Những dữ liệu này được thống kê ở những lĩnh vực riêng biệt theo cách phân loại chuyên ngành phổ biến trong điều tra và nghiên cứu kinh tế xã hội, và thông thường, dòng vốn đầu tư trực t
Trang 1-TRẦN MINH MẪN
TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TRUYỀN NHIỄM ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở CÁC QUỐC GIA THU NHẬP TRUNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2-TRẦN MINH MẪN
TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TRUYỀN NHIỄM ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở CÁC QUỐC GIA THU NHẬP TRUNG BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HOÀNG BẢO
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3truyền nhiễm đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia thu nhập trung bình ” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và có
độ chính xác cao trong phạm vi hiểu biết của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu này
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014
Học viên
TRẦN MINH MẪN
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký tự viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình và đồ thị
Tóm tắt
Chương 1 – DẪN NHẬP 1
Chương 2 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT 4
2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn nhân lực 4
2.2 Tác động của sức khỏe lên phát triển và đầu tư 6
2.3 Tham khảo mô hình kinh tế học của đầu tư trực tiếp nước ngoài 12
2.4 Mô phỏng lý thuyết ngoại tác 14
Chương 3 – PHƯƠNG PHÁP LUẬN 18
3.1 Lập luận mô hình kinh tế học 18
3.2 Vận dụng mô hình kinh tế lượng .21
3.3 Lập luận về nhận diện ngoại tác .29
3.4 Mô tả nguồn gốc dữ liệu .31
Chương 4 – ƯỚC LƯỢNG HỒI QUY 36
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu 36
4.2 Kiểm định tương quan cặp biến 40
4.3 Mô hình hồi quy và các kiểm định cơ bản 42
Trang 5Nhận xét tác động riêng phần trong mô hình Robust TB
55
Chương 5 – KẾT LUẬN 59
5.1 Phát hiện của nghiên cứu 59
5.2 Hạn chế của nghiên cứu .60
5.3 Đề suất các nghiên cứu liên quan hoặc phái sinh 62
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6Syndrome)
FDI: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GNI: Tổng thu nhập quốc dân (Gross National Income)
HIV: Tác nhân truyền nhiễm làm suy giảm miễn dịch ở người (Human
Immunodeficiency Virus)
MEB Lợi ích ngoại tác biên (Marginal External Benefit)
MSB Lợi ích xã hội biên (Marginal Social Benefit)
ODA: Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
OLS: Bình phương cực tiểu thông thường (Ordinary Least Squares)
PPP: Đồng mãi lực (sức mua tương đương) (Purchasing Power Parity)
SARS: Hội chứng suy hô hấp cấp tính nghiêm trọng (Severe Acute Respiratory
Syndrome)
TFP: Năng suất tổng nhân tố (Total Factor Productivity)
UNCTAD: Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations
Conference on Trade and Development)
USD: Mỹ kim (United States Dollar)
WHO: Tổ chức Y Tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 7Bảng 4.1 Thống kê dữ liệu các biến 37
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các yếu tố định lượng 38
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy 39
Bảng 4.4 Ma trận tương quan cặp biến .40
Bảng 4.5 Ước lượng hồi quy dạng OLS .43
Bảng 4.6 Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình OLS4 44
Bảng 4.7 Kiểm định dị phương sai và thừa thiếu biến trong mô hình OLS4 44
Bảng 4.8 Tương quan giữa phần dư và biến độc lập trong mô hình OLS4 46
Bảng 4.9 Ước lượng hồi quy dạng OLS, BsQuantile(.5) và Robust 50
Bảng 4.10 Ước lượng hồi quy dạng Robust 52
Trang 8
Hình 3.1 Khung lý thuyết kinh tế học dạng khái niệm 21
Hình 3.2 Khung phân tích mô hình kinh tế lượng dạng khái niệm 24
Hình 4.1 Đồ thị biểu diễn phân phối giữa phần dư và biến Ln_FDI .46
Hình 4.2 Đồ thị phân tán giữa Ln_FDI và một số biến giải thích tiêu biểu .47
Hình 4.3 Quy trình chọn mô hình hồi quy .49
Đồ thị 4.4 Hiển thi % thay đổi của FDI ròng trong mô hình hồi quy 57
Trang 9Nghiên cứu này điều tra tác động của ba bệnh truyền nhiễm là lao, sốt rét và AIDS đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Dữ liệu bảng được phân tích
từ 54 quốc gia và lãnh thổ thuộc nhóm có thu nhập trung bình theo danh sách phân loại bởi Ngân Hàng Thế Giới trong giai đoạn 1993-2013 Phát hiện chính của tác giả theo phương pháp hồi quy robust là tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm gây ảnh hưởng tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đến dòng vốn FDI ròng ở các nền kinh tế có thu nhập trung bình Ước tính của nghiên cứu cho thấy, khi các yếu tố khác không thay đổi, việc giảm một phần trăm tử suất bệnh lao trên 100.000 người có thể mang lại kỳ vọng tăng dòng vốn FDI ròng hằng năm lên khoảng 0,11% vào năm tiếp theo
Phát hiện này là bằng chứng thực nghiệm phù hợp để minh họa rằng bệnh tật và sức khỏe tạo ra ngoại tác xuyên biên giới trên sự chuyển dịch của dòng vốn quốc tế Mặt khác, nghiên cứu phát hiện các quốc gia nhóm thu nhập trung bình không phải là địa chỉ ưu tiên của FDI so với phần còn lại của thế giới Kết quả ước lượng cũng cung cấp bằng chứng cho thấy xung đột vũ trang có ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư nước ngoài
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, bệnh lao, bệnh sốt rét, AIDS, ngoại tác Phân loại của JEL: D62, F21, I15
Trang 10Chương 1: DẪN NHẬP
Thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho thấy rằng, trong vòng 20 năm qua, số lượng ca bệnh và tử suất của các bệnh truyền nhiễm phổ biến đang đi theo xu hướng tụt giảm Mặt khác, trong cùng giai đoạn thời gian này, dữ liệu của Ngân Hàng Thế Giới (WB) phản ảnh xu hướng gia tăng ngày càng nhiều hơn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở phạm vi toàn cầu Báo cáo của Ủy ban Kinh
tế vĩ mô và Y tế từng khẳng định: “một lực lượng lao động lành mạnh là quan trọng
để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài” (Alsan, Bloom và Canning, 2006) Những
dữ liệu này được thống kê ở những lĩnh vực riêng biệt theo cách phân loại chuyên ngành phổ biến trong điều tra và nghiên cứu kinh tế xã hội, và thông thường, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác động của các nhân tố kinh tế thuần tuy Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là liệu rằng có khả năng y tế nói chung hay bệnh truyền nhiễm nói riêng đang tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay không, cho dù có thể ở mức độ tác động là rất nhỏ?
Với một số đóng góp, nghiên cứu này quan trọng vì hai lý do Trước hết, kết quả ước lượng qua mô hình hồi quy robust phản ảnh sự tương quan có ý nghĩa
thống kê rõ rệt giữa tử suất bệnh lao và đầu tư trực tiếp nước ngoài và đây là bằng
chứng thực nghiệm cũng cố cho lập luận về vai trò của y tế như một thành phần nhập lượng trong sự thu hút đầu tư Cách đây gần một thập niên, đồng tác giả Alsan, Bloom và Canning (2006) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức khỏe và đầu tư trực tiếp nước ngoài với một số thành công, tuy nhiên, dữ liệu trong quá khứ
đã hạn chế các nhà khoa học này tìm thấy kết quả tương quan giữa bệnh truyền
nhiễm và đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ hai, đóng góp của nghiên cứu ở khía
cạnh dữ liệu cho các nghiên cứu minh họa về ngoại tác của thị trường kiểm soát
dịch bệnh, với điều kiện cần có bổ sung công cụ và phương pháp phân tích chuyên sâu về toán học, khi kết quả ước lượng của nó được xem là bằng chứng có giá trị tham khảo Theo quan điểm này, có khả năng rằng những nỗ lực kiểm soát bệnh truyền nhiễm của các nền y tế địa phương nói riêng và của Tổ Chức Y Tế Thế Giới
Trang 11nói chung có được dữ liệu hỗ trợ trong chiến lược thu hút nguồn tài trợ cho ngân sách hoạt động
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá tác động của bệnh truyền nhiễm lên Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở các quốc gia được phân loại nhóm thu
nhập trung bình, và thông qua đó minh họa cho sự tương quan giữa hai khái niệm: Y
tế sức khỏe và Sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế Đối tượng khảo sát của nghiên cứu
này là các quốc gia và lãnh thổ được phân loại là nhóm thu nhập trung bình theo tiêu chí GNI trong giai đoạn 1993-2013 nhưng loại trừ đi các quốc gia có quy mô dân số nhỏ Theo đó, mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là tìm hiểu sự tác động của bệnh truyền nhiễm đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và điều đó được diễn giải dưới dạng câu hỏi nghiên cứu như sau:
(i) Liệu rằng một nền kinh tế nhóm thu nhập trung bình nếu thành công trong nỗ
lực hạ thấp tử suất bệnh lao (TB) có được coi là động lực để thu hút thêm dòng FDI hay không ?
(ii) Có phải dòng FDI đang xem kết quả kiềm hãm bệnh sốt rét như một chỉ báo
để quyết định gia tăng dòng chảy vào một quốc gia ?
(iii) Việc hạn chế tử suất của AIDS đồng nhiễm bệnh lao có giúp một địa phương nhận được thêm nhiều hơn FDI ?
Có một số kênh giải thích cơ chế hình thành của mối quan hệ này, và phân tích
sự tương quan sẽ được nhìn dưới hai góc độ, ở cả biến độc lập và biến phụ thuộc Trên góc nhìn từ FDI, khả năng kiềm chế bệnh truyền nhiễm được xem như hỗ trợ cho thành phần của vốn nhân lực, và điều này coi như một yếu tố nhập lượng của đầu tư Mặt khác, ở góc nhìn từ bệnh truyền nhiễm, thì tác động đến FDI được xem
như sự hiện tượng ngoại tác, mà theo đó đầu tư như là một phần của cầu xã hội, bên cạnh cầu cá nhân là cầu riêng của thị trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm
Trong quá trình tìm kiếm câu trả lời cho các mục tiêu như đã nói trên, nghiên cứu phải đối mặt với một số thách thức Thứ nhất, sự hạn chế về các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa hai khái niệm này làm cho việc tham khảo các tài
Trang 12liệu gặp nhiều khó khăn về cả phương pháp lẫn dữ liệu Tác giả phải khắc phục trở ngại khách quan này phần lớn thông qua tìm kiếm mối quan hệ kinh tế bắc cầu thay cho việc tổng quan các nghiên cứu tương quan trực tiếp giữa hai yếu tố Thứ hai, phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các quốc gia nhóm thu nhập trung bình thường không phong phú và đầy đủ về dữ liệu ở cả chiều dài và tính liên tục Theo đó, không giống như ở các quốc gia phát triển, dữ liệu không thể được thu thập từ tất cả các quốc gia và lãnh thổ trong nhóm nghiên cứu và có nhiều trường hợp gặp phải sự gián đoạn các quan sát liên tục ở từng quốc gia
Kết cấu của phần nội dung chính của nghiên cứu được chia thành năm chương Theo trình tự, Chương một dẫn nhập vào nghiên cứu, qua đó cho thấy mục đích nghiên cứu và hướng tiếp cận Chương hai trình bày phần tổng quan về các nghiên
cứu thực nghiệm liên quan đến mối quan hệ giữa hai khái niệm sức khỏe và đầu tư,
và lý thuyết có tác dụng đính hướng cho toàn bộ mô hình Nội dung của Chương ba thể hiện mô hình kinh tế học và mô hình kinh tế lượng, bộ khung chính của bài viết,
và mô tả nguồn gốc dữ liệu mà trên đó các thao tác ước lượng được thực hiện Trình
tự từng bước của ước lượng hồi quy, hiển thị kết quả và sự phân tích, giải thích kết quả được trình bày ở Chương bốn, chương trọng tâm của nghiên cứu Phần thảo luận kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày ở Chương năm Ngoại trừ chương một, phần còn lại sẽ có mục tóm tắt nội dung được trình bày ở đoạn cuối mỗi chương Nghiên cứu này, mặc dù trong quá trình tìm câu trả lời cho quan hệ giữa các biến thành phần của bệnh truyền nhiễm và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với giả thuyết là có tác động nghịch biến, nhưng vẫn đảm bảo đây là một nghiên cứu khách quan Khi thực hiện các tác nghiệp, tác giả đảm bảo rằng không có ý định thiên lệch, hoặc có lập trường ủng hộ hoặc phản đối gì đối với việc triển khai các chính sách cải thiện điều kiện y tế vì động cơ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 13Chương 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ LÝ THUYẾT
2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn nhân lực
Đóng vai trò là nguồn vốn bổ sung cho phát triển kinh tế, FDI đã trở thành ngày càng quan trọng trong nguồn tài chính trên toàn thế giới (Bloom, Canning và Sevilla, 2004) Trong 15 năm qua, dòng vốn FDI toàn cầu có tăng vọt từ 5.754,8 tỷ USD vào năm 1998 đến 22.812,7 tỷ trong năm 2012 (UNCTAD, 2013) Thu hút FDI là chiến lược của hầu hết các quốc gia ở tất cả các giai đoạn phát triển, đặc biệt đối với các nền kinh tế thuộc nhóm thu nhập trung bình (Desbordes và Azémar, 2008) Cách lập luận hợp lý là các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ tiết kiệm và mức thu nhập thấp nên cần dựa vào ngoại lực (Alsan, Bloom và Canning, 2006) FDI càng ngày càng mang tính đại diện cho nguồn vốn lớn nhất chảy vào các nước đang phát triển, vượt qua hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư danh mục (portfolio investment) và các khoản vay ngân hàng (Alsan, Bloom và Canning, 2006; Miyamoto, 2003)
Bên cạnh thuộc tính cung cấp vốn rất cần thiết cho nhu cầu phát triển, đối với các nền kinh tế thuộc nhóm thu nhập trung bình, FDI còn bao gồm theo nó là chức năng giúp mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp và theo đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ (Krugman, Obstfeld và Melitz, 2011; Alsan, Bloom và Canning, 2006) FDI cũng có thể giúp tăng thuế doanh thu cho các nền kinh tế nhận vốn và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp quốc nội thông qua hiệu ứng lan tỏa (Alsan, Bloom và Canning, 2006; Loungani và Razin, 2001) Lợi ích tiềm năng FDI đã được công bố rộng rãi, bao gồm cơ hội cho các nền kinh tế nhận vốn được tham gia vào nhiều công đoạn sản xuất trong chuỗi cung ứng toàn cầu (Antràs và Helpman, 2004)
Trên cách nhìn tổng quát, dòng vốn FDI hiện nay được phân bố không đều (Desbordes và Azémar, 2008; Antràs và Helpman, 2004) Các nền kinh tế công nghiệp hóa là điểm đến có khả năng nhất của FDI; và một số nước đang phát triển nhận dòng vốn lớn nhiều hơn hẳn so với những nền kinh tế khác (Alsan, Bloom và
Trang 14Canning, 2006) Dẫn chứng rõ rệt nhất là các nước Châu Phi hạ Sahara, nơi đặc biệt đang phải vật lộn một cách khó khăn để thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài (Desbordes và Azémar, 2008) Nhìn chung, có thể nói rằng các quốc gia đang bất đồng về chính sách làm thế nào có thể thu hút FDI, họ cảm thấy cần phải hiểu rõ những nhân tố có thể tác động đến dòng vốn, những gì là trong tầm tay để có thể cải thiện hay thay đổi
Theo giả định Tân Cổ Điển (theo đó xuất lượng của nền sản xuất có được từ
hai yếu tố nhập lượng là vốn và lao động), dòng vốn được dự đoán sẽ chảy từ
những nền kinh tế giàu có sang những quốc gia nghèo cho đến khi tỷ lệ vốn và lao động cân bằng giữa các nước (Krugman, Obstfeld và Melitz, 2011) Nhưng các mô hình quan sát FDI cách đây một thập kỷ lại nhận thấy hầu hết dòng vốn chảy từ một quốc gia giàu này sang quốc gia giàu khác, ví dụ như FDI chảy từ Nhật sang Anh và
Mỹ Lucas (1990) lập luận rằng chính sự khác biệt về vốn nhân lực (human capital)
có thể là nguyên nhân để giải thích cho điều đó Theo ý tưởng này, bên cạnh vốn vật chất và kỹ năng làm việc cấu thành nên yếu tố nhập lượng, thì sự hiện diện một lực lượng lao động với thể trạng khỏe mạnh có thể làm tăng năng suất sử dụng vốn đầu
tư (Cohen và Soto, 2007; Alsan, Bloom và Canning, 2006)
Trên thực tế, FDI đang hướng đến các ngành công nghiệp có tri thức và kỹ năng chuyên sâu Có thể nói rằng các quốc gia nào có vốn nhân lực ở trình độ cao
sẽ là điểm đến hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư (Desbordes và Azémar, 2008; Blomström và Kokko, 2003) Nghiên cứu của Noorbakhsh và Youseff (2001) đóng góp xây dựng lý thuyết để giải thích vốn nhân lực là động lực quan trọng giúp một nền kinh tế thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhưng hầu hết các điều tra đa quốc gia dựa trên ý tưởng này lại đều xác định nguồn nhân lực chỉ hạn hẹp với khía cạnh giáo dục Tuy nhiên, vẫn có một số nghiên cứu hiếm hoi gần đây đã thay đổi quan điểm và sức khỏe đã bắt đầu được xem là một thành phần không thể tách rời của vốn nhân lực (Desbordes và Azémar, 2008; Alsan, Bloom và Canning, 2006; Dupasquier và Osakwe, 2006)
Trang 15Theo tiến trình tự nhiên của việc tìm kiếm chủ đề nghiên cứu, bài viết này có động cơ thông qua bằng chứng thực nghiệm để xác định xem tình trạng sức khỏe có tác động khuyến khích các dòng vốn FDI hay không Theo cách hiểu thông thường thì khái niệm sức khỏe và bệnh truyền nhiễm có liên quan với nhau Với những lý thuyết chúng ta có được ngày hôm nay, sức khỏe có thể được xem như là một hình thức phái sinh của nguồn vốn nhân lực, và hàm sản xuất Cobb-Douglas là nền tảng
cơ bản nhất để phân tích Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này còn nhìn mối liên kết giữa bệnh truyền nhiễm và đầu tư trực tiếp nước ngoài theo giả định rằng đây là một trường hợp hiện diện của ngoại tác và có thể giải thích thông qua lý thuyết đó
2.2 Tác động của sức khỏe lên phát triển và đầu tƣ
Sức khỏe có thể được xem như là nội dung quan trọng của vốn nhân lực, và nó giúp tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế ở góc độ các cá nhân lẫn góc độ kinh tế (Bloom, Canning và Sevilla, 2004) Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng sức khỏe dân cư, hay nói cụ thể là y tế, trở thành yếu tố dự báo chính xác cho tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người (Desbordes và Azémar, 2008; Alsan, Bloom
và Canning, 2006; Bloom, Canning, và Sevilla, 2004; Barro và cộng sự, 1991) Tuy
nhiên, đang có sự khác biệt giữa các quốc gia trong mức độ hưởng lợi ích từ việc cải thiện sức khỏe dân cư, và sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào điều này được thể hiện
rõ nét ở các nền kinh tế đang phát triển hơn so với các quốc gia thuộc nhóm thu nhập cao (Alsan, Bloom và Canning, 2006)
Y tế có thể ảnh hưởng đến hiệu suất kinh tế thông qua các cơ chế tác động cả trực tiếp và gián tiếp (Alsan, Bloom và Canning, 2006) Một quốc gia có được nền
y tế tốt có thể sẽ gián tiếp cải thiện tuổi thọ tương lai của người lao động Một khi
xã hội có tuổi thọ bình quân tăng lên, như trường hợp ở Nhật và Ý chẳng hạn, có thể dẫn đến nhu cầu cần thiết phải tích lũy tiền tiết kiệm để dành cho thời gian hưu trí, từ đó dẫn đến xã hội có thêm nguồn vốn tạo nên sự bùng nổ đầu tư (Bloom, Canning và Graham, 2003) Về mặt tác động trực tiếp, cách lập luận hợp lý là nếu người lao động trong trạng thái mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần sẽ có năng suất
Trang 16làm việc chắc chắn vượt trội hơn so với những công nhân đang mắc bệnh tật hoặc mang khuyết tật (Savedoff và Schultz, 2000) Hơn nữa, một nền kinh tế kiểm soát dịch bệnh tốt thì hoạt động sản xuất sẽ không bị trở ngại do công nhân có khả năng phải nghỉ việc, hoặc giảm năng suất thấp làm việc khi chính họ hoặc thân nhân của
họ bị bệnh Ngược lại, sức khỏe yếu kém có thể dẫn đến thu nhập bình quân đầu người thấp, nền kinh tế sẽ vướng vào bẫy nghèo (Alsan, Bloom và Canning, 2006) Phát hiện từ nghiên cứu của Alsan, Bloom và Canning (2006) cho thấy việc tăng thêm một năm tuổi thọ bình quân cho người dân sẽ giúp một quốc gia thuộc nhóm thu nhập trung bình và thấp nhận tăng thêm 9% nguồn vốn FDI Các tác giả phân tích dữ liệu của 74 quốc gia công nghiệp và đang phát triển trong giai đoạn 1980-2000 Phát hiện này là bằng chứng phù hợp với quan điểm đặt yếu tố y tế sức khỏe là một phần không thể thiếu của vốn nhân lực
Tác động của y tế, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, đều có thể ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài thông qua một số cơ chế Theo cách nhìn trên hiệu quả sử dụng vốn của nhà đầu tư, người lao động có thể trạng tốt và sức khỏe lành mạnh có thể nâng cao năng suất lao động, tạo ra nhiều hơn xuất lượng trên cùng một nhập lượng và đó là động lực thu hút dòng vốn FDI (Desbordes và Azémar, 2008; Gallup
và Sachs, 2001) Mặt khác, theo cách nhìn trên giá cả của nhập lượng, mà lao động
là một nhập lượng quan trọng, doanh nghiệp FDI sẽ cảm thấy lợi nhuận có thể bị ảnh hưởng nếu các chi phí liên quan đến sức khỏe tăng cao Các công ty đa quốc gia hoạt động tại một nơi mà cơ sở hạ tầng y tế thiếu thốn có thể cần phải phát triển hoặc trợ cấp đáng kể cho một hệ thống chăm sóc sức khỏe cho nhân viên của họ, đưa đến tạo nên gánh nặng chi phí cho dòng vốn đầu tư (Alsan, Bloom và Canning, 2006; Gallup và Sachs, 2001) Ngoài ra, vì sợ gây nguy hiểm sức khỏe cho chính mình và cho những nhân viên người nước ngoài của mình, nhà đầu tư có thể tránh
xa những quốc gia mà bệnh dịch tràn lan và người dân gặp hạn chế trong việc truy cập vào hệ chăm sóc sức khỏe công cộng (Desbordes và Azémar, 2008; Alsan, Bloom và Canning, 2006)
Trang 17Một ví dụ cổ điển cho thấy bệnh dịch can thiệp vào các quyết định đầu tư, điều
đã xảy ra trong quá trình xây dựng kênh đào Panama vào thế kỷ XIX Khi đó, bệnh sốt vàng da (yellow fever) và các tác nhân gây bệnh đã cướp đi sinh mạng của 10.000-20.000 người lao động trong thời gian 1882-1888, buộc Ferdinand de Lesseps1 và người Pháp phải từ bỏ dự án xây dựng (Alsan, Bloom và Canning, 2006) Cách đây hơn một thập niên, hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) làm 774 người tử vong (WHO, 2004), đã làm dấy lên mối lo ngại rằng nếu bùng phát thêm một đợt dịch bệnh truyền nhiễm nữa có thể làm suy yếu hội nhập kinh tế toàn cầu Các nghiên cứu thực nghiệm nhận thấy ảnh hưởng của bệnh truyền nhiễm đối với nền kinh tế được còn biểu hiện một cách dài hạn và ở tầm mức sâu xa hơn các tính toán lợi ích đơn thuần của một dòng vốn đầu tư trong một thời kỳ cụ thể Đối với một nền kinh tế, đại dịch AIDS đã gây ảnh hưởng lên việc tích lũy nguồn vốn nhân lực và làm giảm tăng trưởng của cải xã hội do nó dẫn đến việc tạo ra rất nhiều trẻ em mồ côi (Corrigan, Glomm và Mendez, 2005) Điều này được giải thích rằng, khi người lớn phải đối mặt với tử vong sớm vì AIDS thì hình thành số lượng lớn của một thế hệ trẻ có nguy cơ bị mồ côi, dẫn đến thời gian đầu tư vào việc học hành
sẽ bị giảm đi, và điều đó làm giảm tiềm năng cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai (Ferreira và Pessóa, 2003) Bởi vì thông thường sau cái chết của cha mẹ, trẻ em
mồ côi phải từ bỏ việc học để dùng thời gian đi làm nhằm bổ sung cho thu nhập của gia đình Hơn nữa, trong thời gian cha mẹ của chúng đã nhiễm HIV nhưng vẫn còn sống, thì yêu cầu cần chi tiêu thêm cả về thời gian lẫn tài chính cho hoạt động chăm sóc bệnh nhân AIDS chắc hẳn sẽ dẫn đến gia đình còn lại ít nguồn lực sẵn có để đầu
tư cho học hành và cho các khoản tiết kiệm hay tiêu dùng khác (Corrigan, Glomm
và Mendez, 2005)
1 Ferdinand-marie, t ử tước de Lesseps (1805–1894): Nhà ngoại giao và tổng công trình sư người Pháp
từng xây tuyến kênh đào Suez ở Ai Cập Sau công trình này, ông nỗ lực bất thành trong việc thực hiện dự án xây dựng kênh đào Panama nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Theo Encyclopædia Britannica
Trang 18Corrigan, Glomm và Mendez (2005) phân tích thấy rằng AIDS làm gia tăng chi phí y tế bao gồm việc điều trị bệnh nhân nhiễm HIV, và điều này có thể làm chuyển hướng nguồn lực công, thay vì dành để đầu tư và chi tiêu cho giáo dục và phát triển cơ sở hạ tầng Các doanh nghiệp trong một nền kinh tế như vậy có thể sẽ phải miễn cưỡng tuyển dụng công nhân có điều kiện sức khỏe ngày càng suy sụp để làm việc, và có một xác suất cao là họ phải đối mặt với việc sẽ phải đầu tư đào tạo
nhân sự mới nếu như công nhân mà họ đang thuê bị chết vì AIDS Ở góc độ thị trường, bệnh tật làm tăng thêm chi phí sức khỏe và tất nhiên nó ăn mòn vào khả năng chi trả cho các hàng hóa khác Nói chung, đại dịch AIDS có thể ảnh hưởng bất lợi đến tỷ lệ hoàn vốn đầu tư lẫn khả năng tích lũy vốn
Tương tự như AIDS, giữa bệnh sốt rét và nghèo cũng có sự liên quan mật thiết T H Weller2 đã từng kết luận: “… được công nhận từ lâu, cộng đồng nào mang dịch sốt rét thì cộng đồng đó nghèo khó …” (Gallup và Sachs, 2001), nghĩa là sốt rét lan rộng ở đâu thì sau đó nơi này sẽ rơi vào nghèo đói Theo đó, mật độ ca bệnh sốt rét cao ở các nước nghèo không nói lên rằng sốt rét là hậu quả của cái nghèo, nó chỉ là nguyên nhân Sốt rét là bệnh truyền nhiễm mang tính chất rất cụ thể về mặt địa lý, vì chính điều kiện sinh thái hỗ trợ cho các giống muỗi mang mầm sốt rét đã dẫn đến sự phân bố địa bàn và tạo nên mật độ của bệnh (Gallup và Sachs, 2001) Kết quả khảo sát của Gallup và Sachs năm 2001 cho thấy phạm vi phổ biến bệnh sốt rét được giới hạn trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Điều này nói lên rằng bệnh sốt rét không phải là một hệ quả trực tiếp của đói nghèo, mà phạm
vi và mức độ nghiêm trọng của nó được quyết định chủ yếu bởi điều kiện khí hậu
và sinh thái Một số quốc gia có thu nhập rất cao vẫn còn phải đối mặt với vấn đề bệnh sốt rét nghiêm trọng do vị trí địa lý của họ, ví dụ như Oman, với thu nhập bình
2 Thomas Huckle Weller (1915–2008): Bác sĩ và nhà vi trùng học người Mỹ, đồng đoạt giải Nobel về
Y-Sinh năm 1954 do công trình cấy thành công virus bại liệt trong mô ghép, tiền đề cho việc nghiên cứu virus trong ống nghiệm Ông có nhiều nghiên cứu về phòng chống bệnh truyền nhiễm Theo Encyclopædia Britannica
Trang 19quân đầu người gần 10.000 USD vào thập niên 90 của thế kỷ trước, đã có bệnh sốt rét lan tràn toàn quốc, ngoại trừ vùng sâu vùng xa trong sa mạc
Gallup và Sachs (2001) phân tích hồi quy với dữ liệu đa quốc gia cho giai đoạn 1965-1990 và xác nhận có mối quan hệ giữa bệnh sốt rét và tăng trưởng kinh
tế Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia có bệnh sốt rét nặng trong giai đoạn này là 0,4% mỗi năm, trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của các quốc gia khác được 2,3%, nghĩa là cao hơn gấp năm lần Hơn một phần ba trong số những quốc gia có bệnh sốt rét nặng đã tăng trưởng âm trong thời kỳ này Mặt khác, nếu một quốc gia giảm đi được 10% số người bệnh sốt rét thì nền kinh tế theo đó sẽ tăng trưởng thêm 0,3% nữa Cũng trong nghiên cứu này, kết quả cho hệ
số còn lớn lớn hơn nữa trong giai đoạn 1980-1996, nhưng với đo lường sốt rét theo cách khác
Cơ chế giải thích sốt rét là nguyên nhân dẫn đến sự đói nghèo là bởi vì bệnh truyền nhiễm này gây tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và mạng lưới kinh tế trong nước (Gallup và Sachs, 2001) Phân tích mang tính loại suy cho thấy, một số
ít các quốc gia trước từng có sốt rét và sau đó loại bỏ căn bệnh này, như Tây Ban Nha và Hy Lạp vào đầu thập niên 50 của thế kỷ vừa qua, đã trải qua giai đoạn kinh
tế tăng trưởng nhanh chóng ngay sau đó, nhanh hơn so với các nước láng giềng Bằng chứng tương tự như thế, từ khu vực nghèo nhất nước với dịch sốt rét, nền kinh
tế của các bang ở miền Nam Hoa Kỳ sau khi kiểm soát bệnh dịch cuối thập niên 40
đã tăng trưởng ấn tượng và bắt kịp phần còn lại của đất nước (Gallup và Sachs, 2001; Barro và cộng sự, 1991)
Một điều đáng nói là sự phân bổ cái nghèo cũng mang tính cụ thể về mặt địa
lý, theo đó các nước nghèo vẫn chiếm ưu thế về số lượng thống kê trong khu vực tương tự như khu vực phân bổ của bệnh sốt rét, trong khi hầu như tất cả các quốc gia giàu đều tọa lạc bên ngoài giới hạn địa lý của nguy cơ sốt rét (so sánh trực quan qua đồng thời phụ lục 5 và phụ lục 6)
Trang 20Bệnh sốt rét làm giảm chất lượng lao động trong ngắn hạn, nhưng khác với AIDS, nó có vẻ hoàn toàn không để lại những hậu quả dài hạn cho sức khỏe Nhưng
dù vậy, đứng ở góc độ doanh nghiệp, nhà đầu tư vẫn sẽ phải chi trả nhiều hơn cho các công nhân đang nhiễm bệnh sốt rét để có thể sớm phục hồi nguồn lực lao động Một nền kinh tế có nhiều trường hợp sốt rét chứng tỏ chính sách y tế chưa hiệu quả trong việc ngăn chặn bệnh dịch lây lan, và cũng là một dấu hiệu của khả năng kiểm soát y tế Ở những nơi này, nhà đầu tư nước ngoài buộc phải tăng chi phí bảo hiểm
y tế để bù đắp lại khiếm khuyết từ quản lý y tế của chính quyền sở tại
Căn bệnh truyền nhiễm thứ ba trong sự quan tâm của Tổ Chức Y Tế Thế Giới,
bệnh lao (TB), vẫn là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới, có ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi trên toàn cầu Theo Grimard và Harling (2004), bệnh lao là một loại bệnh xuất hiện trên toàn thế giới, nhưng đại đa số các trường hợp được phát hiện lại ở các nước nghèo Nếu như bệnh sốt rét không có nguyên nhân từ đói nghèo mà lại phụ thuộc vào vị trí địa lý nơi các loài muỗi truyền bệnh dễ dàng phát triển (Corrigan, Glomm và Mendez, 2003), bệnh lao xuất phát từ
sự quản trị tổng thể xã hội yếu kém, là một dấu hiệu của trình độ phát triển nói chung (Grimard và Harling, 2004), dẫn đến điều kiện vệ sinh yếu kém của cơ sở hạ tầng vật chất Lập luận của Grimard và Harling (2004) về mối tương quan giữa lao
và tăng trưởng kinh tế rằng, có lý do để hy vọng sự gia tăng thu nhập bình quân có thể làm giảm số người mắc bệnh lao ngoài hành động điều trị trực tiếp căn bệnh này Ở chiều tác động ngược lại, kết quả hồi quy của hai tác giả năm 2004 trên quan sát ở 91 quốc gia phát hiện rằng nếu giảm đi 10% tỷ lệ trung bình của bệnh lao sẽ mang lại tăng trưởng kinh tế 0,4% mỗi năm
Đồng thời, lao là căn bệnh có nguy cơ hàng đầu tấn công những bệnh nhân AIDS (Grimard và Harling, 2004), nghĩa là bệnh lao làm tăng thêm tính tác động
của AIDS đến kinh tế xã hội Theo uớc tính của Corbett và cộng sự (2002), có 9%
các trường hợp nhiễm lao phổi ở người trưởng thành và 13% tử vong vì bệnh lao là
do đồng nhiễm với HIV
Trang 21Nhìn chung, một số bệnh truyền nhiễm có thể ảnh hưởng đáng kể đến năng suất làm việc và thời gian cống hiến cho công việc của người lao động, trong khi việc cải thiện hạ tầng y tế để ngăn chặn bệnh dịch sẽ đem lại kết quả tích cực cho chất lượng nguồn nhân lực Rõ ràng từ đó, triển vọng tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động sẽ làm cho một đất nước hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài (Borensztein, Gregorio, và Lee, 1998)
Hiện vẫn chưa tìm thấy nghiên cứu nào phân tích tác động trực tiếp của bệnh dịch tả đến dòng FDI hay đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nhìn vào các báo cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (2013, 2012, 2011) đều thấy dịch tả là bệnh truyền nhiễm phổ biến thứ ba sau bệnh sốt rét và bệnh lao ở các nền kinh tế đang phát triển Dịch tả một khi xảy ra cũng làm giảm năng suất của người lao động do vấn đề vệ sinh cá nhân bất lợi trong khi họ cần phải dành thời gian liên tục để làm việc Tương tự như bệnh lao, mật độ bệnh dịch tả cao cũng liên quan mật thiết với nghèo đói và vệ sinh công cộng yếu kém
2.3 Tham khảo mô hình kinh tế học của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Alsan, Bloom và Canning (2006) lập luận với một mô hình FDI định hướng xuất khẩu, theo đó giả định các yếu tố nhập lượng được lựa chọn ở dạng tối ưu Giả
sử lợi nhuận theo quy mô là bất biến và thị trường là cạnh tranh, đồng thời chi phí vận chuyển hàng hóa giữa các thị trường là không đáng kể, thì lợi nhuận thu được của một đơn vị FDI được thể hiện theo hàm lợi nhuận sau:
là giá thế giới của xuất lượng, P k là chi phí vốn tại địa phương,
p x là giá địa phương của nhập lượng (với nhiều yếu tố nhập lượng cho sản xuất), z đại diện cho các yếu tố mang tính chính sách của các quốc gia nhận vốn có khả
năng cản trở hay thu hút đầu tư, và ω đại diện cho các yếu tố có ảnh hưởng khác
của đơn vị quan sát như tổng FDI ròng toàn cầu của năm hiện tại, xu hướng FDI ròng của năm qua, cấp độ của xung đột vũ trang, hoặc cấp độ của quyền sở hữu tài
Trang 22sản Bốn thành phần ban đầu của phương trình thể hiện sự cân bằng giữa thu nhập
và chi phí nói chung, trong khi thành phần thứ năm, ω, bao gồm những yếu tố đại
diện cho tính chất rủi ro của dòng vốn đầu tư
Theo mô hình này, một cách hợp lý thì dòng FDI sẽ chảy vào địa phương nào
có khả năng mang lại tỷ suất lợi nhuận tối đa với nguy cơ rủi ro tối thiểu Có thể giả định rằng, chi phí đầu tư tăng sẽ lên tỷ lệ thuận với sự gia tăng của lượng vốn FDI
(ký hiệu của FDI là I) tùy thuộc vào khả năng hấp thụ của quốc gia nhận vốn S Khi
đó, hàm chi phí đầu tư bình phương hiệu chỉnh của địa phương theo biến FDI có
công thức như sau:
C (I) = p k
0( I + ζI 2
Trong đó, p k
0 ngụ ý rằng chi phí vốn tại địa phương, với ký hiệu 0 giả định về
tính đồng nhất giữa các quốc gia; ζ thể hiện hệ số của FDI biên; trong khi S tượng trưng cho khả năng hấp thụ vốn đầu tư, với giả định có hệ số là 2
Các tác giả đưa ra giả định rằng sự gia tăng FDI sẽ dẫn đến một số nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm và điều đó sẽ làm tăng chi phí đầu tư (ζ có giá trị >0)
Cần nhấn mạnh rằng trong mô hình kinh tế này, FDI được tính là dòng FDI gộp
(gross FDI inflows), và nó thường sẽ không cân bằng với dòng FDI ròng (net FDI
toàn không có bất kỳ FDI outflows nào)
Chi phí cực tiểu của vốn (ở địa phương) mà một công ty chuyển vốn FDI phải
đối mặt sẽ phụ thuộc vào tổng lượng FDI Đó chính là đạo hàm theo I và có dạng
phương trình cụ thể như sau:
Trang 232.4 Mô phỏng về lý thuyết ngoại tác
Ngoại tác là một hình thức phổ biến xảy ra trong xã hội loài người (Cornes và Sandler, 1996) Ngoại tác của vốn nhân lực nói chung và sức khỏe nói riêng có thể giúp giải thích một phần sự khác biệt giữa các quốc gia trong phát triển kinh tế (Ciccone và Peri, 2006; Azariadis và Drazen, 1990) Khái niệm ngoại tác và mức độ
mà ngoại tác gây ra có nguyên nhân từ hành vi không tối ưu của thị trường hàng hóa (Arrow, 1969), theo đó còn có những lĩnh vực ngoài thị trường chịu sự tác động
từ hành vi mua bán của các đối tượng tham gia thị trường Giả định của nghiên cứu cho rằng việc giảm thiểu số ca bệnh truyền nhiễm và hạ thấp tử suất bệnh là hoạt động mang ý nghĩa cung cấp sức khỏe tốt hơn cho một nền kinh tế, và một nền kinh
tế bất kỳ ở thời điểm quan sát nhận được nhiều dòng vốn đầu tư nước ngoài hơn là một điều lợi ích Tác giả không đo lường và không xem xét tác động xã hội của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra điều tốt hay xấu cho địa phương nhận vốn Bình luận về tính chất hai mặt của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không nằm trong mục đích nghiên cứu của tác giả
Lập luận dựa trên tham khảo định lý Coase (Coase, 1960), nghiên cứu trình bày biến thể đồ thị minh họa cho giả thuyết về sự hiện diện ngoại tác, điều xảy ra từ hoạt động kiểm soát và giảm thiểu bệnh truyền nhiễm, và nó gây ảnh hưởng trên sự dịch chuyển của dòng vốn đầu tư nước ngoài, với giả định rằng các tác nghiệp y tế này có cơ chế vận hành mang đặc tính của thị trường cạnh tranh, không có chi phí ngoại tác, và do đó chi phí xã hội bằng chi phí riêng của hai bên cung và cầu
Trong Hình 2.1, trục hoành biểu thị mức độ kiểm soát bệnh truyền nhiễm, với giả định là đơn vị tính được đo bằng chất lượng sức khỏe, theo đó ngụ ý càng đi về phía bên phải của trục hoành thì môi trường sức khỏe y tế sẽ càng tốt hơn, đồng nghĩa số ca bệnh hoặc tử suất bệnh truyền nhiễm được giảm thiểu hơn Đường cung
Scủa thị trường này biểu thị chi phí của nhóm các đối tượng được trị bệnh (giả định rằng gọi chung họ là bệnh nhân); đó là một đường dốc lên nhẹ bởi vì nhìn chung
hoạt động ngăn chặn bệnh dịch mang nặng yếu tố nhân đạo Đường cầu D biểu thị
Trang 24lợi ích riêng biên của việc kiểm soát bệnh truyền nhiễm đối với bệnh nhân; đó là đường rất dốc ngụ ý nhu cầu cực kỳ cấp thiết đối với việc cứu chữa Cung và cầu của thị trường này sẽ gặp nhau tại lượng là Qd Nhưng hoạt động kiểm soát bệnh truyền nhiễm này lại tạo ra lợi ích cho các bên thứ ba, biểu thị bằng đường lợi ích
ngoại tác biên MEB Do việc kiểm soát bệnh truyền nhiễm tạo ra giá trị lan tỏa rất
lớn trên mọi hoạt động kinh tế xã hội, lớn hơn nhiều so với lợi ích riêng của bệnh
nhân, nên đường MEB nằm bên phải của đường D Cũng từ lập luận đó, đặc thù của thị trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm làm cho đường MEB sẽ ít dốc hơn đường
D, hàm ý rằng môi trường sức khỏe y tế càng được cung cấp nhiều hơn thì lợi ích biên cho bên thứ ba càng lớn
Hình 2.1 Ngoại tác tích cực của thị trường kiềm chế bệnh truyền nhiễm
Chú thích: Biểu đồ hiển thị ngoại tác tích cực của thị trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm Đường cầu riêng D gần như dựng đứng phản ảnh tính ít co giản theo giá của thị trường
Trang 25đặc thù này Lợi ích xã hội biên MSB cao hơn cầu riêng D Chênh lệch đó là lợi ích ngoại tác biên MEB Đường MSB được hiển thị lài hơn đường D, phản ảnh các lĩnh vực chịu tác động ngoại tác, ví dụ như FDI, có tính co giãn nhiều hơn
Đường lợi ích xã hội biên MSB được tính bằng cách cộng lợi ích riêng biên và lợi ích ngoại tác biên tại mỗi mức sản lượng, nói chung là MSB = D + MEB Nếu
chỉ tính trên lợi ích riêng biên của thị trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm, cung và cầu sẽ cân bằng tại mức giá Pd và lượng Qd, thay vì phải cân bằng hiệu quả tại mức giá PE và lượng QE Trên ý tưởng rằng các lợi ích xã hội biên phải bằng chi phí xã hội biên, lượng cung cần được tăng thêm miễn là lợi ích xã hội biên vẫn vượt quá chi phí xã hội biên Do lợi ích xã hội biên là lớn hơn lợi ích riêng biên, kết quả là, trong một thị trường cạnh tranh, điểm cân bằng sẽ không hiệu quả ở lượng Qd, khi
mà tại đó chi phí xã hội thực sự sẽ ở mức quá cao là Qd2 Điều này có thể được xem
là cung và cầu riêng của thị trường đang không tính đến sự hiện diện của ngoại tác tích cực (positive externality) của hành vi kiểm soát bệnh truyền nhiễm Giả sử rằng ngoại tác này được tính vào thị trường thì điểm cân bằng hiệu quả sẽ tại lượng QE, khi đó lợi ích xã hội lớn hơn chi phí xã hội Vì vậy, toàn thể xã hội sẽ nhận được nhiều lợi ích hơn nếu cung thêm nhiều sản phẩm dẫn tới tăng khả năng kiềm hãm
bệnh truyền nhiễm hơn Trường hợp này được gọi là ngoại tác tiêu dùng tích cực
(positive consumption externality)
Nghiên cứu của tác giả nếu xét ở góc nhìn sự hiện diện ngoại tác sẽ chủ yếu được lập luận trên quan điểm nói trên Theo đó, sự phân tích về nhận diện ngoại tác
sẽ được trình bày ở chương tiếp theo
Tóm tắt
dịch chuyển dòng vốn đầu tư trên phạm vi toàn cầu, và sức khỏe y tế được xem là một thành phần của vốn nhân lực Một số nghiên cứu thực nghiệm xác định rằng quy mô bệnh truyền nhiễm có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế Sự tương quan giữa bệnh truyền nhiễm và đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được giải
Trang 26thích thông qua lập luận về mối quan hệ bắc cầu giữa sức khỏe, vốn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cũng có thể quan sát ảnh hưởng
có biểu hiện trực tiếp Tham khảo mô hình kinh tế học của đầu tư trực tiếp nước
khác qua mô phỏng lý thuyết về ngoại tác, theo đó, hành vi của thị trường kiểm soát dịch bệnh tạo ra lợi ích xã hội biên, bao gồm trong đó là FDI
Trang 27Chương 3: PHƯƠNG PHÁP LUẬN
3.1 Lập luận mô hình kinh tế học
Đứng ở góc độ nhà đầu tư, các công ty, thay vì xuất khẩu hoặc cấp giấy phép cho một công ty địa phương sản xuất gia công cho mình (outsourcing), thì có thể lựa chọn giải pháp đầu tư ra nước ngoài (Krugman, Obstfeld và Melitz, 2011) Để phục vụ cho nhu cầu hàng hóa của thị trường địa phương, họ sẽ sản xuất tại địa phương để tránh chi phí vận chuyển và các rào cản thương mại, hoặc để hạn chế việc phải bị trì hoãn sản xuất lẫn bị chậm tiếp cận thông tin thị trường Đó gọi là FDI theo chiều ngang Ngoài ra, các doanh nghiệp có thể tìm cách cung ứng cho thị trường toàn cầu và chọn một nơi có thể giúp giảm thiểu chi phí sản xuất nhờ vào các nhập lượng giá rẻ Đó được gọi là FDI định hướng xuất khẩu hoặc FDI theo chiều dọc (Shatz và Venables, 2000) Tuy nhiên, các yếu tố liên quan đến y tế và sức khỏe có thể ảnh hưởng đến cả FDI cả theo chiều dọc và chiều ngang (Alsan, Bloom và Canning, 2006)
Sản xuất địa phương cho phép một công ty để tránh chi phí vận chuyển và thuế nhập khẩu, nhưng điều này chỉ là hấp dẫn nếu thị trường địa phương là đủ lớn để đánh đổi định phí của việc thiết lập mới cơ sở sản xuất (Antràs và Helpman, 2004) Một cách hợp lý thì FDI theo chiều ngang được phỏng đoán có động cơ chủ yếu từ cầu địa phương thông qua quy mô thị trường (Blonigen và Wang, 2004) Trên quan điểm học thuật truyền thống, các nhà nghiên cứu thực nghiệm nhận thấy quy mô thị trường, thường được đo bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người
và quy mô dân số, là một yếu tố quyết định cho việc thu hút FDI (Desbordes và Azémar, 2008; Chakrabarti, 2001) Ngược lại, khi các điều kiện khác không đổi (ceteris paribus), FDI theo chiều dọc sẽ chảy sang quốc gia nào đang sở hữu các nhập lượng sản xuất giá rẻ và có ít hạn chế trong chính sách thương mại Nhìn chung, sự hiện diện của trình độ học vấn cao, người lao động khỏe mạnh, chấp nhận mức tiền lương thấp, có thể là những yếu tố quyết định thu hút FDI theo chiều dọc (Alsan, Bloom và Canning, 2006)
Trang 28Trên lý thuyết, dòng FDI sẽ có động cơ chảy từ quốc gia chuyển vốn đến quốc gia nhận vốn cho đến khi chênh lệch lợi nhuận đầu tư giữa hai thị trường được san
bằng Khi đó, lợi nhuận sẽ là π 0
= f (p y
0
, p k (I), p x , z, ω) Điều này đưa đến hàm đầu
tư nước ngoài có dạng:
Tương tự hàm lợi nhuận ở trang trước đối với các yếu tố được thể hiện bằng P x , z và
ω , trong khi S đại diện cho khả năng hấp thụ FDI của một nền kinh tế
Ký hiệu 0 trên được đưa vào ba yếu tố đầu tiên của hàm đầu tư ngụ ý chúng đều giống nhau giữa các quốc gia (mặc dù chúng có thể thay đổi theo thời gian), trong khi các yếu tố còn lại cho thấy tính đặc thù của từng quốc gia cụ thể Yếu tô S
đại diện cho khả năng hấp thụ FDI của một nền kinh tế dựa vào tổng xuất lượng bình quân đầu người, quy mô dân số, chất lượng giáo dục và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Hàm lợi nhuận của các doanh nghiệp chuyển vốn FDI là một hàm sản xuất cơ bản, nhưng có thể có sự khác biệt về hàm tổng sản xuất tổng của các nền kinh tế mà các doanh nghiệp đầu tư vào Giả định rằng hảm sản suất Cobb-Douglas, ngoài hai
yếu tố chính là Vốn và Lao động, còn có thêm những yếu tố nhập lượng khác Khi
đó, hàm tổng sản xuất của nền kinh tế nhận vốn đầu tư sẽ có dạng sau:
Y = A X β K α L 1-α-β
trong đó Y là xuất lượng, K là vốn vật chất, L là sức lao động, X là một số yếu tố nhập lượng khác (trong đó bao gồm sức khỏe), A là nhân tố tổng năng suất
(TFP) đại diện cho sự khác biệt về công nghệ Khi các yếu tố khác không đổi,
doanh nghiệp muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức nhập lượng X sao cho giá trị biên của X bằng với giá thực của nó là p x Đạo hàm của Y theo X cho thấy:
dY
dX = β A X β–1 K α L 1 –α–β = β Y L L X = P x
Trang 29Theo phương trình trên, thì giá địa phương của nhập lượng càng thấp khi giá
trị X càng cao Theo đó, một khi sức khỏe của người dân ở một địa phương nào đó
càng cao, nó sẽ làm cho giá địa phương của nhập lượng giảm, và điều này giúp cho lợi nhuận trên mỗi đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương đó càng lớn
Hay nói cách khác, nếu bệnh truyền nhiễm có quy mô càng nhỏ thì sẽ làm cho giá
địa phương của nhập lượng cũng càng nhỏ theo3 Điều này tất yếu sẽ làm tăng động lực cho dòng vốn và khuyến khích nhiều hơn nữa các quyết định đầu tư
Có thể coi nhập lượng trên mỗi đồng GDP là có sẵn trong một nền kinh tế làm
đại diện cho giá của nhập lượng địa phương (p x) Trong phương trình hồi quy, yếu
tố này thể hiện bằng chi phí nhiên liệu Trên quan điểm này, quốc gia nào có chi phí nhiên liệu bình quân cao thì tương ứng với nó là giá của nhập lượng có thể cũng cao, và điều đó sẽ tạo nên sự cản trở cho đầu tư, trong khi ngược lại, các quốc gia
có có giá nhập lượng thấp sẽ khuyến khích đầu tư
Cần lưu ý rằng, trên thực nghiệm thì hàm lợi nhuận (hàm π) của các công ty chuyển vốn FDI tiềm năng có thể khá khác biệt so với hàm sản xuất tổng (hàm Y)
của nền kinh tế quốc gia nhận vốn
Mô hình được đưa ra ở trên áp dụng cho FDI định hướng xuất khẩu hoặc FDI theo chiều dọc Đối với hầu hết các quốc gia có thu nhập trung bình, tác giả nghĩ rằng đây là mô hình thích hợp Bởi vì, để xây dựng một mô hình FDI theo chiều ngang, thì mức giá phù hợp cho xuất lượng phải là giá của hàng hóa ở quốc nội chứ không phải là giá thế giới Tuy rằng giá nhập lượng của FDI theo chiều ngang cũng tương đương như FDI theo chiều dọc, nhưng một số hệ số của yếu tố sản xuất, như rào cản thương mại, có thể phải thay đổi
Một điểm cần đề cập nữa, đó là yếu tố z trong phương trình đầu tư nói trên thể hiện rào cản thương mại thông qua yếu tố đo lường dự kiến là thuế quan Tuy
3
Phương trình p x ở trên là tính theo X, đại diện cho sức khỏe Nếu xét về bệnh truyền nhiễm, giả sử ký hiệu là
TB, thì cần hiểu là TB = X 1
Trang 30nhiên, sự khó khăn trong thu thập dữ liệu, điều sẽ trình bày rõ hơn ở phần 3.2, nên
sẽ không hiện diện ở bất kỳ biến số đại diện nào trong mô hình kinh tế lượng chính thức Thay vào đó, thành tố này được giả định sẽ hiện diện trong phần dư
3.2 Vận dụng mô hình kinh tế lƣợng
Hàm đầu tư I, cái được trình bày ở mục 3.1 của chương này, là cơ sở để thiết
lập phương trình kinh tế lượng bao gồm các biến độc lập tương ứng Trên lập luận
đó, các yếu tố gây ảnh hưởng đến sự biến động của dòng FDI ròng ở các nền kinh tế
được quan sát sẽ mang tính đại diện cho các thành phần của hàm I Mô hình Hồi
quy Robust (Robust Regression) là trọng tâm để từ đó bài nghiên cứu khám phá tác động của các biến độc lập lên dòng vốn FDI ròng, trong khi kết quả của mô hình hồi quy Bình phương cực thiểu thông thường (OLS), với những nhược điểm sẽ được tác giả trình bày kỹ ở chương 4, và mô hình hồi quy Phân vị 0.5 đều chỉ được
sử dụng nhằm mục đích tham khảo
Hình 3.1 Khung lý thuyết kinh tế học dạng khái niệm:
Chú thích: Bảy khái niệm tác động tương ứng với bảy thành phần của mô hình kinh tế của dòng vốn I
Trang 31Các yếu tố của phương trình đầu tư (I) và ở Hình 3.1 nêu trên được hiểu ở
dạng khái niệm kinh tế học Đây là cơ sở lập luận trong việc lựa chọn phương trình hồi quy, nơi mà các khái niệm kinh tế học này sẽ được phản ảnh thông qua các biến
số khả lượng Cụ thể, chúng được diễn giải như sau:
Lợi nhuận của của đầu tư (π 0
) được lượng định thông qua thu nhập cơ bản
của FDI
Giá thế giới của xuất lượng (p y
0 ) được lượng định gián tiếp thông qua Độ mở
của nền kinh tế Đây là đại lượng mang tính đại diện về phương diện số học
hơn là về bản chất Theo đó, độ mở của nền kinh tế là thương số của tổng Xuất Nhập khẩu và GDP
Chi phí vốn tại địa phương (p k
0
) được phản ảnh thông qua Lãi suất cho vay
ngắn và trung hạn của ngân hàng Mô hình kinh tế học giả định rằng chi phí
vốn tại địa phương là đồng nhất (p k
0) về không gian và chỉ thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, trong mô hình kinh tế lượng, biến số với dữ liệu được sử dụng sẽ cho thấy chi phí vốn có sự khác biệt giữa các địa phương nhận vốn trong cùng một năm quan sát Nghĩa là, trong thực tiễn nghiên cứu hồi quy,
yếu tố này ngụ ý là p k
Giá địa phương của nhập lượng (p x) được ước lượng thông qua yếu tố mang
tính tượng trưng là Tiền thuê khí đốt tự nhiên trên GDP, xem nó như đại diện
cho chi phí nhiên liệu
Theo mô hình kinh tế học, yếu tố bệnh truyền nhiễm là một thành phần
của P x Trong mô hình kinh tế lượng, nó tồn tại độc lập dưới dạng các
biến số tử suất bệnh Lao trên 100.000 người, tử suất bệnh Lao đồng
nhiễm HIV trên 100.000 người, và số ca bệnh Sốt rét thống kê
Khả năng hấp thụ FDI (S) được ước lượng thông qua các biến số: GDP bình
quân đầu người, Quy mô dân số, Tốc độ tăng trưởng GDP, Số năm đi học bậc trung học
Trang 32 Rào cản thương mại (z) không có biến đại diện trong mô hình kinh tế lượng Nghiên cứu chấp nhận rằng yếu tố này tồn tại dưới dạng phần dư (ε)
Các yếu tố ảnh hưởng khác (ω) được lượng định thông qua 3 biến số: (1)
giới, (2) Xu hướng FDI ròng năm liền trước, là biến nhị phân phản ảnh xu hướng FDI chảy vào địa phương, và (3) Tình trạng xung đột vũ trang của địa
phương, một biến giả phản ảnh 3 cấp độ an ninh của địa phương
Theo mô hình kinh tế học, thì biến được giải thích trong mô hình sẽ là dòng FDI gộp Tuy nhiên, nguồn dữ liệu gốc của WB không cung cấp thông tin về dòng FDI gộp, hoặc cách gì để từ đó có thể có số liệu Vì vậy, nghiên cứu sẽ sử dụng dòng FDI ròng như cách lựa chọn thay thế ở vị trí này
Trang 33Hình 3.2 Khung phân tích mô hình kinh tế lượng
Chú thích: Khung phân tích lượng hóa các khái niệm kinh tế thể hiện các yếu tố định lượng tác động đến FDI Nó gần trùng với mô hình kinh tế lượng ở tiếp theo của cùng chương Biến Bệnh truyền nhiễm sẽ tồn tại dưới dạng ba biến khác nhau trong các mô hình hồi quy riêng biệt
Về tổng quát, nếu đứng ở góc nhìn của Tử suất bệnh Lao trên 100.000 người
(biến độc lập) mà xét, thì mối quan hệ của biến này với biến FDI được lập luận trên nền của lý thuyết ngoại tác Theo lý thuyết này, thì FDI là một thành phần của cầu
xã hội của cung kiềm chế bệnh truyền nhiễm Trong khi đó, nếu đứng ở góc nhìn
của FDI (biến phụ thuộc) mà xét, thì sự tương quan giữa hai biến này được lập luận
trên nền lý thuyết về ảnh hưởng của vốn nhân lực, mà sức khỏe y tế là một thành phần, lên trên các quyết định đầu tư nước ngoài
Trang 34Qua việc diễn giải về các biến được sử dụng trong khung phân tích định lượng ở trang trước, tác giả đề xuất mô hình kinh tế lượng tổng quát thao tác trên dữ liệu bảng như sau:
Ln_FDI it = a + αln_IncFDI it + βOpeness it + γLendInt it + δGasrpGDP it +
χTBHIVmp100k it-1 + ψln_TBmp100k it-1 + ε it
Với i đại diện cho quốc gia nhận vốn, và t là thời điểm quan sát Ba biến số cuối, ngoại trừ ε, là những biến mục tiêu mà nghiên cứu này ước lượng tác động Các
biến số còn lại đóng vai trò biến kiểm soát Theo cách thiết lập mô hình hồi quy
thông dụng, biến a là hằng số và ε là bao gồm những yếu tố không quan sát được,
gọi chung là phần dư Các biến được mô tả như sau:
Ln_IncFDI: phản ảnh thu nhập cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài bao
gồm các khoản thanh toán của thu nhập đầu tư trực tiếp, cùng với thu nhập trên vốn cổ phần (cổ tức, lợi nhuận chi nhánh, và thu nhập tái đầu tư) và lãi tức
thu nhập nội bộ doanh nghiệp Đơn vị tính của IncFDI là USD Kỳ vọng của
biến này tương quan đồng biến (+) với ln FDI
Openess: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ chia cho tổng sản phẩm quốc nội Đơn vị tính của Openess là % Biến số này thể hiện mức
độ tham gia vào nền kinh tế toàn cầu của một quốc gia thông qua giao thương quốc tế và cho tác động đồng biến đến FDI (Desbordes và Azémar, 2008; Alsan, Bloom và Canning, 2006; Noorbakhsh và Youssef, 2001) Tuy nhiên, đối với FDI theo chiều dọc, trái ngược với FDI theo chiều ngang, dòng vốn đầu tư là định hướng xuất khẩu Do có thể tác động trên cả hai mặt, tác giả không có giả thuyết về hướng tương quan của biến này
LendInt: Lãi suất cho vay ngắn và trung hạn của ngân hàng dành cho nhu cầu
của khu vực tư nhân Đơn vị tính là % Lãi suất cho vay được kỳ vọng tương
quan tỷ lệ thuận với dòng FDI (+) Kỳ vòng này dựa trên quan điểm cho rằng
Trang 35doanh nghiệp FDI có thể huy động nguồn vốn tại địa phương, thay vì rót tiền
từ quốc gia họ vào nền kinh tế sở tại, nếu chi phí vốn tại địa phương thấp
GasrpGDP: Tiền thuê khí đốt tự nhiên trên tổng sản phẩm quốc nội Tiền thuê
khí đốt tự nhiên đo lường sự chênh lệch giữa giá sản xuất khí đốt tự nhiên so với giá thế giới và tổng chi phí sản xuất, đơn vị tính là % Poelhekke và Van
der Ploeg (2010) sử dụng biến đo lường khác nhưng cũng là chi phí nhiên liệu
trong nghiên cứu của họ Vì phản ảnh giá cả của nhập lượng tại địa phương,
Ln_GDPpcppp: thể hiện tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người tính
theo phương pháp đồng mãi lực4 (PPP) Theo như mô hình kinh tế học, GDP bình quân đầu người đại diện năng lực hấp thụ đầu tư, nó phản ảnh phía cầu của đầu tư và do đó nếu càng cao thì càng làm khuyến khích dòng FDI5 Biến
số này được giả thuyết có tương quan tỷ lệ thuận với FDI (+)
Ln_Pop: đại diện cho quy mô dân số, đơn vị tính là số người Thuộc nhóm
biến phản ảnh năng lực thu hút FDI theo mô hình kinh tế học, biến số này vừa thể hiện tiềm năng của thị trường quốc nội, vừa thể hiện quy mô của lực lượng lao động của một nền kinh tế Đứng ở góc độ thị trường lao động mà quan sát,
sự dồi dào của dân số tỷ lệ nghịch với giá đơn vị lao động, và vì thế, nó có thể khuyến khích dòng FDI nên cho kỳ vọng sẽ tương quan tỷ lệ thuận (+)
GDPgrowth: thể hiện tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội tính theo %
Thông thường, một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao sẽ khuyến khích nhiều hơn dòng vốn đầu tư nước ngoài Biến này là thành phần thể hiện năng
4
Đồng mãi lực (PPP) còn được gọi theo các tên sau: ngang bằng sức mua, ngang giá sức mua, sức mua
tương đương, mãi lực bình giá
5
Theo tài liệu của Alsan, Bloom và Canning (2006), GDP bình quân đầu người được lập luận là đại diện cho chi phí nhân công và giả thuyết có tương quan nghịch biến với FDI Ba đồng tác giả nhìn biến này ở phía cung của FDI, còn nghiên cứu nhìn biến này ở phía cầu
Trang 36lực thu hút vốn theo mô hình kinh tế học, phản ảnh phía cầu của dòng FDI Giả thuyết biến số này có tương quan tỷ lệ thuận (+)
EDUyear: đo lường số năm học ở bậc học trung học, tính bằng số năm học
Đây là biến duy nhất trong mô hình có giá trị đo lường là số tự nhiên Giả thuyết biến số có tương quan tỷ lệ thuận (+)
Ln_GBFDI: biến thể hiện dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng của toàn
cầu, đơn vị tính là USD Dữ liệu của biến này đo lường tổng số vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư, nguồn vốn dài hạn khác, và vốn ngắn hạn Biến số này gián tiếp phản ánh xu thế của nền kinh tế Thế giới (chu kỳ kinh doanh) Kỳ vọng biến này tương quan tỷ lệ thuận (+), ngụ ý rằng cùng thời gian mà dòng vốn đầu tư nước ngoài toàn cầu biến động theo chiều nào thì đồng thời dòng vốn đầu tư chảy vào các quốc gia quan sát cũng sẽ biến động theo chiều đó
NegFDI: Theo Desbordes và Azémar (2008), dòng FDI ròng âm trong quá khứ
có thể gửi tín hiệu tiêu cực mạnh về điều kiện hoạt động và triển vọng kinh tế cho nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng ở quốc gia nhận vốn, đặc biệt là trong bối cảnh thông tin bất cân xứng là đặc trưng của các nước đang phát triển (Kinoshita và Mody, 2001) Theo đó, biến giả này được đưa vào mô hình, nó
có giá trị là 1 nếu một quốc gia đã trải qua FDI ròng âm trong năm liền trước
Kỳ vọng nó tương quan nghịch biến (-) với FDI của năm quan sát
Conflicts: Theo Desbordes và Azémar (2008), cả quyền sở hữu tài sản lẫn lợi
nhuận đầu tư sẽ bị đe dọa nếu tại quốc gia nhận FDI diễn ra xung đột vũ trang
Dữ liệu về xung đột vũ trang được phát triển bởi Đại học Uppsala (Eriksson và Wallensteen, 2004), theo đó, đây là biến giả ba trạng thái tương ứng với cường
độ và thời gian diễn ra khủng hoảng: (0) tình trạng hòa bình, không xảy ra xung đột vũ trang hoặc có ít người tử vong do xung đột vũ trang; (1) xung đột
vũ trang nhỏ với tối thiểu có 25 người thiệt mạng trong trận chiến mỗi năm và
có dưới 1.000 người tử vong trong suốt quá trình xảy ra xung đột; và (2) chiến tranh dẫn đến tối thiểu 1.000 trường hợp tử vong mỗi năm
Trang 37Mục tiêu nghiên cứu là ước lượng tác động lên dòng FDI ròng của các bệnh truyền nhiễm với độ trễ một năm, chúng được đo lường qua các biến sau:
TBHIVmp100k: Tử suất AIDS đồng nhiễm lao trên 100.000 dân Lao là bệnh
thường phát sinh đối với những ai đã mang sẵn trong người HIV và nó tác động đáng kể đến năng suất lao động Giả thuyết của nghiên cứu cho rằng, khi các điều kiện khác không đổi, dòng vốn FDI sẽ nản lòng tại một quốc gia có quá nhiều người có nguy cơ lây nhiễm AIDS, hay đơn giản hơn là khi có nhiều trường hợp nhiễm HIV/AIDS được báo cáo Kỳ vọng của bài viết này là TBHIVmp100k có tương quan nghịch biến (-)
Ln_Mal: Logarit của số bệnh nhân sốt rét, đơn vị tính là số người Một cách
hợp lý thì người bị nhiễm bệnh sốt rét sẽ khó có thể làm việc với hiệu quả giống như khi họ đang khỏe mạnh Nghiên cứu kỳ vọng tác động của sốt rét lên FDI là nghịch biến (-)
Ln_TBmp100k: Logarit của tử xuất bệnh lao âm tính HIV trên 100.000 dân
Đơn vị tính là số người Giống như bệnh sốt rét, bệnh lao cũng có tác động đến lực lượng lao động theo chiều hướng tương đồng Không nhiều thì ít, doanh nghiệp đa quốc gia sẽ phần nào nản lòng nếu nền kinh tế mà họ dự định chuyển vốn FDI có quá nhiều ca bệnh lao được báo cáo Bài nghiên cứu này
kỳ vọng tác động nghịch biến (-) của bệnh lao đến FDI
Nhìn lại phương trình p x ở mục 3.1 của chương này, và theo cách hiểu phổ biến về mối quan hệ giữa bệnh truyền nhiễm và sức khỏe y tế, có thể nhận ra rằng
giá trị lượng hóa của khái niệm X tăng lên chỉ khi các chỉ báo hay dữ liệu thống kê
về số ca bệnh truyền nhiễm được nhìn thấy trong xu hướng giảm Nói cách khác, số
ca bệnh truyền nhiễm được thống kê sẽ quan hệ tỷ lệ thuận với biến đo lường hay đại diện cho chi phí địa phương của nhập lượng
Mô hình kinh tế lượng luôn tồn tại phần dư ε đại diện cho những yếu tố chưa
lường trước được hoặc những yếu tố mà sự hạn chế chuỗi dữ liệu theo thời gian hoặc theo mẫu quan sát hoặc cả hai Hai trong số những yếu tố quan trọng được tác
Trang 38giả chú ý nhất là thuế quan, yếu tố tiêu biểu thể hiện rào cản cho hoạt động giao thương quốc tế, và quyền sở hữu tài sản, cái xuất hiện trong nghiên cứu của
Desbordes và Azémar (2008) Tuy nhiên, các số liệu về yếu tố này khá hạn chế về
cả thời gian lẫn không gian, và nó chỉ phong phú khi thống kê ở các quốc gia phát triển Rất khó có thể bình quân hóa thuế suất nhập khẩu để sử dụng làm dữ liệu, và hầu hết các nền kinh tế thu nhập trung bình đều chỉ thu thập được thông tin về quyền sở hữu tài sản trong thời gian gần đây, chẳng hạn như Việt Nam chỉ có dữ liệu về yếu tố này từ báo cáo của WB từ năm 2011 Do đó, các biến số dự kiến như
hữu tài sản, tuy về mặt lý thuyết đều có ảnh hưởng đến FDI (Desbordes và Azémar, 2008), sẽ không hiện diện trong mô hình kinh tế lượng của nghiên cứu này
3.3 Lập luận về nhận diện ngoại tác
Bên cạnh lập luận dựa trên quan điểm sức khỏe là chi phí nhập lượng khi nói
về tác động của môi trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm đến đầu tư nước ngoài, nghiên cứu này cũng đề xuất phương pháp nhận diện ngoại tác Giả sử rằng không
có sự thay đổi theo quy mô, thì lượng vốn FDI mà một quốc gia nhận được Y phụ thuộc vào lượng lao động L, vốn dồn tích K, và môi trường kiểm soát bệnh truyền nhiễm X theo hàm Cobb-Douglas sau:
Y = A X β K α L 1- α-β
Để đơn giản cho việc giải thích, tác giả giả định rằng chỉ xem xét sự thay đổi của chi phí địa phương của nhập lượng ở lĩnh vực kiểm soát dịch bệnh, tạm thời xem các yếu tố nhập lượng khác là không đổi Theo đó, sự thay đổi chi phí nhập lượng địa phương chỉ đơn giản là thay đổi điều kiện y tế sức khỏe của địa phương nhận vốn Trong điều kiện tổng quát, ngoại tác được giả định cân bằng với sự chênh lệch giữa chi phí địa phương của nhập lượng khi địa phương có khả năng kiểm soát
bệnh nhìn chung là tốt (p x ) và chi phí này khi kiểm soát bệnh không được tốt (p’ x)
Theo lập luận này, hàm chi phí địa phương của nhập lượng có biến X với ý nghĩa là
khả năng kiểm soát dịch bệnh ở địa phương tiếp nhận vốn là tốt, và trường hợp biến
Trang 39φX ngụ ý địa phương đó không kiểm soát tốt bệnh truyền nhiễm Nếu dòng vốn
đầu tư nước ngoài lo ngại tình trạng môi trường y tế xấu nhiều hơn là hứng thú với
môi trường y tế tốt, thì φ>1; còn nếu dòng vốn cảm thấy được khuyến khích nhiều
đối với môi trường y tế tốt nhưng ít nản lòng đối với môi trường y tế xấu, thì 0<φ<1
Hàm chi phí địa phương của nhập lượng khi địa phương đó không kiểm soát tốt dịch bệnh sẽ có dạng:
p ’ x = β Y L φX
L -1
Trong trường hợp địa phương có khả năng kiểm soát bệnh truyền nhiễm tốt, khi đó chi phí địa phương của nhập lượng đối với đầu tư nước ngoài sẽ nhỏ, hay nói cách khác, hàm nghịch đảo của nó (p 1
x) sẽ lớn Trong trường hợp ngược lại, chi phí này sẽ lớn và hàm nghịch đảo của nó (p' 1
x ) sẽ nhỏ Nếu như việc kiểm soát bệnh truyền nhiễm ở một địa phương tạo ra ngoại tác tích cực trên dòng vốn đầu tư, thì
khi đó lợi ích xã hội biên của thị trường, cái được tính bằng cách lấy đạo hàm của hàm Y theo X, sẽ vượt quá mức chênh lệch chi phí giữa hai trường hợp nêu trên,
Trang 40hay viết theo cách khác6 là:
Lập luận này đứng ở góc độ xác định sự hiện diện của ngoại tác tích cực, nghĩa
là EXT có giá trị từ bằng tới lớn hơn không Theo quan điểm của tác giả, lý thuyết
hỗ trợ lập luận này không nên được áp dụng cho trường hợp ngoại tác tiêu cực Trong trường hợp dX dY = ( p 1
x – p' 1
x), ngoại tác thị trường không được nhận diện (EXT = 0) Lúc này, tác động của việc kiểm soát bệnh truyền nhiễm lên trên
FDI sẽ được giải thích theo lập luận về ảnh hưởng của vốn nhân lực
3.4 Mô tả nguồn gốc dữ liệu
Về cơ bản, dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu có nguồn gốc từ Ngân Hàng Thế Giới (World Bank - WB) công bố từ năm 1993 đến 2013 (21 năm), Tổ Chức Y
Tế Thế Giới (WHO) công bố từ 1992 đến 2012 (21 năm), và Đại học Uppsala (Uppsala universitet) của Thụy Điển Số liệu được quan sát hằng năm của 54 quốc
6
Hàm lợi ích xã hội biên được hiển thị không rút gọn biến L là nhằm ngầm ý thể hiện đây là phương trình được diễn dịch từ hàm Cobb-Douglas