Như vậy, cần phải định hình cấu trúc kinh tế, từ đó xác định vai trò, đánh giá thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước và đề xuất một số giải pháp cơ bản để đẩy mạnh việc cổ phần hóa đá
Trang 1ĐÀO CÔNG TUẤN
ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2ĐÀO CÔNG TUẤN
ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS VŨ ANH TUẤN
Trang 3là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập
và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử dụng là trung thực và có trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Anh Tuấn
Tác gi ả Luận văn
Trang 4M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
Chương 1: DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHI ỆP NHÀ NƯỚC 5
1.1 Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước 5
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước 5
1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước 8
1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 11
1.2.1 Quan niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 12
1.2.2 Bản chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 12
1.2.3 Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 13
1.2.4 Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 16
1.2.5 Những nội dung chủ yếu trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 16
1.2.6 Sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 21
1.3 Kinh nghiệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới 24
1.3.1 Kinh nghiệm cuả Trung Quốc 24
1.3.2 Một số nước khác 25
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới 26
Kết luận chương 1 28
Chương 2: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1992-2015 29
2.1 Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 29
2.1.1 Tổng quan về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của cả nước 29
Trang 52.1.2 Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thành phố Hồ Chí Minh 36
2.1.3 Tình hình cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 37
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 42
2.2.1 Nhân tố chủ quan 42
2.2.2 Nhân tố khách quan 44
2.3 Đánh giá việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 46
2.3.1 Mặt đạt được của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 46
2.3.2 Mặt hạn chế, tồn tại chủ yếu của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 50
2.3.3 Nguyên nhân của mặt đạt được, mặt hạn chế, tồn tại của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 51
Kết luận chương 2 54
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐẨY MẠNH CỔ PHẦN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH TÁI C Ơ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020 55
3.1 Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 55
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của cả nước nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng 55
3.1.2 Nhiệm vụ cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của cả nước nói chung, ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng 57
3.2 Những giải pháp cơ bản đẩy mạnh cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 58
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 58
3.2.2 Hoàn thiện việc xác định giá trị doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hóa 62
3.2.3 Giải quyết nợ của doanh nghiệp trước cổ phần hóa 64
3.2.4 Có chính sách quan tâm hỗ trợ công ty trong và sau khi cổ phần hóa 64
Kết luận chương 3 71
K ẾT LUẬN 72
Trang 6STT S Ố HIỆU TÊN B ẢNG, BIỂU TRANG
1 Bảng 2.1 Cơ cấhiện hành phân theo thành phần kinh tế 2010-2014 u tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá 47
2 Bảng 2.2 Cơ cấnhà nước từ 2010-2014 ở thành phố Hồ Chí Minh u tổng sản phẩm trong nước (GDP) của kinh tế 47
3 Bảng 2.3 Cơ cấMinh năm 2014 theo giá hiện hành u vốn đầu tư trên địa bàn thành phố Hồ Chí 49
Trang 7STT S Ố HIỆU TÊN B ẢNG, BIỂU TRANG
1 Hình 2.1 Số lượng doanh nghiệp nhà nước cả nước cổ phần
hóa từ 1996-2010 33
2 Hình 2.2 Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách của các tập
đoàn, tổng công ty nhà nước Việt Nam 2006-2012 48
Trang 8M Ở ĐẦU
Trong thời gian gần đây, vấn đề tái cơ cấu kinh tế được các cơ quan quản lý nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và tập trung tổ chức thực hiện So với nhiều địa phương khác trong cả nước, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều
lợi thế so sánh trong tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên trong thời gian qua có mức tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng lại thấp, chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, dựa trên cơ sở tăng vốn đầu tư và tăng lao động, cho nên năng lực cạnh tranh ở một số lĩnh vực lại đang giảm dần, chưa khai thác hết tiềm năng Nguyên nhân của tình hình nêu trên cơ bản nhất là do cấu trúc kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung hiện nay không còn phù hợp Từ đó, yêu cầu tái cơ cấu kinh tế đang đặt ra rất bức thiết
Theo ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, để tái cơ cấu kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, cần tập trung vào ba lĩnh vực như chính phủ đề ra là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước Trong đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà thành phố Hồ Chí Minh quyết tâm thực hiện là cần phải đẩy mạnh cổ phần hóa nhằm thúc đẩy tiến độ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế
Như vậy, cần phải định hình cấu trúc kinh tế, từ đó xác định vai trò, đánh giá
thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước và đề xuất một số giải pháp cơ bản để đẩy mạnh việc cổ phần hóa đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cơ cấu kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh
Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” mang tính cấp thiết, có tính thời sự, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong tình hình hiện nay
Vấn đề cổ phần hóa, tái cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là
đề tài đã được một số công trình khoa học nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau,
Trang 9như:
- Ketels Christian (2010), Bi ểu đồ về năng suất lao động của một số nước khu v ực Đông Á, Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á 2010 đã đưa ra khuyến nghị:
Phát triển kinh tế dựa vào lợi thế nhân công giá rẻ, năng suất lao động thấp không
phải là hướng đi lâu dài Đã đến lúc Việt Nam cần một chiến lược kinh tế tổng thể, toàn diện để vừa duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tăng cường năng lực vi mô của
nền kinh tế
- TS.Trần Du Lịch chủ nhiệm (2005), Đề tài “Phát triển các thành phần kinh
t ế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Các luận điểm về định hướng chuyển dịch
cơ cấu thành phần kinh tế”: làm rõ đặc điểm, các hình thức tổ chức sản xuất - kinh
doanh, mối quan hệ, vai trò của mỗi thành phần kinh tế trong sự phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất định hướng, các giải pháp chính sách khai thác lợi thế, tiềm năng của từng thành phần kinh tế
- PGS TS Phan Xuân Biên chủ biên (2012), Thành phố Hồ Chí Minh 35
năm xây dựng và phát triển, Nxb.TP Hồ Chí Minh: tổng kết quá trình xây dựng và
phát triển trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của thành phố Hồ Chí Minh từ 1975-2010, thể hiện vai trò đầu tàu trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
cả nước
- TS Nguyễn Đức Thành chủ biên (2012), Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt
Nam 2012 “Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội:
trong bối cảnh nền kinh tế đang đứng trước ngưỡng cửa của những cuộc cải cách đã được đề xuất trong năm 2011 với mục đích tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế, cung
cấp cái nhìn toàn cảnh về kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm qua, từ đó phân tích ba chương trình tái cơ cấu kinh tế hiện nay, đã nhấn mạnh sự cần thiết nâng cao
chất lượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
- Kỷ yếu Hội thảo “Kinh tế Việt Nam 2013: Cơ hội và thách thức”, do Thời
báo Kinh tế Việt Nam và VnEconomy tổ chức, ngày 01/3/2013 tập hợp các bài tham luận của các nhà nghiên cứu trong sự nhận định, đánh giá quan trọng về cơ hội
và thách thức đối với các doanh nghiệp trong năm 2013, từ đó đã nêu ra một số giải
Trang 10pháp cho các doanh nghiệp nói chung trong đó bàn khá nhiều về vấn đề phải tập trung cổ phần hóa nhằm đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước
- Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 10 khóa VIII (10/7-13/7/2013) về các vấn đề cấp bách
mà Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cần phải tập trung giải quyết đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là tổ chức thực hiện chỉ
thị 03 của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước
- Ngoài ra, có những bài tham luận trên các kỷ yếu khoa học, bài viết ngắn
về cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trên các tạp chí, các trang web
Tuy nhiên, cho đến nay, do những góc độ khác nhau trong mục đích, phạm
vi, phương pháp tiếp cận, thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu như công trình này về “Đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” một cách có hệ thống cả về cơ
sở lý luận và thực tiễn; phân tích những giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa nhằm thực
hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Сhí Minh trong thời gian tới
Thông qua việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cổ phần hóa theo hướng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đề tài phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Từ đó, dự báo và phân tích một số giải pháp cơ bản để đẩy mạnh cổ
phần hóa nhằm thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
+ Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu về tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11+ Về thời gian: nghiên cứu quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1992-2015 và tầm nhìn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: các phương pháp phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn,
dự báo, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố Trong quá trình nghiên cứu, tác giả thu thập và xử lý số liệu thứ cấp từ các báo cáo của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục thống kê, các Viện nghiên cứu kinh tế cùng
với các công trình nghiên cứu có liên quan Các phương pháp này được kết hợp với nhau trong quá trình nghiên cứu
6 Ý nghĩa nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước
- Phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh, làm rõ ưu thế và mặt hạn chế cùng nguyên nhân của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu mang tính khả thi để đẩy mạnh cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Doanh nghiệp nhà nước và vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Chương 2: Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1992-2015
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản để đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Trang 12Chương 1:
1.1 Doanh nghiệp nhà nước và vai trò của doanh nghiệp nhà nước
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước đã tồn tại phổ biến từ lâu trong nền kinh tế nước ta Tuy vậy, mãi tới năm 1995, mới có những nỗ lực đầu tiên để “công ty hóa” về mặt
ý niệm đối với doanh nghiệp nhà nước Cụ thể là, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao Cũng theo luật này, doanh nghiệp nhà nước nước tồn tại dưới các hình thức: Doanh nghiệp độc lập, tổng công
ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty Và theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phấn góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công
ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
So sánh khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” theo Luật Doanh nghiệp 1995, với khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp 2003 thì có một số thay đổi như sau: (i) Có nội dung rộng hơn, bao gồm không chỉ doanh nghiệp 100%
sở hữu nhà nước, mà cả doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần hay có phần góp vốn chi phối; (ii) Loại hình doanh nghiệp cũng đa dạng hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; (iii) Không xác định mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp nhà nước là thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao; (iv) Và cuối cùng là, không còn khái niệm doanh nghiệp công ích Tuy vậy, có thể nói, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước cho đến nay vẫn chưa thực sự là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần với đầy đủ những thuộc tính của chúng
Trình bày trên đây cho thấy trong giai đoạn trước tháng 07/2006, khái niệm
“doanh nghiệp” được định nghĩa khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau,
Trang 13và được áp dụng phân biệt theo thành phần kinh tế Trong khi doanh nghiệp do tư nhân trong nước sở hữu lấy mục tiêu sinh lợi làm tiêu chí đặc trưng hàng đầu, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước chủ yếu dựa vào tiêu chí sở hữu Thậm chí, lợi nhuận không được coi là mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước
Về loại hình doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân trong nước được lựa chọn cả bốn loại là đặc trưng phổ biến trong kinh tế thị trường; còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có duy nhất công ty trách nhiệm hữu hạn Loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung không tương thích với các loại hình doanh nghiệp của kinh tế thị trường Sau năm 2003, doanh nghiệp nhà nước mới bắt đầu sử dụng loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
Bản chất và nội dung của cùng một loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau là không giống nhau Ví dụ, việc các bên hay các thành viên phải chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khá xa lạ với đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung và công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực kinh tế tư nhân trong nước nói riêng Các loại hình khác của doanh nghiệp nhà nước như tổng công
ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập không được định nghĩa rõ về bản chất và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng
Vào những năm 2005-2006, áp lực và yêu cầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ngày càng gia tăng; và việc gia nhập WTO cũng đã ngày càng trở nên bức thiết Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư và thương mại, bình đẳng, không phân biệt đối xử và phù hợp với các nguyên tắc thương mại quốc tế là một trong những điều kiện không thể thiếu để nước ta có thể gia nhập WTO Vì vậy, hàng loạt luật có liên quan đã phải được ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi; trong số đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó Nó có hiệu lực từ ngày 01/07/2006; thay thế Luật Doanh nghiệp 2000, cùng với nó là Luật Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và các quy định về doanh nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 14Như vậy, từ tháng 07/2006, lần đầu tiên chúng ta có một Luật Doanh nghiệp duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Cũng từ thời điểm đó, xét về mặt pháp lý, không còn hiện tượng “đồng sàng, dị mộng” khi nói và viết về doanh nghiệp Khái niệm “doanh nghiệp”, bản chất và thuộc tính của các loại hình doanh nghiệp đã được quy định, được hiểu và áp dụng một cách thống nhất Cụ thể, “doanh nghiệp” được xác định
là “tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” ở nước ta đã không còn phân chia và phân biệt theo thành phần kinh tế Cũng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu; là dấu hiệu đặc trưng để phân biết với các tổ chức kinh tế khác không phải là doanh nghiệp Bản chất và nội dung của khái niệm doanh nghiệp đã tương thích với khái niệm tương tự được sử dụng phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường
Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước (SOE) vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành đã làm rõ khái niệm SOE Theo
đó, SOE là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thay cho khái niệm: “SOE là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” như hiểu hiện nay
Với khái niệm mới, các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ
Trang 15thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước
Vai trò và vị trí của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, trước hết, được xác định và định hướng bởi chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế Nhà nước và sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là chủ trương nhất quán của Đảng tại các kỳ đại hội Trong khoảng
10 năm trở lại đây, vai trò và vị trí của doanh nghiệp nhà nước chủ yếu vẫn theo định hướng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá IX ban hành năm 2001 là
“Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết kinh tế vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc
tế” Vị trí của doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khoá
IX được xác định là “tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan
trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực sản phẩm của nền kinh
tế” Đại hội X có sự điều chỉnh nhất định về vị trí của doanh nghiệp nhà nước, đó là
“xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước”
và “tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất
và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích” Đại hội XI
chỉ khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước mà không khẳng định rõ ràng, trực tiếp và cụ thể về vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trong nền kinh tế như Hội nghị Trung ương 3 khoá IX và các văn kiện khác trước đây
Trên thực tế, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang được sắp xếp, đổi mới theo hướng thu hẹp dần, giảm bớt ở nhiều vị trí không cần đến sự hiện diện doanh nghiệp nhà nước, kể cả về diện hoạt động (tức phạm vi ngành, lĩnh vực có doanh nghiệp nhà nước) và mật độ hiện diện của doanh nghiệp nhà nước (tức số lượng
Trang 16doanh nghiệp nhà nước cùng kinh doanh trong ngành, lĩnh vực) Cụ thể như sau:
Số ngành, lĩnh vực Nhà nước giữ 100% vốn đã giảm từ 43 ngành, lĩnh vực (theo Quyết định 58/2002/QĐ-TTg năm 2002) xuống 20 ngành, lĩnh vực (theo Quyết định 14/2011/QĐ-TTg năm 2011)
Số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước từ 12.300 doanh nghiệp (năm 1992)
giảm xuống 5.655 doanh nghiệp (năm 2001) và 1309 doanh nghiệp vào cuối năm
2011
Số lượng doanh nghiệp nhà nước trong nhiều ngành, lĩnh vực đã giảm đi rất nhiều so với trước đây Có thể dễ nhận thấy sự thay đổi về “mật độ” hay “sự đậm đặc” của doanh nghiệp nhà nước theo chiều hướng giảm đi khá nhiều trong các ngành, lĩnh vực như thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, Ví dụ: năm 1998 số doanh nghiệp nhà nước trong ngành thương mại, dịch vụ là 1.566 doanh nghiệp thì đến cuối năm 2011 chỉ còn 200 doanh nghiệp
Tuy nhiên, vai trò và vị trí do doanh nghiệp nhà nước hiện đang nắm giữ chưa tạo môi trường và điều kiện để các chủ thể tham gia thị trường đều được cạnh tranh bình đẳng, phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực
Một mặt, doanh nghiệp nhà nước 100% vốn nhà nước trên thực tế vẫn đang
nắm giữ nhiều vị trí quan trọng mà việc doanh nghiệp nhà nước đảm trách (tốt hay không tốt) các vị trí này đều có ảnh hưởng lan tỏa (tích cực hay tiêu cực) trong nhiều ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế
Trong số 1.309 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có 452 doanh nghiệp (tức 34,5%) thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và tham gia hoạt động công ích Số 857 doanh nghiệp còn lại (tức 65,5%) là hoạt động kinh doanh, trong đó có một số giữ
vị trí quan trọng trong lĩnh vực hạ tầng (như hạ tầng thông tin viễn thông, hạ tầng điện lực, hạ tầng giao thông, xây dựng hạ tầng đô thị,.) Đây là những vị trí theo định hướng của Đại hội XI cần có doanh nghiệp nhà nước và cần tập trung doanh nghiệp nhà nước để phát triển Những vị trí này chủ yếu do các tập đoàn kinh tế và
Tổng công ty nhà nước nắm giữ, như: 2 tập đoàn trong ngành viễn thông (VNPT và Viettel), Tập đoàn Điện lực, 2 tập đoàn trong ngành xây dựng công nghiệp và dân
Trang 17dụng gồm Tập đoàn công nghiệp xây dựng VNIC và Tập đoàn xây dựng nhà ở và
đô thị HUD (kể cả sau khi 2 tập đoàn này chuyển trở lại thành các tổng công ty thì
những vị trí này vẫn do các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ), 1 tập đoàn và 1 tổng công ty trong phát triển hạ tầng giao thông gồm Tập đoàn Vinashin (nay là Tổng công ty công nghiệp tàu thủy SBIC) và Tổng công ty Hàng hải Vinalines, các tổng công ty 90 và tổng công ty 91 khác
Một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh khác được giao và kỳ vọng giữ vai trò, vị trí nòng cốt hoặc then chốt trong sản xuất công nghiệp, giao thông vận
tải, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy nông, thương mại, dịch vụ, du lịch
Những vị trí này cũng chủ yếu do các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước
nắm giữ, như: Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Than - Khoáng sản, Tập đoàn Hoá chất,
Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Cao su, các tổng công ty 90 và tổng công ty 91 khác
Thực tế, hiện nay các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu thông qua các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước giữ vai trò chi phối hoặc có ảnh hưởng đến các ngành, lĩnh vực quan trọng như điện (cung cấp trên 80% lượng điện sản xuất), than (cung cấp cho nhu cầu công nghiệp, dân dụng, xuất khẩu), dầu khí (là nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước), xăng dầu (chỉ riêng Petrolimex trước đây chiếm khoảng 70% thị phần, hiện nay khoảng 50% thị phần xăng dầu), bưu chính viễn thông (bảo đảm hệ thống thông tin liên lạc quốc gia; khoảng 95% mạng điện thoại
di động), vận chuyển đường không và đường sắt, dệt may, xuất khẩu lương thực (làm đầu mối xuất khẩu 70% lượng gạo), xi măng (trên 50% thị phần xi măng), tín
dụng ngân hàng (các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm khoảng 55 - 57% thị
phần huy động tiền gửi và thị phần tín dụng của toàn hệ thống),
Cũng do nắm giữ vị trí chi phối nên doanh nghiệp nhà nước giữ vị thế độc quyền trong các ngành, lĩnh vực này, trong đó có cả những vị trí độc quyền tự nhiên như truyền tải điện, đường sắt, cấp thoát nước, và những vị trí độc quyền do chính sách, do cạnh tranh không lành mạnh mà ra Một trong những nguyên nhân của tình
trạng độc quyền do chính sách, do cạnh tranh không lành mạnh này xuất phát từ
việc sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp nhà nước độc lập thành các tổng công ty
Trang 18hoặc sáp nhập các tổng công ty thành tập đoàn kinh tế nhà nước Chính Nhà nước - thực hiện chức năng quản lý nhà nước là người “cầm cân nảy mực” về cạnh tranh
và độc quyền nhưng lại để cho Nhà nước thực hiện chức năng chủ sở hữu tạo ra tình
trạng độc quyền này
Mặt khác, doanh nghiệp nhà nước được sử dụng để điều tiết vĩ mô, bình ổn
thị trường, bình ổn nền kinh tế Vai trò này đã từng được sử dụng phổ biến trong
thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây Thời gian gần đây doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục thể hiện vai trò này tuy với quy mô và mức độ ít đi so với trước đây Ví dụ: năm 2008 - 2009, doanh nghiệp nhà nước được sử dụng nguồn
vốn nhà nước hoặc nguồn vốn tự huy động để tăng đầu tư, chống suy giảm kinh tế Năm 2011 - 2012, doanh nghiệp nhà nước được sử dụng để thực hiện chính sách
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bằng cắt giảm đầu tư và chi tiêu, không tăng giá bán sản phẩm, dịch vụ (điện, than, xăng dầu, sắt thép, ) theo yêu cầu của Nhà nước
Tuy nhiên, việc sử dụng doanh nghiệp nhà nước với vai trò làm công cụ điều tiết vĩ mô, bình ổn thị trường có vẻ phù hợp hơn với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây thay vì nền kinh tế thị trường hiện nay Việc lạm dụng vai trò này
của doanh nghiệp nhà nước làm cho thị trường bị méo mó, bóp méo tín hiệu giá thị trường, đồng thời doanh nghiệp nhà nước cũng không bình đẳng với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Điều này dẫn tới, hoặc doanh nghiệp nhà nước có lợi thế hơn do
vị thế độc quyền, hoặc doanh nghiệp nhà nước bị thiệt thòi hơn các doanh nghiệp khác vì không được nhà nước bù đắp chi phí cho việc thực hiện các hoạt động chính sách này
1.2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ
Hiện nay, trước tình hình mới, trên đà hội nhập kinh tế thế giới, quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước vẫn đang tiếp tục được đẩy mạnh, nhưng việc
thực hiện một cách có hiệu quả là không đơn giản, nhất là trong bối cảnh số lượng
Trang 19doanh nghiệp nhà nước phải cổ phần hóa còn nhiều, quy mô, tính chất của các doanh nghiệp nhà nước phải cổ phần hóa phức tạp hơn trước nhiều
1.2.1 Quan niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là biện pháp có tính đặc thù của quá trình đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, là quá trình chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Đó là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở
hữu Nhà nước sang sở hữu của nhiều chủ thể, trong đó tồn tại một phần sở hữu của Nhà nước; là quá trình huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, xử lý và
khắc phục những tồn tại hiện thời của doanh nghiệp nhà nước; tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp Tất cả nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giảm nhẹ gánh
nặng của Nhà nước đối với doanh nghiệp
1.2.2 Bản chất cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Xét về mặt bản chất, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra
mô hình doanh nghiệp phù hợp nền kinh tế thị trường, đáp ứng với yêu cầu của kinh doanh hiện đại
Cổ phần hóa giữ một vai trò quan trọng được thể hiện trên các mặt sau:
- Cổ phần hóa nhằm chuyển đổi một phần sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp cho các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước nhằm thu hút được nguồn vốn để đầu tư phát triển doanh nghiệp, phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, tạo sự cân bằng giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân, nâng cao tính cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế
- Tiến hành cổ phần doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Quá trình cổ phần hóa tạo cho mọi người lao
Trang 20động được thực sự làm chủ doanh nghiệp
- Cổ phần hoá sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thành lập thị trường chứng khoán Việc một thị trường chứng khoán đi vào hoạt động bền vững sẽ là điều kiện tốt để thúc đẩy quá trình cổ phần hoá, thu hút nguồn vốn trong nước và ngoài nước
1.2.3 Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Chúng ta đều biết rằng cái cốt lõi của quá trình cổ phần hoá là vấn đề sở hữu
và quyền sở hữu Còn cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là chuyển đổi sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước Sở hữu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là quan
hệ giữa lao động với những điều kiện khách quan của lao động, đây là một phạm trù cơ bản bao trùm của quan hệ sản xuất, phản ánh lao động tổng thể của con người và những mối quan hệ của họ trong việc chiếm hữu những điều kiện khách quan phục vụ cho lợi ích của con người và sự phát triển xã hội
Thông qua việc phân tích mối quan hệ bản chất của sở hữu ta thấy hiện rõ hai nội dung cơ bản của sở hữu là: sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhân Trong đó
sở hữu xã hội dùng để chỉ quan hệ lao động trừu tượng với toàn bộ các điều kiện khách quan trực tiếp của lao động Giữa sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhân có mối quan hệ biện chứng, vừa thống nhất vừa tách biệt Sở hữu xã hội có hình thái vận động là giá trị mà sự biểu hiện của nó chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, còn chiếm hữu tư nhân luôn được thực hiện dưới dạng hoạt động cụ thể, có ích trong hệ thống phân công lao động xã hội mà sản phẩm của nó thể hiện dưới dạng một hàng hoá hay một loại dịch vụ nhất định Hệ quả của sự thống nhất và tách rời giữa sở hữu xã hội và chiếm hữu tư nhân dẫn đến sự phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền
sử dụng tài sản xã hội Người có quyền sở hữu sẽ nắm quyền chi phối giá trị, nhằm mục đích tìm kiếm một giá trị cao hơn còn người có quyền sử dụng là người trực tiếp thực hiện một hoạt động kinh tế cụ thể nào đó để tạo ra giá trị, đó là phương tiện để tăng giá trị Mối quan hệ của chúng có thể hiểu là mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện Chính sự tách biệt của sở hữu xã hội và chiếm hữu xã hội đã tạo ra các tầng lớp người trong xã hội Việc vạch ra tính chất của sở hữu là một việc
Trang 21vô cùng quan trọng để hiểu được sự vận động của nó trong nền kinh tế thị trường
Sự tách biệt giữa hai mặt của sở hữu là một quá trình lịch sử góp phần cho sự ra đời, sự phát triển của thị trường chứng khoán và của công ty cổ phần
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh có những đặc điểm chung với các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam nói chung và khác với tính quy luật ở các nước, bởi:
- Các doanh nghiệp mà thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quá trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây
Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển: Là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu
- Các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơ chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong
cơ chế thị trường, cạnh tranh
- Các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thực hiện
cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân và
tuân theo quy luật thị trường
- Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với
lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh
Từ những sự khác biệt đó cho thấy:
- Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại
và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước,
Trang 22đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Tình hình đó không giống với yêu cầu có tính quy luật là cổ phần hóa doanh nghiệp là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật khách quan: Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Đối tượng cổ phần hóa ở thành phố Hồ Chí Minh khác hẳn với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trong nền kinh tế thị trường phát triển cao Ở thành phố Hồ Chí Minh, một bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ phần hóa vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và
cơ chế quản lý, tức là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường
- Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, trên thực
tế, vẫn dựa trên chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với lối tư duy cũ Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề Việc giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập như:
Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát
và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa Việc xác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau Trong giai đoạn chưa có Nghị định 187: Việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp
tự đảm nhận Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người Trong giai đoạn sau khi có Nghị định 187: Sự thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu
Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn Tính đến ngày 31/12/2014, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 35.026 tỷ đồng Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính
Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm
Trang 23định giá trị có độ tin cậy thấp Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần
- Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa Bình quân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%
Thực tiễn gần 25 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, cũng như cả nước cho thấy: Chúng ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng
Như vậy, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân
1.2.4 Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Một là: Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp,
phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp
Hai là: Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
Ba là: Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá
Bốn là: Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để
Trang 24bản pháp quy quy định chi tiết nội dung cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã được ban hành nhằm đưa công tác cổ phần hoá phù hợp với từng giai đoạn Đặc biệt Nghị định số 44/CP (29/6/1998) của Chính phủ quy định chi tiết nội dung cổ phần hoá bao gồm: Đối tượng cổ phần hoá, hình thức cổ phần hoá, xác định giá trị doanh nghiệp, đối tượng mua cổ phần và phân tích đánh giá thực trạng doanh nghiệp
a Về đối tượng cổ phần hoá:
Xuất phát từ thể chế chính trị, lịch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hoá là những doanh nghiệp Nhà nước hội tụ đủ 3 điều kiện: Có quy mô vừa và nhỏ; không thuộc diện Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư; có phương án kinh doanh hiệu quả hoặc tuy trước mắt có khó khăn nhưng triển vọng tốt Trong 3 điều kiện này, điều kiện thứ hai (doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư) được coi là quan trọng nhất bởi những doanh nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vĩ mô của
Nhà nước, là đòn bẩy kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
b Về lựa chọn hình thức tiến hành Cổ phần hóa:
Theo quy định thì có 4 hình thức Cổ phần hoá, Ban cổ phần hoá sẽ lựa chọn một hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và người lao động Các hình thức đó là: Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp; bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp; tách một bộ phận của doanh nghiệp để cổ phần hoá; bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại
doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần
c Về xác định giá trị doanh nghiệp:
Đây là một khâu quan trọng và thường chiếm nhiều thời gian, công sức nhất trong quá trình cổ phần hoá Có hai nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp được đưa ra, đó là: Giá trị thực tế là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được Người
Trang 25mua và người bán cổ phần sẽ thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, đôi bên cùng
có lợi Tại các nước có nền kinh tế phát triển, thỏa thuận này diễn ra trên thị trường chứng khoán, còn ở nước ta thỏa thuận có thể diễn ra thông qua các công ty môi giới, kiểm toán (đã diễn ra trên thị trường chứng khoán nhưng chưa phổ biến) Trên
cơ sở xác định được giá trị thực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp sẽ là phần còn lại của giá trị thực tế sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải trả
Cơ sở xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp đó là số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hoá và giá trị thực tế của tài sản tại doanh nghiệp được xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm cổ phần hoá Nguyên tắc này được đặt ra để đảm bảo tính khách quan trong việc xác định giá trị doanh nghiệp
Thực tế việc cổ phần hoá các doanh nghiệp cho thấy, các doanh nghiệp đăng
ký cổ phần hoá thường có xu hướng định thấp giá trị doanh nghiệp, thông qua việc khai báo không chính xác như khai thấp giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp, khai không đúng lượng vốn từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến việc định giá trị doanh nghiệp và gây thiệt hại cho Nhà nước Ngược lại, hiện tượng cơ quan kiểm toán định giá cao hơn giá trị thực của doanh nghiệp lại có thể làm thiệt hại cho người mua cổ phần
d Về việc xác định đối tượng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ phần:
Các đối tượng được phép mua cổ phần đó là: Các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư ở Việt Nam trong đó cán bộ công nhân viên tại các doanh nghiệp Nhà nước là đối tượng được ưu tiên mua cổ phần
Về số lượng cổ phần được mua có quy định như sau:
Loại doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt: Một pháp nhân được mua không quá 10%, một cá nhân được mua không quá 5% tổng
số cổ phần của doanh nghiệp
Trang 26Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt: Một pháp nhân được mua không quá 20%, một cá nhân được mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp
Loại doanh nghiệp Nhà nước không tham gia cổ phần: Không hạn chế số lượng cổ phần lần đầu mỗi pháp nhân và cá nhân được mua nhưng phải đảm bảo số
cổ đông tối thiểu theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp
Trên đây là mức quy định cụ thể về đối tượng mua cũng như mức mua cổ phần, tuy nhiên Nghị định 44/CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến khích việc mua
cổ phần Cụ thể là mọi người mua cổ phần sẽ được vay một cổ phiếu khi mua một
cổ phiếu bằng tiền mặt Với người lao động, họ sẽ được Nhà nước bán cổ phần với mức giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối tượng khác, mỗi năm làm việc tại doanh nghiệp được mua tối đa 10 cổ phần Đối với người lao động nghèo trong doanh nghiệp cổ phần hoá, ngoài việc được mua cổ phần ưu đãi họ còn được hoãn trả tiền mua cổ phần trong 3 năm đầu mà vẫn được hưởng cổ tức, số tiền này sẽ trả dần trong 10 năm không phải trả lãi
e Tổ chức quản lý của công ty Cổ phần:
Do tính chất có nhiều chủ sở hữu của công ty Cổ phần nên các cổ đông không thể thực hiện trực tiếp vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ quản lý lãnh đạo công ty đó là: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành và kiểm soát viên
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan lãnh đạo quyết định cao nhất của công ty Đại hội đồng cổ đông đại diện cho trên 3/4 số vốn điều lệ của công ty và được thành lập theo biểu quyết của đa số phiếu bầu Đại hội đồng cổ đông thường kỳ triệu tập vào cuối năm để giải quyết công việc kinh doanh của công ty trong khuôn khổ điều lệ như quyết định phương hướng hoạt động của công ty thông qua tổng kết năm tài chính, quyết định việc phân chia lợi nhuận, bầu hoặc bãi miễn thành viên trong Hội đồng quản trị và kiểm soát viên, Đại hội đồng cổ đông bất thường được triệu tập để sửa đổi điều lệ của công ty
Hội đồng quản trị là bộ máy quản lý của công ty bao gồm từ 3-12 thành
Trang 27viên Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty quyết định mọi vấn đề có liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty Hội đồng quản trị bầu ra một thành viên làm chủ tịch Hội đồng Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể là người kiêm chức
vụ Giám đốc hay Tổng giám đốc Giám đốc hay Tổng Giám đốc là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn trong phạm vi được giao Công ty Cổ phần thường có hai kiểm soát viên do Đại hội bầu ra, trong đó có ít nhất một người có chuyên môn kế toán và không phải là thành viên của Hội đồng quản trị hay người thân cận của Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc
Xét về tính chất hoạt động của công ty Cổ phần: Dù hoạt động trong công ty
Cổ phần mang tính dân chủ cao do số lượng các cổ đông là những chủ sở hữu nhiều Vì thế mà cơ cấu tổ chức và chức năng của từng bộ phận vừa đảm bảo được vai trò sở hữu vừa đảm bảo được hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Bằng việc quy định mệnh giá thấp, hợp lý, công ty Cổ phần thu hút được đông đảo sự tham gia của công chúng, do vậy mà công ty Cổ phần mang tính xã hội hoá cao, kéo theo sự quản lý mang tính dân chủ Hoạt động manh tính công khai, đặc biệt là công khai trước mọi cổ đông với tư cách là những chủ sở hữu Do đó tạo điều kiện cho các cổ đông có được những hiểu biết về hoạt động của công ty, có được tiếng nói riêng của mình, có khả năng kiểm tra được những hoạt động của công ty, từ đó có những quyết định kinh doanh riêng của mình
f Thuận lợi và khó khăn của công ty Cổ phần:
Thuận lợi của công ty Cổ phần phải kể đến là việc thu hút và sử dụng vốn nhàn rỗi trong dân cư nhờ vào việc phát hành cổ phiếu thông qua thị trường chứng khoán Các công ty Cổ phần có khả năng huy động được một lượng vốn lớn chỉ trong một thời gian ngắn, cách thu hút vốn của công ty Cổ phần không chỉ dừng lại
ở những nhà đầu tư lớn mà còn hấp dẫn được một lượng tiền khá lớn đang nằm rải rác trong dân cư, kể cả những người không giàu có gì cũng có thể tham gia mua cổ phiếu bởi hầu hết những cổ phiếu thường có mệnh giá thấp Hơn nữa, việc đầu tư vào các công ty Cổ phần thường đem lại lợi ích lớn hơn so với việc gửi tiền vào các
Trang 28quỹ tín dụng hay ngân hàng Thông thường lợi tức do cổ phiếu đem lại cao hơn lãi suất tiền gửi, dẫn đến hiệu quả kinh doanh cao, góp phần phát triển kinh tế đất nước Điểm thuận lợi nữa của công ty Cổ phần là các cổ đông trong công ty không được phép rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ có thể mua, bán, chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho những người khác thông qua thị trường chứng khoán Do vậy số vốn kinh doanh của công ty luôn luôn ổn định cho dù có những biến động lớn về nhân sự trong công ty Có số vốn lớn, công ty Cổ phần sẽ có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, tận dụng hết được những cơ hội kinh doanh, thích ứng nhanh được với những biến động của thị trường, đem lại hiệu quả kinh doanh cao
Với những thuận lợi trên, công ty Cổ phần đã có vai trò thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán; tạo điều kiện thực hiện xã hội hoá các hình thức sở hữu
1.2.6 Sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được thành lập ngay sau khi miền Bắc được giải phóng Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đã góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Nhưng do cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, nền kinh tế
tự cung tự cấp kéo dài cả khi đất nước đã hoà bình thống nhất, dẫn đến triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh Sản xuất không theo nhu cầu mà theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước, sản xuất đình trệ không có hiệu quả Nhất là vào những năm
1980 tình hình trở nên xấu hơn khi các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Mục đích của việc thành lập doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo tích luỹ cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho người lao động nhưng trong thực tế các doanh nghiệp nhà nước không đáp ứng được những mục tiêu này Do doanh nghiệp nhà nước thường có xu hướng tập trung vào những ngành cần vốn lớn sử dụng ít lao động, cộng thêm với trình độ của đội ngũ quản lý doanh nghiệp có nhiều yếu
Trang 29kém, nên doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả không đảm bảo được các mục tiêu nhà nước đặt ra đối với doanh nghiệp nhà nước khi thành lập
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước là:
- Do ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong điều kiện chiến tranh kéo dài Trong cơ chế đó coi kinh tế quốc doanh dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, xem nhẹ quy luật kinh tế khách quan của thị trường nên hạch toán doanh nghiệp mang tính hình thức, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quan liêu, nóng vội chủ quan duy ý chí Ngay cả trong thời kỳ đổi mới thì thành phần kinh tế này vẫn hoạt động chưa hiệu quả, do chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường và thực tế, thái độ lao động của doanh nghiệp nhà nước còn mang tính ỷ lại, nên năng xuất lao động không cao
- Do sự yếu kém của đội ngũ công nhân, của cán bộ quản lý và trình độ công nghệ Sự yếu kém của lực lượng sản xuất còn thể hiện ở kết cấu hạ tầng thấp kém của toàn bộ nền kinh tế cũng như của mỗi doanh nghiệp Công nghệ lạc hậu dẫn tới hậu quả tất yếu là sản phẩm chất lượng kém, giá thành sản phẩm cao không thể cạnh tranh trên thị trường, vì thế doanh nghiệp chưa có tích lũy nội bộ
- Trình độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế và doanh nghiệp còn nhiều yếu kém Hệ thống chính sách pháp luật quản lý chưa hoàn chỉnh đồng bộ khi còn chồng chéo mâu thuẫn, hiệu lực thực hiện thấp gây khó khăn cho doanh nghiệp Pháp luật còn nhiều kẽ hở chồng chéo không ổn định sự kém linh hoạt của bộ phận quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra Nên Nhà nước không nắm được thực trạng tài chính hiệu quả của doanh nghiệp Các doanh nghiệp nhà nước chưa xác định rõ quyền lợi trách nhiệm của người lao động, cho nên người lao động không có trách nhiệm, không quan tâm đến quản lý sử dụng tài sản doanh nghiệp, tình trạng tham nhũng tiêu cực trong doanh nghiệp trở nên phổ biến
Vì thế việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả gây lãng phí nguồn lực quốc gia, sang hình thức công ty cổ phần hay tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp và
Trang 30nền kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, là đầu tàu trong phát triển kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như của cả nước Trong những năm qua, thành phố đã có những bước tiến ấn tượng về phát triển kinh tế - xã hội, đã phát huy được những lợi thế so sánh và đóng góp quan
trọng trong sự phát triển chung của kinh tế cả nước Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương duy nhất có tới 17 Tổng công ty hoạt động theo mô hình công
ty mẹ, công ty con (Tổng công ty, công ty) Để góp phần đưa kinh tế - xã hội của thành phố tăng trưởng cao, bền vững trong thời gian tới, việc tái cơ cấu kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh là một nhu cầu thiết yếu, nhằm tập trung các nguồn lực, phát triển kinh tế với tốc độ cao và ổn định, hiệu quả và bền vững, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Làm việc với thành phố Hồ Chi Minh về tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố, ngày 27/5/2014, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đề nghị thành phố đẩy nhanh hơn nữa việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và mong rằng thành phố đi đầu cả nước trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Là một trong sáu chương trình đột phá về kinh tế - văn hóa - xã hội gắn với tái cấu trúc kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh, chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế đã góp phần tích cực, quan
trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX đề ra Hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đang chỉ đạo các giải pháp đẩy nhanh tiến độ, quyết tâm thực hiện cổ phần hóa xong 30 doanh nghiệp nhà nước trên tổng số 77 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trong giai đoạn 2014-2015
Trang 311.3 Kinh nghiệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên
1.3.1 Kinh nghiệm cuả Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu thí điểm cổ phần hoá những năm 1980, họ đã gặt hái được một số kinh nghiệm đáng chú ý Trung Quốc tận dụng triệt để được thời cơ của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại bằng cách cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là thực hiện việc đa nguyên hóa, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước khống chế cổ phần Các công ty cổ phần của Trung Quốc ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng
Trung Quốc đã thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước một cách sâu rộng bằng cách xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến sự vận hành của doanh nghiệp
Thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà trước đây, Nhà nước luôn giữ vai trò độc quyền, để hình thành nên kết cấu đa dạng về quyền sở hữu tài sản trong nội bộ doanh nghiệp, tối ưu hóa kết cấu quản trị doanh nghiệp Đây là lợi ích căn bản và lâu dài nhất của việc cải cách, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Sự thành công của cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc hiệu quả hơn so với Việt Nam là vì Trung Quốc đã đi khá xa chúng ta trên nhiều phương diện quan trọng như tỷ phần kinh tế của khu vực công trên nền kinh tế quốc gia, số doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn được cổ phần hóa tại Trung Quốc cũng diễn ra sớm hơn, bắt đầu từ năm 1998 và điều này mới chỉ xảy ra rất gần đây tại Việt Nam Ngoài ra, định chế tài chính quan trọng hỗ trợ cho sự thành công của chương trình cổ phần hóa ở Trung Quốc là thị trường chứng khoán ở Trung Quốc cũng phát triển sớm và ổn định hơn ở Việt Nam, hiện chiếm khoảng 40% tổng sản phẩm quốc gia, trong khi đó thị trường chứng khoán ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ, chưa ổn định
Trang 321.3.2 Một số nước khác
Tại mỗi nước khác nhau được hình thành bằng các con đường khác nhau và
mức độ cũng khác nhau cụ thể như sau:
Bán các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, kể cả các doanh nghiệp Nhà nước đất, rừng, tài nguyên thuộc về sở hữu của Nhà nước Điển hình phương thức này là
lại lợi ích thiết thực cho các thành viên trong doanh nghiệp đó là cho các thành viên trong doanh nghiệp đó và xã hội
Dù còn nhiều khác biệt song các bước tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở hầu hết các nước thuộc khu vực này đều có những nét tương đồng
Lập kế hoạch cổ phần hoá bao gồm: Đánh giá thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp, đề xuất loại hình mà doanh nghiệp thích hợp
Xem xét các khía cạnh luật pháp những văn bản luật nào liên quan trực tiếp đến loại hình hoạt động của doanh nghiệp Các hợp đồng mà xí nghiệp đã đăng ký thực hiện chúng đến đâu vấn đề tổ chức và quản lý sản xuất cả trước và sau khi cổ
phần hoá Các quan hệ công việc, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới hợp đồng công
việc Các vấn đề về vốn kể cả vốn cố định và vốn lưu động, những khoản tín dụng nguồn vốn và khả năng, năng lực sản xuất của doanh nghiệp và các vấn đề liên quan
Vấn đề cuối cùng là về thuế và vấn đề tài chính cần xử lý doanh nghiệp đã giải quyết đến đâu và còn những vướng mắc gì
Trang 331.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới
Sự phát triển ồ ạt doanh nghiệp Nhà nước và không xác định được quy mô
hợp lý của khu vực này là một gánh nặng cho kế hoạch đầu tư, ở nhiều nước điều này vượt quá sức chịu đựng của nhiều nền kinh tế Bởi vậy cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là điều không thể tránh khỏi
Để tiến hành cổ phần hoá có hiệu quả ở các nước hầu hết người ta lập các ủy ban cơ quan chuyên trách quốc gia, cơ quan đó phải gồm những người được giao
thực quyền
Hình thức cổ phần hoá rất phong phú cách làm nhiều nước rất mềm dẻo dễ
chấp nhận trong điều kiện có nhiều giới chức còn e ngại hoặc chống đối Những bài
học kinh nghiệm có thể rút ra từ việc nghiên cứu cổ phần hoá ở các nước trên thế giới để có thể vận dụng vào quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là:
Cổ phần hoá phải được nghiên cứu toàn diện Nó không phải là mục đích tự thân mà là một bộ phận trong một chương trình cải cách rộng lớn hơn Nhằm thúc đẩy bố trí tốt hơn các nguồn lực, khuyến khích cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, phát triển thị trường vốn
- Việc nghiên cứu thiếu thận trọng các phương án lựa chọn trước khi hành động có thể dẫn đến những sai sót tốn kém nhiều, chương trình bán xí nghiệp mới chỉ chú trọng đến hiệu quả thu hồi trước mắt nhưng lại chưa quan tâm tìm cách bảo đảm tài chính lâu dài
- Trong trường hợp thị trường vốn chưa phát triển thậm chí còn yếu kém thì việc cổ phần hoá cần phải thận trọng và phải cụ thể hoá trong chủ trương bán một
phần tài sản, điều kiện tài chính là tiên quyết, nếu không trong tình trạng nền kinh tế
sẽ bất thường Nhiều nước đã thu hẹp thị trường tài sản của mình bằng cách giới hạn hoặc loại trừ sự tham gia của người nước ngoài xây dựng một chiến lược cổ
phần hoá và phân loại xí nghiệp quốc doanh là bước cấn thiết để làm sáng tỏ mục tiêu và quan điểm của Đảng và Nhà nước
Trang 34- Việc cổ phần hoá yêu cầu phải có các cán bộ có trình độ quản lý một chương trình cổ phần hoá là công việc phức tạp trong khi các quan chức Chính phủ chưa có đầy đủ các năng lực cần thiết Mặt khác Nhà nước thường ở thế yếu trong thương lượng các xí nghiệp không hấp dẫn, lại thiếu thông tin, thiếu kinh nghiệm trong việc bán tài sản Trong những trường hợp như vậy thường thấy là tài sản bị đánh giá thấp hơn giá trị thực tế của nó Cuối cùng điều cần phải có là sự công khai
và lòng tin tưởng của quần chúng đối với chương trình cổ phần hoá
Trang 35K ết luận chương 1
Sau khi nghiên cứu lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp nhà nước và cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, tác giả rút ra
- Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một hình thức chuyển hóa doanh nghiệp nhà nước từ một chủ sỡ hữu là nhà nước sang các doanh nghiệp có nhiều chủ sỡ hữu dưới hình thức các công ty cổ phần Thực chất đó là quá trình bao
gồm hàng loạt các biện pháp về kinh tế, tổ chức cả về vĩ mô và vi mô tác động vào doanh nghiệp nhà nước, chuyển chúng thành công ty cổ phần
- Vì vậy, tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là một việc làm thiết yếu, là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và cũng là một đòi
hỏi khách quan để chuyển sang nền kinh tế thị trường dựa trên các động lực của thị trường và vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước, tạo ra một mô hình hữu hiệu, đáp ứng các yêu cầu kinh doanh hiện đại Đây thật sự là một xu hướng khách quan trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
- Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước khi tiến hành tái cơ cấu kinh tế ở một số nước trên thế giới, từ đó rút ra những bài học sinh động, quý giá cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố
Hồ Chí Minh Đây là cơ sở để đi vào phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 36C hương 2:
2.1 Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh 2.1.1 Tổng quan về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của cả nước
Sau chiến tranh thế giới thứ II, khu vực doanh nghiệp nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới phát triển rất nhanh chóng và chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế mỗi quốc gia Nhưng đến những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, khu vực doanh nghiệp nhà nước ở hầu hết các quốc gia đã bộc lộ những hạn chế,
yếu kém, nhất là về hiệu quả kinh tế
Khu vực doanh nghiệp nhà nước nắm đại bộ phận tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và công nghệ của toàn xã hội, song sức sinh lợi của đồng vốn bỏ ra luôn
thấp hơn so với khu vực kinh tế khác Trong khi đó, nhà nước lại phải chi những khoản lớn cho khu vực doanh nghiệp nhà nước
Vì vậy, chính phủ nhiều nước đã tiến hành cải cách và cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước làm cho nó năng động và hoạt động hiệu quả hơn Nhưng
mỗi quốc gia có bước đi và mức độ thực hiện khác nhau Chẳng hạn, như chính phủ các nước Anh và Pháp đã tiến hành tư nhân hóa đồng loạt khu vực doanh nghiệp nhà nước thông qua hình thức bán doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân và cho phá sản Cùng với quá trình tư nhân hóa thì chính phủ Tây Ban Nha lại áp dụng cả các
biện pháp sáp nhập và giải thể các doanh nghiệp nhà nước Vào những năm cuối
thập niên 80 và đầu thập niên 90, khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên
Xô tan rã, thì quá trình tư nhân hóa hàng loạt doanh nghiệp nhà nước cũng đã diễn
ra tại các nước này Trên thực tế, quá trình ấy chưa hẳn đã đem lại hiệu quả cao, mà ngược lại, những cú "sốc" đối với người lao động và nền kinh tế đã gây hậu quả khá nặng nề về mặt xã hội
Đối với nước ta, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đa dạng hóa sở hữu thông qua chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp
Trang 37nhà nước mà trọng tâm là cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước cũng được xác định là một chủ trương lớn đã thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội Song chúng ta có cách làm riêng, từng bước ổn định
và vững chắc; đồng thời, giải quyết thỏa đáng quyền lợi cho người lao động Điều này nói lên bản chất ưu việt của chế độ ta, cổ phần hóa nhưng không làm tăng thêm
số người thất nghiệp Vậy bối cảnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước của cả nước nói chung, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua ra sao và
những vấn đề đặt ra đối với cổ phần hóa trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước như thế nào
Quá trình này được tiến hành từ năm 1992 cho đến nay, có thể chia làm 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (1992-1996)
Trên cơ sở đánh giá kết quả sau gần 5 năm đổi mới từ 1986, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/1990 về chủ trương nghiên
cứu làm thử mô hình chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần và quyết định số 202 ngày 8/6/1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành
chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thí điểm cổ phần hóa Kết quả là có 5 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa
Ở giai đoạn thí điểm, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã không đạt được
những kết quả như mong đợi, tốc độ cổ phần hóa quá chậm và còn rất nhiều những vướng mắc khó khăn cần được tháo gỡ, rút kinh nghiệm
Giai đoạn 2: Giai đoạn thí điểm mở rộng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (1996-1998)
Đây là giai đoạn vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp khi cổ phần hóa Với kinh nghiệm sau 6 năm tiến hành thí điểm
cổ phần hóa và trước nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp nhà nước, ngày 7/5/1996 chính phủ đã chủ trương mở rộng cổ phần hóa bằng nghị định 28/CP về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, với những quy định
rõ ràng, đầy đủ và cụ thể hơn về việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành
Trang 38công ty cổ phần Tinh thần của nghị định 28/CP là chọn những doanh nghiệp mà nhà nước thấy không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn đầu tư làm đối tượng áp
dụng
Sau đó, nghị định của chính phủ số 25/CP ngày 26/3/1997 sửa đổi, bổ sung
một số điều của nghị định số 28/CP ngày 7-5-1996 về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần cho phép các doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng
trở xuống thì các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện cổ phần hoá trên cơ sở nghị định số 28/CP
Kết quả sau 2 năm thực hiện, tính đến tháng 6/1998 cả nước đã tiến hành cổ
phần hóa được 25 doanh nghiệp nhà nước thuộc 2 bộ, 11 địa phương và 2 Tổng công ty tiến hành cổ phần hóa thành công với tổng số vốn điều lệ tại thời điểm cổ phần hóa là 243,042 tỷ đồng, trong đó có 6 doanh nghiệp trên 10 tỷ đồng (chiếm 20,8%)
Nhìn chung, ở giai đoạn này, có khá nhiều vướng mắc như phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi cho doanh nghiệp và người lao động sau cổ
phần hóa đây chính là những rào cản bước đầu làm chậm tiến trình cổ phần hóa, tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan thì quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này đã đạt được những kết quả khả quan Đánh
dấu của giai đoạn này là sự ra đời của các Tổng công ty nhà nước hoạt động theo
mô hình mới và phân biệt rõ hai loại hình doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích
Giai đoạn 3: Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (1998-2000)
Trên cơ sở những kết quả bước đầu của giai đoạn mở rộng cổ phần hóa, ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần cùng với chỉ thị 20/CT-TTg ngày 21/4/1998 của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước
Từ 1992 đến 2000, có 558 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa
Giai đoạn 4: Giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước quyết liệt (2001-2010)
Trang 39T ừ 2001-2007: Thực hiện nghị quyết Trung ương 3, khoá IX (8/2001) về
Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
đã xác định là phải kiên quyết điều chỉnh để doanh nghiệp có cơ cấu hợp lý và cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước được xác định là khâu tạo ra những chuyển biến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Thủ tướng Chính
phủ ban hành chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 8/2/2002 về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước và nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty
cổ phần, nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần Ở thời kỳ 2004-2007, việc chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được coi là xương sống của công cuộc đổi mới về kinh tế Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc ban hành nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần
Từ 2001-2007 được gọi là thời kỳ “bùng nổ” cổ phần hoá với mức bình quân
1 năm rất cao (đã cổ phần hoá được 3.273 doanh nghiệp), đặc biệt là thời kỳ
2003-2006 (cổ phần hóa 2.649 doanh nghiệp), phản ánh xu hướng kinh tế thị trường tương đối rõ nét sau khi có Luật Doanh nghiệp và chuẩn bị cho việc mở cửa, hội
nhập sâu, rộng hơn khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Cùng với bùng nổ cổ phần hoá là sự lớn mạnh của khu vực ngoài nhà nước cả về thị phần cả về số lượng doanh nghiệp, số lao động, lượng vốn, tiêu thụ; vừa khai thác được các nguồn lực của xã hội, vừa phù hợp với việc chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường
T ừ 2008-2010: tiến độ thực hiện bị chậm lại với sự ảnh hưởng của các yếu tố
là một số giám đốc doanh nghiệp nhà nước còn lo ngại mình sẽ bị mất hoặc giảm quyền khi doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần; lạm phát năm cao năm thấp, làm cho giá cả không phản ánh thực chất tài sản của doanh nghiệp nhà nước; một số
vấn đề về thể chế, chính sách còn thiếu nhất quán, nhất là về vai trò của nhà nước
và kinh tế nhà nước trong kinh tế thị trường, quyền sở hữu đất đai, giá cả một số
Trang 40mặt hàng và dịch vụ công thiết yếu chưa tạo được sự huy động nguồn lực cho phát triển
Với quá trình đổi mới, cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã được điều chỉnh
hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, hiệu quả hoạt động được nâng cao, góp phần không nhỏ vào thành tựu phát triển chung của đất nước Tuy nhiên, trong tình hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được phát triển, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nền kinh tế nhiều thành phần ngày càng năng động, đa dạng hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước với vai trò của mình cần được sắp xếp, tái cơ cấu và nâng cao hiệu
quả mạnh mẽ hơn
Hình 2.1: Số lượng doanh nghiệp nhà nước cả nước cổ phần hóa từ 1996-2010
Ngu ồn: Tổng hợp từ VNC quản lý kinh tế TW - Trung tâm thông tin-tư liệu
Giai đoạn 5: Giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cơ
c ấu doanh nghiệp nhà nước (từ 2011 đến nay)
Triển khai thực hiện các Kết luận của Trung ương, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các nghị quyết, nghị định, quyết định và chỉ thị liên quan đến tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt “Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh
tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015”, Quyết định số 1826/QĐ-TTg ngày