1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng phân tích thực nghiệm tại việt nam

87 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu của tác giả phân tích mối quan hệ giữa vay nợ ngân hàng và chất lượng các khoản dồn tích bằng mô hình hồi quy theo dữ liệu bảng kết hợp với phân tích tác động cố địn

Trang 1

-

LÊ ĐỨC NGỌC

CHẤT LƯỢNG CÁC KHOẢN DỒN TÍCH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN VAY NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành ph ố Hồ Chí Minh, Năm 2016

Trang 2

-

LÊ ĐỨC NGỌC

CHẤT LƯỢNG CÁC KHOẢN DỒN TÍCH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN VAY NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh, Năm 2016

Trang 3

vốn vay ngân hàng - Phân tích thực nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sự hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn khoa học là PGS.TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào Những dữ liệu cùng các nội dung trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được ghi trong phần tài liệu tham khảo Nếu có bất kỳ sai sót, gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày… tháng…năm 2016

H ọc Viên

LÊ ĐỨC NGỌC

Trang 4

Trang TRANG PH Ụ BÌA

L ỜI CAM ĐOAN

M ỤC LỤC

DANH M ỤC CÁC BẢNG

TÓM T ẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 2

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5

1.4 Tính mới và tính đóng góp của đề tài 5

1.5 Nội dung của bài nghiên cứu 7

C HƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 9

2.1 Lý thuyết tổng quan 9

2.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (The Asymmetric Information Theory) 9

2.1.2 Lý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory) 10

2.1.4 Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking-Order Theory)) 11

2.2 Mối quan hệ giữa thông tin bất cân xứng và vay nợ ngân hàng 11

2.3 Chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng 13

2.3.1 Khái niện các khoản dồn tích 13

2.3.2 Đặc điểm và vai trò của các khoản dồn tích trong hoạt động doanh nghiệp 14

Trang 5

2.4 Tổng quan về bài nghiên cứu gốc 19

C HƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Mẫu và dữ liệu 21

3.1.1 Đối với dữ liệu thô 21

3.1.2 Đối với dữ liệu sau khi đã tính toán các biến 22

3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu 22

3.3 Ước lượng biến đại diện cho chất lượng dồn tích 29

3.4 Các phương pháp hồi quy 33

3.5 Kiểm định cho mô hình nghiên cứu 33

3.5.1 Kiểm định chọn lựa mô hình 33

3.5.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan, phương sai thay đổi 34

CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Thống kê mô tả 36

4.2 Kết quả nghiên cứu 38

4.2.1 Kết quả tính AQ_DD và AQ_sdDD 38

4.2.2 Kết quả tính AQ_McN và AQ_sdMcN 39

4.2.3 Kết quả tính AQ_BS và AQ_sdBS 39

4.2.4 Ma trận tương quan tuyến tính 40

4.2.5 Kết quả nghiên cứu chính 42

4.3 Kiểm định tính vững của mô hình 49

Trang 6

5.2 Gợi ý một số giải pháp nhằm minh bạch và chính xác hóa thông tin, nâng cao hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng 56

5.2.1 Về phía bộ tài chính 56

5.2.2 Về phía các doanh nghiệp tại Việt Nam 58

5.2.3 Về phía các ngân hàng 60

5.3 Một vài hạn chế và hướng mở của luận văn cho những nghiên cứu tiếp theo 61

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Trang 7

Bảng 3.2 Kỳ vọng dấu các biến ở phương trình (1) 28

Bảng 4.1 Thống kê mô tả vay nợ ngân hàng, chất lượng các khoản dồn tích và các biến độc lập khác 35

Bảng 4.2 Ước lượng biến đại diện cho chất lượng dồn tích AQ_DD và AQ_sdDD theo Mô hình Dechow và Dichev (2002) 38

Bảng 4.3 Ước lượng biến đại diện cho chất lượng dồn tích AQ_McN và AQ_sdMcN theo McNichols (2002) 39

Bảng 4.4 Ước lượng biến đại diện cho chất lượng dồn tích AQ_BS và AQ_sdBS theo Ball và Shivakuma (2006) 40

Bảng 4.5 Ước lượng biến đại diện cho chất lượng dồn tích AQ_BS và AQ_sdBS sau khi loại bỏ biến D 41

Bảng 4.6 Ma trận hệ số tương quan 43

Bảng 4.7 Tổng hợp giá trị p_value từ kiểm định Likelihood 45

Bảng 4.8 Tổng hợp giá trị p_value từ kiểm định Breuch and Pagan Test 46

Bảng 4.9 Tổng hợp giá trị p_value từ kiểm định Hausman Test 46

Bảng 4.10 Tổng hợp giá trị p_value từ kiểm định Sargan- Hansen Test 47

Bảng 4.11 Tổng hợp giá trị p_value từ kiểm định Woolridge test 48

Bảng 4.12 Tổng hợp giá trị p_value từ kiểm định Heteroskedasticity Test 48

Bảng 4.13 Tác động của chất lượng dồn tích lên khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng 49 Bảng 4.14 Mô tả các biến trong phương (5) 52

Bảng 4.15 Kết quả của mô hình (1) sau khi chạy lại bằng các biến predict_AQ 55

Trang 8

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tên Đề Tài:

CH ẤT LƯỢNG CÁC KHOẢN DỒN TÍCH VÀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN

VAY NGÂN HÀNG PHÂN TÍCH TH ỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

Tóm t ắt:

Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành tính kiểm định sự tác động của chất lượng các khoản dồn tích đến khả năng tiếp cận vốn vay Ngân hàng theo dữ liệu bảng của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam Kết quả chỉ ra rằng có mối quan

hệ đồng biến giữa chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng tại thị trường Việt Nam Dựa trên kết quả trên, luân văn kiến nghị việc ứng dụng chất lượng các khoản dồn tích trong quản lý doanh nghiệp và lĩnh vực tín dụng ngân hàng Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình lý thuyết gồm 3 phương trình tính toán về chất lượng các khoản dồn tích (bao gồm: Mô hình của Dechow và Dichev năm 2002, Mô hình của McNichols năm 2002, Mô hình của Ball and Shivakumar năm 2006) để tính toán chất lượng các khoản dồn tích Cuối cùng sử dụng mô hình hồi quy theo dữ liệu bảng kết hợp với phân tích tác động cố định của từng công ty bằng phương pháp Fixed Effect (FEM) sau đó sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS) để khắc phục hiện tượng nội sinh và phương pháp GLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan

Trang 9

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

1.1 Lý do chọn đề tài

Báo cáo tài chính là một trong những phương tiện chủ yếu để các bên thứ ba đánh giá và đưa ra quyết định Các nhà tổ chức chuyên nghiệp tập trung phần lớn nguồn lực để phân tích báo cáo tài chính của nhiều công ty khác nhau để ra quyết định đầu tư, khách hàng xem xét báo cáo tài chính để tìm ra đối tác hoạt động hiệu quả và đặc biệt các chủ nợ cũng đánh giá việc cho vay thông qua báo cáo tài chính Hoạt động vay vốn ngân hàng là hoạt động quan trọng và xảy ra thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kiểm tra báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp ngân hàng xác định tài sản của công ty có thể dùng làm tài sản thế chấp, đánh giá khả năng tạo dòng tiền trong tương lại, đánh giá khả năng trả nợ và phân tích rủi ro của công ty trong việc xác định lại suất cho vay Việc doanh nghiệp có tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng được hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng báo cáo tài chính Vì vậy để chứng minh báo cáo tài chính minh bạch, thông tin xác thực và đáng tin cậy, báo cáo tài chính đòi hỏi phải được kiểm toán từ một đơn vị độc lập Việc kiểm toán chỉ mang tính chất thời điểm và

nhằm mục đích kiểm ra rằng liệu báo cáo tài chính có được sự khách quan, trung thực và tuân thủ chuẩn mực trên khía cạnh trọng yếu hay không Đối với chỉ tiêu lợi nhuận, hạn chế của kiểm toán là không quan tâm đến tính bền vững và mối quan hệ

giữa các chỉ số này về mặt ý nghĩa tài chính theo thời gian vì trong đó có thành phần dồn tích đóng vai trò quan trọng và chi phối chất lượng của lợi nhuận và báo cáo tài chính

Hiện nay, việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu về dồn tích chưa được chú trọng tại Việt Nam Đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Chính vì vậy, dựa trên bài nghiên cứu gốc của Pedro J García-Teruel, Pedro Martínez-Solano, Juan Pedro Sánchez-Ballest của University of Murcia nghiên cứu các công ty tại Tây Ban Nha, với đề tài “The role of accruals quality in the access to bank debt”, đăng trên

Trang 10

tạp chí Journal of Banking & Finance (2014) Tôi chọn đề tài: “Chất lượng các kho ản dồn tích và Khả năng tiếp cận vốn vay Ngân hàng – Phân tích thực nghiệm

t ại Việt Nam.” để tìm ra mối quan hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích đại diện

cho chất lượng lợi nhuận và tỷ lệ nợ đại diện do khả năng tiếp vốn vay của doanh nghiệp Dựa trên mối quan hệ, tác giả kiến nghị nhiều giải pháp để ứng dụng rộng rãi chỉ tiêu chất lượng các khoản dồn trong quản lý doanh nghiệp và xây dựng thang

đo đánh giá hạn mức tín dụng dựa trên chất lượng các khoản dồn tích trong lĩnh vực tín dụng

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Từ nghiên cứu của Dechow (1994) và Sloan (1996) đã mở đầu cho hàng loạt các nghiên cứu tiếp theo về các khoản dồn tích và mối quan hệ giữa với chất lượng lợi nhuận Nguyên tắc kế toán dồn tích thừa nhận rằng, lợi nhuận kế toán bao gồm hai thành phần: thành phần dồn tích (accrual) và thành phần tiền (cash) Thành phần

tiền là dòng tiền công ty thực tế thu hoặc chi trong quá trình sản xuất kinh doanh, còn thành phần dồn tích là con số bắt nguồn từ quá trình hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh không cần biết nghiệp vụ đã thực thu hoặc thực chi tiền hay chưa Theo nghiên cứu trước đây của Subramanyam và John J.Wild (2008); Dechow (1994 và 1998) cho rằng: Cả hai thành phần này đều đóng góp vào chất lượng lợi nhuận nhưng vì thành phần tiền thường có xu hướng bền vững hơn thành phần dồn tích” nên nếu lợi nhuận được hình thành chủ yếu từ thành phần dồn tích thì lợi nhuận sẽ có chất lượng thấp hơn so với lợi nhuận được hình thành chủ yếu từ thành phần tiền Nghiên cứu của Sloan (1996) chỉ ra rằng mặc dù kế toán dồn tích ưu việt hơn so với kế toán bằng tiền nhưng thành phần dồn tích lại ít quan trọng hơn thành phần tiền trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty Các nghiên cứu sau này sử dụng các khoản dồn tích để đo lường cho chất lượng báo cáo tài chính trong các nghiên cứu của Dechow và Dichev (2002), Kasznik (1999); McNichols và Stubben (2008) Báo cáo tài chính có chất lượng càng cao, doanh nghiệp càng dễ dàng tiếp cận vốn ngân hàng hơn (Pedro J García-Teruel; Pedro Martínez-Solano; Juan Pedro Sánchez-Ballest, 2014)

Trang 11

Vai trò của bất cân xứng thông tin trong hợp đồng nợ ngân hàng cũng là một khía cạnh được đặc biệt quan tâm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Với sự hiện diện của các khiếm khuyết thị trường này, các định chế tài chính phải đối mặt với vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức, làm cho việc đánh giá dự án đầu tư của bên vay và theo dõi các hành vi cơ hội của họ trở nên khó khăn Các nghiên cứu trước đây của Andersons và Makhija (1999), Hook (2003), Denis và Mihov (2003)

đã tập trung vào tác động và mối liên hệ giữa thông tin thông tin bất cân xứng và vay nợ ngân hàng của doanh nghiệp Ngân hàng sử dụng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính để ước lượng dòng tiền dự kiến trong tương lai của khách hàng vay và đánh giá khả năng trả nợ của họ (Berger và Udell, 2006) Nghiên cứu của Francis (2005) cũng chỉ ra rằng độ chính xác của lợi nhuận là yếu tố để giảm rủi ro thông tin đối với người cho vay, cải thiện các điều khoản trong hợp đồng vay Một câu hỏi đặt ra vậy trên khía cạnh ngân hàng, có xem xét thành phần dồn tích trong quá trình vay vốn ngân hàng để giảm thiểu rủi ro thông tin bất cân xứng hay không? Bài nghiên cứu này sẽ kiểm định mối liên hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích có liên quan tới chất lượng lợi nhuận và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng Cụ thể, bài nghiên cứu này tập trung giải quyết các các mục tiêu sau:

- Tìm ra mối quan hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích và khả năng vay nợ ngân hàng của doanh nghiệp niên yết tại Việt Nam

- Đề xuất việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán để giảm thiểu rủi ro thông tin dẫn tới hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng Gợi ý vận dụng kết quả nghiên cứu xây dựng chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng dựa trên chất lượng các khoản dồn tích, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng

Để đạt được mục tiêu của luận văn đặt ra ở trên, nội dung chính của luận văn cần phải trả lời được câu hỏi sau:

- Có tồn tại mối liên hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp

cận nợ ngân hàng tại Việt Nam hay không ?

Trang 12

- Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với việc ứng dụng các khoản dồn tích tại thị trường Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của bài nghiên cứu này là nghiên cứu sự tương quan giữa chất lượng các khoản dồn tích và tỷ lệ nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên sàn HOSE và HNX từ năm 2009-2015 Các công ty được thu thập dữ liệu phải từ báo cáo tài chính thường niên đã được kiểm toán trong giai đoạn nghiên cứu

1.3 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Khung lý thuyết của bài nghiên cứu này dựa trên lý thuyết thông tin bất cân xứng (The Asymmectric Information Theory), lý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory) của Jensen và Meckling (1976), Lý thuyết trật tự phân hạng (the pecking-order theory) của Myers và Majluf (1984) và phương pháp tiếp cận từ nghiên cứu của Pedro J García-Teruel, Pedro Martínez-Solano, Juan Pedro Sánchez-Ballest (2014) để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

Phân tích thực nghiệm được thực hiện với dữ liệu bảng trên 495 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam từ năm 2009 - 2015, dữ liệu bảng có thể kiểm soát tốt vấn đề không đồng nhất (heterogeneity) giữa các công ty Bài nghiên cứu của tác giả phân tích mối quan hệ giữa vay nợ ngân hàng và chất lượng các khoản dồn tích bằng mô hình hồi quy theo dữ liệu bảng kết hợp với phân tích tác động cố định của từng công ty bằng phương pháp fixed effect (FEM) sau đó sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS) để khắc phục hiện tượng nội sinh và phương pháp GLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan sẽ đạt được kết quả chính xác và đáng tin cậy hơn

1.4 Tính mới và tính đóng góp của đề tài

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về các khoản dồn tích và xu hướng nghiên cứu thay đổi theo thời gian Các nghiên cứu nổi bật trong thế kỷ 20 là nghiên cứu của Dechow (1994 và 1998) đã chỉ ra thành phần dồn tích là thông tin hữu ích để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty Sloan (1996) đánh giá chất lượng lợi

Trang 13

nhuận dựa trên các khoản dồn tích và kết quả là thành phần dồn tích có xu hướng ít bền vững hơn thành phần tiền trong báo cáo lợi nhuận được công bố Tiếp theo nghiên cứu của Sloan (1996) là hàng loạt các nghiên cứu về chất lượng các khoản dồn tích ra đời trong thế kỷ 21 của Dechow và Dichew (2002), McNichols (2002), Ball và Shivakumar (2006) Ngoài ra, các khoản dồn tích còn xuất hiện trong nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính của Gomariz và Ballesta (2014) Trên lĩnh vực đầu tư, các nghiên cứu của nhóm tác giả Ray Ball; Joseph Gerakos; Juhani; Valeri Nikolaev (2015) so sánh tác động của lợi nhuận hoạt động của cơ sở tiền và lợi nhuận hoạt động của cơ sở dồn tích đối với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng chứng khoán trong tương lai Nghiên cứu mối liên hệ giữa các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng của nhóm tác giả Pedro J García-Teruel, Pedro Martínez-Solano, Juan Pedro Sánchez-Ballest (2014) là nghiên cứu mới nhất về vấn đề này được đăng trên tạp chí uy tín, xếp hạng Q1: Journal of Banking & Finance Ý tưởng

của nghiên cứu này là xây dựng chỉ số đánh giá chất lượng tín dụng thông qua chất lượng các khoản dồn tích Đây là một ý tưởng mới mẽ về việc ứng dụng nghiên cứu về các khoản dồn tích

Tại Việt Nam, có một số tác giá đã nghiên cứu về khoản dồn tích như Lê Quang Minh & các tác giả (2013) và Nguyễn Thu Hằng & các tác giả (2014) Các nghiên cứu này đều cho thấy khoản dồn tích có tính bền vững thấp hơn dòng tiền, làm đảo chiều lợi nhuận kế toán trong tương lại Cùng nghiên cứu về vấn đề dồn tích, tuy nhiên, luận văn này có nhiều điểm khác biệt so với các nghiên cứu của các tác giả trước: (i) luận văn tập trung nghiên cứu mối liên hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2009 đến 2015 từ đó làm rõ mối liên hệ giữa chất lượng lợi nhuận và thông tin bất cân xứng trong quá trình tiếp cận vốn vay ngân hàng Bên cạnh đó, (ii) luận văn sử dụng công thức cách tính toán của Dechow và Dichev (2002) và được hiểu chỉnh, phát triển bởi McNichols (2002); Ball và Shivakumar (2006) khác với cách tính toán của Lê Quang Minh và các tác giả (2013) dựa trên mô hình của Sloan (1996) tính toán khoản dồn tích bằng chênh lệnh

Trang 14

của thu nhập và dòng tiền, và khác với cách tính toán của Nguyễn Thu Hằng và các tác giả (2014) sử dụng cách tính toán của Richardson (2005) Với cách tính toán này, luận văn đã loại bỏ các khoản dồn tích dài hạn, phù hợp với với đặc tính kém bền vững của các khoản dồn tích nên chỉ tác động đến chất lượng lợi nhuận và báo cáo tài chính trong ngắn hạn, cụ thể là năm tài chính tiếp theo (iii) Khác với nghiên cứu của Lê Quang Minh (2013), luận văn sử bằng phương pháp fixed effect (FEM) sau đó sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS) và phương pháp GLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan sẽ đạt được kết quả chính xác hơn

Về mặt đóng góp của luận văn: bài nghiên cứu vận dụng nhiều lý thuyết về mối quan hệ giữa các khoản dồn tích và chất lượng báo cáo tài chính Đứng trên góc độ doanh nghiệp, bài nghiên cứu này có thể hé lộ một số phương pháp để các nhà quản lý có thể quản trị chất lượng báo cáo tài chính, nâng cao chất lượng thông tin

kế toán Đứng góc độ ngân hàng, đề xuất xem xét tính toán các hệ số dồn tích để đánh giá chất lượng lợi nhuận và đánh giá rủi ro thông tin bất cân xứng trong hoạt động cho vay Ý tưởng lớn lao của nghiên cứu là dựa trên các khoản dồn tích, chúng ta xây dựng một thang đo về chất lượng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng Từ đó giảm thiểu rủi ro nợ quá hạn hay nợ xấu trong thị trường tín dụng hiện nay Về mặt học thuật, việc kiểm định được tính quan hệ giữa chất lượng thành phần dồn tích và tỷ lệ nợ sẽ tạo ra nhiều vấn đề gợi mở liên quan đến lý thuyết về vai trò các khoản dồn tích, chất lượng lợi nhuận, thông tin bất cân xứng và chất lượng tín dụng của ngân hàng tại Việt Nam Luận văn làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về các khoản dồn tích, hệ số dồn tích trong việc quản lý, đánh giá chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam Chẳng hạn như nghiên cứu về việc xác định một tiêu chuẩn để làm căn cứ đánh giá cho hệ số dồn tích bao nhiêu là tốt, bao nhiêu là xấu trong việc quản lý, thẩm định doanh nghiệp

1.5 Nội dung của bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu này sẽ kiểm định xem ở Việt Nam có tồn tại mối quan hệ giữa thành phần dồn tích và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng

Trang 15

Bài nghiên cứu gồm 5 phần:

Phần 1: Giới thiệu tổng quan

Phần 2: Lý thuyết tổng quan và các kết quả nghiên thực nghiệm Phần 3: Phương pháp nghiên cứu

Phần 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu đạt được

Phần 5: Kết luận

Trang 16

CHƯƠNG 2

2.1 Lý thuyết tổng quan

Các doanh nghiệp tại thị trường mới nổi tài trợ đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh từ nguồn vốn bên ngoài như vay ngân hàng, tín dụng thương mại, tài trợ của chính phủ, hoặc từ lợi nhuận giữ lại và vốn góp thêm của chủ sở hữu (Beck và cộng

sự, 2008) Theo nghiên cứu của Beck và cộng sự (2008); Brown và cộng sự (2008) thì vay vốn ngân hàng là nguồn vốn bên ngoài phổ biến nhất cho các công ty ở các nước đang phát triển Đúng như các nghiên cứu trên, nguồn tài trợ bên ngoài thường rất hạn chế cho các doanh nghiệp tại các thị trường mới nổi như Việt Nam chủ yếu

là các khoản vay ngân hàng và tín dụng thương mai

Trong quá trình vay mượn, sự hiện diện của thông tin bất cân xứng giữa người

đi vay và người cho vay là vấn đề luôn được quan tâm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Các lý thuyết nền tảng của luận văn xoay quanh mối quan hệ giữa thông tin bất cân xứng trong quá trình vay nợ ngân hàng và chất lượng các khoản dồn tích gắn liền với chất lượng báo cáo tài chính để giảm thiểu rủi ro thông tin trong hoạt động tín dụng

2.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (The Asymmetric Information Theory)

George Akerlof, Michael Spense và Joseph Stiglitz (1970) đã giải thích nhiều vấn đề trong nền kinh tế một cách tổng quát và mở rộng lý thuyết nhằm lập luận trên thực tế thông tin là không cân xứng, tức là có một số người trên thị trường sẽ

có thông tin tốt hơn Trong hoạt động tín dụng, việc "vay mượn" giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín dụng và trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin hơn Trong nghiên cứu của Myer và Majluf (1984) chỉ ra rằng khi tồn tại thông tin bất cân xứng, những nhà quản trị công ty có nhiều thông tin hơn và do đó họ sẽ tiến hành các quyết định đầu tư có lợi cho bản thân mà không

Trang 17

quan tâm đến lợi ích cổ đông Kết quả là hiệu quả đầu tư bị ảnh hưởng đáng kể, dẫn đến hiện tượng đầu tư quá mức hoặc dưới mức và mẫu thuẫn giữa các cổ đông và chủ nợ công ty

Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự

án, về mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hơn khách hàng Do đó, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình, bản thân các tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn nghịch lợi và rủi ro đạo đức lại nhằm cho vay đúng người đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra

2.1.2 Lý thuyết chi phí đại diện (The Agency Theory)

Lý thuyết này được trình bày bởi Jensen và Mecking (1976) và Jensen (1986) cho rằng quyết định cấu trúc vốn dựa trên vấn đề đại diện giữa cổ đông và người quản lý công ty Khi mà các cổ đông bị giới hạn hoặc mất quyền kiểm soát đối với nhà quản lý thì nhà quản lý sẽ có động cơ tiến hành các hoạt động tư lợi cho bản thân và có thể làm hại đến quyền lợi của cổ đông Jensen (1986) cho rằng vấn đề về chi phí đại diện sẽ trở nên nghiêm trọng khi doanh nghiệp có dòng tiền vượt quá mức cần thiết để thực hiện các dự án có hiện giá ròng NPV dương Ông gọi dòng tiền dôi dư là dòng tiền tự do Bên cạnh đó, việc sử dụng nợ cũng làm nảy sinh hai vấn đề cơ bản Thứ nhất, nó làm giảm chi phí đại diện giữa cổ đông và nhà quản lý Bởi lẽ dòng tiền tự do giảm do cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ Thứ hai, nó làm tăng chi phí đại diện giữa chủ nợ và cổ đông Cổ đông có thể đầu tư vào dự án có mức rủi ro cao, chủ nợ yêu cầu mức lợi nhuận cao hơn, tương xứng với rủi

ro của khoản nợ cho vay Do đó, lợi nhuận của dự án sẽ dồn về cho chủ nợ hơn là

cổ đông Myer (1977) gợi ý xa hơn là sự hiện diện của nợ có thể khiến cho những dự án có NPV dương bị từ chối Do chấp nhận dự án này thì rủi ro tài chính sẽ tăng

và giá trị chuyển đổi từ cổ đông sang chủ nợ Do đó, chủ nợ sẽ đòi mức lãi suất cao hơn và kiên quyết áp dụng những ràng buộc hạn chế vay vốn như khế ước vay nợ

và sử dụng công cụ giám sát

Trang 18

2.1.3 Lý thuyết trật tự phân hạng (the pecking-order theory)

Thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) giả thuyết rằng ban quản trị biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin bất cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai Thông tin bất cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài, và giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần Điều này đưa tới một trật tự phân hạng, theo đó đầu tư sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận giữ lại; rồi mới đến phát hành nợ mới; và cuối cùng bằng phát hành cổ phần mới Phát hành vốn cổ phần mới thường là phương án cuối cùng khi công ty đã sử dụng hết khả năng vay nợ, tức là, khi mối đe dọa của các chi phí kiệt quệ tài chính làm cho các chủ nợ hiện hữu cũng như giám đốc tài chính của các công ty lo âu Lý thuyết trật tự phân hạng còn giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lời thường vay ít hơn – không phải

vì họ có tỷ nợ mục tiêu thấp mà vì họ không cần tiền bên ngoài Các doanh nghiệp

có khả năng sinh lợi ít hơn thì phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chương trình đầu tư vốn vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của nguồn tài trợ từ bên ngoài

2.2 Mối quan hệ giữa thông tin bất cân xứng và nợ vay ngân hàng

Ngân hàng đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng Có thể hiểu cấp tín dụng một cách đơn giản là việc ngân hàng cho khách hàng "vay" một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định Sau đó khách hàng có nghĩa

vụ hoàn trả "khoản vay" nêu trên cho ngân hàng cộng với khoản "lãi" kèm theo Việc "vay mượn" giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín dụng

và trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin hơn Đây chính là vấn đề bất cân

xứng về thông tin trong các hoạt động của nền kinh tế Sự hiện diện của thông tin

Trang 19

bất cân xứng giữa người đi vay và người cho vay được sử dụng bởi bởi các tài liệu tài chính như một cách giải thích truyền thống lý do tại sao vốn không phải lúc nào cũng chảy tới các công ty có cơ hội đầu tư hiệu quả (Stiglitz và Weiss, 1981) Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn nghịch

“adverse selection” và rủi ro đạo đức “moral hazard” (George Akerlof, Michael Spense và Joseph Stiglitz; 1970) Lựa chọn nghịch là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên ít thông tin hơn Rủi ro đạo đức lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự án, về mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hơn khách hàng Do đó, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình, bản thân các tổ chức tín dụng phải xử lý thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn nghịch lợi và rủi ro đạo đức lại nhằm cho vay đúng người đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra Từ quan điểm lý thuyết đại diện, có những cơ chế kiểm soát khác nhau (như kiểm soát chất lượng báo cáo tài chính và sự công khai tình hình tài chính…) nhằm làm giảm vấn đề thông tin bất cân ứng, rủi ro thông tin và kiểm soát tốt hơn từ đó giảm hành vi cơ hội của người quản lý (Bushman và Smith, 2001; Healy và Palepu, 2001; Hope và Thomas, 2008) Theo các nghiên cứu trước đây, ngân hàng giám sát “người đi vay” hiệu quả hơn các tổ chức tín dụng, cá nhân cho vay khác (Fama, 1985; Houston and James, 1996; Blackwell and Kidwell, 1988; Diamond, 1984, 1991) và ngân hàng có khả năng thiết lập hoặc tái thiết lập các điều khoản của hợp đồng tín dụng dựa trên đặc điểm của người đi vay (Bharath et al., 2008) Việc giám sát này gắn liền với lợi ích của nhà quản trị và các cổ đông và hạn chế các vấn đề rủi ro đạo đức liên quan đến đầu

tư dưới mức (Myers, 1977), đầu tư không có lợi nhuận (Hoshi và cộng sự, 1991) và chuyển dịch tài sản (Jensen và Mecking, 1976) Hơn thế nữa, nợ ngân hàng cũng làm giảm thông tin bất cân xứng liên quan đến nợ công chúng (vay từ doanh nghiệp

Trang 20

khác, vay cá nhân) vì tín hiệu tài trợ từ ngân hàng là thông tin tích cực về chất lượng tín dụng do đó làm tăng uy tín công ty (Diamond, 1991; Yoha, 1995)

2.3 Chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng 2.3.1 Khái niện các khoản dồn tích

Theo chuẩn mực kế toán Viện Nam hiện hành quy định nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền” Các doanh nghiệp hiện nay sử dụng nguyên tắc kế toán dồn tích, do đó sẽ có sự chênh lệch giữa thu nhập kế toán và dòng tiền của doanh nghiệp Khoảng chênh lệch này gọi là các khoản dồn tích Hay nói cách khác, thu nhập kế toán của doanh nghiệp sẽ có hai thành phần là thành phần dòng tiền và thành phần dồn tích Thành phần dồn tích trong thu nhập kế toán

là những phần doanh thu chưa thực thu bằng bằng tiền gọi là doanh thu dồn tích (revenue accruals) hoặc chi phí chưa thực chi bằng tiền gọi là chi phí dồn tích (expense accruals) Lấy ví dụ về nghiệp vụ doanh nghiệp bán chịu hàng hóa có giá

trị 10 tỷ đồng cho khách hàng của mình, khoản tiền này sẽ được khách hàng thanh toán vào kỳ kế toán năm sau, như vậy theo cơ sở dồn tích thì khoản tiền 10 tỷ đồng này vẫn được ghi nhận là doanh thu tương ứng với khoản phải thu, đây là một loại

của doanh thu dồn tích Tương tự như doanh thu dồn tích, chi phí dồn tích chính là chi phí đã phát sinh nhưng chưa có dòng tiền ra ví dụ như doanh nghiệp thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh thanh toán bằng phương thức trả sau, khoản tiền thuê này

sẽ được ghi nhận là là chi phí đã phát sinh ở kỳ kế toán này nhưng thực tế tiền mới phát sinh ở kỳ kế toán sau Trong kế toán, các khoản doanh thu dồn tích sẽ tương ứng với các khoản tải sản và chi phí dồn tích sẽ tương ứng với với các khoản nguồn vốn Do đó, khi xuất hiện một khoản dồn tích nó sẽ ảnh hưởng đến cả bảng cân đối kế toán lẫn kết quả hoạt động kinh doanh Hầu hết các khoản dồn tích đều sẽ gặp hiện tượng “đảo chiều bút toán dồn tích (accruals reversal)”, hiện tượng này sẽ xảy

Trang 21

ra khi doanh nghiệp thanh toán các khoản phải trả cho nhà cung cấp hoặc nhận được tiền khi khách hàng thanh toán các khoản phải thu

2.3.2 Đặc điểm và vai trò của các khoản dồn tích trong hoạt động doanh nghi ệp

Dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, các khoản dồn tích có các đặc điểm sau:

2.3.2.1 Các kho ản dồn tích có tính bền vững kém hơn so với dòng tiền

Sloan (1996) cho rằng tính bền vững của khoản dồn tích so với dòng tiền là do những yếu tố chủ quan của các nhà quản trị muốn thao túng các thông tin trên báo cáo tài chính, làm cho các khoản dồn tích có độ tin cậy thấp Hribar (2002) đưa ra hai nguyên nhân nhằm giải thích cho hiện tượng này Nguyên nhân thứ nhất đưa ra tương tự như với cách giải thích của Sloan (1996), Hribar (2002) cũng đồng ý rằng các nhà quản trị cố tình làm sai lệch thông tin trên báo cáo tài chính nhằm điều chỉnh thu nhập kế toán theo ý muốn, điều này làm cho các khoản dồn tích trở nên kém tin cậy, ảnh hưởng đến việc giảm độ bền vững của các khoản dồn tích trong thu nhập Nguyên nhân thứ hai được Hribar (2002) đưa ra là các khoản dồn tích bị

đo lường sai lệch Nghiên cứu của Dechow và Dechew (2002) cho rằng chất lượng các khoản dồn tích – đo lường bằng sai số chuẩn trong ước lượng các khoản dồn tích – càng thấp tính bền vững của thu nhập càng thấp điều này đến từ cả năng lực

của kế toán cùng ban quản trị và hiện tượng thao túng các số liệu kế toán Schipper

và Vincent (2003) cho rằng tính bền vững của các khoản dồn tích đến từ thiếu sót của các chuẩn mực kế toán, họ cho rằng các chuẩn mực kế toán càng không chặt

chẽ ( quá nhiều chổ ước tính, dự đoán, hoặc dựa vào ý chí quản trị) thì lợi nhuận kế toán có độ bền vững thấp Trong khi đó, Richardson và cộng sự (2005) lại cho rằng: trong các khoản dồn tích, có những thành phần ước lượng rất khó chính xác, ước lượng những khoản này thường xuất hiện sai số đo lường, làm cho các khoản dồn tích tăng tính kém bền vững Dechow và Ge (2006) lại phát hiện ra rằng: tính bền vững thấp của các khoản dồn tích là do các khoản bất thường gây ra Cụ thể, các

Trang 22

doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh các khoản dồn tích thông qua các khoản bất thường như là việc ghi giảm các khoản phí trong thu nhập, từ đó làm giảm tính bền vững trong thu nhập

2.3.2.2 Vai trò kh ử nhiễu trong thu nhập của các khoản dồn tích

Theo chuẩn mực số 95 của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB) thì các khoản dồn tích chính là sự thay đổi trong vốn lưu động không bằng tiền trừ

đi chi phí khấu hao tài sản cố định Tác giả sẽ phân tích 2 thành phần vốn lưu động ròng và thành phần khấu khâu trong tài sản cố định

Đối với thành phần vốn lưu động ròng: Vai trò của khoản dồn tích đã được Dechow (1994), Watts và cộng sự (1996), Dechow và Watts (1998), Dechow và Dechew (2002) đề cập trong nghiên cứu của họ như là những khoản làm giảm đi sự nhiễu của dòng tiền hoạt động phát sinh do các yếu tố bên ngoài cũng như các hành động thao túng báo cáo tài chính của người quản lý gây ra đối với các khoản mục trong vốn lưu động doanh nghiệp Nếu so sánh với lợi nhuận kế toán, dòng tiền hoạt động có độ nhiễu cao hơn vì nó không chứa các khoản tài sản lưu động kém bền vững như hàng tồn kho, các khoản trả trước của khách hàng, tài khoản phải thu và các khoản nợ ngắn hạn khác như doanh thu chưa thực hiện, các khoản dự phòng hay khoản phải trả Các khoản này có đặc điểm là không phát sinh dòng tiền ở hiện tại nhưng có thể phát sinh trong những kì kế toán tiếp theo Do đó, dòng tiền sẽ không phản ánh chính xác được tình hình tài chính của doanh nghiệp

Để hiểu rõ hơn về vai trò khử nhiễu của các khoản dồn tích, tác giả xem xét một doanh nghiệp bắt đầu thuê một địa điểm làm trụ sở kinh doanh tại thời điểm

gần cuối năm tài chính nhưng lại chậm chi trả tiền thuê địa điểm và phải hoãn lại cho đến năm sau Sự chậm trễ này có thể là do các hoạt động bên ngoài như gián đoạn ở tài khoản ngân hàng hay các sự cố ngoài ý muốn khác (các yếu tố ngoại sinh) Cũng có thể là do doanh nghiệp trong kỳ kế toán có dòng tiền rất âm, các nhà quản trị doanh nghiệp muốn thu hút đầu tư nên cố ý hoãn việc chi trả cho đến năm sau (yếu tố thao túng báo cáo tài chính) Sự trì hoãn này sẽ làm cân bằng hơn dòng

Trang 23

tiền của doanh nghiệp ở kỳ này, do đó dòng tiền sẽ được cải thiện Tuy nhiên, vấn đề này chỉ là tạm thời trong một kỳ kế toán đó và đến khi thanh toán được thực hiện, dòng tiền doanh nghiệp lại âm như một hệ quả tất yếu Vấn đề này được các khoản dồn tích giải quyết như sau, doanh nghiệp tuy không thực hiện trả khoản tiền thuê địa điểm nhưng vẫn phải ghi nhận đó là một khoản chi phí tại thời điểm phát sinh và ghi nhận dưới hình thức là khoản phải trả, đây là một thành phần trong các khoản dồn tích và do đó, việc thanh toán chưa được doanh nghiệp thực hiện nhưng chi phí vẫn sẽ được ghi nhận trong thu nhập Điều này cho rằng, thu nhập kế toán phản ánh trung thực hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp hơn là dòng tiền hoạt động nhờ vào vai trò khử nhiễu của thành phần tài sản vốn lưu động ròng trong các khoản dồn tích Đối với thành khấu hao tài sản cố định Tương tự với thành phần tài sản lưu động của doanh nghiệp, thành phần khấu hao tài sản cố định cũng giúp việc phản ánh chi phí của doanh nghiệp được trung thực hơn Lấy ví dụ một doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị mới, trong kỳ kế toán đó, dòng tiền âm của doanh nghiệp sẽ là rất lớn vì đầu tư vào máy móc thiết bị này Do đó, nếu xem xét hoạt động của một doanh nghiệp qua dòng tiền thì đây sẽ là một kỳ hoạt động không hiệu quả vì dòng tiền rất âm Tuy nhiên, bằng việc khấu hao tài sản cố định, giá trị của tài sản cố định sẽ được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời sử dụng hữu ích của tài sản đó, những phân bổ này sẽ đưa vào chi phí của doanh nghiệp trong kỳ và do đó làm cho thu nhập phản ánh hợp lý hơn dòng tiền của doanh nghiệp Từ những phân tích trên, ta thấy rằng dồn tích đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho báo cáo tài chính thể hiện chính xác tính hình doanh nghiệp

2.3.3 Mối liên hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích và chất lượng báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là một hệ thống các số liệu và phân tích cho ta biết tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và dòng tiền của một doanh nghiệp Mục tiêu của Báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Thông tin trên báo cáo tài chính là một nguồn

Trang 24

thông tin quan trọng trong việc giảm thiểu các vấn đề liên quan đến rủi ro cho vay

và bất cân xứng thông tin Nếu các nguyên tắc, trình bày báo cáo tài chính không đầy đủ, rõ ràng, thiếu tính đồng bộ và khó áp dụng sẽ khiến báo cáo tài chính trở nên kém hữu ích và khả dụng

Điều chỉnh báo cáo tài chính để có kết quả tốt hay nói cách khác là làm đẹp báo cáo tài chính (Window dressing) là hành vi phổ biến của nhà quản lý để đạt được mục đích của họ Làm đẹp báo cáo tài chính thông qua điều chỉnh lợi nhuận là phổ biến nhất vì lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng và dễ gây sự chú ý nhất cho người đọc báo cáo tài chính Có rất nhiều lý do dẫn đến hành động điều chỉnh lợi nhuận như: chế độ trả công dành cho người quản lý theo mức lợi nhuận, điều chỉnh lợi nhuận để tránh vi phạm điều khoản hợp đồng vay, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo hình ảnh tốt về công ty để thu hút đầu tư từ bên ngoài…v.v Do đó, khi

có cơ hội các nhà quản trị sẽ thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận theo chủ ý của

họ Để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị có thể có nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể là trực tiếp kiểm tra đối chiếu giữa báo cáo tài chính với các sổ sách, chứng từ liên quan của những doanh nghiệp nghi ngở có điều chỉnh lợi nhuận Tuy nhiên, phương pháp này thường chỉ được thực hiện thông qua các cơ quan có thẩm quyền như thanh tra thuế, kiểm toán…v.v Các đối tượng sử dụng thông tin khác như các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư rất khó sử dụng phương pháp này

Một phương pháp khác phát hiện giạn lận, làm đẹp báo cáo tài chính là dựa vào cơ sở kế toán được vận dụng để lập báo cáo tài chính: Đó là cơ sở dồn tích Như đã trình bày ở 2.3.1, cơ sở dồn tích là mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Trong khi đó, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền, các nghiệp vụ chỉ được ghi nhận khi có

số tiền thực thu, thực chi Từ đó, chênh lệch giữa lợi nhuận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạo ra những

Trang 25

biến kế toán mà các nhà nghiên cứu thường gọi là biến kế toán dồn tích – accruals Hay nói cách khác “accruals” là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Do dòng tiền từ hoạt động kinh doanh không thể điều chỉnh, để điều chỉnh lợi nhuận các nhà quản trị phải nhận diện các biến kế toán dồn tích và điều chỉnh các biến này Vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng các khoản dồn tích (accruals) như là một thước đo chất lượng báo cáo tài chính như: nghiên cứu của Fuensanta và cộng sự (2014) nghiên cứu về “Chất

lượng báo cáo tài chính, kỳ hạn nợ và hiệu quả đầu tư” đã sử dụng mô hình đo

lường chất lượng dồn tích của Dechow và Dichew (2002), nghiên cứu của Nesrine Klai (2011) đã sử dụng mô hình đo lường chất lượng dồn tích của McNichols (2002) và nghiên cứu của Jennifer Martinez (2014) sử dụng mô hình mô hình đo lường chất lượng dồn tích của Ball và Shivakumar (2006) để đo lường chất lượng báo cáo tài chính Ba mô hình nói trên đều được sử dụng trong bài nghiên cứu này

2.3.4 Ảnh hưởng của chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng

Dựa trên những phân tích về đặc điểm và vai trò của các khoản dồn tích và các nghiên cứu trước, chất lượng các khoản dồn tích chính là đại diện cho chất lượng báo cáo tài chính Báo cáo tài chính và hệ thống thông tin kế toán là một cơ sở cực

kỳ quan trọng giúp cho các bên có liên quan nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp Nếu một hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính không được

tổ chức tốt, không minh bạch và có độ tin cậy không cao sẽ rất khó có thể căn cứ để xem xét "sức khoẻ" của doanh nghiệp Các tài liệu nghiên cứu về vai trò của thông tin đến quyết định cho vay cho thấy bằng chứng về việc ngân hàng dựa trên báo cáo tài chính của khách hàng vay trong quyết định tín dụng tại thị trường mới nổi (Danos và cộng sự, 1989; Berry và cộng sự, 1993; Berry và cộng sự, 2004; Kitindi

và cộng sự, 2007) Việc sử dụng các báo cáo tài chính để làm căn cứ thẩm định dự

án của ngân hàng là kỹ thuật dựa trên sức mạnh báo cáo tài chính của người đi vay Ngân hàng sử dụng thông tin kế toán này để ước lượng dòng tiền dự kiến trong tương lai của khách hàng vay và sau đó đánh giá khả năng trả nợ của họ (Berger và

Trang 26

Udell, 2006) Do đó báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng trong việc giảm thiếu các vấn đề liên quan đến rủi ro cho vay và bất cân xứng thông tin: chất lượng thông tin càng cao thì rủi ro thông tin của công ty càng thấp, vì người vay có thể ước tính toán hơn dòng tiền trong tương lai của công ty đảm bảo các khoản vay sẽ được hoàn trả

Trong nghiên cứu của Dechow (1994) đã khẳng định chất lượng các khoản dồn tích càng cao thì rủi ro thông tin càng giảm và chất lượng các khoản dồn tích đã được chứng minh là một nhân tố cải thiện việc tiếp cận thị trường nợ và điều kiện

ký kết hợp đồng tín dụng chẳng hạn như chi phí thấp hơn; kỳ hạn nợ dài hơn và tài sản đảm bảo ít hơn trong tài trợ vốn vay ngân hàng (Francis et al., 2005; Bharath et al., 2008)

Trái ngược với các thị trường vốn phát triển tốt ở Mỹ hoặc Anh, hệ thống tài chính của Việt Nam được ngân hàng định hướng, hầu hết các nguồn lực được chuyển qua ngân hàng Dựa trên kết quả của các bài nghiên cứu trên và mối tương quan âm giữa bất cân xứng thông tin và nợ ngân hàng, tác giả cho rằng giảm rủi ro thông tin không chỉ ảnh hưởng đến các điều khoản hợp đồng vay mà còn ảnh hưởng đến khả tiếp cận các khoản vay ngân hàng

2.4 Tổng quan về bài nghiên cứu gốc

Bài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên bài nghiên cứu của PedroJ García-Tureul, Pedro Martínez-Solano, Juan Pedro Sánchez-Ballesta (2014) v ề

“The role of accruals quality in the access to bank debt” khi nghiên cứu các công

ty tại Tây Ban Nha về mối quan hệ giữa chất lượng các khoản dồn tích và khả năng

tiếp cận nợ ngân hàng

Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích ảnh hưởng cố định (Fixed Effect) và sử dụng dữ liệu bảng tại các doanh nghiệp kinh doanh ở Tây Ban Nha với mẫu được lấy từ 1998 đến 2005 để kiểm tra ảnh hưởng của chất lượng các khoản dồn tích với khả năng vay nợ ngân hàng của doanh nghiệp Trong quá trình xử lý dữ

Trang 27

liệu tác giả chỉ lấy các doanh nghiệp đủ số liệu trong năm năm liên tục Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa đồng biến giữa chất lượng các khoản dồn tích và khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng Bằng việc giảm rủi ro thông tin mà người cho vay phải đối mặt, chất lượng các khoản dồn tích có ý nghĩa kinh tế đối với doanh nghiệp Bên cạnh đó, kết hợp với kết quả nghiên cứu trước trước đây về mối quan hệ nghịch biến giữa chất lượng thông tin kế toán và thông tin bất cân xứng, quan hệ đồng biến giữa chất lượng các khoản dồn tích và chất lượng thu nhập, tác giả đề xuất rằng: có thể sử dụng chất lượng các khoản dồn tích hay chất lượng lợi nhuận để làm giảm rủi

ro thông tin bất cân xứng với ngân hàng và dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng hơn

Trang 28

CHƯƠNG 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mẫu và dữ liệu

3.1.1 Đối với dữ liệu thô

Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu được lấy từ hai sàn chứng khoán HNX và HOSE trong giai đoạn 2008 đến 2015 Đối với dữ liệu vay ngắn hạn ngân hàng, vay dài hạn ngân hàng, thời gian hoạt động của doanh nghiệp được thu thập thủ công từ

các báo cáo tài chính, báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán của hơn 600 doanh nghiệp niêm yết, cụ thể được thu thập từ website: www.cafef.vn (Cafef), www.vietstock.vn (Vietstock) Các chỉ tiêu còn lại được cung cấp bởi trung tâm dữ liệu khoa tài chính, Vietstock và được kiểm tra đối chiếu với các các báo cáo tài chính, báo cáo tài chính hợp nhất được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng Từ đó, các dữ liệu thô được tổng hợp và tính toán để làm cơ sở dữ liệu cho việc thực hiện hồi quy mô hình đã được trình bày ở phần trên

Dữ liệu trong mẫu thỏa mãn các yêu cầu:

• Trước tiên, các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính (tức là, ngân hàng, bảo hiểm, công ty bảo hiểm nhân thọ và ủy thác đầu tư) và trong các lĩnh vực tiện ích (ví dụ: điện, nước ) được loại trừ Bởi vì các công ty trong lĩnh vực nay có cách thức kế toán khác với các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, dịch vụ

• Thứ hai, Mô hình nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng kết hợp với phân tích tác động

cố định của từng công ty bằng phương pháp fixed effect (FEM) sau đó sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS) để khắc phục hiện tượng nội sinh và phương pháp GLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan yêu cầu sử dụng độ trễ, ngoài ra đối với các công ty không đủ dữ liệu trong vòng 5 năm liên tục có độ tin cậy kém vì nhiều lý do khác nhau như như dữ liệu bị gián đoạn và không phù hợp với nghiên cứu Cho nên các công ty này sẽ bị xóa bỏ phù hợp với nghiên cứu gốc

Trang 29

Các khoản mục được thu thập và tính toán các biến dựa trên phần mềm excel 2013

và Stata

3.1.2 Đối với dữ liệu sau khi đã tính toán các biến

Sau khi thực hiện thu thập dữ liệu thô theo các bước đã được mô tả như trên,

tác giả thực hiện xử lý dữ liệu để tính toán các biến Chi tiết về các biến và mô hình

nghiên cứu đã được nêu rõ ở các phần trên

Mặc dù dữ liệu thô được thu thập từ năm 2008 đến năm 2015 nhưng việc tính

toán các dồn tích phải lấy chênh lệch giữa hai năm, do đó các quan sát năm 2008 sẽ

không xuất hiện trong bộ dữ liệu đã xử lý Bộ dữ liệu cuối cùng cho nghiên cứu này

có 3.179 quan sát được lấy từ 495 doanh nghiệp niêm yết từ 2009 đến 2015

3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu

Mô hình luận văn đưa ra để kiểm định tác động của chất lượng các khoản dồn

tích lên khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng dựa vào nghiên cứu của của Pedro J

García-Teruel, Pedro Martínez-Solano, Juan Pedro Sánchez-Ballest (2014) như sau:

𝑩𝑨𝑵𝑲𝑫𝑬𝑩𝑻𝒊𝒕 = 𝒊𝒏𝒕𝒆𝒓𝒄𝒆𝒑𝒕 + 𝜹𝟏𝑨𝑸𝒊𝒕+ 𝜹𝟐𝑮𝑹𝑶𝑾𝑷𝒊𝒕+ 𝜹𝟑𝑳𝑬𝑽𝒊𝒕+ 𝜹𝟒𝑺𝑰𝒁𝑬𝒊𝒕+

𝜹𝟓𝑭𝑨𝒊𝒕+ 𝜹𝟔𝑹𝑶𝑨𝒊𝒕+ 𝜹𝟕𝑨𝒍𝒕𝒎𝒂𝒏 − 𝒁𝒊𝒕+ 𝜹𝟖𝑳𝑨𝑮𝑬𝒊𝒕+ 𝜹𝟗𝑪𝑭𝑶𝑰𝑵𝑫𝒊𝒕+ 𝝀𝒕+ 𝜼𝒊+ 𝜺𝒊𝒕 (1)

Trong đó, BANKDEBT đo lường là khoản vay từ ngân hàng, được tính toán

bằng tổng nợ ngân hàng chia cho tổng tài sản của công ty

AQ mô tả các biến đại diện khác của chất lượng các khoản dồn tích (đo lường

theo mô hình của Dechow và Dichev’s (2002); McNichols (2002); Ball và

Shivakumar (2006); GROWP đại diện cho cơ hội tăng trưởng được tính bằng doanh

thu năm t trên doanh thu năm t-1; LEV là đòn bẫy được định nghĩa là tổng nợ trên

tổng tài sản; SIZE là quy mô được tính bằng logarit tự nhiên của tài sản; FA là tài

sản cố định trên tổng tài sản; ROA là tỷ suất sinh lợi trên tài sản được xác định bằng

là tỷ suất sinh lợi trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản; Altman-Z là chỉ số sức

mạnh tài chính của công ty, được tính toán bằng phương trình: Z = 0.012 X1 + 0.014

X2 + 0.033 X3 + 0.066 X4 + 0.999 X5 Với X1 là vốn lưu động/tổng tài sản; X2 là

lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản; X3 là lợi nhuận trước lãi vay và thuế/tổng tài sản; X4

Trang 30

là giá trị thị trường nguồn vốn/thư giá của tổng nợ; X5 là doanh thu/tổng tài sản Chỉ số Z đã được Biddle và Hilary (2006) sử dụng trong ước lượng tác động của chất lượng kế toán với đầu tư vốn của doanh nghiệp tại 34 quốc gia từ năm 1993 –

2004, trong đó có các quốc gia đang phát triển ở Châu Á như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Pakistan, Thái Lan và Việt Nam

LNAGE là logarit tự nhiên cho số năm hoạt động của công ty từ khi thành lập

và CFOIND là dòng tiền hoạt động tương đối so với trung bình ngành Các thông số

𝜆𝑡 là các biến giả thay đổi theo thời gian xem xét và 𝜂𝑖 đại diện cho đặc điểm không quan sát được có ảnh hưởng đáng kể lên nợ ngân hàng của công ty Những biến này thay đổi khác nhau được giả định là không đổi cho mỗi công ty

B ảng 3.1 Tóm tắt các biến phương trình (1)

STT Mã biến Tên biến Kết quả nghiên cứu

Biến phụ thuộc

1 Bankdebt Nợ ngân

hàng Biến độc lập

dồn tích

Chất lượng các khoản dồn tích càng cao, công

ty càng có khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng

Terual, Solano và Ballesta (2014) với nghiên cứu: "vai trò của chất lượng dồn tích với khả năng tiếp cận nợ vay ngân hàng"

Aloke Ghosh và Doocheol Moon (2010) nghiên cứu về tài trợ nợ doanh nghiệp và

chất lượng thu nhập

Trang 31

3 GROWP Cơ hội tăng trưởng

Công ty có cơ hội tăng trưởng cao có nhiều khả năng cạn kiệt quỹ nội bộ và sử dụng nợ nhiều hơn

Michaelas và cộng sự (1999) với nghiên cứu về: Chính sách tài trợ và cấu trúc vốn của các công ty tại Anh

Công ty có cơ hội phát triển cao thể hiện chi phí kiệt quệ tài chính cao hơn, vì vậy sẽ ưu tiên sử dụng vốn chủ

sở hữu để tài trợ các dự

Nghiên cứu về:"Tài trợ và

hạn chế pháp đến lý tăng trưởng bền vững doanh nghiệp" của Beck và các cộng sự (2008)

5 SIZE Quy mô Công ty lớn sẽ có lợi

thế về chi phí đại diện, chi phí phá sản, chi phí giao dịch thấp, cho nên công ty ít bị tổn thương hơn khi tồn tại bất cân xứng thông tin, lựa

Antoniou cùng các cộng sự

(2006) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc và kì hạn nợ”

Frank và Goyal (2007) khi tiến hành nghiên cứu về “Lý thuyết đánh đổi và trật tự

Trang 32

chọn bất lợi, và dễ tiếp cận thị trường vốn

phân hạng của nợ”

hoạt động

Ở các quốc gia phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng thì công ty hoạt động lâu đời có rủi ro thông tin bất cân xứng thấp và dễ dàng tiếp cận nợ vay ngân hàng hơn

Andrés Alonso và cộng sự (2005) với nghiên cứu: "Yếu

t ố ảnh hưởng đến nợ vay ngân hàng trong h ệ thống tài chính: b ằng chứng từ các công ty Tây Ban Nha."

Những công ty hoạt động lâu năm có rủi ro thông tin bất cân xứng thấp và dễ dàng tiếp

cận nợ hơn Vì vậy có

xu hướng sử dụng nhiều nợ từ công chúng hơn

Denis và Mihov (2003) với nghiên cứu :”Sự lựa chọn

gi ữa nợ vay ngân hàng và nợ vay cá nhân, n ợ vay từ công chúng.”

hình

Tài sản đảm bảo trong việc làm giảm các vấn đề rủi ro đạo đức khi xuất hiện thông tin bất cân xứng

Boot và cộng sự, 1991; Boot

và Thakor, 1994

lợi trên tài sản

Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng lợi nhuận công ty cao thì ít

có động lực sử dụng

nợ

Theo Myers (1984); và Myers và Majluf (1984) với nghiên cứu “trò chơi về cấu trúc vốn”

Trang 33

9

Altman-Z

Chỉ số sức mạnh tài chính

Khả năng tiếp cận nợ ngân hàng phụ thuộc vào sức mạnh tài chính của đơn vị

Boot và cộng sự (1991); Boot và Thakor (1994)

10 CFOIND Dòng tiền

hoạt động tương đối so với trung bình ngành

Công ty tạo ra dòng tiền (CFOIND) cao hơn có nhiều khả năng tài trợ dự án của họ bằng nguồn vốn nội bộ

Dựa vào lập luận về sự lựa chọn giữa các quỹ nội bộ và

nợ tư nhân trong nghiên cứu

"ch ất lượng báo cáo tài chính và k ỳ hạn nợ ảnh hưởng tới hiểu quả đầu tư"

của Fuensanta và cộng sự (2004)

Ngu ồn: Tổng hợp của tác giả

Các tài liệu nghiên cứu về nợ ngân hàng cho thấy các yếu tố như thời gian hoạt động hay tuổi của doanh nghiệp (LNAGE) là biến đại diện cho thông tin bất cân xứng và uy tín công ty, ảnh hưởng tới mức độ nợ ngân hàng vì những thông tin

mà chúng tạo ra kỳ vọng tài chính của người đi vay (Diamond, 1991; Petersen và Rajan, 1994) Những công ty lớn hơn và lâu đời thể hiện thông tin bất cân xứng thấp hơn và có danh tiếng tốt hơn (Berger và Udell, 1995) vì vậy kỳ vọng rằng hướng sử dụng nhiều nợ từ công chúng hơn (nghiên cứu của Denis và Mihov, 2003:”Sự lựa chọn giữa nợ vay ngân hàng và nợ vay cá nhân, nợ vay từ công chúng”).Vì vậy, dự kiến một mối tương quan âm của thời gian hoạt động của doanh nghiệp với nợ vay ngân hàng Tuy nhiên, như De Andrés Alonso và cộng sự (2005) chỉ ra rằng, các nước phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn vốn vay ngân hàng, trong trường hợp này việc tiếp cận vốn vân ngân hàng phụ thuộc vào sự lựa chọn nghịch và vấn đề rủi ro đạo đức do thông tin bất cân xứng mà người cho vay phải đối mặt Vì vậy khả năng một mối tương dương của quy mô và tuổi với nợ vay ngân hàng vẫn có thể xảy ra

Trang 34

Quy mô công ty (SIZE): Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng đòn bẩy tài chính có mối tương quan thuận với quy mô của doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp là một đại diện cho khả năng phá sản Công ty lớn thường thường đa dạng hóa và có dòng tiền tự do ổn định Do đó khả năng phá sản của công ty lớn thường thấp hơn so với công ty nhỏ

Ngoài ra, trong nghiên cứu của Michael và cộng sự (1999) về chính sách tài trợ và cấu trúc vốn của các công ty ở Vương quốc Anh đã chỉ ra rằng những công ty

có cơ hội tăng trưởng (GROWP) cao hơn có nhiều khả năng cạn kiệt quỹ nội bộ và

do đó điều này sẽ dẫn đến sử dụng nợ vay nhiều hơn Các nghiên cứu khác của Scherr và Hullburt (2001) với nghiên cứu “cấu trúc kì hạn của nợ trong các doanh nghiệp nhỏ” cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng kì hạn nợ của công ty có quan hệ ngược chiều với cơ hội tăng trưởng Điều này cho thấy một mối quan hệ dương giữa các cơ hội tăng trưởng và nợ Tuy nhiên, công ty có cơ hội phát triển có thể đối mặt với vấn đề đầu tư dưới mức do lợi nhuận của khoản đầu tư trả cho chủ nợ vì vậy bằng cách giảm nợ công ty có thể tránh được những chi phí đại diện giữa cổ đông

và chủ nợ Heyman và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng những công ty có cơ hội phát triển có chi phí kiệt quệ tài chính cao hơn, vì vậy họ sẽ sử dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ các dự án thay vì dùng nợ vay Những lập luận cho thấy một mối tương quan

âm giữa các cơ hội tăng trưởng và đòn bẫy, phù hợp với các bằng chứng thực nghiệm trước đó cho doanh nghiệp ở Tây Ban Nha và các nước khác như Bỉ, với hệ thống tài chính dựa trên ngân hàng (Heyman và cộng sự, 2008; López-Gracia và Sogob-Mira, 2008; De Andrés Alonso và cộng sự, 2005)

Trong nhiều tình huống khác nhau, khi doanh nghiệp bị rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính (Financial Distress) có thể dẫn đến những sự kiện xấu đi trong khả năng thanh toán của doanh nghiệp Đặc biệt với doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng với ngân hàng thương mại khả năng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn là rất lớn Kết quả xấu nhất là dẫn đến phá sản Phá sản được xem như dấu chấm hết đối với một doanh nghiệp, khi doanh nghiệp phá sản không chỉ

Trang 35

ảnh hưởng trực tiếp đến chủ sở hữu của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác như: người lao động, cơ quan thuế, cơ quan nhà nước, các công ty đối tác, thị trường…mà trong đó ngân hàng là đối tượng có thể bị tổn thương nhiều nhất.Chỉ số AtlmanZ-score (Chỉ số Z) của Altman (1968) là công cụ để phát hiện sớm rủi ro của doanh nghiệp và phát hiện sớm các dấu hiệu báo trước nguy cơ rủi ro tín dụng để ngân hàng có biện pháp quản lý rủi ro kịp thời Rất nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng chỉ số Z trong nghiên cứu của mình đại diện cho sức mạnh tài chính hay khả năng thanh toán của doanh nghiệp Chỉ số Z càng cao doanh nghiệp càng có tài chính lành mạnh Trong nghiên cứu của Boot và Thakor (1994) về “rủi ro đạo

đức và cho vay đảm bảo trong thị trường tín dụng” cho rằng tiếp cận nợ ngân hàng

phụ thuộc vào khả năng thanh toán Vì thế kỳ vọng tương quan dương giữa chỉ số Altman-Z và nợ vay ngân hàng

Mặt khác, vì các ngân hàng là nhà cung cấp nguồn tài trợ bên ngoài chính cho mẫu của tác giả, kỳ vọng rằng những công ty có đòn bẩy (LEV) cao hơn có một sự hiện diện lớn hơn của nợ ngân hàng Dựa trên lập luận tương tự về sự lựa chọn giữa các quỹ nội bộ và nợ tư nhân trong nghiên cứu của Fuensata và cộng sự (2014), công ty có lợi nhuận cao hơn (ROA) và tạo ra dòng tiền (CFOIND) cao hơn nhiều khả năng tài trợ dự án của họ bằng nguồn vốn nội bộ Theo đó, kỳ vọng một mối quan hệ âm của nợ ngân hàng với khả năng sinh lợi và tài trợ nội bộ

B ảng 3.2 Kỳ vọng dấu các biến ở phương trình (1)

âm của độ lệch chuẩn của phần dư trong phương trình hồi quy các vốn lưu động dồn tích theo dòng tiền của Dechow và Dichev (2002); McNichols (2002); Ball và Shivakumar (2006)

+

Trang 36

2 GROWP Doanh thu năm t/Doanh thu năm t-1 +/-

6 ROA Lợi nhận trước thuế và lãi vay/tổng tài sản -

− 𝑍

Z = 0.012X1 + 0.014X2 + 0.033X3 + 0.066X4 + 0.999X5

Với X1 là vốn lưu động/tổng tài sản; X2 là lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản; X3 là lợi nhuận trước lãi vay và thuế/tổng tài sản; X4

là giá trị thị trường nguồn vốn/thư giá của tổng nợ; X5 là doanh thu/tổng tài sản

Nguồn:Tổng hợp của tác giá

3.3 Ước lượng biến đại diện cho chất lượng dồn tích

Để ước lượng chất lượng các khoản dồn tích tác giả dùng nhiều biến đại diện khác nhau đã được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu của Francis et al, 2005; Bharath et al, 2008; Lu et al, 2010; Chen et al, 2011; Lobo et al, 2012 để đo lường độ chính xác mà các khoản dồn tích phản ánh các thông tin về dòng tiền cho các bên liên quan, đặc biệt là các nhà đầu tư và chủ nợ Tác giả sử dụng nhiều biến đại diện cho chất lượng các khoản dồn tích trong bài nghiên cứu do, thứ nhất chất lượng các khoản dồn tích là da diện vì vậy một biến đại diện duy nhất sẽ không bao

Trang 37

quát tất cả các khía cạnh của chất lượng các khoản dồn tích Thứ hai, việc sử dụng nhiều biến đại diện khác nhau làm tăng khả năng khái quát kết quả Thứ ba, sử dụng các thước đo thay thế làm giảm khả năng kết quả thu được là do một số yếu tố khác hơn là chất lượng dồn tích

3.2.1 Mô hình tính AQ_DD, AQ_sdDD

Thước đo đầu tiên của chất lượng các khoản dồn tích được phát triển bởi Dechow và Dichev (2002), đại diện cho chất lượng các khoản dồn tích là vốn lưu động dồn tích hiện hành (Working capital accruals) được hồi quy với dòng tiền hoạt động của năm trước đó, năm nay và năm tiếp theo liền kề, tất cả chia cho tổng tài sản trung bình

𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡−1, 𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡, 𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡+1 lần lượt là dòng tiền hoạt động trong năm t-1, năm t và năm t+1 Tất cả biến được chia cho tổng tài sản trung bình (AvgAssets) Tổng tài sản trung bình của công ty i trong năm t là giá trị trung bình của tổng tài sản công ty trong năm t-1 và năm t

Phần dư của phương trình (2) phản ánh sự biến đổi trong vốn lưu động dồn tích không được giải thích bởi dòng tiền năm trước, năm hiện tại và năm tiếp theo liền kề Do đó, giá trị tuyệt đối của phần dư cho mỗi quan sát ngược chiều với chất lượng các khoản dồn tích Vậy giá trị phần dư cao hơn thể hiện chất lượng các khoản dồn tích thấp hơn (𝐼𝐴𝑄_𝐷𝐷𝑖𝑡 = |𝜀̂𝑖𝑡|) Để dễ dàng cho việc giải thích biến này, chất lượng các khoản dồn tích 𝐴𝑄_𝐷𝐷𝑖𝑡 được xác định là giá trị âm của 𝐼𝐴𝑄_𝐷𝐷𝑖𝑡 Như vậy ta có 𝐴𝑄_𝐷𝐷𝑖𝑡= -|𝜀̂𝑖𝑡| hay 𝐴𝑄_𝐷𝐷𝑖𝑡 = |𝜀̂𝑖𝑡| x (-1)

Trang 38

Thước đo AQ_sdDD được tính trên độ lệch chuẩn của các số dư từ mô hình ước lượng chất lượng các khoản dồn tích 𝜎(𝜀̂𝑖)𝑡 nhân với -1 vì độ lệch chuẩn càng lớn thì chất lượng các khoản dồn tích càng kém Độ lệch chuẩn của phần dư được tính toán trong phần mềm Stata trong quãng thời gian nghiên cứu 6 năm (tsegen 𝜎 = rowsd(𝐿(0/6) 𝜀̂) 𝑖)

3.3.2 Mô hình tính AQ_McN, AQ_sdMcN

Thước do thứ hai của chất lượng dồn tích xuất hiện trong nghiên cứu về “Định giá thị trường các khoản dồn tích”của Francis et al (2005) Mô hình này được phát triển bởi McNichols (2002), dựa trên mô hình của Dechow và Dichev’s (2002) Mô hình bổ sung sự thay đổi của doanh thu (∆REV), bất động sản, nhà xưởng và máy móc thiết bị (PPE)

𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡+ 𝛽5

𝑃𝑃𝐸𝑖,𝑡𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡 (3) Trong đó, ∆𝑅𝐸𝑉𝑖,𝑡 là thay đổi trong doanh thu 𝑃𝑃𝐸𝑖,𝑡 là bất động sản, nhà xưởng và máy móc thiết bị Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS-16 thì PPE chính

là tài sản cố định hữu hình McNichols cho rằng Dechow và Dichev’s (2002) chỉ mới tính một phần của các khoản dồn tích Việc bổ sung sự thay đổi trong doanh thu và PPE sẽ giảm thiểu sai số trong việc ước tính các khoản dồn tích và dòng tiền hoạt động vì sự thay đổi của các thành phần trong các khoản dồn tích như các khoản phải thu, khoản phải trả, hàng tồn kho phụ thuộc vào sự thay đổi trong doanh thu;

mà doanh thu cũng là khoản mục thưởng xuyên được dùng để điều chỉnh thu nhập

do đó cũng được đưa vào mô hình làm biến kiểm soát

Phần dư của phương trình (3) phản ánh sự biến đổi trong vốn lưu động dồn tích không được giải thích bởi dòng tiền năm trước, năm hiện tại, năm liền kề, sự thay đổi của doanh thu và tài sản cố định hữu hình Do đó, giá trị tuyệt đối của phần

dư cho mỗi quan sát là nghịch đảo của chất lượng các khoản dồn tích

Trang 39

(𝐼𝐴𝑄_𝑀𝑐𝑁𝑖𝑡 = |𝜀̂𝑖𝑡|) Tác giả sử dụng giá trị âm của 𝐼𝐴𝑄_𝑀𝑐𝑁𝑖𝑡,để xác định giá trị 𝐴𝑄_𝑀𝑐𝑁𝑖𝑡 Như vậy 𝐴𝑄_𝑀𝑐𝑁𝑖𝑡= -|𝜀̂𝑖𝑡| hay 𝐴𝑄_𝑀𝑐𝑁𝑖𝑡 = |𝜀̂𝑖𝑡| x (-1)

Thước đo AQ_sdMcN được tính trên độ lệch chuẩn của các số dư từ mô hình ước lượng chất lượng các khoản dồn tích 𝜎(𝜀̂𝑖)𝑡 nhân với -1 vì Độ lệch chuẩn càng lớn thì chất lượng các khoản dồn tích càng kém Độ lệch chuẩn của phần dư được tính toán trong phần mềm Stata trong quãng thời gian nghiên cứu 6 năm (tsegen 𝜎 = rowsd(𝐿(0/6) 𝜀̂) 𝑖)

3.3.3 Mô hình tính AQ_BS, AQ_sdBS

Dựa trên nền tản của mô hình Dechow và Dichev’s (2002), Ball và Shivakumar (2006) đã thêm 3 nhân tố mới để đo lường chất lượng các khoản dồn tích

𝑊𝐶𝐴𝑖𝑡

𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡 = 𝛽0+ 𝛽1

𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡−1𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡+ 𝛽2

𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡 + 𝛽3

𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡+1𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡+ 𝛽4 ∆𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡

𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠𝑖𝑡+ 𝛽5𝐷 + 𝛽6𝐷𝐴𝑣𝑔𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠∆𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡

𝑖𝑡+ 𝜀𝑖𝑡 (4) Trong đó, ∆𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡 là sự thay đổi dòng tiền hoạt động, D là biến giả nhận giá

trị bằng 1 nếu ∆𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡 âm, nhận giá trị 0 nếu ∆𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡 dương D∆𝐶𝐹𝑂𝑖,𝑡 thể hiện sự tượng tác giữa hai biến Mô hình này cố gắng kết hợp sự bất cân xứng được ghi nhận trong các khoản lời và lỗ vào mô hình tuyến tính các khoản dồn tích Như các

mô hình trước, giá trị tuyệt đối của phần dư cho mỗi quan sát ngược chiều với chất lượng các khoản dồn tích (𝐼𝐴𝑄_𝐵𝑆𝑖𝑡 = |𝜀̂𝑖𝑡|) Tác giả cũng sử dụng giá trị âm của 𝐼𝐴𝑄_𝐵𝑆𝑖𝑡,để xác định giá trị 𝐴𝑄_𝐵𝑆𝑖𝑡 Như vậy 𝐴𝑄_𝐵𝑆𝑖𝑡= -|𝜀̂𝑖𝑡| hay 𝐴𝑄_𝐵𝑆𝑖𝑡 =

|𝜀̂𝑖𝑡| x (-1)

Thước đo AQ_sdBS được tính trên độ lệch chuẩn của các số dư từ mô hình ước lượng chất lượng các khoản dồn tích 𝜎(𝜀̂𝑖)𝑡 nhân với -1 vì Độ lệch chuẩn càng lớn thì chất lượng các khoản dồn tích càng kém Độ lệch chuẩn của phần dư được

Trang 40

tính toán trong phần mềm Stata trong quãng thời gian nghiên cứu 6 năm (tsegen 𝜎 = rowsd(𝐿(0/6) 𝜀̂) 𝑖)

3.4 Các phương pháp hồi quy

Bộ dữ liệu mà tác giả nghiên cứu sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa vay

nợ ngân hàng và chất lượng các khoản dồn tích ở dạng bảng (pannel data) sẽ có rất nhiều cách tiếp cận; tuy nhiên trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS cho dữ liệu bảng ở cả 3 mô hình ước tính chất lượng dồn tích gồm (1) AQ_DD, AQ_sdDD theo mô hình của Dechow và Dichev (2002), (2) AQ_McN, AQ_sdMcN của Mô hình của McNichols (2002), (3) AQ_BS, AQ_sdBS theo Mô hình của Ball and Shivakumar (2006) Để ước lượng các hệ số hồi quy trong mô hình phân tích mối quan hệ giữa vay nợ ngân hàng (BANKDEBT) và chất lượng các khoản dồn tích, bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy theo dữ liệu bảng kết hợp với với phân tích tác động cố định của từng công ty bằng phương pháp Fixed effect (FEM) sau đó sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu 2 giai đoạn (2SLS) để khắc phục hiện tượng nội sinh và phương pháp GLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan sẽ đạt được kết quả chính xác và đáng tin cậy hơn

3.5 Kiểm định cho mô hình nghiên cứu

3.5.1 Kiểm định chọn lựa mô hình

Trong nghiên cứu này để chọn lựa được mô hình phù hợp gồm Pooled OLS, FEM và REM tác giả sử dụng các kiểm định sau:

Ki ểm định Likelihood Ratio Test: so sánh sự hiệu quả giữ mô hình Pooled OLS

và Mô hình tác động cố định (FEM) với giả thiết:

H0: Mô hình Pooled OLS hiệu quả hơn mô hình FEM

H1: Mô hình FEM hiệu quả hơn Pooled OLS

Nếu p_value của giá trị F-test nhỏ hơn mức ý nghĩa, ta bác bỏ H0 Mô hình FEM hiệu quả hơn mô hình Pooled OLS

Ngày đăng: 17/09/2020, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w