Lý do chọn đề tài nghiên cứu V ề mặt học thuật, có khá nhiều các nghiên cứu đề cập tới cấu trúc vốn của doanh nghiệp, chẳng hạn như: Học thuyết MM -Modigliani và Miller 1958,lý thuyết
Trang 11
TÓM TẮT
Mục đích của luận văn là kiểm định tác động của định thời điểm thị trường đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam Mẫu nghiên cứu bao gồm 103 doanh nghiệp niêm yết phát hành ra công chúng lần đầu trên sàn HOSE giai đoạn 2008 đến 2012 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng theo nghiên cứu của Aydogan Alti (2006) thực hiện hồi quy Fixed effect để xem xét
mối tương quan giữa biến giả thời điểm thị trường HOT tới tỷ lệ đòn bẩy và sự thay đổi của tỷ lệ đòn bẩy Kết quả cho thấy định thời điểm thị trường không tác động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
Trang 22
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
V ề mặt học thuật, có khá nhiều các nghiên cứu đề cập tới cấu trúc vốn của
doanh nghiệp, chẳng hạn như: Học thuyết MM -Modigliani và Miller (1958),lý thuyết về sự đánh đổi cấu trúc vốn-Castanias (1983) , lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Myers và Majluf (1984), lý thuyết cơ cấu vốn dựa trên chi phí đại diện được đề cập đến đầu tiên trong một nghiên cứu của Fama và Miller năm (1972), lý thuyết về tập trung vào hệ thống phân cấp các quyết định tài chính của Pinegar và Wilbritch (1989)…Đặc biệt trong những năm gần đây lý thuyết về thời điểm thị trường (Market timing) trở thành một nhánh nghiên cứu khá mới mẻ trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp và đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các nhà
quản trị vì tính thống nhất và chắc chắn của lý thuyết này
Đồng thời cũng có khá nhiều các kết luận thực nghiệm trái chiều nhau từ
việc ứng dụng lý thuyết này và đã tạo ra nhiều tranh cãi đặc biệt là đối với lý thuyết
cấu trúc vốn truyền thống Lý thuyết thời điểm thị trường cho rằng, nhà quản trị tận dụng lợi thế về thông tin nội bộ doanh nghiệp, dựa trên sai lệch giá thị trường so với giá trị thực của cổ phần, sẽ tiến hành điều chỉnh thời điểm phát hành vốn cổ phần
Từ đó, các nỗ lực điều chỉnh thời điểm phát hành chứng khoán trong quá khứ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cấu trúc vốn hiện tại Vì thế lý thuyết thời điểm thị trường vẫn còn nguyên “sức nóng”, tiếp tục thu hút các nhà nghiên cứu tìm hiểu và phát triển nó về mặt lý luận cũng như thực nghiệm
Trên th ực tiễn diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam: (i) Giai đoạn
2000 đến 2006: Số lượng doanh nghiệp niêm yết còn khá khiêm tốn và hoạt động huy động vốn thông qua phát hành cổ phần mới còn ít và chưa nhận được sự quan tâm của công chúng (ii) Giai đoạn 2006 đến 2007: Cùng với sự phát triển sôi động
của thị trường chứng khoán, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ và thành công, thu hút được nhiều vốn huy động cho
Trang 33
doanh nghiệp (iii) Giai đoạn 2008 đến nay: Thị trường chứng khoán suy giảm hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp diễn ra trầm lắng và có nhiều thất bại
Như vậy về mặt hiện tượng chúng ta có thể thấy thành công của các đợt phát hành chào bán cổ phiếu ra công chúng, huy động vốn phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm thị trường của TTCK Việt Nam là đang sôi động, tăng trưởng hay ảm đạm, suy giảm Đồng thời những diến biến huy động vốn, phát hành cổ phiếu mới của các doanh nghiệp niêm yết cũng khá phù hợp với lý luận, nhận định về định thời điểm
thị trường mà các nhà nghiên cứu như: Graham - Harvey (2001), Hovakimian (2001), Malcolm Baker (2002), Jeffrey Wurgler (2002) đã đề cập ở trên
Từ những vấn đề về lý luận định thời điểm thị trường cũng như thực tiễn của các doanh nghiệp niêm yết tại TTCK Việt Nam trong thời gian qua đã khiến tác giả
nảy sinh các câu hỏi nghiên cứu và mong muốn tìm hiểu kỹ lưỡng về vấn đề này
Xuất phát từ nhận thức đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tác động của định thời điểm
th ị trường lên cấu trúc vốn doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” làm đề tài tốt
nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài
M ục tiêu chung: Phân tích ảnh hưởng của định thời điểm thị trường tới cấu
trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu này thì cần phải trả lời các câu hỏi nghiên c ứu sau:
(Q1) Thị trường sôi động có ảnh hưởng tới quan điểm xác định thời điểm thị trường của doanh nghiệp hay không ?
(Q2) Tác động ngắn hạn của hành vi định thời điểm thị trường lên cấu trúc
vốn như thế nào?
(Q3) Tác động kéo dài của hành vi xác định thời điểm thị trường lên cấu trúc
vốn như thế nào ?
Trang 44
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Được xác định là 103 doanh niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
Th ời gian: Khoảng thời gian được chọn nghiên cứu của đề tài là từ 2008 đến
hết 2012
1.4 Khái quát phương pháp nghiên cứu
-Nghiên cứu dựa trên tổng hợp các lý thuyết, nghiên cứu trước đây về định
thời điểm thị trường,ảnh hưởng của hành vi định thời điểm thị trường đến cấu trúc
vốn của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
- Trình tự nghiên cứu có thể tóm lược qua khung nghiên cứu sau :
Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu tác động của định thời điểm thị trường lên cấu
trúc vốn doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
Ghi chú: Chi ti ết phương pháp nghiên cứu của đề tài sẽ được trình bày tại chương 3 của luận văn
Các mục tiêu nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu về định
thời điểm thị trường và cấu trúc vốn
Xây dựng mô hình nghiên cứu cho
Trang 55
- Số liệu sử dụng trong nghiên cứu là số liệu thứ cấp bao gồm các số liệu tài chính của các doanh nghiệp đang niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh được thu thập từ một số nguồn chính như: Báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết; đặc biệt là thông qua các website sau: Cafef.vn, Stox.vn, Cophieu68.vn, Vietstock.vn và website của các doanh nghiệp nghiên cứu
- Dữ liệu được tổng hợp thông qua phần mềm Excel sau đó được xử lý bằng phần mềm Eviews 6.0 để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra Một số kỹ thuật phân tích được sử dụng trong mô hình: (1) Thống kê mô tả dữ liệu; (2) Hồi quy ước lượng các tác động bằng mô hình tác động cố định; (3) Kiểm định sự phù hợp của
mô hình; (4) Kiểm định các giả thiết thống kê về hệ số tác động, về đa cộng tuyến,
về phương sai sai số thay đổi, về tương quan chuỗi
1.5 Điểm mới của đề tài so với các nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu là một trong số ít các nghiên cứu tại Việt Nam nghiên cứu ảnh hưởng của định thời điểm thị trường tới cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết thông qua việc xem xét hoạt động phát hành lần đầu ra công chúng
Điểm khác so với các nghiên cứu trước đây tại Việt nam như Ngô Thanh Trà (2013) Lê Minh Cúc Quỳnh (2013) là tác giả đưa vào mô hình hồi quy thêm biến độc lập -chi phí nghiên cứu phát triển /tổng tài sản để kiểm định ảnh hưởng của nó
tới biến phụ thuộc và cho thấy chi phí nghiên cứu phát triển có tác động ngược chiều đến tỷ lệ đòn bẩy
1.6 Cấu trúc bài nghiên cứu
Kết cấu của luận văn bao gồm 5 chương như sau:
- Chương 1:Giới thiệu
- Chương 2: Tổng quan về định thời điểm thị trường và cấu trúc vốn DN
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận
Trang 6H ọc thuyết MM – Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt nguồn từ bài viết của
Modigliani và Miller (1958) với tên gọi là học thuyết MM Theo MM, trong điều
kiện thị trường vốn hoàn hảo , quyết định tài trợ không ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp Lập luận này có vẻ trái với những gì mà các giám đốc tài chính đang làm với cấu trúc vốn của doanh nghiệp mình nhằm tìm kiếm một sự gia tăng trong giá trị doanh nghiệp nhưng lại đúng trong những giả định cụ thể mà hai ông đưa ra
Những giả định của MM:
Không có các chi phí giao dịch khi mua bán chứng khoán
Có đủ số người mua và người bán trên thị trường , vì vậy không có nhà đầu
tư riêng lẻ nào có ảnh hưởng lớn đối với giá cả chứng khoán
Có sẵn thông tin liên quan cho tất các nhà đầu tư và không phải mất tiền
Tất cả các nhà đầu tư đều có thể vay và cho vay với cùng lãi suất Đây là một
giả định quan trọng của lý thuyết MM Với giả định này thì doanh nghiệp không còn lợi thế hơn cá nhân nhà đầu tư trong việc sử dụng đòn bẩy nữa , doanh nghiệp có sử dụng đòn bẩy hay không không có gì quan trọng vì đây
là việc mà nhà đầu tư nào cũng làm được
Tất cả các nhà đầu tư đều hợp lý và có kỳ vọng thuần nhất về lợi nhuận của các doanh nghiệp Giả định này một phần có cơ sở từ giả định thông tin có
sẵn và không phải mất tiền , các nhà đầu tư tiếp cận với thông tin như nhau
và giả định tất cả họ đều có suy nghĩ và tính toán hợp lý như nhau sẽ cho ra
kết quả giống nhau khi nhận định về một công ty nào đó
Trang 7Trở lại với lý thuyết cấu trúc vốn của MM , hai ông cho rằng giá trị doanh nghiệp được xác định bằng các tài sản thực chứ không phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành Như vậy, khi quyết định đầu tư được cố định thì việc quyết định cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp Lập luận của MM cũng giống với quy tắc bảo tồn giá trị : Khi ta chia tài sản của công ty ra thành nhiều
phần thì tổng tài sản vẫn không đổi
Hai ông cũng đã chứng minh lý thuyết của mình bằng lập luận mua bán song hành
Nếu có một số nhà đầu tư nào đó định giá cao hơn cho doanh nghiệp có vay nợ thì
với thị trường hoàn hảo, không có chi phí giao dịch thì nhà đầu tư sẽ tận dụng cơ hội này để bán cổ phiếu của công ty đang được định giá cao kia đi và thiết lập một
cấu trúc vốn có nợ của riêng họ để hưởng lợi từ chênh lệch giá này
Như vậy, với những giả định của thị trường hoàn hảo, theo MM, cấu trúc vốn hoàn toàn độc lập với giá trị doanh nghiệp
Năm 1963 MM đã công bố nghiên cứu tiếp theo của mình trên tạp chí kinh tế Mỹ xem xét yếu tố thuế trong vấn đề cấu trúc vốn Hai ông thừa nhận rằng với thuế thu nhập doanh nghiệp , việc sử dụng nợ sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp Bởi vì khi vay nợ , chi phí lãi vay được loại ra khỏi thu nhập tính thuế một cách hợp pháp, do
đó một phần thu nhập của doanh nghiệp thay vì đóng thuế được chuyển cho các nhà đầu tư
Phương trình giá trị doanh nghiệp được viết lại là :
Giá trị = Giá trị doanh nghiệp nếu được tài + Hiện giá
Doanh nghiệp trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần (tấm chắn thuế)
Trang 88
Khoản gia tăng từ hiện giá tấm chắn thuế tỷ lệ thuận với sự gia tăng nợ vay trong
cấu trúc vốn khuyến khích các doanh nghiệp vay nhiều hơn Theo đó, một cấu trúc
vốn với 100% nợ sẽ là cấu trúc vốn tối ưu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Tuy nhiên , điều này là không thể xảy ra trong điều kiện thực tế vì khi nợ vay tăng lên sẽ làm xuất hiện nhiều chi phí khác bù trừ với lợi ích của tấm chắn thuế, từ đó làm giảm giá trị của doanh nghiệp Đó là tiền đề cho sự ra đời của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn cho rằng cấu trúc vốn của doanh nghiệp được xác
định dựa trên sự đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế (do lãi vay được khấu trừ thuế) và chi phí kiệt quệ tài chính Khi doanh nghiệp vay càng nhiều nợ thì lợi ích
của tấm chắn thuế càng lớn nhưng chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng theo Vì vậy, chủ nợ cũng sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi cao hơn , làm gia tăng chi phí sử dụng
vốn của doanh nghiệp Do đó, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp được xác định
bằng cách gia tăng lượng nợ vay cho tới khi lợi ích biên từ tấm chắn thuế cân bằng với chi phí biên của kiệt quệ tài chính ( Castanias, 1983)
Altman (1984) cũng đã so sánh hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính với hiện giá
của lợi ích từ tấm chắn thuế tác động lên đòn bẩy và kết luận rằng tác động của chi phí kiệt quệ tài chính lên giá trị của doanh nghiệp và cấu trúc vốn là rất quan trọng Theo đó, ta có công thức xác định giá trị doanh nghiệp như sau :
Giá trị = Giá trị doanh nghiệp nếu được + Hiện giá - Hiện giá doanh nghiệp tài trợ hoàn toàn bằng tấm chắn thuế chi phí kiệt
Trang 9sản để huy động tiền mặt bằng cổ phiếu nhằm mục đích tái cân đối cấu trúc vốn
Tuy nhiên , hạn chế của thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là không thể giải thích được
tại sao một số công ty rất thành công trong ngành lại có rất ít nợ và không dùng tấm chắn thuế mặc dù thu nhập của họ rất cao Chính hạn chế này là tiền đề để lý thuyết
trật tự phân hạng ra đời
Lý thuy ết trật tự phân hạng đã được phát triển bởi Myers và Majluf (1984), hai ông cho rằng các công ty phải phát hành cổ phiếu phổ thông để huy động tiền mặt để thực hiện một cơ hội đầu tư có giá trị Lý thuyết trật tự phân hạng dựa trên cơ sở thông tin bất cân xứng để đề xuất một trật tự tài trợ theo một trình tự
ưu tiên trước bằng vốn nội bộ (lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư), rồi đến phát hành nợ
và sau cùng là phát hành vốn cổ phần mới Quy luật của trật tự phân hạng:
(1) Nguồn vốn nội bộ là ưu tiên trước nhất trong việc lựa chọn nguồn tài trợ
của doanh nghiệp Lý do là các phương án tài trợ khác có quá nhiều rắc rối và tốn kém.Thị trường luôn hoài nghi các quyết định tài trợ của doanh nghiệp và luôn
muốn tìm hiểu thông điệp ẩn chứa đằng sau nó Nếu sử dụng nguồn lợi nhuận giữ
lại của mình, các giám đốc tài chính không phải tìm cách thuyết phục hay giải thích lựa chọn của mình đối với các nhà đầu tư bên ngoài
(2) Ưu tiên thứ hai là phát hành chứng khoán nợ Mặc dù một sự kết hợp
Trang 1010
giữa nợ và vốn cổ phần luôn làm cho các trái chủ tiềm năng lo lắng, nhưng nếu như
bỏ qua được mối e ngại về khả năng kiệt quệ tài chính, các nhà cho vay sẽ luôn
nhận được một khoản chi trả cố định Sự hấp dẫn này không phải là không lớn, do vậy đối với các giám đốc tài chính, có vẻ như các trái chủ tiềm năng là những
người dễ thuyết phục hơn so với các cổ đông tương lai
(3) Phát hành vốn cổ phần là lựa chọn cuối cùng trong “trật tự phân hạng” Nói chung, chi phí phát hành các loại chứng khoán khác nhau là lý do giúp giải thích hàm ý của trật tự phân hạng Phát hành cổ phiếu thường có chi phí “đắt” nhất,
bởi vì doanh nghiệp phải cung cấp rất nhiều các thông tin về dự án đầu tư để thuyết phục các cổ đông đồng ý trả một khoản tiền hợp lý, trong khi các thông tin này
thực sự rất quý giá trong một môi trường kinh doanh cạnh tranh.Vay nợ cũng buộc các doanh nghiệp tiết lộ một ít thông tin, nhưng rõ ràng là có giới hạn hơn
Theo lý thuyết trật tự phân hạng, không có một hỗn hợp nợ và vốn cổ phần
mục tiêu nào được xác định rõ Myers và Majluf (1984) cho rằng khó có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu bởi vì vốn chủ ở hữu lần lượt được xếp ở vị trí đầu tiên (lợi nhuận giữ lại) và cuối cùng (phát hành cổ phần mới) trong “trật tự phân hạng” Một tỷ lệ nợ quan sát được của mỗi doanh nghiệp phản ánh các nhu cầu tích lũy của doanh nghiệp đối với tài trợ từ bên ngoài Lý thuyết này giúp giải thích vì sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lời nhiều hơn thường có tỷ lệ nợ vay thấp hơn (điều mà lý thuyết đánh đổi không giải thích được) Lý giải đơn giản
lý thuyết này cung cấp là bởi vì không phải doanh nghiệp đó có tỷ lệ nợ mục tiêu
thấp, mà vì họ không cần tiền bên ngoài Các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi ít hơn thì vay nợ nhiều hơn vì họ không có đủ nguồn vốn nội bộ cho các dự án đầu tư,
và vì nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài
Nhìn chung đối với lý thuyết này, tác động từ tấm chắn thuế được xếp hạng thứ hai Một doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao đồng thời có nhiều cơ hội tăng trưởng sẽ dùng nợ vay từ bên ngoài nhiều hơn, bởi vì lúc này nguồn lợi nhuận giữ
lại mặc dù nhiều nhưng không đủ để tài trợ cho tất cả Ngược lại, lý thuyết trật tự phân hạng tỏ ra kém thành công hơn trong việc giải thích các khác biệt trong tỷ lệ
nợ giữa các ngành
Trang 1111
Lý thuy ết cơ cấu vốn dựa trên chi phí đại diện được đề cập đến đầu tiên trong m ột nghiên cứu của Fama và Miller năm 1972 Về sau, lý thuyết chi phí đại
diện được phát triển sâu hơn trong nghiên cứu của Jensen và Meckling năm 1976
và sau đó là nghiên cứu của Jensen năm1986 Lý thuyết này nhìn nhận sự tồn tại
của một cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp, bởi vì sự có mặt của chi phí đại diện
Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn của cổ đông và trái chủ, và phi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn giữa cổ đông doanh nghiệp và nhà quản lý còn gọi là chi phí đại diện của vốn chủ sở hữu
(i) Chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn của cổ đông và trái chủ: Kiệt
quệ tài chính không chỉ làm phát sinh chi phí phá sản cho công ty Khi một công ty
sử dụng nợ thì giữa các cổ đông và trái chủ sẽ có sự mâu thuẫn về mặt lợi ích Trong trường hợp công ty đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính, các cổ đông,
những người nắm quyền điều hành công ty, có thể sẽ thực hiện một vài hành vi sau đây để tranh giành lợi ích đối với các chủ nợ của họ Các hành vi này sẽ làm phát sinh chi phí, bởi vì chúng gây tổn hại đến giá trị doanh nghiệp
Chi ến lược chuyển dịch rủi ro: Khi công ty lâm vào tình trạng kiệt quệ tài
chính, các cổ đông có thể sẽ lựa chọn thực hiện các dự án mang lại lợi ích cho họ nhiều hơn, bất kể dự án đó có thể làm giảm sút giá trị trái phiếu và giá trị doanh nghiệp
Chi ến lược từ chối đóng góp vốn cổ phần :Các cổ đông cũng sẽ từ chối góp
vốn để tài trợ cho một dự án mới nếu như việc thực hiện dự án mới không mang lại thu nhập nhiều hơn phần vốn góp thêm của họ, cho dù điều đó giúp gia tăng giá trị
của công ty và giúp công ty thoát khỏi tình trạng kiệt quệ tài chính Như vậy, vì việc đầu tư này mang lại lợi ích cho trái chủ nhiều hơn, các cổ đông sẽ không chấp
nhận thực hiện dự án này Công ty bị mất đi một cơ hội đầu tư vào dự án mới để làm tăng thu nhập do các cổ đông từ chối góp thêm vốn
Và m ột số chiến lược khác :Các cổ đông còn nhiều hành vi “ích kỷ” khác để
bảo vệ quyền lợi của mình khi công ty đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính
Ví dụ như họ sẽ thực hiện chia cổ tức (bằng tiền mặt) bất chấp dòng tiền nhàn rỗi
của công ty không đủ để tài trợ cho các dự án mới Giá trị thị trường của cổ phần sẽ
Trang 1212
sụt giảm khi việc chia cổ tức được thực hiện, nhưng không vấn đề gì phải bận tâm
cả, bởi vì sự sụt giảm này ít hơn so với giá trị cổ tức nhận được Hoặc là các cổ đông sẽ sử dụng các thủ thuật kế toán để che dấu tình hình kinh doanh, tạo ra những hy vọng mới về sự phục hồi,…nhằm kéo dài thời gian đi đến sự phá sản
(ii) Chi phí đại diện vốn cổ phần: Lý thuyết này nói chung hàm ý rằng một
cá nhân sẽ làm việc cho chính anh ta tốt hơn so với anh ta làm thuê cho người khác Đồng thời, anh ta cũng sẽ làm tốt hơn cho công ty nếu như phần vốn góp của anh ta trong công ty đó nhiều hơn Một nhà quản lý có sở hữu cổ phần của công ty sẽ làm
việc nỗ lực hơn so với một nhà quản lý không là cổ đông của công ty, bởi vì lợi ích của công ty gắn liền với lợi ích của cổ đông
Mặc khác, nếu như một người nắm quyền quản lý của công ty, người này có thể sử dụng hoặc chuyển một phần nguồn lực của doanh nghiệp để phục vụ cho lợi ích riêng của mình…Trong trường hợp này, nếu như tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà
quản lý tại công ty càng nhiều, các khoản chi phí này sẽ càng ít, bởi vì phần gánh chịu của anh ta nhiều hơn Hay thậm chí rằng, nếu như anh ta không sở hữu cổ
phần của công ty, các cổ đông cũng khó an lòng về việc các dự án có NPV <0 được đảm bảo chắc chắn sẽ không triển khai
Nói chung, nếu như phần trăm sở hữu của các nhà quản lý trong công ty càng thấp, những chi phí mà họ tạo ra càng nhiều (làm ít giờ hơn, tiêu dùng hoang phí hơn, sử dụng tài sản của công ty để phục vụ cho lợi ích của cá nhân họ nhiều hơn, hay thậm chí là chấp nhận những dự án tồi,…) Cuối cùng, chính các cổ đông khác sẽ là người gánh chịu thiệt hại này Những chi phí này được gọi là chi phí đại
diện của chủ sở hữu và cách tốt để hạn chế các khoản chi phí này là tăng cường số
cổ phần của các nhà quản lý này tại chính doanh nghiệp
Như vậy, lý thuyết chi phí đại diện giải thích vì sao các công ty có quy mô lớn, có dòng tiền tự do càng nhiều thường có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ hơn
trong cơ cấu vốn của mình Giải thích của lý thuyết này, là do các điều khoản trong
hợp đồng vay nợ sẽ kiểm soát được phần nào các hành vi của các nhà quản lý không hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Trang 1313
2.2 Giới thiệu về thuyết định thời điểm thị trường
Lý luận về định thời điểm thị trường đã được phát triển đầu tiên bởi Taggart (1977), sau đó được tiếp tục phát triển bởi nhiều tác giả như Graham - Harvey (2001), Hovakimian (2001)…Về cơ bản lý luận về thời điểm thị trường ủng hộ quan điểm:
(i) Các nhà quản trị có thể huy động vốn trên thị trường nợ hay thị trường
vốn bất kì khi xét thấy thời điểm thị trường đó là có triển vọng và điều kiện thuận
lợi
(ii) Các nhà quản trị nên linh hoạt trong việc chào bán cổ phần ra công chúng, họ có thể hoãn phát hành nếu thị trường định giá cổ phần công ty quá thấp hoặc phát hành khối lượng lớn để nhận lấy thặng dư vốn nếu thị trường đang định giá cổ phần công ty ở mức cao
Theo Leslie M Masonson (2004)1 thì định thời điểm thị trường là trường phái đầu tư dựa vào việc xác định thời điểm “đúng” của thị trường Một cách nôm
na những cá nhân, tổ chức (gọi chung là nhà đầu tư) ứng dụng đầu tư theo trường phái này sẽ tìm ra đúng khoảnh khắc tốt của thị trường Khoảnh khắc mà giá sẽ diễn
ra xu hướng họ mong muốn Những nhà đầu tư theo phương pháp này một cách thuần túy cho rằng, họ không cần phải có kỹ năng chọn lựa cổ phiếu, vì theo họ, khi
thị trường bước vào thời điểm tốt, giá của hầu hết các loại đều tốt và vì thế tạo ra lợi nhuận khả quan cho nhà đầu tư2 Đồng thời các doanh nghiệp nếu phát hành ra công chúng (bán chứng khoán) thì cũng sẽ có nhiều thuận lợi, thu hút được nguồn vốn
chủ sở hữu với giá cao (có thặng dư vốn) với chi phí vốn rất thấp, từ đó cải thiện hoặc nâng cao tỷ lệ Vốn chủ sở hữu trên Nợ, nâng cao sức mạnh tài chính
Trang 1414
Hơn nữa các nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian gần đây cho thấy định
thời điểm thị trường phát hành cổ phần mới là một yếu tố quan trọng nhất trong quyết định chính sách tài chính tổng thể của doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu như: Rajan và Zingales (1995), Kamath’s (1997), Korajczyk, Lucas, McDonald (1990), Loughran và Ritter (1995), Graham – Harvey (2001), Hovakimian (2001), Malcolm Baker (2002), Jeffrey Wurgler (2002) … đã lần lượt kế thừa và phát triển các luận điểm về định thời điểm thị trường và được tổng hợp như sau:
(1) Doanh nghiệp có xu hướng phát hành cổ phần mới thay cho nợ khi thị trường định giá cao giá trị doanh nghiệp và có khuynh hướng mua lại cổ phần khi thị trường định giá thấp giá trị doanh nghiệp Một vài nhà nghiên cứu như Baker và Wurgler (2002), Teoh, Welch, và Wong (1998) còn cho thấy rằng các nhà đầu tư có
xu hướng quá lạc quan, các dự báo của các nhà phân tích thường cao hơn so với
thực tế và các nhà quản lí thường bóp méo thu nhập bằng các thủ thuật kế toán trước khi công bố
(2) Cổ phiếu được định giá cao hay thấp là một nhân tố chủ chốt trong quyết định về vấn đề lựa chọn nguồn tài trợ của doanh nghiệp
(3) Chính sách chi trả cổ tức ổn định trong dài hạn sẽ hỗ trợ cho việc phát hành mới thành công giúp quyết định tài chính tổng thể hướng tới cấu trúc vốn tối
ưu
(4) Nếu các cơ hội tăng trưởng độc lập với giá cả trong quá khứ, các doanh nghiệp được định giá cao sẽ có thu nhập ở mức trung bình khi phát hành vốn cổ
phần, các doanh nghiệp bị định giá thấp sẽ có thu nhập vượt trên mức trung bình, vì
họ chờ đợi giá tăng trước khi phát hành cổ phần Do đó, nếu xét trung bình thì các thu nhập bất thường sẽ dương khi phát hành cổ phần
(5) Những phân tích về khả năng sinh lợi và tín hiệu thị trường qua việc phát hành cổ phần khuyến khích doanh nghiệp phát hành khi thị trường có triển vọng tốt
về khả năng sinh lợi của công ty
Trang 15tố quyết định khác của chính sách tài chính
Ritter (1991) cũng như Loughran và Ritter (1995) đã chứng minh được rằng IPOs và việc phát hành cổ phần các lần sau làm cho những chỉ số đại diện hoạt động kém hiệu quả trong dài hạn Và tình trạng hoạt động kém hiệu quả càng rõ hơn trong lần IPO trên thị trường sôi động (Ritter (1991)) và cả IPOs của doanh nghiệp
mà theo các nhà phân tích ban đầu dự đoán sẽ đạt mức tăng trưởng cao (Rajan and Servaes (1997))3
Khảo sát của Graham and Harvey (2001) cũng chỉ rõ định thời điểm thị trường là mối quan tâm lớn của các nhà quản trị Giám đốc tài chính thừa nhận việc xem xét lựa chọn thời điểm thị trường đóng vai trò rất quan trọng đối với việc đưa
ra các quyết định tài chính
Baker and Wurgler (2002) đã tập trung nghiên cứu về sự kéo dài của hiệu ứng thời điểm thị trường, đồng thời xem xét hiệu ứng của thời điểm thị trường bằng cách chỉ xoay quanh tỷ số giữa giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp trong quá khứ Đặc biệt, phương pháp xác định thời điểm thị trường của hai ông là xem xét tỷ lệ giá trị thị trường so với giá trị sổ sách doanh nghiệp trong quá
khứ với bình quân trọng số là mức độ tài trợ bên ngoài Kết quả nghiên cứu Baker and Wurgler (2002) chỉ ra: (1) Đối tượng xác định thời điểm thị trường chính là
những doanh nghiệp có lịch sử huy động vốn ở mức cao
3 Những phát hiện này làm rõ thêm điểm khác biệt trên thị trường sôi động và ảm đạm, từ đó nắm bắt được ảnh hưởng của việc lựa chọn thời điểm thị trường
Trang 1616
(2) Tác động kéo dài của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn có thể trên 10 năm Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu của Baker và Wurgler (2002) cũng có nhiều hạn chế do hai ông đứng trên quan điểm doanh nghiệp quyết định cấu trúc vốn căn cứ vào giá trị doanh nghiệp của mình và hiệu ứng ảnh hưởng của định thời điểm thị trường Tuy nhiên trên thực tế còn khá nhiều biến số kiểm soát khác có ảnh hưởng tới cấu trúc vốn và vấn đề này làm cho các kết quả nghiên cứu có thể bị sai lệch đặc biệt là trong dài hạn
Trong nghiên cứu gần đây, Kayhan và Titman (2006) đã cho thấy tỷ lệ giá trị trường trên giá trị sổ sách của doanh nghiệp trong quá khứ có ảnh hưởng (gây nhiễu thông tin) cho tỷ số này ở thời điểm hiện tại Cụ thể, Kayhan và Titman phân tích nguồn tài chính bên ngoài đã làm tăng tỷ lệ bình quân giá thị trường trên sổ sách và
sự đồng biến (hiệp phương sai) giữa tỷ lệ này với mức thâm hụt tài chính Nó chứng
tỏ kết quả kéo dài của Baker và Wurgler (2002) là do sự tiếp tục tồn tại của tỷ lệ trung bình giá thị trường trên giá sổ sách chứ không phải do sự đồng biến giữa tỷ lệ này với mức thâm hụt tài chính
Hennessy và Whited (2004) phát triển một hướng nhận xét khác, họ tập trung
đi vào giải thích ảnh hưởng của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn trong quá khứ Hennessy và Whited (2004) đã chỉ ra một mô hình cân bằng động không có cơ hội xác định thời điểm thị trường khả năng sẽ tạo mối liên kết được quan sát thực nghiệm giữa tỷ lệ giá trị thị trường trên sổ sách trong quá khứ với tỷ lệ này trong hiện tại Theo mô hình của họ, một doanh nghiệp có giá trị thị trường trên giá trị sổ sách cao sẽ tăng trưởng nhờ cấp vốn cổ phần, giúp doanh nghiệp khắc phục được tình trạng căng thẳng về tài chính Khi đạt được lợi nhuận, doanh nghiệp này thấy việc tăng tỷ lệ đòn bẩy không hấp dẫn họ vì lý do thuế thu nhập và do vậy sẽ tăng cường sử dụng công cụ nợ
Tương tự như vậy, Leary và Roberts (2005) cũng lập luận chống lại hiệu ứng kéo dài của định thời điểm thị trường tới cấu trúc vốn bằng cách đưa ra bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp luôn cố gắng cân bằng lại tỷ lệ đòn bẩy để duy trì trong một phạm vi tối ưu
Trang 17Bruinshoofd
and Haan
(2012)
So sánh các nhân tố thể
hiện sự tác động của định
thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn ở các công ty Mỹ, Anh và Châu
Âu
Các công ty ở
Mỹ, Anh và các nước Châu
Âu trong giai đoạn 1991-
2001
Phân tích hồi quy , ước lượng GLS
Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá
trị sổ sách lịch
sử và đòn bẩy tài chính có tương quan nghịch biến trong trường
hợp các công
ty Mỹ , và không có tương quan nghịch ở các công ty Anh
và Châu Âu
Bo và cộng sự
(2011)
Kiểm định sự phù hợp của các lý thuyết tiêu chuẩn nền tảng trong việc
giải thích động
cơ thúc đẩy các phát hành
Các SEOs ở Trung Quốc trong giai đoạn 1994-2008
Dùng dữ liệu
bảng, mô hình ảnh hưởng cố định “fixed effect”
Các SEOs ở Trung Quốc
hầu hết chịu sự thúc đẩy bởi định thời điểm
thị trường
Trang 1818
chứng khoán
bổ sung ( SEOs)
Doukas và
cộng sự (2011)
Kiểm định
những động cơ của việc phát hành nợ trong thời kỳ thị trường nợ “sôi động” và tác động của nó lên cấu trúc
vốn
Tất cả các phát hành trài phiếu trong giai đoạn 1970-2006 tại
Mỹ
Phân tích hồi quy
Định thời điểm
thị trường và bất cân xứng thông tin là lý
do quan trọng khiến các công
ty phát hành nhiều nợ trên
thời kỳ thị trường nợ “sôi động hơn là
thời kỳ thị trường nợ “ảm đạm”
Bougatef và
Chichti (2010)
Xem xét mối tương quan
giữa định thời điểm thị trường và quyết định lựa chọn cấu trúc
vốn
Các công ty niêm yết của Tunisia và Pháp trong giai đoạn 2000-2008
Hồi quy dữ liệu bảng với
‘pooled OLS”
và mô hình ảnh hưởng cố định “ fixed effects”
Các công ty có
xu hướng phát hành vốn cổ
phần khi giá
thị trường cao hơn giá trị sổ sách Tác động
của định thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn tồn tại
Trang 1919
trên 8 năm Hertzel và Li
(2010)
Kiểm mức độ tác động của định thời điểm
thị trường thúc đẩy quyết định phát hành vốn
cổ phần
Các công ty
Mỹ phát các SEOs trong giai đoạn 1970-2004
Phương pháp phân tách tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách
Cả định thời điểm thị trường và dự trù ngân sách vốn đều ảnh hưởng tới quyết định phát hành vốn
bổ sung
Ni và cộng sự
(2010)
Mô hình hóa khoảng thời gian giữa các
lần IPO và các SEO sau đó
Các công ty niêm yết Trung Quốc trong giai đoạn 2001-2006
Sử dụng phân tích khoảng thời gian với ước lượng tham số và phi tham số
Định thời điểm
thị trường được xem là quan trọng khi các công ty Trung Quốc
thực hiện tài
trợ vốn cổ phần
Huang and
Ritter (2009)
Nghiên cứu mẫu hình chuỗi thời gian của quyết định tài trợ từ nguồn vốn bên ngoài
Các công ty
Mỹ giai đoạn 1963-2001
Hồi Quy OLS , Hồi quy
“pooled nested logit”
Các giá trị trong quá khứ
của chi phí vốn cổ phần có ảnh hưởng lâu dài lên cấu trúc vốn của công ty thông qua ảnh hưởng
Trang 2020
của chúng lên quyết định tài
trợ trong quá khứ
Nguyen và
Boubaker
(2009)
Kiểm định ảnh hưởng của lý thuyết định thời điểm thị trường lên sự
lựa chọn cấu trúc vốn
25 công ty niêm yết của Tunisia trong giai đoạn 1998-2006
Phân tích hồi quy với ước lượng GLS,
mô hình ảnh hưởng cố định
“fixed effects”
và ảnh hưởng
ngẫn nhiên
“random effects”
Tỷ lệ đòn bẩy của các công
ty chịu ảnh hưởng ngắn
hạn của giá trị
thị trường của công ty ở hiện
tại.Trong dài
hạn các tác động của định
thời điểm thị trường là không hiện
hữu
Elliott và cộng
sự (2008)
Kiểm định lý thuyết thời điểm thị trường của cấu trúc vốn sử dụng mô hình định giá thu
nhập
9172 đợt phát hành chứng khoán của các công ty Mỹ trong giai đoạn 1980-1999
Mô hình định giá thu nhập
Việc định giá sai thị trường
vốn cổ phần đóng vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn
chứng khoán
Weisbach
Kiểm định động cơ của
17.226 IPOs
và 13.142
Phân tích hồi Các phát hành
chứng khoán
Trang 2121
(2008) các phát hành
ra công chúng
SEOs từ 38 nước trong giai đoạn 1990-2003
để tài trợ cho đầu tư và gia tăng giá trị công ty khi nó được định giá cao bởi thị trường
Các công ty thuộc các nước G7 trong giai đoạn 1993-
2005
Hồi quy MacBeth
Fama-Mối quan hệ nghịch biến giữa tỷ lệ giá
trị thị trường trên giá trị sổ sách và đòn
bẩy tài chính được tìm thấy , tuy nhiên, mối quan hệ này thì không phải
là các kết quả
của các nỗ lực định thời điểm
thị trường vốn
cổ phần Tian và cộng
sự (2008)
Nghiên cứu
giả thuyết định thời điểm thị trường của cấu
Các công ty niêm yết ở Thâm Quyến (Trung Quốc )
Dựa vào phương pháp của Kayhan và Titman (2007)
Định thời điểm
thị trường không có tác động lâu dài
Trang 22Karan (2008)
Kiểm định lý thuyết định
thời điểm thị trường
IPOs trong giai đoạn 1998-2004 của các công ty tại
12 nước mới nổi Châu Á và Đông Âu
Phân tích hồi quy chéo sử
dụng biến giả thị trường “sôi động” và “ảm đạm”
Lý thuyết định
thời điểm thị trường thì có thể sử dụng để
giải thích cho cấu trúc vốn ở các nước , ngoại trừ Trung Quốc và Indonesia
De Bie và
Haan (2007)
Kiểm định thời điểm thị trường và ảnh hưởng của nó lên cấu trúc
vốn
Các công ty niêm yết ở Hà Lan trong giai đoạn 1983-
1997
phương pháp
của Baker và Wurgler
(2002) và Kayhan và Titman (2007)
Có bằng chứng
của định thời điểm thị trường , tuy nhiên , tác động của định thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn là không lâu dài Cohen và cộng
sự (2007)
Phân tích quyết định tài
trợ bằng việc gia tăng vốn
cổ phần
Các công ty niêm yết trên
thị trường
chứng khoán Athens phát hành chứng
Mô hình dồn tích, mô hình
hồi quy chéo
Các nhà quản
lý định thời điể phát hành
vốn cổ phần
của họ để tận
dụng lợi thế
Trang 2323
khoán trong năm 1999
của sự định giá cao nhất thời
của thị trường chứng khoán
Elliott và cộng
sự (2007)
Kiểm định tác động của định
thời điểm thị trường lên phương pháp tài trợ cho thâm hụt tài chính ở các công ty
Các công ty
Mỹ trong giai đoạn 1971-
2006
Mô hình định giá thu nhập
Định thời điểm thị trường giải thích một phần quan trọng sự thay đổi trong các loại chứng khoán được sử
dụng để tài trợ cho thâm hụt tài chính
Gaud và cộng
sự (2007)
Kiểm định các yếu tố tác động đến các chính sách cấu trúc vốn
5.000 công ty niêm yết tại 13
quốc gia Châu
Âu
Ước lượng logit, Hồi quy Tobit
Cả định thời điểm thị trường và yếu
tố quản lý ảnh hưởng đến sự
lựa chọn cấu trúc vốn của công ty
Kayhan và
Titnan (2007)
Kiểm định cách thức mà các dòng tiền, chi phì đầu tư
2003
Mô hình điều
chỉnh từng
phần , ước lượng hai giai đoạn
Trang 2424
hưởng đến tỷ
lệ nợ
trúc vốn có xu hướng di chuyển theo hướng tỷ lệ nợ
mục tiêu theo thời gian
Alti (2006) Kiểm định tác
động đến câú trúc vốn của định thời điểm thị trường
Các IPO trong giai đoạn 1971-1999 tại
Mỹ
Hồi quy chéo với biến giả thị trường “sôi động” mô hình hiệu ứng cố định
Các công ty IPO trên thị trường sôi động phát hành nhiều cổ
phần hơn và
giảm tỷ lệ đòn bẩy so với thị trường ảm đạm Tác động của định thời điểm thị trường lên đòn bẩy tài chính hoàn toàn biến mất vào cuối năm thứ hai sau IPO
Henderson Kiểm định
mức độ ảnh hưởng đến các công ty của
Các phát hành
chứng khoán quốc tế trong năm 1990-
Hồi quy Macbeth, hồi quy pooled OLS “ region
Fama-Các phát hành
nợ quốc tế phổ biến hơn phát hành cổ
Trang 2525
các quốc gia khác nhau lên
sự lựa chọn nguồn vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến sự
lựa chọn của các công ty đó
2001 specific fixed
effects
phiếu Sự cân
nhắc định thời điểm là quan trọng đối với các phát hành chứng khoán ở
hầu hết các
quốc gia Hovakimian Đánh giá lại
các kết luận của lý thuyết Baker và Wurgler
(2002) về hành
vi của công ty
và chính sách cấu trúc vốn
Các công ty
Mỹ trong giai đoạn 1983-
2002
Hồi quy OLS
và hồi quy probit
Tầm quan
trọng của tỷ lệ giá trị thị trường trên giá
trị sổ sách trung bình lịch
sử trong hồi quy đòn bẩy thì không xuất phát từ việc định thời điểm thị trường vốn
cổ phần trong quá khứ
Mendes và
cộng sự (2005)
Kiểm định lý thuyết định
thời điểm thị trường
Các công ty niêm yết ở Brazil trong giai đoạn 1997-2002
Hồi quy chéo Lý thuyết định
thời điểm thị trường không được xác minh tại thị trường Brazil
Trang 26Phương pháp điều tra
Các nhà quản
lý định giá
việc cân nhắc phòng ngừa và
Trang 2727
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp xác định thời điểm thị trường
Về mặt thực nghiệm đã có hai giả thuyết về việc xác định thời điểm thị trường sôi động và ảm đạm đã xuất hiện trong các nghiên cứu trước đây
- Giả thuyết đầu tiên là do có sự định giá sai tại các thời điểm khác nhau trong thị trường chứng khoán của nhà đầu tư Do vậy doanh nghiệp sẽ tận dụng cơ
hội để bán cổ phiếu tại mức giá quá cao và sử dụng vốn cổ chủ sở hữu nhiều hơn mức bình thường Theo cách giải thích này, thị trường sôi động là giai đoạn giá thị trường cao so với giá cơ sở, dẫn đến một loạt sự phát hành cổ phần
- Giả thuyết thứ hai được dựa trên vấn đề lựa chọn theo hướng bất lợi, nghiên cứu của Myers và Majluf (1984), Lucas và McDonald (1990), Korajczyk, Lucas, McDonald (1992) đã cho rằng việc định thời điểm phát hành cổ phần của doanh nghiệp dựa trên chi phí lựa chọn theo hướng bất lợi và tại các khoảng thời gian khác nhau Theo giải thuyết này, nhà đầu tư và quản trị rất sẽ có những cơ hội xác định thời điểm thị trường xuất hiện khi mức độ thông tin bất đối xứng giữa các bên thay đổi Và vì thế thị trường sôi động tương ứng với thời điểm chi phí lựa chọn theo hướng bất lợi thấp
Như vậy việc xác định thị trường sôi động hay ảm đạm là không rõ ràng trong việc nắm bắt được đầy đủ thời điểm thị trường Trong khi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn thời điểm của doanh nghiệp Ngoài ra nhiều nghiên cứu còn cho rằng việc xác định thời điểm thị trường rất quan trọng ngay cả đối với việc phát hành cổ phiếu trên thị trường ảm đạm, vì thế hoạt động trên thị trường sôi động chỉ là một khía cạnh của việc định thời điểm thị trường
Từ việc xem xét các nghiên cứu trước đây, tác giả đã định hình phương pháp xác định thời điểm thị trường sôi động và ảm đạm dựa trên cơ sở khối lượng IPO
của doanh nghiệp niêm yết hàng tháng Cụ thể với mẫu 103 doanh nghiệp IPO và niêm yết tại HOSE trong giai đoạn từ 2008 đến 2012 Để phân tích sự biến đổi theo
Trang 28Hình 3.1: Minh h ọa việc xác định thời điểm thị trường sôi động và ảm đạm
Ngu ồn: Diễn giải của tác giả theo nghiên cứu của Aydogan Alti (2006)
Tóm lại để trả lời các câu hỏi nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu
của đề tài đã xác lập, tác giả đã ứng dụng phương pháp xác định thời điểm thị trường của Aydogan Alti (2006)4 với 2 trạng thái thời điểm thị trường diễn biến như sau: (1) Thị trường sôi động là thị trường có các đợt IPO năm trên đường trung vị
với giá trị quy ước là 1 và (2) Thị trường ảm đạm là thị trường có các đợt IPO nằm bên dưới đường trung vị với giá trị quy ước là 0 (3) Biến HOT được quy ước là biến thời điểm thị trường với 2 giá trị 0 và 1
3.2 Các biến nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu
Theo Aydogan Alti (2006) hoạt động IPO tương tự như một phòng thí nghiệm tự nhiên khá hiệu quả cho việc xác định thời điểm thị trường Do vậy việc
chỉ tập trung vào một sự kiện tài chính duy nhất đó là IPO sẽ thuận tiện, dễ dàng và
4 THE JOURNAL OF FINANCE•VOL LXI, NO 4• AUGUST 2006
Thị trường sôi động
Thị trường ảm đạm Đường trung vị
Đường cong trung bình trượt 3 tháng
Trang 2929
hiệu quả cho việc nghiên cứu các ảnh hưởng của thời điểm thị trường lên cấu trúc
vốn của doanh nghiệp
Và vì thế trong nghiên cứu của mình, tác giả chủ yếu sử dụng các dữ liệu thứ cấp được lấy từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đã IPO và niêm yết trong giai đoạn 2008 đến 2012 để phục vụ cho công việc nghiên cứu Phần lớn các dữ liệu
từ báo cáo của 110 doanh nghiệp niêm yết HOSE được lấy thông qua các website: vietstock.vn; cophieu68.com, cafef.vn …các website của các doanh nghiệp nghiên
cứu theo nguyên tắc :
- Có đầy đủ thông tin để thu thập trong giai đoạn 2008 - 2012
- Không thuộc nhóm ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
- Được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, thuận tiện
- Các giá trị d/A,e/A, RE/A, EBITDA/A, INV/A, vượt quá 1 là sẽ bị loại trong thu thập theo Aydogan Alti (2006)
Với các nguyên tắc trên, chọn 110 doanh nghiệp được chọn thì có 7 doanh nghiệp bị loại do không đáp ứng được yêu cầu có đầy đủ thông tin từ năm 2008 đến năm 2012 Như vậy, dữ liệu mẫu nghiên cứu có 103 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn
Vì biến HOT được định nghĩa theo tháng phát hành và dữ liệu cho các công
ty năm 2006, 2007 theo mẫu nghiên cứu không đầy đủ nên tác giả chọn mẫu nghiên
cứu trong giai đoạn 2008-2012 để đáp ứng các yêu cầu trên
Các biến cần thu thập nghiên cứu như bên dưới đây và tuân theo các chuẩn quy định về hệ thống báo cáo tài chính của kế toán Việt Nam
1 Tổng nợ phải trả của doanh nghiệp kí hiệu là D
2 Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp kí hiệu là E
3 Tổng tài sản của doanh nghiệp kí hiệu là A
Trang 3030
4 Tỷ lệ đòn bẩy được xác định bằng D/A
D/A= Tổng nợ theo giá trị sổ sách
Tổng tài sản
5 Giá thị trường của doanh nghiệp kí hiệu là M, được tính toán bằng giá
của cổ phiếu niêm yết nhân số lượng cổ phiếu niêm yết
6 Giá trị sổ sách của doanh nghiệp được kí hiệu là B, được tính toán bằng cách lấy A – D, giá trị sổ sách trên cổ phiếu sẽ là (A-D)/ Số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp
7 Tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách được tính và kí hiệu là M/B
8 Nợ ròng là sự thay đổi của tổng nợ theo thời gian (cuối kì trừ đầu kì) d =
Dt – Dt-1
9 Tỷ số nợ ròng trên tài sản là d/A ((Dt– Dt-1 )/A)
10 Lợi nhuận giữ lại ký hiệu là RE (xác định trong bảng cân đối kế toán )
11 Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tài sản được xác định là RE/A
12 Vốn cổ phần ròng là sự thay đổi trong giá trị sổ sách vốn cổ phần trừ lợi nhuận giữ lại trong năm e = Et– Et-1 -RE
13 Tỷ số vốn chủ sở hữu ròng trên tài sản là e/A= (Et – Et-1 -RE)/A
14 Thu nhập trước thuế, khấu hao và lãi vay, kí hiệu EBITDA, được xác định bằng lợi nhuận trước thuế + khấu hao + lãi vay
Trang 3131
17 Tài sản hữu hình (được xác định trong bảng cân đối kế toán phần tài sản
cố định hữu hình) kí hiệu PPE
21 INV: Chi phí đầu tư vào tài sản cố định
22 Tiền mặt và tương đương tiền kí hiệu CASH