dụng là biến đại diện cho chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam.Bằng việc đưa biến giả cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 vào mô hình, bài nghiên cứu đồng thời phân tích tác động của
Trang 1- -
CAO NGỌC HƯỚNG DƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2- -
CAO NGỌC HƯỚNG DƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN THỊ THÙY LINH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “ Mối quan hệ giữa sự biến động
của các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là PGS.TS
Trần Thị Thùy Linh, và chưa từng được công bố trước đây Các số liệu được sử dụng để phân tích, đánh giá trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được tổng hợp
từ những nguồn thông tin đáng tin cậy Nội dung luận văn đảm bảo không sao chép
bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
TP.HCM, ngày tháng năm 2014
Tác giả
CAO NG ỌC HƯỚNG DƯƠNG
Trang 4Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các biểu đồ
TÓM T ẮT 1
Chương 1: GIỚI THIỆU 2
1.1.V ấn đề nghiên cứu 2
1.2.M ục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.2.1.Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2.Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.Phương pháp nghiên cứu 5
1.5.C ấu trúc luận văn 5
Chương 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1.Lý thuy ết nền 6
2.1.1.Lý thuyết thi trường hiệu quả 6
2.1.2.Mô hình định giá tài sản vốn CAPM 6
2.1.3.Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT 7
2.1.4.Các nhân tố kinh tế vĩ mô và cơ chế tác động lên TTCK 9
Trang 52.2.1.Các nghiên cứu thực nghiệm khi sử dụng cách tiếp cận trực tiếp 13
2.2.2.Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng cách tiếp cận khoảnh khắc thứ hai (second moment) 15
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1.D ữ liệu 26
3.2.Mô t ả các biến 26
3.2.1.Biến phụ thuộc 27
3.2.2.Biến độc lập 27
3.2.3.Biến kiểm soát 30
3.3.Mô hình nghiên c ứu 31
3.4.Phương pháp kiểm định 36
3.4.1.Kiểm định tính dừng 36
3.4.2.Kiểm định phần dư 37
Chương 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1.Th ống kê mô tả biến 39
4.2.K ết quả phân tích 42
4.2.1.Kiểm định tính dừng 42
4.2.2.Kết quả mô hình GARCH, EGARCH, TGARCH cho các biến 43
Chương 5: KẾT LUẬN 64
5.1.Các k ết quả nghiên cứu chính 64
5.2.G ợi ý chính sách 65
5.3.H ạn chế của bài nghiên cứu 66
Trang 6Phụ lục 1A: Kết quả phương trình trung bình của mô hình họ ARCH/GARCH không có biến khủng hoảng
Phụ lục 1B: Kết quả phương trình trung bình của mô hình họ ARCH/GARCH có
biến khủng hoảng
Phụ lục 2: Thống kê mô tả phương sai của mô hình EGARCH
Phụ lục 3: Kết quả tìm độ trễ tối ưu cho mô hình VAR
Phụ lục 4: Kết quả mô hình VAR không có điều chỉnh biến khủng hoảng
Phụ lục 5: Kết quả mô hình VAR có điều chỉnh biến khủng hoảng
Phụ lục 6: Kết quả phân rã phương sai
Trang 7- ADF : Augmented Dickey-Fuller – Phương pháp Dickey-Fuller bổ sung
- APT: The arbitrage pricing theory – Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá
- CPI : Consumer Price Index – Chỉ số giá tiêu dùng
- CAPM: Capital asset pricing model – Mô hình định giá tài sản vốn
- EGARCH : Exponential GARCH
- GSO : General Statistics Office – Tổng cục thống kê Việt Nam
- GARCH: Generalised ARCH
- IPI : Industrial Production Index – Chỉ số sản xuất công nghiệp
- IR : Interest rate – Lãi suất
- IFS : International Financial Statistics – Thống kê tài chính quốc tế
- LM test : Larange multiple test – Kiểm định tính ARCH bằng nhân tử Larange
- M2 : Cung tiền mở rộng
- NEER : Nominal Effective Exchange Rate – Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
- NHTW: Ngân hàng Trung ương
- TGARCH : Threshold GARCH
Trang 8ảng 2.1 : Bảng tóm tắt các nhân tố kinh tế vĩ mô đã được sử dụng trong các nghiên
cứu trước
Bảng 3.1 : Mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu
Bảng 4.1 : Bảng thống kê mô tả biến
Bảng 4.2 : Kết quả kiểm định tính dừng của các biến
Bảng 4.3 : Các dạng hàm của phương trình trung bình đối với các mô hình GARCH, EGARCH và TGARCH
Bảng 4.4 : Kết quả ba mô hình GARCH, EGARCH và TGARCH đối với phương trình phương sai có điều kiện
Bảng 4.5 : Kết quả hồi quy của phương trình phương sai có điều kiện của ba mô hình GARCH, EGARCH và TGARCH với sự hiện diện của biến giả khủng hoảng tài chính
Bảng 4.6 : Kết quả chạy mô hình VAR
Bảng 4.7: Kết quả phân rã phương sai
Trang 9Hình 4.1 : Biểu đồ mô tả các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số VNindex trong giai đoạn 2008-2013
Hình 4.2: Hàm phản ứng đẩy của sự biến động tỷ suất sinh lợi chứng khoán trong trường hợp không có biến khủng hoảng
Hình 4.3: Hàm phản ứng đẩy của sự biến động tỷ suất sinh lợi chứng khoán trong trường hợp có biến khủng hoảng
Trang 10dụng là biến đại diện cho chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam.Bằng việc đưa
biến giả cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 vào mô hình, bài nghiên cứu đồng
thời phân tích tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến sự biến động của thị trường chứng khoán và mối quan hệ giữa bất ổn kinh tế vĩ mô và biến động thị trường chứng khoán Dữ liệu phân tích của các biến được lấy theo tháng, trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2013
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khủng hoảng tài chính toàn cầu làm tăng sự biến động trong các nhân tố vĩ mô cũng như thị trường chứng khoán ở Việt Nam Ngoài ra, bài nghiên cứu cho thấy sự biến động của thị trườngchứng khoán chỉ bị ảnh hưởng bởi chính nó, và dường như không chịu tác động từcác biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đựơc lựa chọn nghiên cứu Tuy nhiên,khi biến khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 được thêm vào mô hình thì kết quả cho thấy sự
biến động của thị trường chứng khoán không chỉ bị tác động bởi chính nó mà còn chịu ảnh hưởng của lãi suất, lạm phát, và tỷ giá hối đoái.Chỉ số sản xuất công nghiệp và cung tiền đóng vai trò không quan trọng đến sự biến động của thị trừơng
chứng khoán
T ừ khóa: thị trường chứng khoán, các nhân tố kinh tế vĩ mô, biến động,
ARCH/GARCH, VAR
Trang 11Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Vấn đề nghiên cứu
Mối liên hệ giữa các nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn bởi các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng lớn trong việc xác định dòng tiền của công ty cũng như rủi ro hệ thống toàn thị trường (Arnold và Vurgt, 2006) Từ các lý thuyết kinh điển như lý thuyết thị trường hiệu quả, Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) đã cung
cấp khung lý thuyết nền cho việc nghiên cứu mối quan hệ nhân tố vĩ mô-thị trường
chứng khoán Trong đó, nhấn mạnh rằng các biến kinh tế vĩ mô là nhân tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu thông qua việc ảnh hưởng lên dòng cổ tức kỳ vọng, lãi suất chiết khấu hay cả hai Dòng tiền, thu nhập của doanh nghiệp phụ thuộc vào sức
khỏe của nền kinh tế, vì vậy, với giả sử lãi suất chiết khấu không đổi, những biến động của các nhân tố vĩ mô kéo theo sự biến động của giá cổ phiếu tại thời điểm hiện tại Việc tìm ra được nguyên nhân cụ thể giải thích cho sự biến động của thị trường chứng khoán có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối với những nhà làm chính sách mà còn với các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô và thị trường
chứng khoán trên thế giới hiện nay được chia thành hai xu hướng chính Xu hướng
thứ nhất tập trung nghiên cứu mối liên hệ này một cách trực tiếp (first moment) Cách tiếp cận này được sử dụng từ sớm và đã được nhiều học giả trên thế giới sử
dụng nhưFama (1981), Bodurtha và các cộng sự (1989), Sadorsky (1999), Gunasekarage et al.(2004), Vuyyuri(2005)… Những nghiên cứu này phân tích mối liên hệ trực tiếp giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số chứng khoán hoặc mức sinh
lời cổ tức sử dụng các mô hình kinh tế lượng như mô hình tự hồi quy vecto (VAR),
mô hình vecto hiệu chỉnh sai số (VECM), mô hình đồng liên kết đa biến Dù khác nhau trong việc lựa chọn mô hình kinh tế lượng áp dụng, đa số các nghiên cứu chỉ
ra rằng các biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến giá chứng khoán Trong đó, các biến lãi suất, lạm phát, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp và tỷ giá được đánh
Trang 12giá là có ảnh hưởng quan trọng đến thị trường chứng khoán Xu hướng thứ hai nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán ở khoảnh khắc thứ hai (second moment) Những nghiên cứu này tập trung nghiên cứu
mức độ biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến độ biến động của
thị trường chứng khoán sử dụng các mô hình đo lường mức độ biến động Một số nghiên cứu trên thế giới đi theo hướng nghiên cứu này như Chinzara (2011), Chinzara (2009), Zakaria và Shamsuddin (2012), Cho và Yoo (2011), Choo và các
cộng sự (2011), Adjasi (2009), Arnold và Vrugt (2006), Abugri (2008), Morelli(2002), Beltratti và Morana (2006), Fraser và Power (1997), Liljeblom và Stenius (1997) Ý tưởng cho nghiên cứu này bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết
giữa nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán, bất kỳ cú sốc nào đối với các
biến kinh tế vĩ mô sẽ là một nguồn rủi ro hệ thống, ảnh hưởng đến các danh mục đầu tư cho dù danh mục ấy có được đa dạng hóa đến mức nào Những nghiên cứu thực nghiệm trên cho thấy mối quan hệ giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và
sự biến động của thị trường chứng khoán có kết quả không đồng nhất giữa các thị trường
Tại Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường
chứng khoán đã thu hút được nhiều sự quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu
tập trung theo xu hướng thứ nhất, nghiên cứu trực tiếp mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số VN-index Cách tiếp cận thứ hai gần như chưa được thực
hiện Vì vậy, luận văn này như một bước tiên phong trong việc sử dụng cách tiếp
cận khoảnh khắc thứ hai để nghiên cứu mối quan hệ giữa sự biến động của các nhân
tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả tập trung vào hai mục tiêu chính
như sau:
Trang 13Thứ nhất, bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận định lượng để đo lường mối liên hệ giữa sự biến động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô được lựa chọn và sự biến động của thị trường chứng khoán Các biến vĩ mô được tác giả sử dụng trong bài
viết này bao gồm: lạm phát (biến đại diện là chỉ số giá tiêu dùng), lãi suất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa, cung tiền và chỉ số sản xuất công nghiệp Chỉ số VNindex được tác giả sử dụng là biến đại điện cho chỉ số thị trường chứng khoán
Thứ hai, bài nghiên cứu xem xét liệu cuộc khủng hoảng 2008-2009có tác động lên sự biến động thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như mối liên hệ giữa chúng
1.2.2 Câu h ỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Sự biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến sự biến động của thị trường chứng khoán hay không ?
2 Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009có tác động đến sự biến động
của thị trường chứng khoán và các nhân tố vĩ mô được chọn hay không ?
3 Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 có tác động đến mối quan hệ
giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và thị trường chứngkhoán hay không ?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu mối liên hệ giữa biến động một số nhân tố kinh tế vĩ mô: lãi suất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa, lạm phát, cung tiền M2,
chỉ số sản xuất công nghiệp và thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2013 Đồng thời, thời kỳ khủng hoảng tài chính thế giới 2008-2009 cũng được đưa vào mô hình để đo lường tác động của nó tới sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 141.4 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam, bài nghiên cứu dựa theo nghiên cứu
trước đó của Chinzara (2011) Theo đó, bài nghiên cứu bao gồm hai phần lớn:
Phần 1: Đo lường sự biến động của thị trường chứng khoán (trong bài đo lường bằng biến động của tỷ suất sinh lợi của toàn thị trường) và sự biến động của các biến vĩ mô được chọn Trong phần 1, họ mô hình ARCH/GARCH được sử dụng
để ước lượng những biến động này Biến giả khủng hoảng tài chính 2008-2009 được đưa vào mô hình nhằm xác định ảnh hưởng của nótrực tiếp riêng lên sự biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Sau đó, so sánh giữa các kết quả và chọn lựa ra mô hình tốt nhất để chạy cho phần sau
Phần 2:Kết quả ước lượng đồng thời phương trình trung bình có điều kiện và phương sai có điều kiện của họ mô hình ARCH được sử dụng làm dữ liệu đầu vào cho mô hình VAR, phân tích mối quan hệ nhân quả giữa sự biến động của các nhân
tố kinh tế vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán
1.5 Cấu trúc luận văn
uận văn có bố cục 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 15Chương 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết nền
2.1.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả
Lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Eugene Fama năm 1960, cho rằng thị trường tài chính là hiệu quả khi giá của chứng khoán trên thị trường chứng khoán phản ánh đẩy đủ mọi thông tin đã biết Do vậy, sẽ là logic khi dựa vào các thông tin kinh tế vĩ mô có liên quan để dự đoán được giá chứng khoán trong tương lai
Các hình thái của thị trường hiệu quả bao gồm:
+ Thị trường hiệu quả dạng yếu: Giá cả phản ánh thông tin đã chứa đựng trong hồ
sơ giá cả quá khứ Do vậy, nếu chỉ dựa vào dữ liệu quá khứ, các nhà đầu tư sẽ không thể tạo ra được những siêu tỷ suất sinh lời như mong muốn
+ Thị trường hiệu quả dạng vừa: Giá cả phản ánh không chỉ giá cả quá khứ mà còn
phản ánh tất cả thông tin đã công bố khác Giá cả sẽ điều chỉnh ngay lập tức trước các thông tin kinh tế vĩ mô cũng như các thông tin từ phía công ty công bố
+ Thị trường hiệu quả dạng mạnh: Giá cả phản ánh tất cả các thông tin có thể có được bằng cách phân tích tỉ mỉ về công ty và về nền kinh tế Nếu thu thập được tất
cả các thông tin có tác động đến thị trường chứng khoán thì hoàn toàn có thể dự đoán chính xác giá chứng khoán
2.1.2 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM
Mô hình định giá tài sản vốn CAPM được trình bày bởi William Sharpe (1960), mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận không rủi ro (risk free) cộng
với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán
đó Rủi ro không hệ thống không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có
thể đa dạng hóa danh mục đầu tư để loại bỏ rủi ro này
Trang 16Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có mối quan hệ đồng biến với rủi
ro của chứng khoán đó, tức là nhà đầu tư kỳ vọng những chứng khoán có rủi ro cao
để thu được lợi nhuận cao và ngược lại β là hệ số dùng để đo lường rủi ro chứng khoán Khi đó, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với
hệ số β của nó
Với thị trường tài chính hiệu quả và nhà đầu tư đa đạng hóa danh mục đầu tư sao cho rủi ro không hệ thống không đáng kể, như vậy, còn rủi ro hệ thống ảnh hưởng đến lợi nhuận của cổ phiếu Cổ phiếu nào có β càng lớn thì rủi ro càng cao,
do đó, đòi hỏi lợi nhuận cao để bù đắp rủi ro Theo mô hình CAPM, mối quan hệ
giữa lợi nhuận và rủi ro được thể hiện bởi công thức sau:
R i = R f + (R m – R f )* β i
Trong đó: Rf là lợi nhuận không rủi ro
Rm là lợi nhuận kỳ vọng của thị trường
βi: là hệ số beta của cổ phiếu i
Từ công thức trên ta nhận thấy rằng:
-Beta bằng 0: lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 0 chính là Rf
-Beta bằng 1: lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 1 là Rm
2.1.3 Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT
Khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô lên thị trường chứng khoán, lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT được nhắc tới như một trong
những lý thuyết kinh điển, đặt nền móng cho những nghiên cứu về sau này Mô hình APT đươc trình bày bởi Ross (1976), trong đó cho rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hay yếu tố thị trường Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là một hàm tuyến tính của tập hợp các yếu tố có khả năng xảy ra rủi ro đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán
Trang 17Trong mô hình APT, sự nhạy cảm của chứng khoán với sự thay đổi của mỗi
yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định, ký hiệu β Theo đó, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán được xác định dựa trên phương trình sau:
Ri = α + β i1 F 1 +β i2 F 2 + … +β ik F k +ε i
Trong đó: Ri: tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán i
α: Tỷ suất sinh lợi phi rủi ro
βik: Mức nhạy cảm của chứng khoán i với nhân tố vĩ mô k
Fk: Nhân tố kinh tế vĩ mô
Vấn đề đặt ra là trong rất nhiều những nhân tố kinh tế vĩ mô, nhân tố nào có ảnh hưởng đến giá chứng khoán Về bản chất, thị trường chứng khoán là một trong những hoạt động của nền kinh tế, do đó về mặt lý thuyết sẽ phải chịu tác động hoặc
ít hoặc nhiều, dưới hình thức này hay hình thức khác của nội tại nền kinh tế và các chính sách kinh tế của mỗi quốc gia-thể hiện qua các chỉ số nền kinh tế, các thước
đo hoạt động của nền kinh tế nói chung là các nhân tố kinh tế vĩ mô Việc nghiên
cứu tác động của các nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán thu hút được sự quan tâm của đông đảo các học giả nghiên cứu ở các thị trường chứng khoán khác nhau
Dù khác nhau trong việc lựa chọn mô hình kinh tế lượng áp dụng, đa số các nghiên
cứu chỉ ra rằng những biến kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến giá chứng khoán Trong
đó, những biến lãi suất, lạm phát, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp và tỷ giá được đánh giá là có ảnh hưởng quan trọng trong việc xác định sự biến động của thị
Trang 18trường chứng khoán (Chinzara, 2011) Phần 2.1.4 sau đây bàn luận thêm về cơ chế tác động của các nhân tố điển hình này tới thị trường chứng khoán
2.1.4 Các nhân t ố kinh tế vĩ mô và cơ chế tác động lên thị trường chứng khoán Lãi su ất
Lãi suất là một chỉ số cơ bản của một nền kinh tế Về lý thuyết, mối liên hệ giữa lãi suất và thị trường chứng khoán được thể hiện như sau:
Thứ nhất, lãi suất thấp sẽ không khuyến khích nhà đầu tư gửi tiền vào ngân hàng và nhà đầu tư có thể vay thêm vốn với chi phí thấp hơn trước Nhà đầu tư sẽ phải tìm kiếm các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn, một trong những kênh đầu tư đó là
thị trường chứng khoán Do đó, thị giá cổ phiếu có thể sẽ tăng lên do cầu kéo Ngược lại, khi lãi suất tăng khiến lãi suất ngân hàng trở nên hấp dẫn hơn kinh doanh
chứng khoán, thúc đẩy việc tăng mức gửi tiết kiệm hoặc mua vàng để bảo toàn tiền
vốn của nhà đầu tư, điều này cũng khiến làm thu hẹp dòng tiền đầu tư trên TTCK và
do đó, giá của cổ phiếu sẽ giảm xuống
Thứ hai, lãi suất thấp làm cho các công cụ có lãi suất cố định như trái phiếu
sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn so với cổ phiếu, nhà đầu tư có thể sẽ chuyển từ kênh trái phiếu sang kênh cổ phiếu Dòng tiền chảy vào thị trường cổ phiếu tăng lên sẽ
dẫn tới giá cổ phiếu tăng
Thứ ba, do lãi suất là chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, khi lãi suất tăng thì chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng theo Khi đó, doanh nghiệp hoặc là sẽ cắt giảm,
hạn chế các khoản đầu tư tăng trưởng hoặc là chấp nhận một mức chi phí sử dụng
vốn bình quân tăng lên và như vậy lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, dòng tiền trong tương lai cũng sẽ giảm đi Do đó, giá trị doanh nghiệp sẽ giảm theo và hệ
quả là giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ đi xuống
Tóm lại, lãi suất trên thị trường có mối tương quan nghịch với giá cổ phiếu
Trang 19Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát biểu thị cho sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nó được thể hiện thông qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) CPI tăng ảnh hưởng đến TTCK và giá cổ phiếu thông qua các cơ chế: Chỉ số giá tiêu dùng tăng, doanh nghiệp phải chi nhiều hơn cho chi phí sản xuất Sự gia tăng chi phí nguyên vật liệu, tiền lương nhân công, chi phí sử dụng vốn làm tăng giá bán hàng hoá, đầu ra sản phẩm trở nên khó khăn,
lợi nhuận kinh doanh và cổ tức bị sụt giảm Cổ phiếu của doanh nghiệp trở nên kém
hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư kéo theo sự sụt giảm trong giá cả cổ phiếu đang lưu hành
Cung ti ền mở rộng
Theo lý thuyết, cung tiền có tác động lớn đến sự biến động của thị trường
chứng khoán Đối với chính sách tiền tệ mở rộng, M2 gia tăng thể hiện sự mở rộng
về chính sách tiền tệ nên nguồn cung tiền trên thị trường cũng gia tăng Cả doanh nghiệp và nhà đầu tư có nhiều cơ hội để tiếp cận nguồn vốn Doanh nghiệp dễ dàng vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh nên khả năng tăng thu nhập cũng tăng lên Nhà đầu tư có thêm nguồn vốn để đầu tư nên cầu về chứng khoán sẽ tăng Điều này kích thích dòng tiền chảy vào TTCK làm tăng giá chứng khoán Mặt khác khi cung
tiền M2 tăng, lãi suất trên thị trường tiền tệ sẽ giảm Theo nguyên tắc bình thông nhau giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, lượng tiền nhàn rỗi sẽ dịch chuyển từ
thị trường tiền tệ sang thị trường chứng khoán để nhận được tỉ suất sinh lợi cao
Ngược lại, với chính sách tiền tệ thắt chặt, khi đó cung tiền giảm, lãi suất trên thị trường sẽ tăng Điều này sẽ dẫn tới: làm giảm giá của chứng khoán do làm tăng lãi suất chiết khấu trong các mô hình định giá chứng khoán; làm cho các chứng khoán có thu nhập cố định (trái phiếu) hấp dẫn hơn, làm giảm tính thanh khoản của
cổ phiếu; làm giảm xu hướng vay mượn để đầu tư vào chứng khoán; làm tăng chi phí vận hành doanh nghiệp do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận công ty Những hệ quả trên sẽ dẫn tới dòng tiền chảy vào chứng khoán ít và làm giảm giá chứng
Trang 20khoán.Như vậy, khi cung tiền tăng lên sẽ có tác động làm tăng giá chứng khoán và ngược lại
Ch ỉ số sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp được sử dụng như một thuớc đo về mức độ hoạt động của nền kinh tế, một sự gia tăng trong sản xuất công nghiệp là một báo hiệu cho phát triển kinh tế Theo Tainer (1993) chỉ số này luôn đi theo chu kỳ kinh tế, nó tăng trong thời kỳ phục hồi, bùng nổ kinh tế và giảm trong giai đoạn suy thoái
T ỷ giá hối đoái
Tác động của tỷ giá đến giá chứng khoán đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà kinh tế học, các nhà làm chính sách và nhà đầu tư trong một thời gian dài Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, có rất ít các rào cản dòng vốn, do đó tạo nhiều cơ hội đầu tư cho các tập đoàn đa quốc gia Các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường thường phải gánh chịu ba rủi ro sau: độ nhạy cảm kinh tế, nhạy cảm chuyển đổi, và nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá Do đó, nhu cầu tìm
hiểu mối quan hệ giữa tỷ giá và giá chứng khoán để phòng ngừa cho rủi ro danh
mục ngày càng được quan tâm nhiều hơn Phần lớn các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tỷ giá được thực hiện ở các nước đang phát triển
và đã phát triển Rõ ràng, những thay đổi của tỷ giá có thể tác động đến dòng tiền tương lai bằng cách thay đổi lợi ích và điều kiện cạnh tranh của công ty trong thị trường sản phẩm và thị trường các yếu tố đầu vào hoặc làm thay đổi giá trị tiền tệ
nội tệ của dòng tiền từ hoạt động nước ngoài Kết quả sẽ đưa đến lời hoặc lỗ khi các tài sản và nợ ngắn hạn của các công ty con ở nước ngoài được chuyển đổi sang đồng tiền nội tệ
Mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tỷ giá được xem xét bởi nhiều tác giả trong ba thập niên qua nhưng lại cho thấy nhiều kết quả khác nhau và trong vài trường hợp, kết quả lại không đáng tin cậy Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và thu
nhập từ chứng khoán có thể là đồng biến hay nghịch biến phụ thuộc xem nước đó là trội về xuất khẩu hay trội về nhập khẩu Cụ thể, khi đồng nội tệ yếu đi (tỷ giá giữa
Trang 21đồng nội tệ và ngoại tệ tăng lên) thì hàng hóa trong nước rẻ hơn một cách tương đối
so với hàng hóa ở nước ngoài, dẫn đến xuất khẩu cao hơn đồng thời doanh nghiệp
có lợi nhuận cao từ hoạt động kinh doanh làm cho giá chứng khoán cao hơn trong
ngắn hạn Dornbusch và Fischertranh luận rằng tỷ giá hối đoái ảnh huởng đến tính
cạnh tranh của doanh nghiệp Một quốc gia chuyên xuất khẩu sẽ tạo áp lực tăng tỷ giá (giảm giá nội tệ) làm cho tính cạnh tranh của xuất khẩu tăng, tạo một ảnh hưởng dương lên giá chứng khoán Còn đối với một quốc gia nhập khẩu, một sụt giảm trong tỷ giá hối đoái (hay nội tệ lên giá) lại làm giảm chi phí yếu tố đầu vào tạo ra ảnh hưởng dương lên giá chứng khoán.Mối quan hệ này cũng được đề cập trong bài nghiên cứu của Solnick (1987) Ông cho rằng một sự tăng giá đồng tiền nội tệ là
một tin xấu cho các công ty nội địa, bởi vì nó sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, trong khi đó một sự giảm giá đồng tiền thì nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trong ngắn hạn
Lý thuyết danh mục đầu tư của Markowitz lại cho rằng danh mục đầu tư cần
phải được xem xét lại khi tỷ giá hối đoái tăng hay giảm Chẳng hạn, một sự sụt giá
của VND sẽ dẫn đến việc một danh mục đầu tư của nước ngoài chuyển từ các tài sản nội địa, chẳng hạn chứng khoán, sang các tài sản bên ngoài do sự giảm giá đồng
tiền đã làm giảm thu nhập của các nhà đầu tư nước ngoài khi những dòng tiền này được chuyển đổi sang đồng tiền chính quốc, sự rút lui của các nhà đầu tư nước ngoài có thể gây ra một sụt giảm trong giá chứng khoán Tuy nhiên, đối với các nhà đầu tư trong nước, sự giảm giá của VND làm cho chứng khoán nước ngoài trở nên đắt, tạo ra một hiệu ứng thay thế sang các tài sản nội địa, do đó, làm tăng giá chứng khoán
Trang 222.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ
mô t ới thị trường chứng khoán
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm khi sử dụng cách tiếp cận trực tiếp (first moment)
Khởi nguồn từ những lý thuyết nền về thị trường chứng khoán nêu trên, xu hướng nghiên cứu mối liên hệ của các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán bằng cách tiếp cận trực tiếp đã được rất nhiều các nhà kinh tế học Fama (1981), Bodurtha và các cộng sự (1989), Sadorsky (1999), Gunasekarage và các cộng sự(2004), Vuyyuri (2005)… áp dụng bằng các ước lượng chỉ số chứng khoán hay tỷ suất sinh lợi chứng khoán dựa trên các chỉ số kinh tế vĩ mô Những ảnh hưởng cụ thể của các nhân tố kinh tế vĩ mô: lãi suất, lạm phát, cung tiền, chỉ số sản
xuất công nghiệp và tỷ giá lên thị trường chứng khoán được trình bày cụ thể sau
đây
Lãi suất
Về thực nghiệm, nhân tố lãi suất là nhân tố được nhiều tác giả lựa chọn khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Cụ thể: Gan và các cộng sự (2006) khi nghiên cứu tại New Zealand đã phát hiện ra mối quan hệ nghịch giữa lãi suất với giá cổ phiếu.Kết quả này cũng phù hợp với những nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác như: Bulmash và Trivoli (1991) nghiên cứu tại
Mỹ, Mukherjee và Naka (1995) đối với Nhật Bản Nghiên cứu gần đây nhất của Tunali (2010) tại Thổ Nhĩ Kỳ, Tangjitprom(2011) tại Thái an cũng cho thấy một
mối tương quan nghịch giữa lãi suất và tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu
Tỷ lệ lạm phát
Kinh nghiệm từ TTCK các nước phát triển cho thấy lạm phát và giá cổ phiếu
có tương quan nghịch Cùng với quan điểm, Nelson (1976), Jaffe và Mandelker (1976), Fama và Schwert (1977), Chen và các cộng sự (1986) cũng đã nhấn mạnh đến mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và giá chứng khoán Một số nghiên cứu gần đây của Humpe và Macmillan (2007), Mohammad và các cộng sự (2009) cũng
Trang 23đã chỉ ra rằng lạm phát có tác động nghịch chiều đến giá cổ phiếu.Tuy nhiên, tại nghiên cứu của Tunali (2010) lại cho thấy một mối tương quan thuận giữa lạm phát
và tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu Trong khi đó, Tangjitprom (2011) lại không tìm
thấy sự liên quan nào giữa lạm phát và tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán Thái Lan và ông giải thích nguyên nhân có thể là do thời gian của dữ liệu thu thập là không tương thích với nhau
cứu mối quan hệ giữa cung tiền và giá chứng khoán đã cho kết quả ngược lại Tại thị trường Mỹ, trong dài hạn mối quan hệ giữa cung tiền và giá cổ phiếu có sự tương quan thuận nhưng không đáng kể; tại thị trường Nhật, cung tiền và giá cổ phiếu lại có mối tương quan nghịch chiều
Cùng kết quả như trên, Mohammad và các cộng sự (2009) khi nghiên cứu tại
sở giao dịch chứng khoán Karachi – Pakistan đã cho thấy cung tiền và giá cổ phiếu
tồn tại một mối tương quan nghịch
Chỉ số sản xuất công nghiệp
Trong thực tế, cũng đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ của chỉ số sản
xuất công nghiệp đến thị trường chứng khoán
Fama (1990), Geske và Roll (1983) đã cho thấy một mối quan hệ đồng biến
giữa sản xuất công nghiệp và dòng tiền kỳ vọng trong tương lai.Chen và các cộng
sự (1986) khi thực hiện nghiên cứu tại TTCK Mỹ đã chỉ ra rằng tăng trưởng sản
xuất công nghiệp trong tương lai là một nhân tố quan trọng giúp giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán, và kết quả còn cho thấy có một mối quan hệ đồng biến giữa các biến kinh tế thực và giá cả cổ phiếu Trước đó, Fama (1981) cũng có cùng
Trang 24quan điểm như trên, đã phát hiện ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa tốc độ tăng trưởng
sản xuất công nghiệp và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Cùng đồng tình với kết quả trên, Mohammad và các cộng sự (2009) khi nghiên cứu thực nghiệm tại Pakistan đã cho kết quả là chỉ số sản xuất công nghiệp có mối tương quan dương
với giá chứng khoán.Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Tunali (2010) tại Thổ Nhĩ Kỳ
T ỷ giá hối đoái
Bahmani-Oskooeea và Sohrabianb (1992) trong kết quả nghiên cứu của mình chỉ ra rằng không tồn tại mối liên hệ dài hạn giữa giá chứng khoán và tỷ giá ở Mỹ, tuy nhiên, họ phát hiện có một mối quan hệ ngắn hạn giữa hai biến số này thông qua
kiểm định nhân quả Granger Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nieh và Lee (2001) tại các nước G7.Ong và Izan (1999) lại tìm thấy một mối liên hệ yếu
giữa tỷ giá và giá chứng khoán Úc cũng như ở các nước G7.Tabak (2006), Tunali (2010), Tangjitprom (2011) đều cho thấy có một mối tương quan nghịch biến giữa giá chứng khoán và tỷ giá
2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng cách tiếp cận khoảnh khắc thứ hai (second moment)
Do mối quan hệ mật thiết giữa nền kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán nên bất kỳ cú sốc nào đối với các biến kinh tế vĩ mô sẽ là một nguồn rủi ro hệ
thống, ảnh hưởng đến các danh mục đầu tư cho dù danh mục ấy có được đa dạng hóađến mức nào Chính từ ý tưởng này, cách tiếp cận khoảnh khắc thứ hai được coi
là một hướng nghiên cứu được nhiều học giả quan tâmnhư Chinzara (2011), Chinzara (2009), Zakaria và Shamsuddin (2012), Cho và Yoo (2011), Choo và các
cộng sự (2011), Adjasi (2009), Arnold và Vrugt (2006), Abugri (2008), Morelli (2002), Beltratti và Morana (2006), Fraser và Power (1997), Liljeblom và Stenius (1997), Schwert (1989).Với cách tiếp cận này, mức độ biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến mức độ biến động của thị trường chứng khoán được
Trang 25tập trung nghiên cứu bằng cách sử dụng các mô hình đo độ biến động ARCH, GARCH
Schwert (1989) sử dụng dữ liệu tháng của thị trường chứng khoán Mỹ thu
thập từ 1857-1987 để giải thích sự biến động của thị trường chứng khoán thay đổi qua thời gian thông qua những biến động theo thời gian của những biến kinh tế vĩ
mô Các biến kinh tế vĩ mô được Schwert (1989) khảo sát là lạm phát, cung tiền và
chỉ số sản xuất công nghiệp Áp dụng mô hình ARCH, sự biến động của các nhân tố
vĩ mô được đo lường bằng phần dư từ phương trình tự hồi quy chuỗi thời gian của từng nhân tố vĩ mô đó Một kết luận cơ bản của bài nghiên cứu này: “ Biên độ dao động của độ biến động toàn thị trường khó có thể giải thích được nếu chỉ dùng
những mô hình ước lượng chứng khoán đơn giản” Schwert chỉ ra rằng: (1) sự biến động của lạm phát dự báo biến động trên thị trường chứng khoán nhưng chỉ trong giai đoạn 1953-1987 và sự biến động của thị trường chứng khoán không ảnh hưởng đến sự biến động của lạm phát; (2) sự biến động của sự tăng cung tiền dự đoán sự
biến động của thị trường chứng khoán trong nhiều khoảng thời gian và những biến động của thị trường chứng khoán cũng dự đoán sự biến động của sự tăng trưởng cung tiền từ 1920-1952; (3) sự biến động của sản xuất công nghiệp giải thích yếu sự
biến động của thị trường chứng khoán, trong khi sự biến động thị trường lại giúp dự đoán sự biến động trong sản xuất công nghiệp Nói tóm lại, kết quả của bài nghiên
cứu chỉ ra tồn tại mối quan hệ giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán,trong đó hướng quan hệ mạnh hơn nghiêng về phía từ thị trường chứng khoán đến các yếu tố vĩ mô
Liljeblom và Stenius (1997) nghiên cứu thực nghiệm thị trường chứng khoán
Phần an để làm rõ mối quan hệ giữa sự biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô và
thị trường chứng khoán Dữ liệu tháng từ 1920 đến 1991 được thu thập để phục vụ nghiên cứu Những biến kinh tế vĩ mô được sử dụng trong bài bao gồm chỉ số sản
xuất công nghiệp (IP), cung tiền (M2), lạm phát (CPI) và tỷ giá thương mại (ToT- được đo lường bởi tỷ lệ giữa chỉ số giá xuất khẩu và chỉ số giá nhập khẩu) Trong khi đó, khối lượng giao dịch được dùng làm biến đại diện cho thị trường chứng
Trang 26khoán Phần Lan Tác giả sử dụng mô hình GARCH để ước lượng sự biến động có điều kiện của các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Để kiểm tra mối liên hệ giữa biến động của các nhân tố vĩ mô và biến động của thị trường chứng khoán, Liljeblom và Stenius (1997) sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy VAR Kiểm định F-test được sử dụng để khảo sát khả năng dự đoán của các biến kinh tế vĩ mô trên với 12 độ trễ F-test chiều ngược lại kiểm định khả năng sự biến động của thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến sự biến động của các biến kinh tế vĩ mô Kết
quả thực nghiệm chỉ ra rằng những biến động của các nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng ý nghĩa lên sự biến động của thị trường chứng khoán và ngược lại Trong đó, sự biến động IP, M2, ToT có tác động cùng chiều đến sự biến động của thị trường chứng khoán; sự biến động của CPI lại có tác động ngược chiều đến sự biến động của thị trường chứng khoán Kiểm định cho khả năng biến tham gia và giải thích đồng thời
của các biến động kinh tế vĩ mô cho kết quả chỉ ra rằng từ 1/6-2/3 sự thay đổi trong toàn bộ sự biến động của thị trường chứng khoán có thể liên quan tới sự biến động
của các nhân tố vĩ mô
Morelli (2002) khảo sát mối quan hệ giữa sự biến động thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô sử dụng dữ liệu hàng tháng của Anh từ tháng 1/1967 đến tháng 12/1995 Những biến vĩ mô được khảo sát bao gồm: sản xuất công nghiệp, doanh thu bán lẻ thực tế, cung tiền M1, tỷ giá hối đoái và lạm phát Trong bài nghiên cứu, dữ liệu tháng về sự biến động của tỷ suất sinh lợi chứng khoán và độ biến động của các nhân tố vĩ mô được ước lượng bằng phương pháp ARCH và GARCH Thêm vào đó, biến giả tính chu kỳ mùa và biến giả khủng hoảng được đưa vàomô hình để tính Sau đó, tương tự như iljeblom và Stenius (1997), mô hình VAR được sử dụng để ước lượng mối quan hệ giữa độ biến động
của các nhân tố kinh tế vĩ mô được lựa chọn và độ biến động của tỷ suất sinh lợi
chứng khoán (đại diện cho độ biến động của thị trường chứng khoán) và ngược lại
Kết quả cho thấy không có bất kỳ mối liên hệ nào giữa sự biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô được chọn nghiên cứu và sự biến động của thị trường chứng khoán Anh
Trang 27Arnold và Vrugt (2006) nghiên cứu về mối quan hệ này tại thị trường chứng khoán Mỹ dựa trên dữ liệu hàng ngày từ tháng 1/1990 đến tháng 1/2005 Các biến kinh tế được khảo sát bao gồm: GDP danh nghĩa (NGDP), chỉ số giá GDP (PGDP),
lợi nhuận doanh nghiệp sau thuế (CPROF), tỷ lệ thất nghiệp (UNEMP), chỉ số sản
xuất công nghiệp (INDPROD), số lượng nhà mới được xây (HOUSING), lạm phát (CPI), lãi suất tín phiếu chính phủ 3 tháng (TBI ), GPP quy đổi với mức đồng dollar Mỹ không đổi năm 1992 (RGDP), tổng chi tiêu dùng (RCONSUM) Chỉ số S&P500 được dùng là biến đại điện cho thị trường chứng khoán Mỹ Để đo lường
sự biến động của các nhân tố vĩ mô được chọn và độ biến động của chứng khoán, Arnold và Vrugt (2006) sử dụng mô hình ARCH, GARCH Tiếp đó, thay vì sử
dụng mô hình VAR như các nghiên cứu trước đây, hai tác giả sử dụng nghiên cứu tác động trực tiếp tức sử dụng hồi quy biến động chứng khoán theo từng biến động
của các nhân tố vĩ mô được chọn Các kiểm định về mức độ giải thích của từng biến
vĩ mô riêng lẻ với mức độ giải thích của các độ trễ chứng khoán trong việc giải thích sự biến động của thị trường chứng khoán được thực hiện Kết quả cho thấy sự
biến động của các biến vĩ mô được lựa chọn dường như không có ý nghĩa với sự biến động của thị trường chứng khoán Mỹ Thay vào đó, những biến động của thị trường chứng khoán Mỹ lại phụ thuộc nhiều hơn đến độ trễ của chính những biến động đó
Adjasi (2009) khi nghiên cứu về mối liên hệ giữa sự bất định của các nhân tố
vĩ mô ảnh hưởng đến sự biến động của thị trường chứng khoán tại Ghana đã sử
dụng cách tiếp cận khác Các nhân tố vĩ mô được lựa chọn nghiên cứu bao gồm chỉ
số giá tiêu dùng đại diện cho biến lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền, lãi suất, giá
dầu, giá vàng và giá cocoa Giống như các nghiên cứu trước đó (Liljeblom và Stenius,1997; Arnold và Vrugt, 2006; Morelli, 2002), Adjasi lựa chọn mô hình EGARCH để đo lường sự biến động của các nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán ở giai đoạn một Tuy nhiên, trong giai đoạn hai, mô hình VAR được điều chỉnh để phù hợp với ước lượng hàm mũ trong giai đoạn một để khảo sát mối quan
hệ giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán Kết quả chỉ
Trang 28ra rằng sự biến động về giá cocoa và lãi suất có tương quan cùng chiều với độbiến động của thị trường chứng khoán Trong khi đó, những biến động về giá vàng, giá dầu và cung tiền lại có tương quan ngược chiều với sự biến động của thị trường
chứng khoán Còn lại, mối quan hệ giữa những biến động của lạm phát và tỷ giá hối đoái và thị trường chứng khoán trong nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê
Choo, Lee và Ung (2011) bổ sung thêm nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Nhật Bản Tiếp cận dữ liệu chỉ số giá Nikkei 225, giá vàng, giá
dầu thô và tỷ giá hối đoái theo ngày, Choo, ee và Ung (2011) đo lường sự ảnh hưởng của sự biến động của giá vàng, giá dầu và tỷ giá lên sự biến động của thị trường chứng khoán Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng cách tiếp cận
của họ GARCH, bao gồm tuyến tính (GARCH, IGARCH, GJGARCH) và phi tuyến tính (EGARCH) để ước lượng sự biến động của các biến Mô hình trung bình trượt
tỷ trọng mũ (EWMA-Exponentional Weighted Moving Average) được áp dụng để khảo sát mối quan hệ giữa sự biến động của ba biến kinh tế vĩ mô được chọn và sự
biến động của thị trường chứng khoán Bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng không
có ảnh hưởng nào đến sự biến động của thị trường chứng khoán từ sự biến động của giá vàng, giá dầu và tỷ giá Và sau khi so sánh các mô hình họ GARCH, kết quả cho
thấy mô hình GARCH tuyến tính đơn giản cho được kết quả tốt nhất
Zakaria (2012) kế thừa các nghiên cứu trước khi sử dụng phương pháp GARCH và VAR để khảo sát mối liên hệ của sự biến động của một số nhân tố kinh
tế vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán Malaysia Chỉ số sản xuất công nghiệp, lạm phát, tỷ giá, lãi suất và cung tiền là các nhân tố vĩ mô được Zakaria lựa chọn đưa vào mô hình của mình Dữ liệu tháng của biến vĩ mô và chỉ số
chứng khoán được thu thập từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2012 Kết quả chạy VAR hai biến cho từng cặp biến vĩ mô và chỉ số chứng khoán cho thấy chỉ có sự biến động của lạm phát và lãi suất có quan hệ với sự biến động của thị trường chứng khoán có ý nghĩa thống kê Chiều ngược lại, sự biến động của thị trường chứng khoán chỉ có ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá Khi chạy VAR đa biến cho đồng thời năm biến, kết quả kiểm định Granger cho thấy không có bất kỳ mối liên
Trang 29hệ nào giữa những biến động của các nhân tố vĩ mô được chọn và sự biến động của
thị trường chứng khoán
Chinzara (2011) đo lường ảnh hưởng của biến động các nhân tố vĩ mô lên
biến động của thị trường chứng khoán Nam Phi Một điểm mới trong bài là ngoài
việc sử dụng mô hình AR-GARCH và VAR như cách tiếp cận của các nghiên cứu trước đây, Chinzara (2011) đã đưa thêm vào mô hình biến giả cho khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998 và khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2008 Mục tiêu
của việc đưa biến giả khủng hoảng vào mô hình xác định sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến thị trường chứng khoán Các biến vĩ mô được Chinzara (2011)
lựa chọn đưa vào mô hình bao gồm chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất, lạm phát,
tỷ giá hối đoái, cung tiền mở rộng, giá vàng và giá dầu Phần thực nghiệm, tác giả
so sánh kết quả của ba mô hình GARCH, EGARCH, TGARCH để chọn ra mô hình
tốt nhất trước khi sử dụng kết quả này trong giai đoạn tiếp theo bằng phương pháp VAR Kết quả nghiên cứu cho thấy có một sự biến động cùng chiều của thị trường
chứng khoán với những biến động của lãi suất, giá dầu, giá vàng và tỷ giá Ngược
lại, với những biến động về lạm phát có tác động ngược chiều tới sự biến động của thị trường chứng khoán Trong khi đó, cung tiền M2 và chỉ số sản suất công nghiệp không có ý nghĩa thống kê trong mô hình Cuối cùng, Chinzara (2011) chỉ ra rằng
cuộc khủng hoảng tài chính thực sự đã là một nguyên nhân đáng kể làm gia tăng tính biến động cho thị trường chứng khoán và các nhân tố kinh tế vĩ mô, vì vậy làm tăng thêm sự ảnh hưởng của những biến động vĩ mô lên thị trường chứng khoán
Trang 30B ảng 2.1: Bảng tóm tắt các nhân tố kinh tế vĩ mô đã được sử dụng trong các nghiên c ứu trước
Tunali (2010) Mối tương quan thuận giữa lạm phát và
tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu
Tangjitprom (2011) Không tìm thấy sự liên quan nào giữa
lạm phát và tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Thái Lan và ông giải thích nguyên nhân có thể là do
thời gian của dữ liệu thu thập là không tương thích với nhau
Schwert (1989) Sự biến động của lạm phát dự báo biến
động trên thị trường chứng khoán nhưng
chỉ trong giai đoạn 1953-1987 và sự biến động của thị trường chứng khoán không ảnh hưởng đến sự biến động của lạm phát
Liljeblom và Stenius (1997) Sự biến động của CPI có tương quan
ngược chiều với sự biến động của TTCK
Trang 31Lạm
phát
(CPI)
Zakaria (2012) Sự biến động của lạm phát có quan hệ
với sự biến động củaTTCK Chinzara(2011) Mối quan hệ tiêu cực tìm thấy giữa lạm
phát và biến động thị trường chứng khoánở Nam Phi
Schwert (1989) Sự biến động của sản xuất công nghiệp
giải thích yếu sự biến động của TTCK, trong khi sự biến động thị trường lại giúp dự đoán sự biến động trong sản
xuất công nghiệp Liljeblom và Stenius (1997) Chỉ sốcông nghiệp có tương quan cùng
chiều với sự biến động của TTCK Chinzara(2011) Chỉ số sản xuất công nghiệp không có ý
nghĩa thống kê trong mô hình
Mối tương quan nghịch giữa lãi suất và
tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu
Adjasi (2009) Sự biến động về lãi suất có tương quan
cùng chiều với biến động của thị trường
chứng khoán Zakaria (2012) Sự biến động của lãi suấtcó quan hệ với
sự biến động củathị trường chứng khoán
Trang 32Lãi suất
(IR)
Chinzara (2011) Mối quan hệ tích cực tìm thấy giữa lãi
suất và biến động thị trường chứng khoán ở Nam Phi
Zakaria (2012) Sự biến động của TTCK có ảnh hưởng
đến sự biến động của tỷ giá Chinzara (2011) Mối quan hệ tích cực tìm thấy giữa tỷ
giá và biến động thị trường chứng khoán
Cung tiền và giá cổ phiếu tồn tại một
mối tương quan nghịch
Schwert (1989) Sự biến động của sự tăng cung tiền dự
đoán sự biến động của thị trường chứng khoán trong nhiều khoảng thời gian và
những biến động của thị trường chứng khoán cũng dự đoán sự biến động của sự tăng trưởng cung tiền từ 1920-1952
Trang 33Cung
tiền
(M2)
Liljeblom và Stenius (1997) Sự biến động của cung tiền có tác động
cùng chiều đến sự biến động của TTCK Adjasi (2009) Biến động vềcung tiềncó tương quan
ngược chiều với sự biến động của TTCK Chinzara (2011) Cung tiềnkhông có ý nghĩa thống kê
trong mô hình
Từ những nghiên cứu thực nghiệm trước đây, nghiên cứu mối liên hệ giữa sự
biến động của các nhân tố vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán hiện đang là một xu hướng được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu Khi
giải quyết vấn đề này, cách tiếp cận phổ biến nhất bao gồm hai giai đoạn Giai đoạn
1, độ biến động của các nhân tố vĩ mô và mức độ biến động của thị trường chứng khoán được đo lường dựa trên họ mô hình ARCH/GARCH Các mô hình được so sánh, cân nhắc để có được mô hình tốt nhất Giai đoạn 2, kết quả ước lượng được từ giai đoạn 1 trở thành đầu vào cho ước lượng VAR
Trong khuôn khổ của bài nghiên cứu, tác giả tiếp thu xu hướng nghiên cứu này và áp dụng cho thị trường chứng khoán Việt Nam Đồng thời, những nghiên cứu gần đây của Cho và Yoo (2011) và Chinzara (2011) cho thấy rằng cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 đã có ảnh hưởng đáng kể tới sự biến động của
thị trường chứng khoán Hàn Quốc và Nam Phi Do vậy, sẽ là thiếu sót nếu trong bài nghiên cứu này không khảo sát sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính gần đây vào mô hình nghiên cứu Nội dung bài nghiên cứu này sẽ bám sát theo nghiên cứu
của Chinzara (2011) theo hướng tiếp cận nghiên cứu khoảnh khắc thứ hai, nghiên
cứu mối liên hệ giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và thị trường chứng khoán đồng thời xét đến tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009
Xét về khía cạnh lựa chọn mô hình cho bài nghiên cứu Trước tiên, phải
khẳng định rằng họ mô hình ARCH đã và đang được ứng dụng phổ biến để nghiên
cứu sự biến động của các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Mô hình ARCH được Angle giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1982, sau đó được cải tiến thành
Trang 34GARCH bởi Bollerslev(1986), và được mở rộng thành EGARCH bởi Nelson (1991) và TGARCH bởi Zaikoian (1994).Thêm vào đó, mô hình VAR được ứng dụng rộng rãi nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô và thị trường
chứng khoán Sự phát triển của họ mô hình ARCH và mô hình VAR đã cho phép các tác giả nghiên cứu sự chuyển hóa từ những bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô tới sự biến động trong tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Trong bài nghiên cứu
về mối liên hệ này, các tác giả Liljbeblom và Stenius (1997), Morelli (2002) đã kết
hợp mô hình ARCH/GARCH và mô hình VAR cho trường hợp của Phần Lan Trong khi đó, Adajasi (2009) ứng dụng mô hình EGARCH và VAR tới thị trường Ghana Tuy nhiên, việc chỉ chọn một mô hình họ nhà ARCH có thể phản ánh không hoàn toàn chính xác sự biến động của các nhân tố vĩ mô tới thị trường chứng khoán Khi ứng dụng cho thị trường chứng khoán Nam Phi, Chinzara (2011) khắc phục khuyết điểm này bằng cách so sánh kết quả của ba mô hình GARCH, EGARCH, TGARCH để chọn ra mô hình tốt nhất trước khi sử dụng kết quả này trong giai đoạn tiếp theo bằng phương pháp VAR
Vì những lý do trên, tác giả thực hiện nghiên cứu trong trường hợp của thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên nghiên cứu gốc của Chinzara (2011)
Trang 35Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu được lấy theo tháng, trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2013 với 72 quan sát và được lựa chọn dựa trên dữ liệu sẵn có cho tất cả các biến Từ đó, dữ liệu thô được tính toán thành tốc độ phát triển của các nhân tố vĩ
mô và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán bằng cách chuyển dữ liệu sang dạng log tự nhiên và lấy sai phân bậc 1, phù hợp với các tài liệu có liên quan như những nghiên cứu trước của Morelli (2002), Beltratti và Morana (2006), Diebold và Yilmaz (2007), Adjasi (2009), Chinzara (2011) Dữ liệu sau khi xử lý được đưa vào
mô hình ước lượng
Ngoài ra, giai đoạn nghiên cứu là từ năm 2008 đến năm 2013, khi mà khủng
hoảng tài chính toàn cầu xảy ra và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế
hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Việt Nam được cho là chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp và vượt qua khủng hoảng một cách thần kỳ, tuy nhiên trong giai đoạn này Việt Nam chịu sự bất ổn rất lớn đối với kinh tế vĩ mô cũng như sự
biến động đáng kể trong thị trường chứng khoán Trong bài nghiên cứu này, tác giả
sử dụng biến giả Dum_crisis cho 2 năm 2008-2009 để đánh giá tác động của khủng
hoảng tới mối quan hệ của sự biến động vĩ mô và sự biến động tỷ suất sinh lợi thị
trường chứng khoán, dựa trên nghiên cứu thực nghiệm của Chinzara (2011)
3.2 Mô tả các biến
Bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa sự biến động của các nhân tố kinh
tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam, biến phụ thuộc được sử dụng trong phân tích này là chỉ số giá thị trường chứng khoán Việt Nam và tác giả sử dụng các
biến độc lập là các nhân tố vĩ mô bao gồm: chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số sản xuất công nghiệp IPI, lãi suất IR, cung tiền mở rộng M2 và tỷ giá hối đoái danh nghĩa NEER Các biến kinh tế vĩ mô được lựa chọn tuy chưa cung cấp một nguồn đầy đủ các biến động kinh tế vĩ mô, việc lựa chọn được dựa trên cả lý thuyết và trên nghiên cứu thực nghiệm của Chinzara (2011)
Trang 363.2.1 Biến phụ thuộc
Ch ỉ số giá thị trường chứng khoán Việt Nam
Sử dụng chỉ số VN-Index làm đại diện cho chỉ số giá thị trường chứng khoán
Việt Nam vì xét về thời gian và quy mô hoạt động, giá trị vốn hóa, các tiêu chuẩn niêm yết thì chỉ số VN-Index có tính đại diện cao hơn so với HNX-Index, Upcom-Index Chỉ số này được thu thập bằng cách lấy chỉ số giá đóng cửa vào ngày giao dich cuối cùng trong tháng của VN-Index từ website cophieu68.com
Cách tính VN-Index:
Chỉ số VN-Index tính theo phương pháp bình quân gia quyền
Pit: là giá tại thời điểm tính toán của cổ phiếu i
Qit: là khối lượng cổ phiếu i đang lưu hành tại thời điểm tính toán
Pi0: là giá cổ phiếu i tại thời kỳ gốc
Qi0: là khối lượng cổ phiếu i tại thời kỳ gốc
3.2.2 Biến độc lập
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
Chỉ số giá tiêu dùng được nhiều học giả đưa vào nghiên cứu tác động của nó lên thị trường chứng khoán như Nelson (1976), Jaffe và Mandelker (1976), Fama và Schwert (1977), Chen và các cộng sự (1986), Humpe và Macmillan (2007), Mohammad vàcác cộng sự (2009), Tunali (2010), Chinzara (2011)
Trang 37Các bước tính chỉ số giá tiêu dùng:
1 Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua
2 Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi
CPI t = 100 x Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ t
Chi phí để mua giỏ hàng hoá kỳ cơ sở
Trong bài nghiên cứu này, dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng CPI được thu thập theo tháng từ nguồn Tổng cục thống kê Việt Nam (GSO)
Ch ỉ số sản xuất công nghiệp IPI
Chỉ số sản xuất Công nghiệp (IPI) là “chỉ tiêu nhanh” của các hoạt động công nghiệp, mà từ đó, chúng ta có thể xem xét tổng quan về hoạt động công nghiệp Chỉ số IPI được các học giả Geske và Roll (1983), Chen vàcác cộng sự (1986), Fama (1990), Mohammad vàcác cộng sự (2009), Tunali (2010), Chinzara (2011) đưa vào mô hình xem xét mối quan hệ với thị trường chứng khoán
Phương pháp tính toán :
Ch ỉ sốIPI = (Khối lượng tháng áo cáo hối lượng kỳ gốc) x 100
Trong bài nghiên cứu, chỉ số sản xuất công nghiệp được thu thập từ Tổng
cục thống kê Việt Nam (GSO), dữ liệu được lấy theo tháng và được so sánh với năm gốc là 2005
Trang 38Lãi suất IR
Việc sử dụng biến lãi suất đưa vào mô hình dựa trên các nghiên cứu của Bulmash và Trivoli (1991), Mukherjee vàNaka (1995), Gan vàcác cộng sự (2006),
Tunali (2010),Tangjitprom (2011), Chinzanra (2011)
Trong bài viết, lãi suất tiền gửi tiết kiệm 1 năm được lấy đại diện cho biến lãi suất Tác giả chọn lãi suất tiền gửi tiết kiệm bởi vì nhà đầu tư khi lựa chọn kênh đầu
tư thích hợp sẽ cân nhắc giữa lãi suất chiết khấu chứng khoán và lãi suất gửi tiết
kiệm ngân hàng Giá trị của lãi suất theo tháng khá nhỏ so với các biến khác nên nó được lấy theo đơn vị là %/năm, như vậy, khi lấy log giá trị của lãi suất, giá trị của
nó không bị âm hoặc gần 0, thuận tiện cho việc xem xét mối tương quan Dữ liệu được lấy vào ngày cuối cùng của tháng từ nguồn Thống kê tài chính quốc tế(IFS)
Cung tiền mở rộng M2
Biến cung tiền mở rộng được đưa vào mô hình từ những nghiên cứu củaMukherjee và Naka (1995), Maysami và Koh (2000), Ibrahim và Yusoff (2001), Humpe và Macmillan (2007), Mohammad vàcác công sự (2009), Tunali (2010), Chinzanra (2011).Công thức tính cung tiền mở rộng M2:
M2 = M1 + Chuẩn tệ (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn… tại các tổ chức tín dụng) (Tiền rộng; Tiền gửi tiết kiệm không thể tiêu ngay được)
M1 = M0 + Tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương (Đồng tiền mạnh)
M0 = Tổng lượng tiền mặt do NHTW phát hành đang được lưu thông (Tiền
cơ sở; Tiền hẹp; Tiền mặt có thể chi tiêu ngay lập tức)
Trong bài, dữ liệu lịch sử về cung tiền M2 được lấy theo tháng từ nguồn
Thống kê tài chính quốc tế (IFS)
Trang 39Tỷ giá hối đoái danh nghĩa NEER
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là giá tương đối của một đồng tiền phải tính bằng đồng tiền khác.Sử dụng tỷ giá giữa tiền đồng Việt Nam so với đô la Mỹ vì đô la Mỹ
là đồng tiền có mức độ phổ biến nhất trong các hoạt động kinh tế Chỉ số này được
lấy theo dữ liệu từ nguồn Thống kê tài chính quốc tế (IFS) vào ngày cuối cùng mỗi tháng
Biến tỷ giá hối đoái được nhiều các học giả Bahmani-Oskooeea vàSohrabianb (1992), Ong và Izan (1999), Nieh và Lee (2001), Tabak (2006), Tunali (2010), Tangjitprom (2011), Chinzara (2011) đưa vào khảo sát trong các nghiên cứu của mình
3.2.3 Bi ến kiểm soát
Từ nghiên cứu của Cho và Yoo (2011) và Chinzara (2011) cho thấy việc đưa
biến khủng hoảng vào mô hình có ý nghĩa thống kê cao Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng biến Dum_Crisis cho hai giai đoạn 2 năm 2008-2009 để đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng lên mô hình nghiên cứu Trong đó:
Dum_crisis = 1 cho giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009
Dum_crisis = 0 cho các năm còn lại
Trang 40B ảng 3.1: Mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu
Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam VN-Index Cophieu68.com Điểm
Biến khủng hoảng Dum_Crisis Biến kiểm soát
3.3 Mô hình nghiên cứu
Để trả lời được ba câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, mô hình nghiên cứu được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1, dùng họ mô hình ARCH/GARCH được áp dụng nhằm ước lượng độ biến động của thị trường chứng khoán và các nhân tố vĩ mô Việc chạy các
mô hình họ ARCH/GARCH khác nhau nhằm xác định ra mô hình có kết quả ước lượng cho sự biến động tốt nhất
Khi biến giả Dum_crisis được thêm vào mô hình cho thấy ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 2008-2009 lên thị trường chứng khoán và các nhân tố vĩ mô Đồng thời trả lời được câu hỏi nghiên cứu số 2
Giai đoạn 2, dùng ước lượng VAR để khảo sát mối liên hệ giữa sự biến động của các nhân tố vĩ mô và sự biến động của thị trường chứng khoán từ kết quả của giai đoạn 1