1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân thành phố hồ chí minh

93 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 778,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Từ kết quả nghiên cứu định tính có được, kết hợp với các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm mà người nghiên cứu có được phương trình hồi quy với các biến cần thiết, khả thi, p

Trang 1

TR ẦN TỊNH MINH TRÍ

ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ

LU ẬN VĂN THẠC SĨ

Tp H ồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

TR ẦN TỊNH MINH TRÍ

ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ

Chuyên ngành: Kinh T ế Phát Triển

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Tịnh Minh Trí

Trang 4

M ỤC LỤC TRANG PH Ụ BÌA

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

1.3.1 M ục tiêu tổng quát: 4

1.3.2 M ục tiêu cụ thể: 4

1.3.3 Câu h ỏi nghiên cứu: 4

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 7

2.1 ĐỊNH NGHĨA VỀ KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ 7

2.2 LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SỨC KHỎE ( Peter Zweifel( 2009) ) 8

2.2.1 Nguyên lý xác định giá trị kinh tế của sức khỏe 8

2.2.2 Công b ằng và sức khỏe 14

2.2.3 Cung và c ầu sức khỏe cá nhân 18

2.3 LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG 21

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 22

2.4.1 Mô hình nghiên c ứu 22

2.4.2 Công b ằng trong tiếp cận dịch vụ 24

2.4.3 Hành vi người tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ 25

Trang 5

2.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 26

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 28

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 29

3.2.1 S ự cần thiết của việc phỏng vấn tay đôi 29

3.2.2 Ph ỏng vấn tay đôi 29

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 32

3.3.1 Mô hình h ồi quy 32

3.3.2Thi ết kế khảo sát 35

3.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 37

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 39

4.1.1 B ảng tổng hợp phỏng vấn tay đôi với giới chuyên gia, bác sỹ 39

4.1.2 B ảng tổng hợp phỏng vấn tay đôi với người có khả năng quyết định việc ki ểm tra sức khỏe định kỳ 42

4.1.3 B ảng tổng hợp chung của hai đối tượng phỏng vấn là giới chuyên gia, bác s ỹ với người có khả năng thực hiện quyết định việc kiểm tra sức khỏe định kỳ 45

4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 46

4.2.1 Th ống kê mô tả 46

4.2.2 K ết quả mô hình hồi quy Logistic 56

4.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62 TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Trang 6

DANH M ỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT

KTSKĐK: Kiểm tra sức khỏe định kỳ

BYT: Bộ y tế

CEA: Phân tích chi phí hiệu quả

ACER: Chỉ số hiệu quả trung bình

Trang 7

DANH M ỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 : Bảng câu hỏi dùng cho chuyên gia, bác sỹ Phụ lục 2: Bảng câu hỏi dùng cho người tham gia

Phụ lục 3: Danh sách các chuyên gia

Phụ lục 4: Bảng câu hỏi khảo sát định lượng

Phụ lục 5: Bệnh bẩm sinh, bệnh mạn tính

Phụ lục 6: Bảng dữ liệu khảo sát

Trang 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề sức khỏe trở nên rất quan trọng , vì nó được xem như là một trong

những yếu tố chính trong việc hạn chế đói nghèo, phát triển bền vững của nền kinh

tế ( World Bank (1993); Smith (1999) )

Không lâu trước đây, sức khỏe tốt được xem như là món quà của tự nhiên và sức khỏe tồi được coi như những điều không may mắn Tuy vậy, những thành quả y

tế hiện đại đã tạo ra niềm tin về việc con người có thể đạt tới một sức khỏe tốt khi

sử dụng chúng đúng cách ( Peter Zweifel (2009) )

Y tế dự phòng là một phương pháp giúp tiết kiệm chi phí cho cá nhân và toàn

xã hội hơn là phương pháp cứu chữa hiện nay Phòng bệnh có nghĩa là phải kiểm tra

sức khỏe định kỳ, trước khi các mầm bệnh phát triển ( Ariely, (2008) )

Vì vậy để có được một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn, chúng ta phải luôn chắc

chắn sức khỏe của chúng ta được kiểm soát chặt chẽ Để thực hiện được điều này, chúng ta phải thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ tại các cơ sở chăm sóc sức

khỏe

Qua việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, chúng ta có thể phòng ngừa được bệnh tim mạch, tăng mỡ máu ở người lớn tuổi , đây là nguyên nhân quan trọng gây tăng huyết áp, dẫn đến biến chứng tai biến mạch máu não, một vài căn bệnh ung thư có

thể được chữa khỏi nếu phát hiện sớm,…Tuy nhiên , ở Việt Nam chúng ta hiện nay

đa số người dân chỉ đến cơ sở y tế khi cơ thể đã phát bệnh, khi cảm thấy khó chịu

với các triệu chứng và đang suy yếu Chính thói quen này làm cho cơ hội chữa khỏi

bệnh không cao, không hiệu quả về chi phí đầu tư cho sức khỏe

Việt Nam hiện nay là quốc gia đang có sự phát triển về nhiều mặt, ý thức của người dân về một cuộc sống khỏe mạnh cũng được thể hiện khá rõ, qua việc họ ngày càng quan tâm đến chất lượng hàng hóa, thực phẩm, các công viên, câu lạc bộ

thể dục ngày càng đông người luyện tập Thế nhưng việc kiểm tra sức khỏe định kỳ,

một việc làm quan trọng để giảm thiểu rủi ro về sức khỏe thì chưa được quan tâm

Trang 9

Lâu nay chính sách của chúng ta chỉ tập trung vào việc kiểm tra sức khỏe định kỳ cho những đối tượng đặc thù như: người lao động trong môi trường độc hại, các cơ quan, công ty, thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ cho cán bộ công nhân viên

của mình Chưa có cơ chế khuyến khích toàn dân

Hãy tưởng tượng, nếu tất cả chúng ta đều kiểm tra sức khỏe định kỳ, sẽ có bao nhiêu bệnh nghiêm trọng có thể được phát hiện, bao nhiêu chi phí có thể được cắt

giảm và bao nhiêu người sẽ giảm nổi khốn khổ nhờ phát hiện bệnh sớm?

Với nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi của Việt Nam hiện nay, rất nhiều yếu tố có thể gây hại cho sức khỏe như: thực phẩm kém chất lượng, bụi bẩn

và ô nhiểm môi trường từ quá trình công nghệp hóa, áp lực tài chính và công việc gia tăng…, nhất là tại các thành phố lớn Qua đó chúng ta thấy rằng việc kiểm tra

sức khỏe định kỳ để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống là rất cần thiết Làm sao chúng ta có thể nâng cao ý thức của người dân về việc kiểm tra sức khỏe định

Trình độ dân trí Việt Nam những năm gần đây đội ngũ trí thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc Năm 2003-2004 tổng số sinh viên đại học và cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007- 2008 tăng lên 1.603.484 sinh viên Năm 2008 tổng số sinh viên ra trường là 233.966 trong đó sinh viên tốt nghiệp đại học là 152.272; sinh viên tốt nghiệp cao đẳng là 81.694 Số trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng nhanh( nguồn: Nguồn nhân lực Việt nam – Bộ Giáo duc 22/6/ 2010 )

Thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Việt nam dựa trên số liệu của

Tổng cục Thống kê (GSO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2014 tính theo giá hiện hành đạt 3.937.856 tỷ đồng, tương đương 184 tỷ USD, tính theo

Trang 10

tỷ giá của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước vào ngày 31/12/2014 là 21.400 đồng/USD.Dựa trên quy mô dân số 90,73 triệu người của năm 2014 (cũng theo số liệu do GSO công bố), GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.028 USD, tương đương 169 USD/tháng.Trước đó, năm 2013, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam đạt 3.584.262 tỷ đồng tính theo giá hiện hành, theo đó GDP bình quân đầu người đạt 1.900 USD, tăng so với mức 1.749 USD của năm 2012.Với mức thu nhập 169 USD/ tháng tương đương với 3,380,000VND/ tháng đây là mức thu nhập trung bình thấp so với các nước trong khu vực ( Nguồn: Tổng cục thống kê –

2014 )

Trong 10 năm qua, số người trong độ tuổi 15-64 đã tăng lên 12,6 triệu người,

từ 46,7 triệu người năm 1999 lên 59,3 triệu người năm 2009 Tỷ trọng dân số từ 65

tuổi trở lên tuy cũng tăng lên nhưng không đáng kể Sau 30 năm, tỷ trọng này chỉ tăng được 1,6 điểm phần trăm (từ 4,8% năm 1979 lên 6,4% năm 2009) ( nguồn:

Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình 2014 )

Tình hình cung cấp dịch vụ y tế cho người dân ở Việt nam hiện nay: Bệnh

viện Ung bứơu TP Hồ Chí Minh là tuyến cuối của người bệnh mắc bệnh ung thư khu vực phía nam Số giường thực kê của BV chỉ có 631 giường Trung bình mỗi ngày BV điều trị nội trú gần hai nghìn người bệnh, bệnh nhân ngoại trú gần 10 nghìn người Trong khi cơ sở vật chất BV đang xuống cấp, chật hẹp, trang thiết bị thiếu Hằng ngày, số lượng người bệnh đến khám, điều trị luôn trong tình trạng

"vượt ngưỡng" quá tải Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) có tới 25/26 chuyên khoa (trừ khoa Da liễu) luôn trong tình trạng quá tải Có những chuyên khoa thường quá tải khoảng 200% như: Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Viện Tim mạch Quốc gia, Khoa Thận - tiết niệu, Khoa Hô hấp, Khoa Thần kinh Số lượng bệnh nhân nội trú điều trị tại BV Bạch Mai liên tục tăng theo các năm Bệnh nhân ngoại trú đến khám tại bệnh viện cũng liên tục tăng với gần 800 nghìn bệnh nhân năm 2010, làm cho tình trạng quá tải ngày càng căng thẳng ( nguồn: Báo Nhân Dân, 6/1/2012 )

Với tất cả những yếu tố cơ bản trên, và còn thêm những yếu tố nào khác trong

xã hội Việt nam hiện nay, có tác động đến việc tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ

Trang 11

của người dân Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu, phân tích các yếu tố thực sự tác động đến quyết định thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân

1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu, phân tích các yếu tố tác động đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Đây là địa bàn có dân số đông nhất cả nước, đặc điểm dân số đa dạng, mức sống bình quân tương đối cao so với cả nước, nhu cầu về sức khỏe cá nhân được thể hiện khá rõ nét Hệ thống chăm sóc sức khỏe nơi đây đa dạng, phong phú và hiện đại nhất cả nước Đồng thời đây cũng là nơi có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Với nguồn lực

và thời gian có hạn, nghiên cứu khó có thể thực hiện trên phạm vi toàn quốc Nghiên cứu sẽ thực hiện khảo sát ba quận cụ thể của TP Hồ Chí Minh là quận 1,

quận 10, quận Tân Bình, đây là ba quận có khả năng đại diện cho cấu trúc đa dạng

của dân cư đang sinh sống tại Tp Hồ Chí Minh

Nghiên cứu sẽ khảo sát việc thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân trong khoản thời gian từ năm 2010 đến 2015

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3.3 C âu hỏi nghiên cứu:

- Các yếu tố nào tác động đến việc kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân?

- Chúng tác động theo xu hướng như thế nào?

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 12

Nghiên cứu được thực hiện đồng thời hai phương pháp, phương pháp định tính

và phương pháp định lượng

Nghiên cứu dùng phương pháp định tính Thảo luận cùng các chuyên gia, bác

sỹ, các người dân có khả năng quyết định việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân, đưa ra được bảng câu hỏi dùng cho khảo sát nghiên cứu định lượng

- Nghiên cứu định tính để xác định rõ hơn các yếu tố nào tác động đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân và tại sao người dân lại thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ Người nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn tay đôi với đối tượng nghiên cứu đó là giới chuyên gia sức khỏe, bác sỹ và người có khả năng tự quyết định tham gia kiểm tra sức khỏe định

kỳ Chi tiết về phương pháp định tính, cách thức thu nhập và phân tích dữ liệu sẽ được đề cập chi tiết trong chương ba

Nghiên cứu dùng phương pháp định lượng, gồm thống kê mô tả và mô hình

hồi quy logistic

- Từ kết quả nghiên cứu định tính có được, kết hợp với các cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm mà người nghiên cứu có được phương trình hồi quy với các biến cần thiết, khả thi, phù hợp, có thể khảo sát, đo lường được với môi trường

Việt nam hiện nay, tác động đến việc thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra

sức khỏe định kỳ của người dân Từ phương trình hồi quy này, người nghiên cứu sử

dụng mô hình hồi quy Logistic để biết được xu hướng ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định việc kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân, phân tích mối tương quan

của các yếu tố đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân Chi tiết về phương pháp và mô hình sử dụng trong nghiên cứu sẽ được đề cập đến trong chương ba

1.5 BỐ CỤC ĐỀ TÀI

Đề tài gồm có năm chương:

- Chương 1: Giới thiệu về sự cần thiết trong xã hội hiện nay của đề tài nghiên

cứu Phân tích nguyên nhân tại sao chúng ta cần phải kiểm tra sức khỏe định kỳ, ở

Trang 13

độ tuổi nào chúng ta nên thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, dựa trên các khuyến cáo của các tổ chức y tế có uy tín và lời khuyên của các chuyên gia Nêu rõ đối tượng của đề tài nghiên cứu, tại sao đề tài lại tập trung vào độ tuổi của đối tượng nghiên cứu từ bốn mươi tuổi trở lên Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài, để trả lời

những câu hỏi nghiên cứu nào Giới thiệu về phương pháp mà người nghiên cứu sử

dụng để làm sáng tỏ vấn đề và phạm vi mà nghiên cứu này khảo sát để nghiên cứu

- Chương 2: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết mà người nghiên cứu vận dụng trong

lý luận của đề tài, các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện bởi những người

đi trước, người nghiên cứu đã vận dụng cho nghiên cứu của mình

- Chương 3: Giới thiệu về phương pháp nghiên cứu mà người nghiên cứu sử dụng, đó là nghiên cứu định tính và định lượng trong nghiên cứu của mình Phương pháp phỏng vấn tay đôi, phương pháp thu nhập dữ liệu, giới thiệu về mô hình Logistic

- Chương 4: Giới thiệu về kết quả nghiên cứu được từ phương pháp nghiên

cứu định tính, đưa ra khung phân tích sử dụng cho việc nghiên cứu định lượng, định hình các biến tác động, kết quả nghiên cứu từ nghiên cứu định lượng

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị chính sách của người nghiên cứu, dựa trên

kết quả nghiên cứu đạt được

- Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 ĐỊNH NGHĨA VỀ KIỂM TRA SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ

Kiểm tra sức khỏe định kỳ tức là người dân ít nhất một lần trong năm đến trung tâm chăm sóc sức khỏe, để được các bác sỹ thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho mình Các việc cụ thể được thực hiện như sau ( Theo quy định của thông tư số 13/2007/ TT – BYT ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y Tế ):

- Tiếp nhận hồ sơ và hoàn thành các thủ tục hành chính: Đối tượng khám sức

khỏe có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, trung thực các thông tin cá nhân, tình trạng sức khỏe hiện tại, tiền sử bệnh tật của bản thân và gia đình trong phần tiền sử của đối tượng khám sức khỏe

- Khám thể lực: Đo chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số BMI,

mạch, nhiệt, huyết áp và nhịp thở

- Khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa

- Khám cận lâm sàng

o Cận lâm sàng bắt buộc:

 Công thức máu, đường máu

 Xét nghiệm nước tiểu: Tổng phân tích nước tiểu ( đường, protein, tế bào.)

 Chụp X quang tim phổi thẳng, nghiêng Thực hiện theo chỉ định của bác sỹ lâm sàng

o Cận lâm sàng khác: Đối tượng khám sức khỏe phải được làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng khác khi có chỉ định của bác sỹ lâm sàng, hoặc yêu

cầu của đối tượng khám sức khỏe

- Các bác sỹ khám lâm sàng phải phân loại sức khỏe, ký và ghi rõ họ tên vào giấy chứng nhận sức khỏe, sổ khám sức khỏe định kỳ và phải chịu trách nhiệm về

kết luận của mình Người ghi các kết quả cận lâm sàng phải ký và ghi rõ họ tên vào

giấy chứng nhận sức khỏe, sổ khám sức khỏe định kỳ

Trang 15

2.2 LÝ THUY ẾT VỀ KINH TẾ HỌC SỨC KHỎE ( Peter Zweifel( 2009) )

Để trả lời cho những câu hỏi thường gặp khi chúng ta buộc phải bỏ tiền ra để thực hiện một việc nào đó trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, ví dụ: chúng ta có nên

thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ hay không? Chúng ta có nên tiến hành tầm soát ung thư hay không? Chúng ta có nên tiến hành một chương trình khuyến khích người dân ăn sáng hay không? Chúng ta có nên tiến hành chương trình giám sát thị

lực ở trường học không? Để có cơ sở trả lời cho các câu hỏi trên, lý thuyết về kinh

tế học sức khỏe sẽ cung cấp cho ta các công cụ trả lời dưới góc độ kinh tế, công

bằng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe

2.2.1 Nguyên lý xác định giá trị kinh tế của sức khỏe

2.2.1.1 T ầm quan trọng của việc xác định giá trị kinh tế trong lĩnh vực sức khỏe

“ Sự sống là vô giá” là một luận điểm phổ biến mà nhiều người sẽ đồng ý Nhưng những quyết định trong vấn đề cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe không

chỉ là của những cá nhân mà còn đến từ phía các nhà hoạch định chính sách Ta có hai vấn đề cần giải quyết: Bảo vệ hay kéo dài mạng sống của một con người – Tiêu

tốn những nguồn lực có hạn của xã hội Ta có một quyết định mang tính đánh đổivà

đó là một quyết định quan trọng Cho một quyết định như vậy, ta cần những phân tích mang tính hệ thống, cân nhắc kỹ lưỡng những yếu tố liên quan Những phân tích kinh tế theo hướng định giá, ở một mức độ nào đó, thỏa mãn những đòi hỏi trên

vì ít nhất có ba lý do sau đây:

- Tất cả những phương án khả thi đều phải được đề cập, thế nên phân tích đánh giá cần có tính hệ thống Đôi khi trong lúc cân nhắc quyết định về việc đưa ra

một phương án chăm sóc sức khỏe mới, người ta không nhắc đến các phương án có

sẵn như một chọn lựa Hoặc trong trường hợp các phương án phòng ngừa cũng có thể được coi như phương án tốt bên cạnh các phương án điều trị, và nên được thêm vào danh sách lựa chọn Nên để ý rằng khi một phương án mới được đem ra so sánh với một phương án có sẵn thì bản thân phương án có sẵn nên đạt hiệu quả về

mặt chi phí Một phương án sẽ không hiệu quả nếu có một phương án khác cho kết

quả tương tự nhưng với chi phí thấp hơn

Trang 16

- Những phân tích xác định giá trị kinh tế thường dựa trên quan điểm của một nhóm người nào đó, điều này rất quan trọng Một phương án có thể không hấp dẫn cho một bên nào đó, nhưng lại hiệu quả trong quan điểm của những bên khác Trong thực tiễn quan điểm có thể khác nhau từ các phía: cá nhân bệnh nhân; các cơ quan, định chế; nhóm mà các dịch vụ y tế nhắm đến, ngân sách của bộ y tế, ngân sách của chính phủ và các quan điểm mang tính cộng đồng hay xã hội

- Nếu không có những sự đo lường nghiêm túc, sự không chắc chắn trong xếp hạng thứ tự quan trọng là rất lớn Nếu không có nỗ lực trong việc đo lường và so sánh những giá trị đầu ra và đầu vào, chúng ta có rất ít cơ sở để đưa ra kết luận

2 2.1.2 Xác định giá trị kinh tế trong lĩnh vực sức khỏe là gì?

Với mọi hoạt động mà một phân tích kinh tế nhắm đến, nó có hai tính chất:

- Thứ nhất nó tính đến đầu vào và đầu ra của quá trình ( hay còn gọi là chi phí

và kết quả )

- Thứ hai về bản chất, những phân tích kinh tế liên quan tới lựa chọn Nguồn

lực là khan hiếm và sự thật hiển nhiên là không thể sản xuất ra một sản lượng thỏa mãn mọi mong muốn Vì vậy, người ta phải lựa chọn và đánh đổi Những lựa chọn được đưa ra trên nhiều tiêu chuẩn cơ sở, đôi khi rõ ràng, đôi khi không Những phân tích kinh tế sẽ xác định và làm rõ một nhóm những tiêu chuẩn có thể giúp cho việc

lựa chọn giữa các phương án

Hai tính chất trên dẫn đến việc các phân tích xác định giá trị kinh tế được định nghĩa như một phân tích so sánh những phương án khác nhau về mặt chi phí và kết quả Vì thế nhiệm vụ cơ bản của bất cứ một phân tích xác định giá trị kinh tế nào, đều là xác định, đo lường, tính toán thành giá trị và so sánh chi phí và kết quả của các phương án được đề ra Phân tích kinh tế trong vấn đề sức khỏe không phải là một ngoại lệ

2.2.1.3 T ổng quan về những kỹ thuật xác định giá trị kinh tế

- Phân tích hiệu quả chi phí ( CEA ): Phân tích hiệu quả chi phí là phương pháp dùng cho việc đánh giá kết quả và chi phí của những dự án cải thiện sức khỏe Các nghiên cứu dạng này đã được dùng để so sánh chi phí và số năm sống thêm cho

Trang 17

những phương án y tế khác nhau Kết quả của nghiên cứu thường được tổng kết dưới dạng một chuỗi những tỉ số hiệu quả chi phí cho những nhóm bệnh nhân khác nhau hoặc các phương án khác nhau

Những phân tích dạng này đo lường sức khỏe theo thước đo “ tự nhiên” , thước đo này có thể là một thước đo y học, hoặc tuổi thọ Thước đo này chỉ có ý nghĩa trong trường hợp những phương án khác biệt trong một tác động nào đó và không có tác dụng phụ

Đối với những phương án độc lập với nhau, chỉ số dùng để so sánh là chỉ số

hiệu quả trung bình ( ACER ) Nếu hiệu quả được đo bằng số năm tuổi thọ, chỉ số

so sánh này có dạng:

ACER = Chi phí bằng tiền/ Kết quả tính bằng số năm tăng lên trong tuổi thọ

Nếu những phương án có tính loại trừ, ta cần xem xét tỷ lệ mức tăng lên trong chi phí đối với mức tăng lên trong lợi ích Trong trường hợp này chúng ta dùng “ tỷ

số tăng hiệu quả chi phí “ ( ICER ) “ Tỷ số tăng hiệu quả chi phí” của một phương

án được định nghĩa bằng tỷ số của mức tăng trong chi phí và mức tăng trong hiệu

quả khi so sánh với phương án hiệu quả tiếp theo

ICER = Chi phí tăng lên/ Kết quả tăng lên

- Phân tích chi phí thỏa dụng

Đo lường mức thỏa dụng: Một vài khái niệm về mức thỏa dụng đã được phát triển để gộp những tác động đa chiều của một phương án lại thành một tác động một chiều Trong số chúng, những thước đo sau đây là phổ biến nhất

Tuổi thọ giảm đi điều chỉnh theo mức độ khuyết tật ( DALY ): Khái niệm này được phát triển từ năm 1993 trong báo cáo phát triển Thế giới của World Bank DALY đo lường mức giảm xuống của tuổi thọ có tính đến mức giảm của sức khỏe

so với một mức chuẩn về tuổi thọ kỳ vọng là 80 năm cho nam giới và 82,5 năm cho

nữ giới Trọng số bệnh tật được xác định bởi những chuyên gia và được dùng để đánh giá những tình trạng sức khỏe thấp hơn mức hoàn toàn khỏe mạnh Bên cạnh

đó, trọng số này áp dụng cho những tuổi đời khác nhau Trọng số lớn nhất được gắn cho việc mất đi một năm tuổi thọ ở mức sức khỏe của độ tuổi 25 Mức thỏa dụng từ

Trang 18

một phương án y tế được đo bằng số DALY tổn thất tránh được DALY được sử

dụng bởi nhiều tổ chức ( như WHO ) để so sánh sức khỏe người dân ở nhiều nước trên thế giới

Tuổi thọ tăng thêm điều chỉnh theo chất lượng sống ( QALY ): Khái niện về QALY dựa trên nghiên cứu của Klarman và cộng sự ( 1968 ), những người đầu tiên

đề cập cả số năm tăng lên trong tuổi thọ và sự thay đổi trong chất lượng sống đo

bằng một chỉ số Cũng như DALY, mỗi trạng thái sức khỏe được gắn với một trọng

số bệnh tật Tuy vậy, những người trong số này thường được xác định bằng cách điều tra những người liên quan tới phương án sức khỏe Số QALY của mỗi người được tính bằng cách nhân mức tuổi thọ kỳ vọng của mỗi trạng thái sức khỏe với chỉ

số đau bệnh ( hay khỏe mạnh ) của chúng rồi cộng lại Mức thỏa dụng của một phương án được đo bằng số QALY tăng lên

Số năm khỏe mạnh tương đương ( HYE ): Khái niêm này bắt nguồn từ nghiên

cứu của Mehrez và Gafni ( 1989 ), dựa vào hồ sơ diễn tiến sức khỏe Những cá nhân được hỏi về mức mà họ đánh giá tình trạng sức khỏe có thể đạt được với một phương án Cụ thể, họ được hỏi về số năm khỏe mạnh tương đương mà họ cho là ngang bằng với hồ sơ diễn tiến sức khỏe được hỏi

Trong khái niệm của DALY, chất lượng sống được đánh giá bởi các chuyên gia, trong khi đối với trường hợp hai thước đo còn lại, sự đánh giá được tiến hành

bởi những bệnh nhân thực sự hay bệnh nhân tiềm năng Hướng tiếp cận sau là đúng đắn hơn vì những người bị tác động ( hoặc có tiềm năng bị tác động ) có khả năng đánh giá tốt hơn về sức khỏe của chính họ, hơn nữa, họ chính là những người chi trả cho các chi tiêu sức khỏe công cộng Ngược lại những chuyên gia chỉ có khả năng hơn ở mặt kỹ thuật y tế Vậy nên khái niệm DALY dường như khó có thể thỏa mãn như một nền tảng cho việc ra quyết định Vì thế nó được sử dụng cho những so sánh

ở tầm đa quốc gia

Trong các khái niệm DALY và QALY, thứ tự mà các trạng thái khác nhau

diễn ra không quan trọng Ngược lại, Khái nệm HYE đánh giá hồ sơ của toàn bộ

diễn tiến trạng thái sức khỏe tạo ra từ một phương án y tế Vì thế HYE về bản chất

Trang 19

sẽ được ưa dùng hơn, nhưng trong mọi tình huống nó được coi là tốn kém hơn, vì toàn bộ hồ sơ diễn tiến sức khỏe cần một sự mô tả rất dài

Khái niệm QALY rất đơn giản để áp dụng Một khi trọng số thỏa dụng được xác định, việc đánh giá một phương án là rất dễ dàng Tuy nhiên, vì QALY được dùng để hổ trợ việc ra quyết định phân phối nguồn lực trong lĩnh vực chăm sóc sức

khỏe, các quyết định này cần có cơ sở lý thuyết đúng đắn Chúng ta sẽ phân tích QALY trong lý thuyết “ mức thỏa dụng kỳ vọng”, lý thuyết phổ biến nhất cho việc

ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn Dù thỏa dụng kỳ vọng không phải là

một lý thuyết hoàn hảo về hành vi với điều kiện không chắc chắn, nó có thể đóng vai trò một hướng dẫn chuẩn cho việc ra quyết định một cách lý trí, nếu người ta đồng ý rằng lựa chọn được đưa ra thỏa mãn những tiền đề cơ sở của lý thuyết này Chúng ta bắt đầu với một dạng đơn giản của các mô hình QALY, trong đó không có việc chiết khấu và không có tính “ e ngại rủi ro” theo tuổi thọ ( hay còn

gọi là bàng quan với rủi ro theo tuổi thọ ) Để đơn giản, coi tất cả các tình trạng sức

khỏe ( vector Hh với h = 1,2,….m ) là thường xuyên ( tình trạng sức khỏe là không đổi – giả định này chỉ được dùng để tiện cho việc biến đổi và không phải là một tính

chất của một mô hình QALY ) Sự kết hợp ( Hh , Tt ) xảy ra với xác suất πh Lúc đó

một cá nhân phải đối diện với một sự may rủi về những tình trạng sức khỏe thường xuyên ( πh , Hh , Th ) với h = 1,…,m Giả định rằng sự ưa thích thỏa mãn các tiền đề Neumann – Morgenstern Nếu mức thỏa dụng của việc sống Th nằm trong tình trạng thường xuyên Hh ký hiệu là u ( Hh, Th ), sự ưa thích của cá nhân được thể hiện bằng mức thỏa dụng kỳ vọng:

Trang 20

Nghĩa là mức thỏa dụng kỳ vọng bằng tổng thỏa dụng của những trạng thái

sức khỏe được đánh tỷ trọng bằng độ dài thời gian và xác suất xảy ra của chúng

Vì trong lý thuyết mức thỏa dụng kỳ vọng , hàm thỏa dụng v() là một hàm số lượng và được xác định theo dạng positive affine transformation ( ví dụ: một dạng hàm tăng bậc nhất đơn điệu: v(x) = ax + b với a>0 ), v() có thể được chọn mà không làm mất đi tính tổng quát theo cách để mức thỏa dụng của tình trạng sức khỏe hoàn

hảo v(H*) là 1 và mức thỏa dụng của tình trạng chết là 0 Từ đó, mức thỏa dụng kỳ vọng của một cá nhân có thể được giải thích bằng số năm tuổi thọ điều chỉnh theo

chất lượng sống

Theo quan điểm lý thuyết ra quyết định, tính đơn giản của việc tính toán QALY là dựa trên dạng của hàm thỏa dụng như trong phương trình (2) Dạng hàm này đòi hỏi sự ưa thích đối với các trạng thái sức khỏe là ổn định trong suốt tuổi thọ (v(Hh) không phụ thuộc vào tuổi của một cá nhân )

Hơn nữa, hàm thỏa dụng u(Hh, Th) cần thỏa mãn những giả định căn bản Đầu tiên, phương trình trên ngầm định rằng các cá nhân bàng quan với rủi ro theo thời gian ( đối với một trang thái nhất định, họ bàng quan giữa một quãng đời với những

sự chắc chắn và một quãng đời với những sự rủi ro ) Nhưng sự bàng quan với rủi ro

về thời gian cũng không hoàn toàn tạo nên dạng của hàm thỏa dụng trong phương trình trên Nói chung , nó chỉ ngụ ý rằng khi vắng đi sự chiết khấu, hàm thỏa dụng

Với mọi H , u ( H, 0 ) = const (5)

Nghiên cứu của Miyamoto và cộng sự (1998 ) lập luận rằng “ điều kiện không” này hoàn toàn được chứng minh Hệ quả từ “điều kiên không” là g(H) phải

Trang 21

là hằng số trong phương trình thỏa dụng (4) Vì hàm thỏa dụng phải là hàm số lượng, một hằng số bất kỳ có thể được thêm vào mà không làm mất đi tính tổng quát Vì thế người ta có thể cho g(H) = 0 trong phương trình thỏa dụng (4) để trở thành phương trình (2) Sự bàng quan với rủi ro về tuổi thọ và “điều kiện không” lúc này đủ để tạo nên cơ sở để cho việc đo mức thỏa dụng bằng QALY

Bên cạnh sự bàng quan với rủi ro về độ dài tuổi thọ, sự độc lập về thỏa dụng

và sự đánh đổi theo tỉ lệ cố định cũng được cho là những giả định nền tảng cho mô hình QALY ( Pliskin và cộng sự ( 1980) ) Giả định về sự độc lập về thỏa dụng sẽ được thỏa mãn nếu sự ưa thích có điều kiện đối với những may rủi trong suốt một giai đoạn tuổi thọ với một trạng thái sức khỏe cho trước, độc lập với những tính chât sức khỏe cụ thể và ngược lại Sự đánh đổi theo tỉ lệ cố định nghĩa là phần tuổi

thọ mà cá nhân chấp nhận từ bỏ để có được một sự cải thiện trong sức khỏe là độc

lập với kỳ vọng về phần tuổi thọ còn lại

Nghiên cứu của Bleichrodt và công sự ( 1997 ) minh họa rằng sự độc lập về

thỏa dụng và sự đánh đổi theo tỉ lệ cố định là những giả định mạnh hơn “ điều kiện không” Xét tính đánh đổi theo tỉ lệ cố định

Với mọi H, H’ với H’ > H: tồn tại q thuộc ( 0, 1 ) sao cho u( H, T ) = u (H’, qT ) với mọi T (6)

Nghiên cứu của Plishkin và cộng sự ( 1980 ) chỉ ra rằng tính chất này được

thỏa mãn nếu ( 1 ) tồn tại sự độc lập thỏa dụng và (2) sự đánh đổi theo tỷ lệ cố định đúng cho trạng thái sức khỏe tốt nhất và tệ nhất Với T = 0 trong phương trình (6) ,

ta có u(H, 0) là bằng nhau cho tất cả các trạng thái sức khỏe ( điều kiện không ) Vì

vậy, không cần thiết phải đặt ra các giả định về sự đánh đổi theo tỷ lệ cố định và sự độc lập thỏa dụng để tạo nên mô hình QALY Chỉ cần “điều kiện không” là đủ

Trang 22

tối đa tương ứng với những người khác, và mọi sự thiên lệch có chủ ý đều là không công bằng trừ khi nó nhắm tới lợi ích cho những cá nhân kém sung túc nhất Lý thuyết của Rawls, không tập trung vào mức thỏa dụng xã hội mà đề ra “ những hàng hóa xã hội căn bản” và đặt mục tiêu sao cho mọi cá nhân tiếp cận được với chúng

Chủ nghĩa Mác ( Marxism ) nhấn mạnh về nhu cầu, gợi ra triết lý “phân phối theo nhu cầu” Chủ nghĩa tự do cá nhân ( Libertarianism ) tôn trọng những quyền tự nhiên: Quyền sống và quyền sở hữu Nếu người ta có được và chuyển nhượng những tài sản của mình mà không làm ảnh hưởng đến người khác thì sự sở hữu đó

là công bằng

Hai hướng tiếp cận chính về vấn đề công bằng được đề cập trong phần lớn các nghiên cứu kinh tế sức khỏe là hướng tiếp cận theo chủ nghĩa tự do cá nhân và hướng tiếp cận theo chủ nghĩa Mác Nhưng nói một cách chính xác, đề xuất “ phân

phối theo nhu cầu” không hẳn đến từ chủ nghĩa Mác, mà là một phần trong chủ nghĩa bình quân trong thế kỷ 20 Theo chủ nghĩa bình quân, việc được chăm sóc sức

khỏe là quyền của mỗi công dân và vì thế, bất chấp sự giàu nghèo hay thu nhập cao

thấp, mọi người đều phải có quyền này Theo chủ nghĩa tự do cá nhân, sự chăm sóc

sức khỏe được đề cập đến như một hệ thống khen thưởng xã hội, thứ mà những cá nhân nổi trội hơn về thu nhập hay sự giàu có sẽ được tiếp cận dễ dàng hơn Một cách khái quát, chủ nghĩa bình quân kêu gọi sự tài trợ cho việc chăm sóc sức khỏe theo khả năng chi trả và phân phối theo nhu cầu Ngược lại, chủ nghĩa tự do cá nhân

lại cho rằng phân phối việc chăm sóc sức khỏe phải dựa trên khả năng chi trả của mỗi người, vì thế nguồn tài trợ phải là từ phía tư nhân, chính phủ chỉ nên có vai trò

tối thiểu

Có một khái niệm chúng ta cần phải thảo luận trong lý thuyết công bằng sức khỏe đó là khái niệm “ Tiếp cận” Khái niệm này được nhắc đến nhiều trong việc phân phối sự chăm sóc sức khỏe Về cơ bản, “ tiếp cận” thường được hiểu dưới

dạng “ nhận được sự chăm sóc” Điều này khá rõ trong các lập luận của Tobin (

1970 ) vốn khẳng định rằng công bằng trong chăm sóc sức khỏe là việc các cá nhân

Trang 23

được chăm sóc dựa trên dấu hiệu và triệu chứng y khoa chứ không phải khả năng chi trả của họ

Không đồng ý với quan điểm trên, Legrand ( 1982 ) và Mooney ( 1983, 1994 ) cho rằng có sự khác biệt rạch ròi giữa “ tiếp cận” và “ được chăm sóc” “ tiếp cận” bao gồm những cơ hội mà các cá nhân có thể có được, còn “ được chăm sóc” hay không, phụ thuộc vào cả việc có tồn tại các cơ hội như vậy hay không và việc các

cá nhân có khả năng được lợi từ chúng không Với suy nghĩ đó, Legrand gắn sự “ tiếp cận” với hai yếu tố chi phí: thời gian và tiền bạc, tuy vậy điều này ngụ ý một

thứ rất khó giải thích: Khi hai người cùng đối diện với chi phí thời gian và tiền bạc như nhau , họ sẽ có cùng mức “ tiếp cận” bất chấp sự khác biệt về thu nhập Chính Legrand ( 1991 ) cũng chỉ ra sự vô lý này – sẽ có sự khác biệt trong “ tiếp cận” giữa

một người không có thu nhập và một triệu phú Olson và Rodger ( 1991 ) đưa ra

một ý tưởng khác, không lâm vào tình trạng trên, họ cho rằng, ngoài chi phí thời gian và tiền bạc, sự tiếp cận còn bị chi phối bởi thu nhập

Khái niệm về “ nhu cầu” Culyer ( 1976 ) và William ( 1974, 1978 ) họ cho

rằng “ nhu cầu” chính là khả năng hưởng lợi của mỗi cá nhân từ sự chăm sóc sức

khỏe Định nghĩa này quan tâm đến chủ thể mà sự chăm sóc sức khỏe tác động tới (

sức khỏe ) hơn là thứ được cần ( chăm sóc sức khỏe ) Hãy xem xét một sự tiến bộ trong y học, theo định nghĩa này, nhu cầu của một người đối với chăm sóc sức khỏe

là không đổi, trong khi đó nguồn lực cần thiết để chăm sóc cho anh ta lại giảm đi (

do những tiến bộ ) Trên lý lẽ đó, Culyer và Wagstaff ( 1993 ) đưa ra định nghĩa trong đó “ nhu cầu” là lượng nguồn lực tối thiểu cần để bù đắp đủ “ khả năng hưởng

lợi”

Mâu thuẫn trong các nguyên tắc công bằng: Ba nguyên tắc công bằng được nhắc tới bao gồm: công bằng trong tiếp cận, phân phối theo nhu cầu và công bằng trong mức sức khỏe Mooney ( 1983 ) đã nhấn Mạnh rằng sự “ tiếp cận” chỉ là một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc nhận được những sự chăm sóc sức khỏe Có

những yếu tố khác cũng có vai trò tương tự, có thể kể đến như nhận thức cá nhân hưởng lợi từ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hay động cơ của người thầy thuốc

Trang 24

Ngoài giá cả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe , mọi yếu tố khác ảnh hưởng lên

cầu của dịch vụ này đều ảnh hưởng đến việc các cá nhân nhận được sự chăm sóc như thế nào Hai người có cùng mức “ tiếp cận” và có cùng “ nhu cầu” nhưng chưa

hẳn là nhận được sự chăm sóc tương đương Người có học thức thấp thường đánh giá thấp lợi ích của sức khỏe và không liên hệ với thầy thuốc trong khi những người

có học thức cao hơn thường làm điều ngược lại Trái lại, hai người có mức tiếp cận khác nhau đôi khi vẫn được sự chăm sóc như nhau Culyer và Wagstaff ( 1993 ) phát biểu rằng: công bằng trong “ tiếp cận” sự chăm sóc sức khỏe không nhất thiết

phải dẫn tới việc phân phối theo nhu cầu và sự công bằng trong mức sức khỏe

2.2.2.1 Nguyên t ắc công bằng trong chăm sóc sức khỏe

Nghiên cứu của Mooney cùng cộng sự ( 1991, 1992 ), và Mooney ( 1994 ) ủng

hộ mạnh mẽ nguyên tắc công bằng trong tiếp cận những nghiên cứu này biện luận

rằng, các lý lẽ như phân phối theo nhu cầu hay tạo nên sự bình đẳng trong mức sức

khỏe đi ngược lại những nguyên tắc về sự ưa thích của người tiêu dùng, và vì thế xa

rời những luận điểm kinh tế phúc lợi Pareto

Những lý thuyết Pareto phù hợp nhất cho những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân Chủ nghĩa này cho rằng hệ thống chăm sóc sức khỏe nên được xem như một

hệ thống khen thưởng xã hội mà trong đó những cá nhân với mức thu nhập hay của

cải cao hơn có quyền có được mức sức khỏe tốt hơn Những người theo xu hướng này tuy chấp nhận sự có mặt của thuế khóa nhưng không có vẻ là họ chấp nhận sự công bằng trong “ tiếp cận”

Legrand và Mooney có nhắc tới hai chi phí: tiền bạc và thời gian Việc đưa vào chi phí thời giam ám chỉ rằng nên có những sự ưu ái hơn về cơ sở vật chất cho người ở khu vực nghèo nhằm làm công bằng hơn thời gian chờ đợi và khả năng tiếp cận Quan điểm của Olson – Rodger thậm chí còn cổ súy cho một mức thuế cao hơn

nhằm làm giảm sự mất công bằng

Từ những phân tích trên cho thấy, trong khi chúng ta đồng ý rằng việc được chăm sóc sức khỏe là quan trọng, có những người vẫn luôn đủ khả năng để đạt được điều đó nhưng lại không làm như vậy Thế nên, mục đích chủ yếu không phải là

Trang 25

mang đến cho họ mức sức khỏe đồng đều mà là tạo cho họ cơ hội để đạt được điều

đó

2.2.2.2 Công b ằng trong tài trợ chăm sóc sức khỏe

Có hai khái niệm được đề xuất khi nói về công bằng trong tài trợ đó là công

2.2.3 Cung và c ầu sức khỏe cá nhân

Một sức khỏe tồi sẽ hạn chế khả năng sản xuất của người bị ảnh hưởng, bao

gồm cả khả năng hưởng thụ những giá trị trong cuộc sống

Ngoài những yếu tố di truyền và môi trường, các biến cố luôn có thể xuất hiện

và đe dọa những cố gắng của cá nhân trong việc giữ gìn hay cải thiện sức khỏe Vì

thế, những thay đổi không mong muốn trong sức khỏe có thể xảy ra bất cứ lúc nào Khái niệm tạo ra sức khỏe: Sức khỏe có thể được coi như một nguồn vốn vô hình, có thể được làm tăng thêm nhờ sự đầu tư, chăm sóc, phòng ngừa bệnh tật, và

phải chịu hiệu ứng hao mòn Một lối sống tránh được việc lạm dụng sức khỏe, tăng cường khả năng phòng ngừa bệnh tật, có thể được coi như những sự đầu tư vào sức

Trang 26

Với mô hình trên, Grossman cho ta thấy sức khỏe có thể tạo ra được, thông qua việc đầu tư vào sức khỏe, trong đó có yếu tố sử dụng các dịch vụ y tế để phòng ngừa bệnh tật

Grossman cũng cho chúng ta thấy rằng, khi vốn sức khỏe cao hơn sẽ dẫn tới nhu cầu cao hơn đối với các dịch vụ y tế, sự tăng lên trong mức giá của dịch vụ y tế làm giảm lượng cầu, mức lương ban đầu cao sẽ khiến nhu cầu đối với dịch vụ y tế cao ( với một mức giáo dục cho trước ), một mức giáo dục cao hơn sẽ làm tăng năng suất của sự đầu tư vào sức khỏe, thông qua hàm cầu với dịch vụ y tế ở dạng lô

b) Nhận diện các yếu tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ khám sức khỏe

của người dân từ mô hình Grossman

Khi người dân thực hiện quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các

yếu tố có khả năng tác động đến quyết định của họ:

- Mức lương, thu nhập có tác động dương đến quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân

- Trình độ học vấn, hay còn gọi là mức giáo dục Grossman cho chúng ta thấy

rằng, khi mức giáo dục cao thì năng suất đầu tư vào sức khỏe tăng, một phần trong

việc đầu tư vào sức khỏe đó là chi tiêu cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nhưng Grossman chưa chỉ rõ mối quan hệ đồng biến hay nghịch biến trong mối quan hệ

giữa trình độ học vấn với việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

- Grossman cũng chỉ ra rằng, giá của dịch vụ chăm sóc sức khỏe có tác động nghịch biến với nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Trang 27

- Trong mô hình nhiều giai đoạn của Grossman, cả hàm cầu sức khỏe và hàm

cầu dịch vụ y tế chỉ ra rằng: Cầu sức khỏe giảm xuống khi tuổi tác tăng lên vì tỷ lệ hao mòn tăng lên Tuy vậy, cầu dịch vụ y tế tăng lên theo tuổi tác để bù đắp tác động này Vậy tuổi tác là một yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân

2.2.3.2 Sức khỏe dưới dạng của các quá trình ngẫu nhiên

a) Khả năng bổ sung và khả năng thay thế trong sản xuất sức khỏe:

rằng việc tăng giá năng lượng trong các năm 1970 dẫn tới việc các ngành sản xuất

trở nên thâm dụng lao động, chậm đưa ra các công nghệ sản xuất mới và ít đầu tư hơn Ta có thể nói rằng sự thay thế tồn tại giữa năng lượng và lao động và sự bổ sung tồn tại giữa năng lượng và vốn

Vấn đề cũng tương tự trong lĩnh vực sức khỏe Một khả năng làm giảm chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe là cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe giảm Sự tăng lên trong phần chi phí trong các hợp đồng bảo hiểm sức khỏe khiến giá của dịch vụ y tế tăng lên và làm giảm cầu Biện pháp này sẽ gặp phải những sự bất đồng, đặc biệt là nhóm những người lớn tuổi vốn đang chiếm phần đông cử tri ở các nước công nghiệp hóa ngày nay, sự thay thế các dịch vụ y tế bằng những nỗ lực của cá nhân trong phòng ngừa bệnh tật cho chúng ta một giải pháp khả thi Để các cá nhân tăng

thời gian chăm sóc sức khỏe, ta có thể khiến họ giảm thời gian lao động bằng cách

giảm lương, giảm cung lao động Tuy nhiên, việc giảm chi phí lao động là không

thể vì nó đồng nghĩa với việc giảm xuống trong mức lương của cả lượng lao động

khổng lồ Hơn nữa biện pháp này sẽ không hiệu quả đối với nhóm người nghỉ hưu,

Trang 28

những người sử dụng nhiều dịch vụ y tế.Để tăng sự sử dụng một yếu tố sản xuất nào

đó chúng ta cần giảm gía đồng thời tăng năng suất biên của chúng

Khả năng thay thế trong tình trạng sức khỏe tốt và khả năng bổ sung trong tình

trạng sức khỏe yếu:

Tình trạng sức khỏe của một giai đoạn cho trước, có thể được xem như một

mẫu lấy từ một chuỗi các tình trạng sức khỏe trong suốt cuộc đời, đó là khỏe mạnh

và đau ốm Trong các phần trước của lý thuyết có giả định rằng: năng suất biên của các nổ lực cá nhân trong chăm sóc sức khỏe có thể được tăng lên nhờ tác động của

yếu tố giáo dục Việc này dẫn tới sự tăng lên trong năng suất của các hoạt động mang tính thị trường và các hoạt động không mang tính thị trường, qua đó lý thuyết

đã đưa ra các kết luận sau:

- Nếu có sự tăng lên của thời gian đầu tư vào sức khỏe, xác suất của việc đau

ốm sẽ giảm xuống và xác suất sử dụng các dịch vụ y tế trong tương lai cũng giảm Bên cạnh đó, thời gian khỏe mạnh sẽ được kéo dài và cũng làm nhu cầu dịch vụ y tế

giảm xuống Nhưng việc này cũng kéo dài tuổi thọ kỳ vọng và có thể vì vậy tổng lượng tiêu dùng các dịch vụ y tế trong suốt phần đời còn lại sẽ không giảm Tuy nhiên, nhu cầu dịch vụ y tế sẽ giảm xuống trong ngắn hạn và trung hạn nhờ tác động thay thế

- Nếu tình trạng ban đầu của cá nhân là đau ốm , một sự cải thiện trong năng

suất của mỗi cá nhân không có tác dụng Nhưng trong quá trình chữa trị, sự chăm sóc y tế và những nỗ lực cá nhân có thể bổ trợ cho nhau nhằm tăng cơ hội phục hồi b) Nhận diện các yếu tố tác động đến việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức

khỏe của người dân

Qua đó ta thấy tình trạng ban đầu của họ là khỏe mạnh hay đau ốm, tác động rất lớn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

2.3 LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG.

Trang 29

Lý thuyết thông tin bất cân xứng được đề cập đến vào năm 1970, trong quá trình nghiên cứu về các yếu tố dẫn đến thất bại của thị trường Lý thuyết thông tin bất cân xứng được đề cao trong nền kinh tế học hiện đại vào năm 2001

Trong lý thuyết kinh tế học tân cổ điển về thị trường đã giả định rằng, người bán và người mua có thông tin hoàn hảo về đối tác bên kia của người giao dịch, về

chất lượng, đặc điểm của hàng hóa hay giao dịch được trao đổi và cấu trúc của thị trường Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trường hợp một bên tham gia giao dịch không thể biết được thông tin của đối tác, cho dù có bỏ ra bao nhiêu tiền để thu thập thông tin

Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch, một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại

Tình trạng thông tin bất cân xứng hiện diện rất nhiều trong các lĩnh vực, như : Thị trường tín dụng, nhà ở, bảo hiểm, dịch vụ khám bệnh,… Thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến thất bại thị trường, vì nó gây ra sự lựa chọn bất lợi, tâm lý

ỷ lại, vấn đề người ủy quyền – người thừa hành

Hành vi cơ hội thể hiện lợi thế của người có thông tin quan trọng so với người không có thông tin thông qua việc che dấu thông tin, dẫn đến sự lựa chọn bất

lợi cho người ra quyết định và dẫn đến quá ít giao dịch trên thị trường Giải pháp cho vấn đề này là, bên ít thông tin cần phải thu thập và sàng lọc thông tin, bên nhiều thông tin hơn, cần phải phát tín hiệu

Giải pháp cho vấn đề tâm lý ỷ lại, chúng ta cần thiết kế hệ thống giám sát như : Thiết lập hệ thống khuyến khích, chuyển rủi ro, chia xẻ rủi ro, kiểm tra, kiểm soát trong quá trình hoạt động, thành lập hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, thiết lập

thể chế để có biện pháp chế tài, xử phạt

Giải pháp cho vấn đề người ủy quyền, người ủy quyền tạo ra động cơ khuyến khích vật chất và phi vật chất để hành vi người thừa hành luôn phù hợp với mục tiêu

của mình

2.4 CÁC NGHIÊN C ỨU LIÊN QUAN

2.4.1 Mô hình nghiên c ứu

Trang 30

Nghiên cứu của Evashwick, Rowe, Paula Diehr, and Laurence Branch ( 1984)về Các yếu tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người

trung niên

a) Nội dung và kết quả nghiên cứu:

Nghiên cứu đã sử dụng hệ thống các biến như sau: biến phụ thuộc là biến nhận hai giá trị 0 và 1 tức là có sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và không sử dụng

dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong một năm kể từ ngày khảo sát nghiên cứu được thực hiện trở về trước Các biến độc lập bao gồm các biến: Tuổi, giới tính, trình độ

học vấn, tình trạng hôn nhân, sắc tộc, thu nhập, phương tiện đi lại, tình trạng bảo

hiểm, bệnh tật hiện có,… Nghiên cứu đã cho ra được một phương trình hồi quy với

hệ thống biến như trên, các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy trong phân tích của mình Qua nghiên cứu các tác giả đã đo được các mức độ tác động nhất định của các yếu tố đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người trung niên Qua

thống kê mô tả của nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng: 90% người da trắng có sử

dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong năm, 1% các màu da còn lại có sử dụng dịch

vụ chăm sóc sức khỏe trong năm, 61.7% người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

là nữ giới, 38.3% người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nam giới, độ tuổi từ

45 dến 65 tuổi tỷ lệ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong năm là 16.7%, trên 65

tuổi tỷ lệ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là 83.3%

b) Nhận diện hình thức các biến trong mô hình hồi quy của nghiên cứu:

Nghiên cứu đã sử dụng biến phụ thuộc có giá trị là 0 và 1, các biến độc lập hầu hết cũng có giá trị 0 và 1 cho hai trạng thái của mỗi biến Tác giả cũng xác định được các yếu tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân, đồng thời đo lường được mức độ tác động của chúng

Nghiên cứu của Ware, Jr, PhD; Bayliss, MSc; William H Rogers, PhD; Mark Kosinski, MA; Alvin R Tarlov,MD (1996) về Kết quả sức khỏe của người bệnh đối với người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có trả phí ( FFS) và người sử

dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe được bảo trợ ( HMO )

a) Nội dung kết quả nghiên cứu:

Trang 31

Qua nghiên cứu các nhà nghiên cứu đã cho chúng ta thấy, ở Mỹ người già và người nghèo sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe HMO là 52%, ở châu Âu là 28% Đối với những người từ 59 tuổi trở xuống, 63% sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe FFS Kết quả sức khỏe khi sử dụng hai tổ chức trên là: Đối với những bệnh thuộc về

thể chất, điểm sức khỏe tăng 3 điểm sức khỏe khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức

khỏe FFS, tăng 2 điểm sức khỏe khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe HMO Đối

với những bệnh thuộc về tinh thần, điểm sức khỏe tăng 5 điểm khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe FFS, tăng 3 điểm sức khỏe khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức

khỏe HMO

b) Nhận diện các yếu tố tác động:

Qua đó chúng ta thấy rằng chi phí cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe là một yếu

tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhất là đối với người già

và người nghèo

2.4.2 Công b ằng trong tiếp cận dịch vụ

Nghiên cứu của Anh, Thi – Kim Le (2013) về vấn đề sức khỏe và tiếp cận

dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người di cư từ nông thôn ra thành thị và nhóm người thành thị

a) Nội dung và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua bốn gia đoạn Giai đoạn 1 phân tích số liệu thứ

cấp từ các cuộc điều tra dân số năm 1989, 1999, 2009 để mô tả các xu hướng di cư

từ nông thôn ra thành thị tại Việt Nam Giai đoạn này cho thấy rằng làn sóng di cư hiện nay thay đổi mạnh mẽ, trong đó nữ giới di cư nhiều hơn so với nam giới Giai đoạn 2 của dự án nhằm mục đích đánh giá tình trạng sức khỏe của người di cư thông qua việc sử dụng bộ công cụ SF – 36, giai đoạn này còn nhằm mục đích so sánh tình trạng sức khỏe và việc tiếp cận dịch vụ y tế giữa người di cư và không di

cư, và cho thấy rằng so với nhóm người không di cư, nhóm người di cư thường có

mức độ sức khỏe kém hơn, sức khỏe tinh thần cũng kém hơn, người di cư thường ít

sử dụng dịch vụ y tế hơn người không di cư khi có vấn đề về sức khỏe Giai đoạn 3

dự án so sánh tình hình sức khỏe, bệnh tật giữa nam giới và nữ giới, kết quả cho

Trang 32

thấy nữ giới đối mặt với nhiều nguy cơ sức khỏe hơn nam giới, như là sức khỏe sinh

sản, nhiễm khuẩn đường sinh sản,…Giai đoạn 4 dự án phát triển đề cương can thiệp, nhằm tăng cường việc tiếp cận dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe sinh sản cho

nữ giới Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định tính, phỏng vấn tay đôi và thảo

luận nhóm được thực hiện với việc chọn mẫu thuận tiện

b) Nhận diện các yếu tố tác động và phương pháp nghiên cứu

Qua nghiên cứu trên ta thấy yếu tố giới tính là một trong những yếu tố có tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ y tế của người dân, sự khác nhau về mức độ

tiếp cận với dịch vụ y tế của dân di cư và dân không di cư, dân di cư nguy cơ về sức

khỏe nhiều hơn dân không di cư, nhưng lại ít sử dụng dich vụ y tế chăm sóc sức khỏe hơn dân không di cư Nghiên cứu đã dùng phương pháp định tính để xác định các yếu tố tác động đến tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu của M R Hass (2002) về lợi ích bên ngoài của chăm sóc sức

khỏe

a) Kết quả nghiên cứu:

Nghiên cứu dùng phương pháp phỏng vấn tay đôi với 257 bệnh nhân cùng đến khám tại một trung tâm y tế Kết quả có được là: 49% chỉ nhận được cuộc gọi sau khi khám và trước khi khám, 31% nhận được cuộc gọi trong suốt quá trình khám và theo dõi bệnh, 41% chỉ nhận được cuộc gọi sau khi khám, 20% bệnh nhân nhận được cuộc gọi nhiều hơn một lần khi đã lành bệnh, 16% bệnh nhân chỉ nhận được

cuộc gọi của y tá, 17% nhận được sự hổ trợ từ các tổ chức y tế thiện nguyện, 6% nhận được sự trợ giúp liên tục từ các viện nghiên cứu ung thư Trong 257 bệnh nhân

có 92% có việc làm, 8% thất nghiệp, hưởng trợ cấp xã hội

b) Nhận diện các yếu tố tác động

Tình trạng việc làm tác động đến việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân, mức độ thụ hưởng dịch vụ của các đối tượng cũng khác nhau, từ tình hình thu nhập của họ

2.4.3 H ành vi người tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ

Nghiên cứu của Ariely, Klaus (2008) về vấn đề của sự trì hoãn

Trang 33

a) Kết quả của nghiên cứu:

Hầu hết chúng ta, tuy biết trước được kết quả là hữu ích của việc mình làm, nhưng khi nó chưa phải là vấn đề mang tính cấp bách, quyết định sự thành bại hay

sống còn, chúng ta thường trì hoãn nó Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, khi việc

kiểm tra sớm các mầm bệnh cũng như ngăn chặn các yếu tố nguy cơ của bệnh tật, thông qua việc kiểm tra sức khỏe định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe luôn mang lại cho chúng ta một chất lượng cuộc sống tốt hơn, nhưng chúng ta luôn trì hoãn nó

b) Nhận diện yếu tố tác động đến quyết định thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân:

Qua nghiên cứu của Ariely và Klaus chúng ta thấy rằng, yếu tố tâm lý, là một trong những yếu tố tác động đến quyết định thực hiện hay không thực hiện kiểm tra

sức khỏe định kỳ, khi đây chưa là vấn đề mang tính cấp bách Để làm rõ hơn về quyết định của người dân, tại sao họ thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra

sức khỏe định kỳ, ngoài vấn đề tâm lý luôn trì hoãn khi chưa cấp bách, còn có

những nguyên nhân nào khác nữa ảnh hưởng đến quyết định của họ Người nghiên

cứu sẽ thực hiện nghiên cứu này trong phần nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu các đối tượng tham gia để có câu trả lời phù hợp với môi trường Việt nam hiện nay

2.5 K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Qua chương 2 người nghiên cứu đã định nghĩa thế nào là kiểm tra sức khỏe định kỳ, đưa ra được các lý thuyết về kinh tế sức khỏe, nguyên lý xác định giá trị kinh tế của sức khỏe, thế nào là công bằng trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức

khỏe, cung và cầu sức khỏe của cá nhân, mô hình Grossman, mô hình lý giải các

yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân

Người nghiên cứu đưa ra lý thuyết về thông tin bất cân xứng trong quá trình giao dịch, nó có thể dẫn đến thất bại thị trường vì ủy quyền của người tham gia

kiểm tra sức khỏe định kỳ cho bác sỹ

Trang 34

Người nghiên cứu tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan của các nhà nghiên cứu khác trên thế giới Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến mô hình nghiên cứu, các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Phương pháp thực hiện nghiên cứu về vấn đề liên quan đến sức khỏe của các nhà nghiên cứu trên thế giới

Lý thuyết và những phương pháp này sẽ được người nghiên cứu vận dụng trong việc thực hiện nghiên cứu và lý giải hiện tượng trong phần nghiên cứu của mình

Trang 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Như đã đề cập ở chương 1, nghiên cứu sử dụng đồng thời hai phương pháp, phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu định tính với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân, và giải thích nguyên nhân tại sao họ thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định

việc thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân, và mối tương tác qua lại

giữa các yếu tố đó với nhau

Cơ sở lý thuyết Nghiên cứu thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng

Phỏng vấn tay đôi Mô hình hồi qui Logistic

Kết quả nghiên cứu

Thống kê mô

tả, hồi quy

Trang 36

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

3.2.1 S ự cần thiết của việc phỏng vấn tay đôi

Người nghiên cứu cần phải thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính, qua

việc phỏng vấn tay đôi, với các chuyên gia và những người tham gia kiểm tra sức

khỏe định kỳ, để xác định được các yếu tố thực tế tác động đến quyết định thực hiện

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân trong môi trường xã hội Việt nam

hiện nay, để có được bảng câu hỏi chính xác, áp dụng cho việc khảo sát dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu định lượng

3.2.2 Ph ỏng vấn tay đôi

3.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn

Số lượng mẫu được chọn là 10 mẫu cho mỗi đối tượng mẫu Đối tượng được

chọn cho phỏng vấn được chia làm hai dạng, dạng thứ nhất là các chuyên gia, bác

sỹ hoạt động tại các trung tâm y tế lớn tại Tp Hồ Chí Minh, cụ thể như là: Bệnh

viện Chợ Rẫy, bệnh viện Đại Học Y Dược, bệnh viện Nhân Dân Gia Định, bệnh

viện 115, trung tâm chẩn đoán hình ảnh Hòa Hảo, bệnh viện Bình Dân, bệnh viện

Quận 10, bệnh viện Thống Nhất Đối tượng được chọn cho phỏng vấn dạng thứ hai

là những người có độ tuổi từ 40 trở lên, có khả năng tự quyết định việc có thực hiện

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ hay không Đối tượng chuyên gia, bác sỹ được chọn thông qua các mối quan hệ xã hội của người nghiên cứu, họ được đặt cuộc hẹn trước, người nghiên cứu có 3o phút cho mỗi cuộc phỏng vấn tay đôi với giới chuyên gia, bác sỹ Đối với đối tượng thứ hai, những người có khả năng tự quyết định việc thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, người nghiên cứu lấy

từ hai nguồn khác nhau Nguồn thứ nhất được lấy từ danh sách của các bệnh viện và trung tâm y tế, nguồn này là những người có thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định

kỳ tại các bệnh viện và trung tâm y tế, nguồn thứ hai được chọn một cách ngẫu nhiên theo các tiêu chí mà nghiên cứu đặt ra, từ khu dân cư của phường 15 quận 10

Tp Hồ Chí Minh, nguồn này là những người không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ Số lượng mẫu được chọn đối với các chuyên gia, bác sỹ là 10 mẫu, số

Trang 37

lượng mẫu được chọn cho những người có khả năng tự quyết định việc thực hiện

kiểm tra sức khỏe định kỳ là 10 mẫu

3.2.2.2 Ý nghĩa của mẫu được chọn

Với đối tượng mẫu là giới chuyên gia, bác sỹ, người nghiên cứu chọn đối tượng này để phỏng vấn để tìm hiểu kỹ và chi tiết hơn trong lĩnh vực chuyên môn

về việc kiểm tra sức khỏe định kỳ tại các bệnh viện và các trung tâm y tế hiện nay trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh Cũng từ ý kiến của các chuyên gia và bác sỹ, người nghiên cứu biết được đối tượng nào thường thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định

kỳ, độ tuổi của họ là bao nhiêu, họ thường hoạt động trong những lĩnh vực nào, hiệu

quả phát hiện bệnh của việc kiểm tra sức khỏe định kỳ là bao nhiêu, chất lượng dịch

vụ mà các bệnh viện, trung tâm y tế hiện nay cho việc kiểm tra sức khỏe định kỳ như thế nào, đối tượng nào phải thường xuyên thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ

Với đối tượng mẫu là những người có khả năng quyết định có hay không việc

thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ, người nghiên cứu muốn biết họ có thực hiện

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ hay không, họ thực hiện trong tình trạng sức khỏe như thế nào, tại sao họ thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, tại sao họ không

thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, bao lâu rồi họ chưa đi khám bệnh, họ có

hiểu được lợi ích của việc kiểm tra sức khỏe định kỳ hay không, họ có thực hiện

kiểm tra sức khỏe định kỳ nếu dịch vụ này được cung cấp miễn phí hay không, họ

có sẵn sàng đánh đổi sức khỏe để tăng thêm thu nhập hay không, thông tin về nhân thân của họ, việc làm của họ hiện nay, mức thu nhập của họ hiện nay

3.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Cho mỗi đối tượng phỏng vấn, người nghiên cứu chuẩn bị trước các câu hỏi theo các nhóm mục tiêu mà người nghiên cứu muốn đạt được, thông thường đó là

những câu hỏi mở, khi thực hiện phỏng vấn các câu hỏi được đưa ra theo trình tự ý

muốn của người nghiên cứu, nhưng người nghiên cứu sẽ chủ động mở rộng các câu

hỏi khi bắt gặp những yếu tố mới trong phần trả lời của đối tượng được phỏng vấn, người nghiên cứu sẽ giải thích cho đối tượng được phỏng vấn những khái niệm mà

Trang 38

hai bên chưa hiểu rõ ý nhau và ngược lại, tất cả quá trình phỏng vấn sẽ được ghi

nhận lại chi tiết để phục vụ cho công tác thống kê sàng lọc thông tin sau phỏng vấn 3.2.2.4 Bảng câu hỏi cho giới chuyên gia, bác sỹ

Hệ thống câu hỏi dùng cho chuyên gia và bác sỹ được chia thành ba nhóm câu

hỏi

- Nhóm câu hỏi để biết được thành phần xã hội của những người tham gia

kiểm tra sức khỏe định kỳ

- Nhóm câu hỏi để biết được quá trình thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định

kỳ, tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ

- Nhóm câu hỏi để biết được chất lượng dịch vụ mà bệnh viện, các trung tâm y

tế cung cấp cho người tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ

3.2.2.5 Bảng câu hỏi dùng cho người tham gia, có khả năng quyết định thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ

Hệ thống câu hỏi dùng cho người tham gia, có khả năng quyết định thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ được chia thành ba nhóm câu

hỏi sau:

- Nhóm hỏi về nhân thân của người tham gia phỏng vấn

- Nhóm hỏi về ý thức về sức khỏe

- Nhóm hỏi về hiểu biết về tác dụng của việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, có

thực hiện hay không thực hiện việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, tại sao thực hiện và

tại sao không thực hiện

3.2.2.6 Phương pháp tổng hợp thông tin từ các cuộc phỏng vấn

Người nghiên cứu tổng hợp thông tin bằng phương pháp thống kê theo từng tiêu chí của từng dạng mẫu phỏng vấn ( mẫu phỏng vấn có hai dạng: giới chuyên gia, bác sỹ và các cá nhân có khả năng quyết định thực hiện hay không thực hiện

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ ) tính tỉ lệ phần trăm đạt được của từng tiêu chí trong tổng thể các tiêu chí của nhóm câu hỏi của từng dạng mẫu phỏng vấn

Đối với nhóm câu hỏi người nghiên cứu cần tìm hiểu về tình trạng sức khỏe,

bệnh tật, chất lượng dịch vụ được cung cấp từ các bệnh viện và trung tâm y tế, trạng

Trang 39

thái tâm lý của người tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ, người nghiên cứu sẽ thực

hiện so sánh, thống kê theo nội dung trùng khớp của dạng mẫu là các chuyên gia, bác sỹ với dạng mẫu là các cá nhân có khả năng quyết định việc thực hiện kiểm tra

sức khỏe định kỳ và được tính bằng tỉ lệ phần trăm

Đối với những yếu tố khác biệt mang tính đặc trưng từ những cuộc phỏng vấn đối với các dạng mẫu, người nghiên cứu sẽ đưa vào phương trình hồi quy trong

phần nghiên cứu định lượng nếu các yếu tố này có thể đo lường và khảo sát được trong phạm vi của nghiên cứu này

Qua đó người nghiên cứu sẽ rút ra được những kết luận cần thiết từ phương pháp nghiên cứu định tính để trả lời các câu hỏi nghiên cứu, đồng thời kết hợp với các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, người nghiên cứu sẽ đưa ra được phương trình hồi quy của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện việc

kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân, để phục vụ cho phần nghiên cứu định lượng, tìm ra xu hướng tác động của các yếu tố

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

3.3.1 Mô hình h ồi quy

Qua các cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan như trên , cùng với sự quan sát và nhận thức của người nghiên cứu về tình hình xã hội Việt nam hiện nay Người nghiên cứu đưa ra mô hình hồi quy kỳ vọng như sau:

Yi= β0+ β1X1i+ β2X2i +β3X3i +β4X4i +β5X5i +β6X6i+ β7X7i+ β8X8i+ β9X9i+ ε 3.3.1.1 Giải thích các biến

Yi: là biến phụ thuộc, nhận giá trị 0 hoặc 1 Giá trị 0 tức là không thực hiện

kiểm tra sức khỏe định kỳ Giá trị 1 tức là có thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ Các biến phụ thuộc nhằm giải thích các yếu tố tác động đến việc thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân là: X1, X2, , X3 , X4 , X5 , X6 , X7 , X8 , X9

X1: Tuổi của người tham gia Đây là một biến liên tục, được đo lường bằng số năm

X2: Giới tính, biến này nhận giá trị 0 hoặc 1 Giá trị 1 tức là nam, giá trị 0 tức

là nữ

Trang 40

X3: Tình trạng hôn nhân, biến này thể hiện người tham gia đã lập gia đình hay còn độc thân Biến này nhận giá trị 0 hoặc 1 Giá trị 0 tức là độc thân, giá trị 1 tức là

đã lập gia đình

X4: Tình trạng việc làm Biến này thể hiện người tham gia là người làm việc tự

do hay là làm việc cho một cơ quan, tổ chức Biến này nhận giá trị 0 hoặc 1 Giá trị

0 tức là làm việc tự do, tự kinh doanh, tự làm chủ, thất nghiệp Giá trị 1 tức là làm

việc cho một cơ quan, tổ chức nào đó

X5: Trình độ giáo dục Biến này được chia thành hai nhóm, được tính theo số năm đi học, nhóm có số năm đi học < 12 năm, nhóm có số năm đi học >= 12 năm

Biến này nhận giá trị 0 hoặc 1 Giá trị 0 tức là có số năm đi học < 12 năm, giá trị 1 tức là có số năm đi học >= 12 năm

X6: Thu nhập Biến này được chia làm hai nhóm, nhóm có thu nhập < 10 triệu VND/ tháng , nhóm có thu nhập >= 10 triệu VND/ tháng Biến này nhận gia trị 0

hoặc 1 Giá trị 0 tức là có thu nhập < 10 triệu VND/ tháng, giá trị 1 tức là có thu

nhập >= 10 triệu VND/ tháng

X7: Tiền sử bệnh Biến này thể hiện người tham gia có bệnh mạn tính, bệnh

bẩm sinh hay không Biến này nhận hai giá trị 0 hoặc 1 Giá trị 0 tức là không có

bệnh mạn tính hay bẩm sinh, giá trị 1 tức là có bệnh mạn tính hoặc bệnh bẩm sinh

X8: Tác động của chi phí kiểm tra sức khỏe định kỳ đến quyết định thực hiện

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân Không tác động nhận giá trị 0, có tác động nhận giá trị 1

X9: Tác động của thời gian kiểm tra sức khỏe định kỳ đến quyết định thực hiện

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ của người dân Không tác động nhận giá trị 0, có tác động nhận gia trị 1

ε: Sai số ngẫu nhiên, thể hiện các yếu tố tác động lên biến Y mà ta không quan sát được

Ngày đăng: 17/09/2020, 12:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w