:

H1: Nhân tố nhu cầu thông tin có tác động dương đến sự lựa chọn CSKT của

DN

Kế toán cung cấp thông tin quan trọng cho các cổ đông, nhà quản lý nhằm đưa ra các định hướng đường lối phát triển DN, giúp cho việc kiểm soát hoạt động sản

xuất thuận lợi Bên cạnh đó, ngân hàng và các bên cho vay cũng cần nắm thông tin

của DN để kiểm soát, rà soát hoạt động cho vay hiệu quả Vì vậy, việc lựa chọn CSKT cần căn cứ trên nhu cầu thông tin của nhà quản lý và các bên liên quan Tác

giả xây dựng giả thiết tác động cùng chiều dựa trên nghiên cứu của Bosnyák (2003)

và Szilveszter Fekete (2010)

S Ự LỰA

CH ỌN CSKT

Trang 37

H2: Nhân tố hình ảnh DN có tác động dương đến sự lựa chọn CSKT của DN

Các thông tin cung cấp trên BCTC là cơ sở để tạo nên hình ảnh của DN đối với nhà đầu tư, ngân hàng và cơ quan ban ngành Sự lựa chọn CSKT phù hợp sẽ giúp cho

DN được đánh giá tốt hơn, từ đó dễ dàng đạt được mục tiêu đề ra Điều này được

nhận thấy rõ ở các nghiên cứu liên quan như Szilveszter Fekete (2010), Christos Tzovas (2006), Steven Young (1998)

H3: Nhân t ố sự ghi nhận kế toán có tác động dương đến sự lựa chọn CSKT của

DN

DN lựa chọn CSKT sao cho khi ghi nhận các nghiệp vụ kế toán có thể đạt được

mục tiêu trong việc phản ánh tốt đặc điểm nguồn lực của tổ chức, hay hướng đến việc phản ảnh trung thực và hợp lý tuân thủ chuẩn mục kế toán Bên cạnh đó thái độ cũng như kinh nghiệm của kế toán viên cũng tác động đến sự lựa chọn CSKT của

DN sản xuất phần mềm Căn cứ xây dựng giả thiết tác động cùng chiều của nhân tố

sự ghi nhận kế toán đến sự lựa chọn CSKT dựa trên nghiên cứu của Bosnyák (2003)

và Szilveszter Fekete (2010)

H4: Nhân t ố đặc điểm DN sản xuất phần mềm có tác động dương đến sự lựa chọn CSKT của DN

DN sản xuất phần mềm với những đặc điểm riêng biệt trong cách ghi nhận kế toán

và tính ưu đãi thuế từ chính phủ ảnh hướng đến ban quản trị khi đề ra CSKT nhằm cung cấp thông tin BCTC phù hơp mục tiêu DN đặt ra Tác giả xây dựng giả thiết căn cứ trên các nghị định, thông tư quy định đối với chính sách kế toán của DN sản

xuất phần mềm

Các giả thuyết nghiên cứu này sẽ được kiểm định để bác bỏ hay chấp nhận, từ

đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN sản xuất

phần mềm

Trang 38

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong chương này, tác giả đã trình bày các khái niệm, đặc điểm liên quan đến sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất phần mềm Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích 5 lý thuyết nền tảng quan trọng liên quan đến đề tài bao gồm lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết dự phòng và lý thuyết chi phí chính trị Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu gồm

1 biến phụ thuộc và 4 biến độc lập: nhân tố thông tin, nhân tố hình ảnh, nhân tố sự ghi nhận kế toán và nhân tố đặc điểm DN sản xuất phần mềm nhằm thực hiện mục đích chính của luận văn là kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT

của các DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM

Trang 39

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

3.1.

Phương pháp nghiên cứu

3.1.1

 Phương pháp nghiên cứu định tính:

Phương pháp nghiên cứu định tính được tác giả sử dụng để khái quát, mổ tả lý thuyết kế toán, phân tích tổng quan nghiên cứu liên quan, tìm hiểu đặc trưng và quy định đối với DN sản xuất phần mềm, trên cơ sở đó xây dựng thang đo cho bài nghiên cứu Cụ thể tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp tổng hợp, phân tích, tư duy: tổng hợp các công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận văn tìm hiểu, các văn bản pháp lý (thông tư, quyết định) quy định về DN sản xuất phần mềm; phân tích lý thuyết kế toán, phân tích số liệu thống kê, kết quả trên phần mềm SPSS để đưa ra nhận xét, kết luận về vấn đề nghiên cứu Phương pháp tư duy được sử dụng xuyên xuốt đề tài nhằm đưa ra những phán đoán, nhận định trong từng tình huống cụ thể

 Điều tra, phỏng vấn lấy ý chuyên gia (Phụ lục 1): tác giả thực hiện phỏng

vấn những chuyên gia trong ngành am hiểu việc xây dựng CSKT của các

DN sản xuất phần mềm gồm giảng viên, kế toán và thanh tra là những người đã từng thực hiện nghiên cứu, công tác kế toán hoặc kiểm tra DN sản

xuất phần mềm nhằm tìm ra biến đo lường “Đặc điểm DN sản xuất phần mềm” ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Bên cạnh đó, cũng xin ý kiến,

quan điểm đánh giá của chuyên gia đồng ý hay không đồng ý về thang đo

của bài nghiên cứu trước khi xây dựng bảng khảo sát chính thức

 Phương pháp thống kê mô tả: thực hiện thống kê, mô tả mẫu khảo sát nhằm đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu thu thập được trước khi chạy phân tích dữ

liệu

 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Trang 40

Phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến

sự lựa chọn CSKT của các DN sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM

Tác giả sử dụng bảng câu hỏi khảo sát làm công cụ thu thập dữ liệu (trả lời

trực tiếp hoặc thông qua biểu mẫu google Đối với công cụ phân tích dữ liệu, tác giả

sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) để phân tích dữ liệu định lượng trong bài nghiên cứu này

Kết quả nghiên cứu định lượng nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra trước đó gồm các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN

sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM và mức độ tác động của các nhân tố như

thế nào Từ đó, là cơ sở để tác giả trả lời cho câu hỏi cần đề xuất các kiến nghị nào đối với các đối tượng liên quan đến việc lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC của các công ty sản xuất phần mềm trên địa bàn TPHCM

Quy trình nghiên c ứu

3.1.2

Với việc áp dụng nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, quy trình nghiên cứu gồm các bước được trình bày cụ thể như sơ đồ bên dưới:

Ngày đăng: 17/09/2020, 12:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm