Theo đó, nghiên cứu này đã chỉ ra sự hình thành và phát triển kiểm toán qua các giai đoạn dựa trên đánh giá và đối phó rủi ro, - Nghiên cứu “Ảnh hưởng của đánh giá rủi ro kinh doanh đến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-
NÉ HIẾU TUẤN
Chuyên ngành : K ế toán
Mã số : 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN THỊ GIANG TÂN
TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2014
Né Hiếu Tuấn
Trang 3MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỐI PHÓ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BCTC CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 11
1.1 Rủi ro, đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC 11
1.1.1 Khái niệm về rủi ro kiểm toán 11
1.1.2 Phân loại rủi ro trong kiểm toán 11
1.1.2.1 Rủi ro tiềm tàng 11
1.1.2.2 Rủi ro kiểm soát 12
1.1.2.3 Rủi ro phát hiện 13
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro 13
1.1.3.1 Mô hình rủi ro kiểm toán 13
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro 14
1.1.4 Khái niệm đánh giá rủi ro và tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro 15
1.1.4.1 Khái niệm đánh giá rủi ro 15
1.1.4.2 Tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro 16
1.1.5 Các mô hình tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro 16
1.1.5.1 Mô hình rủi ro tài chính 16
1.1.5.2 Mô hình rủi ro kinh doanh 16
1.2 Đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán theo yêu cầu chuẩn mực kiểm toán quốc tế 19
1.3.1 Lịch sử phát triển về đánh giá và đối phó rủi ro theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế 20
Trang 41.3.2 Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành liên quan đến đánh giá và
đối phó rủi ro 24
1.3.2.1 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315 24
1.3.2.2 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 330 26
1.3 Các quy định hiện hành liên quan đến đánh giá và đối phó rủi ro trong chuẩn mực kiểm toán hiện hành tại Việt Nam 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỐI PHÓ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 31
2.1 Đặc điểm các công ty kiểm toán vừa và nhỏ ở Việt Nam 31
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm công ty nhỏ và vừa ở Việt Nam 31
2.1.2 Rủi ro và đặc thù của các công ty kiểm toán nhỏ và vừa tại Việt Nam 31
2.2 Thực trạng đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay 32
2.2.1 Phương pháp khảo sát 32
2.2.2 Quy trình khảo sát, xử lý số liệu và kết quả nghiên cứu 33
2.2.2.1 Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán 37
2.2.2.2 Tìm hiểu khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán 40
2.2.2.3 Biện pháp xử lý đối với các rủi ro đã đánh giá 46
2.2.2.4 Đánh giá chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro 48
2.2.2.5 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của việc thiết lập quy trình đánh giá và đối phó rủi ro 50
2.3 Đánh giá chung việc thực hiện đánh giá và đối phó rủi ro trong các công ty kiểm toán vừa và nhỏ tại Việt Nam 57
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỐI PHÓ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM 63
3.1 Quan điểm về xác lập giải pháp 63
Trang 53.2 Giải pháp hoàn thiện quy trình đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa ở Việt Nam 643.3 Các kiến nghị cho các cơ quan có liên quan 74
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Tên viết tắt Tên đầy đủ
9 KTĐL Kiểm toán độc lập
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Danh mục bảng, biểu
Bảng 3.1 Xếp loại chất lượng quy trình đánh giá và đối phó rủi
ro kiểm toán
49
Danh mục sơ đồ
giá rủi ro
22
Trang 81
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, báo cáo tài chính được kiểm toán ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tài chính của hầu hết các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các đối tượng khác nhau sử dụng kết quả kiểm toán với nhiều mục đích khác nhau Đối với ngân hàng, những đối tượng cho vay vốn, họ cần biết rằng số vốn họ cho vay có được sử dụng đúng mục đích hay không, tình hình tài chính của đơn vị có cho thấy khả năng hoàn trả hay không Đối với chủ
sở hữu doanh nghiệp, các cổ đông, họ cần biết một cách đầy đủ, đúng đắn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp… Tóm lại, kiểm toán mang lại sự thỏa mãn cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự tin cậy, mức độ trung thực của các thông tin tài chính mà họ được cung cấp
Tuy nhiên, bất kỳ một hoạt động hay ngành nghề nào cũng tồn tại rủi ro và kiểm toán cũng không phải là ngoại lệ Hơn nữa, kiểm toán độc lập là một ngành nghề rất đặc biệt, nếu như những ngành nghề khác chỉ phục vụ cho đối tượng là khách hàng thì đối với các công ty kiểm toán và kiểm toán viên, đối tượng phục vụ không chỉ là khách hàng mà còn là công chúng Để nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, các công ty kiểm toán và kiểm toán viên phải sử dụng các kỹ thuật đánh giá và đối phó rủi ro một cách hiệu quả
“Đánh giá rủi ro” là một trong những thủ tục kiểm toán được chuẩn mực kiểm toán xác định là vô cùng quan trọng và cần thiết trong một cuộc kiểm toán hiện nay Theo đó, cuộc kiểm toán được thực hiện dựa trên tiếp cận rủi ro sẽ cung cấp được một tầm nhìn tổng quát tốt nhất cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tính hiệu quả trong công tác kiểm toán, giúp tiết kiệm chi phí, tăng cường sự bảo đảm… Việc đánh giá rủi ro một các phù hợp để từ đó đưa ra những phương hướng đối phó với rủi ro sẽ giúp nâng cao tính hiệu quả trong cuộc kiểm toán
Việc đánh giá và đối phó rủi ro là một phần rất quan trọng mang tính sống còn cho mỗi cuộc kiểm toán được thể hiện trong mỗi giai đoạn kiểm toán:
Trang 92
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: đánh giá rủi ro kiểm toán nhằm giúp cho các các kiểm toán viên có thể xác định được phạm vi, quy mô cuộc kiểm toán, cũng như có thể xác định được các thủ tục kiểm toán cần thực hiện cho mỗi phần hành Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán: Việc đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúp cho các kiểm toán viên có thể tiết kiệm thời gian vì đã họ đã xác định được những khoản mục, phần hành có mức độ rủi ro cao để tập trung thực hiện cũng như xác định các thủ tục kiểm toán cần thiết Nhờ vậy, tránh tình trạng thực hiện các thủ tục kiểm toán không cần thiết đối với những khoản mục có độ rủi ro thấp gây lãng phí thời gian cũng như chi phí thực hiện
Tuy nhiên hiện nay, một số công ty kiểm toán vừa và nhỏ và một số kiểm toán viên thường tập trung đi vào thử nghiệm cơ bản mà bỏ sót hoặc không thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro kiểm toán một cách đầy đủ theo như quy trình kiểm toán và không nhận thức được ảnh hưởng cũng như tầm quan trọng của thủ tục đánh giá rủi ro kiểm toán đối với thử nghiệm cơ bản
Với các lý do nêu trên, việc “Hoàn thiện quy trình đánh giá và đối phó rủi ro
trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ
ở Việt Nam” là một vấn đề cần thiết, nhằm góp phần phát triển và hoàn thiện dịch
vụ kiểm toán trong tiến trình hội nhập và thế giới
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, khảo sát thực trạng quy trình đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán cũng như nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến chất lượng của quy trình
Thứ ba, đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Câu hỏi nghiên cứu
Trang 103
Các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ ở Việt Nam có tuân thủ yêu cầu các chuẩn mực kiểm toán về đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính?
Nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro? Các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả và ảnh hưởng của việc áp dụng quy trình đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu công tác đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính áp dụng tại các công ty kiểm toán độc lập vừa và nhỏ tại Việt Nam Đề tài không nghiên cứu các loại rủi ro khác hay các loại hình kiểm toán khác như kiểm toán Nhà nước, kiểm toán nội bộ cũng như không nghiên cứu quy trình này ở các công ty Kiểm toán độc lập có quy mô lớn
Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào kiểm toán kiểm toán Báo cáo tài chính, không tập trung vào kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong vấn đề đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Tổng quan về các nghiên cứu trước
Các nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới, đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC là một chủ để được khá nhiều nhà nghiên cứu thực hiện Có nhiều nghiên cứu về sự phát triển kỹ thuật đánh giá rủi ro đã được đúc kết trong các giáo trình đại học Các nghiên cứu về đánh giá rủi ro tập trung vào các hướng sau:
- Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của đánh giá rủi ro Tiêu biểu cho dòng nghiên cứu này là nghiên cứu “Sự phát triển đánh giá rủi ro” của Jeffrina Prinsloo (2008) Theo đó, nghiên cứu này đã chỉ ra sự hình thành và phát triển kiểm toán qua các giai đoạn dựa trên đánh giá và đối phó rủi ro,
- Nghiên cứu “Ảnh hưởng của đánh giá rủi ro kinh doanh đến việc lập kế hoạch kiểm toán” cũng như thực hiện thủ tục kiểm toán phù hợp với rủi ro được đánh giá Tiêu biểu cho dòng nghiên cứu này là nghiên cứu của Natalia Kotchetova, Ed O’
Trang 114
Donnel, Alan Webb (Đại học Waterloo, Đại học Kansas) năm 2008 Tác giả đã đưa
ra mô hình ảnh hưởng của việc đánh giá rủi ro kinh doanh gồm cả xét đoán của KTV, thu thập thông tin về khách hàng, phân chia nhiệm vụ đến các thủ tục kiểm toán Nghiên cứu cũng cho thấy thủ tục phân tích là thủ tục kiểm toán rất hữu hiệu giúp đánh giá và đối phó rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC
- Một dòng nghiên cứu khác tập trung vào những khó khăn mà kiểm toán viên gặp phải trong việc áp dụng đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC cũng như
áp dụng mô hình rủi ro kinh doanh trong tiếp cận rủi ro để từ đó đề xuất biện pháp cải thiện Các nghiên cứu cho rằng:
+ Thứ nhất, cần phải xét đoán ảnh hưởng rủi ro đến thủ tục kiểm toán W Robert Knechel (2006) đã phát hiện những khó khăn mà kiểm toán viên gặp phải trong việc
áp dụng đánh giá rủi ro, đó là phải hiểu được ảnh hưởng của việc đánh giá rủi ro đến những trình tự và kĩ thuật kiểm toán sử dụng (Pentland, 1993, p 607) Mặc dù việc đánh giá rủi ro giúp cải thiện chất lượng kiểm toán và đem lại mức độ đảm bảo cao hơn, tuy nhiên kiểm toán viên cần phải đảm bảo được tính hiệu quả và hữu hiệu, đặc biệt khi kiểm toán viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh giá rủi
ro kinh doanh nhằm tránh sự mất tín nhiệm của khách hàng được kiểm toán
+ Thứ hai, việc áp dụng đánh giá rủi ro kinh doanh có nguy cơ biến kiểm toán thành một hình thức khác của tư vấn: Đánh giá rủi ro kiểm toán có thể bị xem như là dịch
vụ làm tăng giá trị cho doanh nghiệp, tức có thể gây nhầm lẫn rằng liệu phương pháp đánh giá rủi ro kiểm toán có thể tạo nên những cơ hội tư vấn Việc các nhà quản lý suy diễn rằng việc kiểm toán làm tăng giá trị cho công ty Việc nhìn nhận kiểm toán làm tăng giá trị của doanh nghiệp có thể làm giảm tính độc lập về mặt hình thức, đồng thời kiểm toán viên có thể gặp mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến chất lượng của việc kiểm toán, ví dụ: làm cho kiểm toán viên ít sẵn lòng đưa ra ý kiến trái ngược khi báo cáo còn các sai sót trọng yếu (Zeff, 2003b)
+ Thứ ba, việc kiểm soát thông tin từ các giám đốc tài chính: Mặc dù các công ty khách hàng có thể cảm thấy thích ý tưởng của việc làm tăng giá trị của cuộc kiểm toán, tuy nhiên họ không dễ dàng tiếp nhận những nỗ lực của kiểm toán viên trong
Trang 125
việc mở rộng mức độ đảm bảo vượt hơn phạm vi kế toán đơn thuần Các nhà quản trị kế toán cấp cao (Giám đốc tài chính và kiểm soát tài chính) thường quen với việc quản lý luồng thông tin cung cấp cho kiểm toán viên bởi vì hầu hết các thông tin theo phương pháp tiếp cận này đều liên quan đến việc tiếp cận hồ sơ và dữ liệu Những cuộc phỏng vấn với nhân sự của khách hàng thường là những người liên quan đến quy trình lập báo cáo tài chính Do đó, “bức tranh” mà kiểm toán viên nhìn thấy được có thể được “kiểm soát” bởi phòng kế toán Với phương pháp dựa trên đánh giá rủi ro kinh doanh, kiểm toán viên phải bắt đầu thu thập những thông tin khác – những thông tin thường là bên ngoài quy trình lập báo cáo tài chính và không nằm dưới sự điều hành trực tiếp của các giám đốc tài chính Điều này có thể gây nên sự bất tiện nơi khách hàng kiểm toán Tuy nhiên, đó là một nhân tố quan trọng trong việc áp dụng phương pháp kiểm toán đánh giá rủi ro kinh doanh, ví dụ: việc các nhà quản trị kiểm soát thông tin cung cấp cho kiểm toán viên có thể chỉ ra
là một trong những nguyên nhân chính của thất bại của việc kiểm toán trong vụ Enron (Morrison, 2004, p.366)
+ Thứ tư, liên quan đến nhu cầu cần thu thập thông tin ngoài phạm vi kế toán từ những nguồn chủ yếu trong doanh nghiệp Kiểm toán viên phải tiếp cận với nhân viên của doanh nghiệp khác bộ phận kế toán, như là nhân viên ở bộ phận sản xuất, nghiên cứu phát triển và bộ phận nhân sự Điều này tạo ra những thử thách mới bởi
vì những dữ liệu này không thuộc về kinh nghiệm trước đó của kiểm toán viên (Humphrey et al., 2004; Power, 2003) Kết quả là, một cách rõ ràng và lô-gíc việc
mở rộng quy trình kiểm toán thì không dễ dàng để thực hiện
+ Thứ năm, liên quan đến năng lực đối với phương pháp tiếp cận mới - các kiểm toán viên được đào tạo để thực hiện theo quy trình kiểm toán (Pentland, 1993, p 608) Phương pháp kiểm toán tiếp cận theo đánh giá rủi ro kinh doanh làm thay đổi phương pháp kiểm toán của các kiểm toán viên, làm cho các kiểm toán viên gặp khó khăn khi không tiến hành thực hiện từng bước theo quy trình kiểm toán Kiểm toán viên, đặc biệt là các chủ nhiệm kiểm toán sẽ cảm thấy áp lực với phương pháp tiếp cận kiểm toán mới bởi vì họ bị áp lực phải hoàn thành công việc trước thời hạn
Trang 136
và trong phạm vi dự toán chi phí Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình mới vẫn là phương pháp tối ưu để đem lại những lợi ích (Fischer, 1996; Lemon et al., 2000, p 22) Một số thử thách bao gồm:
Kiểm toán viên có thể không nắm rõ về quy trình: phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh tạo ra những sự thay đổi, câu hỏi thông thường từ các kiểm toán viên là
“Chúng ta nên bắt đầu từ đâu?” Phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh được tiến hành khác với quy trình kiểm toán trong quá khứ và một trong những mục tiêu của việc thiết kế lại quy trình kiểm toán là giảm bớt thời gian cho các kiểm toán kiểm toán viên cho công việc sau khi kết thúc năm Với phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh, thời gian đánh giá rủi ro trở thành một kết thúc mở Thật vậy, rủi ro kinh doanh của một tổ chức thay đổi liên tục vì vậy những đánh giá được thực hiện trước
đó có thể không đáng tin cậy trong tương lai, vì vậy cần thiết phải thực hiện cập nhật liên tục đối với đánh giá rủi ro Ví dụ, liệu kiểm toán viên có nên điều chỉnh thủ tục kiểm toán với những rủi ro trọng yếu được xác định trong tháng Năm cho dù chúng không còn trọng yếu trong tháng Mười Hai? Hoặc liệu kiểm toán viên có nên chỉ quan tâm đến những rủi ro được xác định vào cuối năm?”
Không sắp xếp được nhân sự: Một khi kế hoạch đã được sắp xếp thì câu hỏi tiếp theo thường là “Ai sẽ làm?” Sắp xếp nhân sự thường theo đường thẳng trong quá khứ: trợ lý kiểm toán kiểm tra nghiệp vụ và thực hiện thử nghiệm chi tiết, kiểm toán viên chính và chủ nhiệm kiểm toán soát xét lại hồ sơ kiểm toán và thực hiện một số thủ tục kiểm tra đối với những phần phức tạp, chủ phần hùn thì chịu toàn bộ trách nhiệm cho chất lượng của cuộc kiểm toán Một câu hỏi cấp thiết là làm thế nào để trợ lý kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro kinh doanh một cách hiệu quả Quy trình mới (đánh giá rủi ro kinh doanh) đòi hỏi nhiều kinh nghiệm hơn là những thủ tục kiểm toán cơ bản thông thường được giao cho trợ lý kiểm toán viên Liệu trợ lý kiểm toán viên có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm để tiến hành phỏng vấn với nhân sự của những phòng ban khác Có cần thiết phải có một cấu trúc mới cho đội kiểm toán? Qua đó, xác định rằng việc sắp xếp nhân sự liên quan đến đánh giá rủi
ro kinh doanh là một vấn đề mang tính chất xét đoán và phức tạp
Trang 147
Không nhận được sự đào tạo và hỗ trợ: Không có tài liệu sẵn có để kiểm toán viên
có thể dựa trên đó đánh giá rủi ro kinh doanh (Humphrey et al, 2004) Khi phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh lần đầu tiên áp dụng, tài liệu hỗ trợ thì rất ít và việc đào tạo thì sơ sài Quy trình thực hiện thử nghiệm có thể không hiệu quả như mong muốn và những cố gắng để áp dụng kỹ thuật kiểm toán mới thường bị thất bại bởi
sự thiếu hụt về đào tạo và tài liệu hỗ trợ (Fischer, 1996.)
Không hiểu rõ ý nghĩa của bằng chứng thu thập được: Ở một số điểm của quy trình kiểm toán, kiểm toán viên hỏi rằng liệu điều này có ý nghĩa gì? Việc chuyển những đánh giá rủi ro kinh doanh thành bằng chứng hỗ trợ cho ý kiến của báo cáo kiểm toán thường là thử thách khó khăn nhất mà kiểm toán viên phải đối mặt (Bell & Solomon, 2002; Bell, Solomon, & Peecher, 2005)
Về khả năng thu thập chứng cứ thông qua phỏng vấn: Một vấn đề quan trọng của phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh là sự cần thiết phải phỏng vấn một số lượng lớn những cá nhân trong tổ chức của khách hàng để đạt được sự kết luận về
sự hiểu biết và sự thẳng thắn của những người được phỏng vấn Hầu hết kiểm toán viên cảm thấy dễ dàng hơn trong việc xem xét các tài liệu bằng giấy Vì số lượng bằng chứng kiểm toán đến từ việc phỏng vấn gia tăng trong phương pháp đánh giá rủi ro kinh doanh, nên cần thiết phải có những đánh giá thận trọng bởi kinh nghiệm
và sự hiểu biết trong việc tương tác với khách hàng (Power, 2003)
Ngoài các nghiên cứu độc lập nêu trên, còn có các nghiên cứu về đánh giá và đối phó rủi ro của các công ty kiểm toán lớn trên thế giới (được gọi là Big 4) Từ các nghiên cứu này, các công ty kiểm toán đã xây dựng quy trình kiểm toán cũng như chương trình kiểm toán cho công ty mình Chẳng han, PWC Audit Guide của Công
ty PriceWaterhouse Coopers, tài liệu KAM của Công ty KPMG, trong đó đã cụ thể hóa các công việc cần thực hiện để đánh giá và đối phó rủi ro trước khi IAASB ban hanh chuẩn mực kiểm toán quốc tế về đánh giá rủi ro dựa trên rủi ro kinh doanh Các nghiên cứu tại VN:
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của kiểm toán độc lập, các nghiên cứu về kiểm toán nói chung và đánh giá và đối phó rủi ro nói riêng cũng đã có những thành công
Trang 158
ban đầu Về mặt lý luận, các công trình đã bám sát nguyên lý hiện đại trên thế giới
và được đúc kết trong giáo trình kiểm toán của các trường đại học như Đại học kinh
tế HCM, Học viện tài chính, Đại học kinh tế quốc dân Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu của các Luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ liên quan đến vấn đề đánh giá và đối phó rủi ro như:
Luận án tiến sĩ của Đoàn Thanh Nga về “Nghiên cứu đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong các công ty kiểm toán tại Việt Nam” (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán với việc nâng cao chất lượng kiểm toán trên cơ sở lý luận của chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và tiến hành điều tra, khảo sát tại hơn 20 công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam cũng như gần 20 đơn vị được kiểm toán Nghiên cứu đã đưa ra những đóng góp hữu ích nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán để ngày càng nâng cao chất lượng dịch
vụ như nhu cầu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán theo thông lệ quốc tế, tin học hóa công tác
kế toán kiểm toán, mở rộng quy mô đối tượng khách hàng cho các công ty kiểm toán để cải thiện chương trình kiểm toán, nâng cao chất lượng
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện thủ tục đánh giá rủi ro nhằm nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính tại các Công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại Việt Nam” của Nguyễn Thị Thùy Linh (năm 2013); trên cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kiểm toán quốc tế và thực trạng đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện thủ tục đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các Công ty kiểm toán độc lập có quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam
Luận văn thạc sỹ “Giải pháp hoàn thiện đánh giá rủi ro trong kiểm toán BCTC tại các công tu kiểm toán Việt Nam” của Hoàng Thị Thu Trang (năm 2008); trên cơ sở nghiên cứu các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và công tác đánh giá rủi ro của các nước trên thế giớ, tiêu biểu là Hoa Kỳ, đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt
Trang 16Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong bài luận văn là phương pháp nghiên cứu định lượng, trên cơ sở vận dụng các kỹ thuật như điều tra thống kê, phân tích thực tiễn ứng dụng các mô hình để xử lý dữ liệu
Dữ liệu được sử dụng trong Luận văn bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu qua phương pháp điều tra kết hợp với phỏng vấn Hoạt động điều tra được tiến hành ở 30 Công ty KTDL được xác định là có quy mô nhỏ và vừa ở Việt Nam, trong đó, tác giá tập trung vào các công ty ở khu vực TP.HCM Đối tượng trả lời là các cá nhân làm việc ở các công ty KTĐL nhỏ và vừa với kinh nghiệm trên 2 năm
Về phương pháp điều tra: người viết gửi bảng câu hỏi đến cá nhân để thu thập thông tin Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán về đánh giá và đối phó rủi ro và được tính điểm theo thang đo Likert, người trả lời sẽ lựa chọn tương ứng từ rất không đồng ý đến rất đồng ý cho từng câu hỏi Ngoài ra, người viết cũng thực hiện phỏng vấn một số cá nhân về một số nội dung trọng yếu,
có sự khác biệt giữa người trả lời trong bảng câu hỏi Bên cạnh dữ liệu sơ cấp, người viết cũng sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu thập chủ yếu từ các tài liệu nghiên cứu trước, các tài liệu kiềm toán, các thống kê, đánh giá của các cơ quan có liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập
Trang 1710
Kết cấu của bài nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu theo ba chương chính sau:
Chương 1: Tổng quan về đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán độc lập;
Chương 2: Thực trạng đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán vừa và nhỏ ở Việt Nam;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại Việt Nam
Trang 1811
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỐI PHÓ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1.1 Rủi ro, đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC
1.1.1 Khái niệm về rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng, rủi ro kiểm toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên Vì vậy, việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro kiểm toán là yếu tố quyết định trong việc hạn chế rủi ro kinh doanh của các công ty kiểm toán
Theo từ điển tiếng việt, “Rủi ro là thuật ngữ để chỉ việc không may xảy ra” hoặc “rủi ro
là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến” Như vậy rủi ro là điều không mong muốn Trong các lĩnh vực khác nhau thì rủi ro lại có những đặc trưng riêng Trong lĩnh vực kiểm toán rủi ro kiểm toán đã được định nghĩa trong các văn bản hướng dẫn kiểm toán và chuẩn mực kiểm toán như sau:
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 “Rủi ro kiểm toán: Là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện; Ví dụ, KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một BCTC mà không biết rằng các báo cáo này có những sai phạm trọng yếu” Rủi ro kiểm toán xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong BCTC mà HTKSNB cũng như các thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên không phát hiện được
1.1.2 Phân loại rủi ro trong kiểm toán
1.1.2.1 Rủi ro tiềm tàng
VSA 200 đã định nghĩa “Rủi ro tiềm tàng là khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay những thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng rẽ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan”
Rủi ro tiềm tàng chủ yếu đến từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, chẳng hạn như việc tính toán phức tạp có thể sai sót nhiều hơn các tính toán đơn giản, khoản mục
Trang 19Tùy thuộc vào bản chất ngành nghề, điều kiện kinh doanh cũng như một số nhân tố khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp sẽ có những rủi
ro tiềm tàng khác nhau, KTV chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động vào rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng được đánh giá trong suốt giai đoạn lập kế hoạch và cập nhật trong suốt quá trình kiểm toán
1.1.2.2 Rủi ro kiểm soát (CR)
VSA 200 đã định nghĩa “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy, kiểm soát là việc thiết kế, vận hành và duy trì kiểm soát nội bộ của Ban giám đốc nhằm hạn chế rủi ro đã xác định có thể cản trở việc hoàn thành các mục tiêu của đơn vị Tuy nhiên, bất kỳ HTKSNB nào cũng có những hạn chế tiềm tàng, chẳng hạn như khả năng người thực hiện gây ra những nhầm lẫn, sai sót, hoặc một
số kiểm soát có thể bị vô hiệu do có sự thông đồng hay lạm dụng quyền của người quản lý Điều này làm cho rủi ro kiểm soát luôn luôn tồn tại, và do đó, không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro có sai sót trọng yếu trên BCTC
Cũng giống như rủi ro tiềm tàng, KTV không thể can thiệp vào rủi ro kiểm soát mà chỉ có thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đến BCTC để từ đó xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thử nghiệm cơ bản
1.1.2.3 Rủi ro phát hiện (DR)
Trang 2013
VSA 200 đã định nghĩa “Rủi ro phát hiện là rủi ro mà các thủ tục mà KTV thực hiện nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức thấp có thể chấp nhận được nhưng vẫn không phát hiện được hết các sai sót trọng yếu khi xét riêng hoặc tổng hợp lại Với một mức rủi ro kiểm toán xác định trước, mức độ rủi ro phát hiện được chấp nhận có quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro có sai sót trọng yếu được đánh giá ở cấp độ cơ sở dẫn liệu Ví dụ như, nếu KTV xác định có rủi ro sai sót trọng yếu ở mức độ càng cao thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được càng thấp, và cần thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục cao hơn
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác biệt với rủi ro phát hiện vì chúng tồn tại độc lập với cuộc kiểm toán, trong khi rủi ro phát hiện lại liên quan đến các thủ tục của KTV và có thể thay đổi theo sự xem xét của KTV Rủi ro phát hiện có mối quan
hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng thấp, rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được sẽ càng cao, và ngược lại, càng nhiều rủi ro tiềm tàng, và rủi ro kiểm soát được KTV tin là có tồn tại, thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được là càng thấp
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa các loại rủi ro, trước hết ta tìm hiểu về mô hình rủi ro kiểm toán
1.1.3.1 Mô hình rủi ro kiểm toán
AR = IR x CR x DR
Trong đó: AR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
Với 3 bộ phận của rủi ro kiểm toán: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện, mô hình rủi ro kiểm toán có thể chia rủi ro thành 2 thành phần chính: Một phần phụ thuộc vào doanh nghiệp (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát), một phần phụ thuộc vào KTV (rủi ro phát hiện)
Trang 21Do rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát không thể bị tác động mà chỉ có thể đánh giá, chúng tồn tại độc lập khách quan với các thử nghiệm kiểm toán Ngược lại, KTV có thể giảm thiểu rủi ro phát hiện bằng cách điều chỉnh nội dung, phạm vi và thời gian của thử nghiệm cơ bản Do đó, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV thường ấn định mức rủi ro kiểm toán mong muốn, đồng thời đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát dựa trên tình hình của doanh nghiệp, để từ đó xác định rủi ro phát hiện, làm cơ sở cho việc thiết kế các thử nghiệm kiểm toán Do đó, công thức có thể được sử dụng dưới dạng:
IR x CR Như vậy, mô hình rủi ro kiểm toán cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa các loại rủi
ro Trong mối quan hệ này, rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Qua nghiên cứu các loại rủi ro và mô hình rủi ro kiểm toán, chúng ta thấy rằng rủi
ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá cao thì rủi ro phát hiện có thể được đánh giá ở mức độ thấp để giảm rủi ro kiểm toán ở mức thấp nhất có thể chấp nhận được Ngược lại, khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là thấp thì có thể chấp nhận mức độ rủi ro phát hiện cao hơn nhưng vẫn phải đảm bảo rủi ro kiểm toán xuống thấp ở mức có thể chấp nhận được
Trang 22Trong đó:
Mỗi loại rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đều được chia thành ba mức: cao, trung bình, thấp
Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện
Rủi ro phát hiện được chia thành năm mức: cao nhất, cao, trung bình,
thấp, thấp nhất
1.1.4 Khái niệm đánh giá rủi ro và tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro
1.1.4.1 Khái niệm về đánh giá rủi ro
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315 về “Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị” thì “Đánh giá rủi ro là một thủ tục kiểm toán được thực hiện để tìm hiểu về đơn
vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, nhằm xác định và đánh giá và đối phó rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ BCTC hoặc cấp độ cơ sở dẫn liệu”
Mục đích của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là xác định rủi ro phát hiện làm cơ sở cho việc thiết kế các thử nghiệm cơ bản
Như vậy, đánh giá và đối phó rủi ro là một quá trình tích hợp bao gồm việc xác định
và đánh giá từng thành phần của rủi ro kiểm toán để từ đó thiết kế các thử nghiệm
cơ bản gồm thời gian, lịch trình, phạm vi phù hợp nhằm mục tiêu đạt được mức rủi
ro kiểm toán như kỳ vọng
Trang 2316
1.1.4.2 Tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro
Tiếp cận kiểm toán là cách thức mà KTV và đơn vị kiểm toán dựa trên các hiểu biết của đơn vị được kiểm toán, để từ đó thiết kế chương trình kiểm toán phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể của đơn vị đó nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm minh chứng cho ý kiến của KTV
1.1.5 Các mô hình tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro
1.1.5.1 Mô hình rủi ro tài chính
Mô hình rủi ro tài chính là phương pháp tiếp cận rủi ro dựa trên mối quan tâm chính yếu là rủi ro về mặt số liệu trên BCTC Mô hình này được đưa vào sớm nhất trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế từ những năm 1990 Mô hình này có đặc điểm:
- Để lập kế hoạch một cách có hệ thống, đòi hỏi KTV phải có những hiểu biết chung về hoạt động kinh doanh của khách hàng
- Đánh giá HTKSNB dưới góc độ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính
- Thủ tục phân tích được áp dụng trong mọi giai đoạn của cuộc kiểm toán để xác định xem liệu các xu hướng và các mối quan hệ tài chính hay hoạt động
kiểm toán mong muốn
Tính toán rủi ro phát hiện
Đánh giá và đối
phó rủi ro tiềm
tàng
Đánh giá rủi ro kiểm soát
Thiết kế thử nghiệm cơ bản
Trang 2417
Cách tiếp cận này đòi hỏi KTV phải xem xét một cách thận trọng những vấn đề về rủi ro có ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính trong quá trình lập kế hoạch và xây dựng chương kiểm toán cho từng chu trình nghiệp vụ của doanh nghiệp Chương trình kiểm toán phải nhấn mạnh vào những khu vực có rủi ro cao và các khoản mục trọng yếu trong cuộc kiểm toán
1.1.5.2 Mô hình rủi ro kinh doanh
Đứng trước sức ép về việc gìn giữ khách hàng, yêu cầu gia tăng giá trị kiểm toán, áp lực cắt giảm các thử nghiệm cơ bản trong việc kiểm soát chi phí ngày càng gia tăng tại các công ty kiểm toán, mô hình rủi ro tài chính đã không còn phù hợp Vì vậy, đòi hỏi phải có một phương thức tiếp cận mới nhằm thỏa mãn được sự kỳ vọng từ khách hàng, vừa đảm bảo sự phát triển của công ty kiểm toán Cuối những năm
1990, phương thức tiếp cận rủi ro tài chính được nâng cấp bằng cách tập trung nhiều hơn vào các rủi ro kinh doanh mà khách hàng đang gặp phải KTV phải hiểu biết về các rủi ro kinh doanh chiến lược mà khách hàng đang gặp phải bên cạnh những hiểu biết về rủi ro tác động đến việc xử lý và ghi chép các nghiệp vụ Sau sự kiện Enron, Worldcom tại Mỹ, hay Parnalat tại châu Âu, nghề kiểm toán gặp phải những chỉ trích gay gắt và đứng trước áp lực phải thay đổi cách tiếp cận kiểm toán,
mô hình rủi ro kinh doanh đã ra đời Điểm tiến bộ của phương thức này chính là vừa nhấn mạnh được vào các rủi ro kinh doanh chiến lược của đơn vị nhưng không mâu thuẫn với mô hình rủi ro tài chính, do đó, nó vẫn đáp ứng được các yêu cầu của chuẩn mực quy định Mô hình rủi ro kinh doanh chính là phần mở rộng của mô hình rủi ro tài chính nhằm giúp việc kiểm toán đạt hiệu quả hơn Kết quả là dẫn đến việc IAASB ban hành các chuẩn mực về đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán, cụ thể là chuẩn mực ISA 240, 315, và 330, trong đó đã chuyển từ mô hình rủi ro tài chính sang rủi ro kinh danh nhằm gia tăng hiệu quả và chất lượng kiểm toán
Theo cách tiếp cận này, KTV đưa ra ý kiến về BCTC bằng cách thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán để có sự bảo đám hợp lý rằng BCTC có trung thực hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không, theo các khuôn mẫu về BCTC được
Trang 2518
áp dụng Để đạt được các bằng chứng kiểm toán thích hợp hữu hiệu để đưa ra ý kiến, KTV phải thực hiện các thủ tục đánh giá và đối phó rủi ro, để cung cấp một cơ
sở cho việc xác định và đánh giá những rủi ro có sai phạm trọng yếu trên BCTC và
ở mức độ cơ sở dẫn liệu Thủ tục đánh giá và đối phó rủi ro là những thủ tục kiểm toán được thực hiện để thu thập hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của nó, bao gồm cả kiểm soát nội bộ, để xác định và đánh giá và đối phó rủi ro các sai phạm trọng yếu, gồm sai sót và gian lận, trên BCTC và ở cá góc độ cơ sở dẫn liệu, làm cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo, tức là xác định nội dung, thời điểm và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo sẽ được thực hiện
Những thay đổi cho phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro đã ảnh hưởng đến các vấn đề cốt lõi của công tác kiểm toán, mô hình này cung cấp một tiến trình đánh giá
và đối phó rủi ro một cách có hệ thống, nhấn mạnh đến hơn vai trò của quản trị rủi
ro, chẳng hạn như việc xác định, đánh giá, và ứng phó với các rủi ro
Theo ISA 315, “Rủi ro kinh doanh là rủi ro phát sinh từ các điều kiện, sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay không thực hiện các hành động có ảnh hưởng đáng kể mà
có thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện chiến lược của đơn vị, hoặc là rủi ro phát sinh từ việc xác định mục tiêu và chiến lược không phù hợp”
Mô hình rủi ro kinh doanh yêu cầu trước tiên KTV phải đánh giá rủi ro kinh doanh của đơn vị được kiểm toán trong hoàn cảnh cụ thể của đơn vị đó, chẳng hạn như tình hình kinh tế vĩ mô, sự thay đổi trong chính sách kinh tế, các quy định pháp luật tác động tích cực hay tiêu cực đến ngành nghề kinh doanh của đơn vị v.v Căn cứ trên đánh giá rủi ro về tình hình kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, KTV đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu do sai sót, gian lận hoặc hành vi không tuân thủ trong doanh nghiệp Sau đó, KTV mới xác định phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến từng loại rủi ro (rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) và xác định rủi ro phát hiện tương ứng với tình hình của đơn vị
Trang 2619
Để thực hiện đánh giá được rủi ro kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, đòi hỏi KTV phải có hiểu biết sâu rộng về tình hình kinh tế vĩ mô cũng như tình hình cơ bản của ngành nghề mà đơn vị được kiểm toán đang thực hiện kinh doanh, ngoài ra, KTV phải vận dụng các mô hình hỗ trợ trong quản trị rủi ro đế phân tích Trên thế giới hiện nay có nhiểu mô hình được áp dụng như mô hình PEST, phân tích tình hình kinh doanh theo bốn yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và công nghệ, mô hình SWOT – phân tích tình hình kinh doanh theo các yếu tố điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của một doanh nghiệp, hay mô hình 5F, 7F, mô hình chuỗi giá trị v.v
KTV có thể vận dụng một hoặc nhiểu các mô hình hỗ trợ nhằm phân tích tình hình kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, từ đó xác định được rủi ro kinh doanh mà đơn vị có thể gặp phải
1.3 Đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán theo yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán quốc tế
1.3.1 Lịch sử phát triển về đánh giá và đối phó rủi ro theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Nhằm “Phát triển và tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán bằng các chuẩn mực hài hòa trên phạm vi toán thế giới”, tháng 10/1977, Liên đoàn các nhà kế toán quốc
tế (IFAC) đã ra đời Trong IFAC, có nhiều ủy ban đảm trách các chức năng khác nhau, IAPC là Úy ban thực hành kiểm toán quốc tế phụ trách soạn thảo các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế Năm 1980, IAPC đã ban hành các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế IAG
Nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro và tiếp cận dựa vào rủi ro trong kiểm toán, trong 29 nguyên tắc chỉ đạo IAPC ban hành, có các nguyên tắc chủ yêu liên quan đến công tác đánh giá và đối phó rủi ro gồm:
IAG 4: Kế hoạch kiểm toán
IAG 6: Nghiên cứu đánh giá hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội
bộ có liên quan đến một cuộc kiểm toán
IAG 25: Trọng yếu và rủi ro
Trang 27Bên cạnh định nghĩa về rủi ro kiểm toán, IAG 25 cũng nêu ra bản chất của mỗi loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện và mối quan hệ qua lại giữa các loại rủi ro; mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập
kế hoạch và trong việc đánh giá bằng chứng kiểm toán
Như vậy, IAG 25 mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra định nghĩa và mô tả khái niệm
“trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán”, mối quan hệ nội tại giữa chúng và việc kiểm toán viên áp dụng những khái niệm này khi lập kế hoạch và tiến hành một cuộc kiểm toán
IAG 29 tiến bộ hơn một bước là hướng dẫn cho kiểm toán viên đánh giá các rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và sử dụng việc đánh giá đó để hình thành phương pháp kiểm toán cơ bản mà kiểm toán viên dự định tiến hành nhằm hạn chế rủi ro phát hiện ở mức thấp nhất có thể được
Theo IAG 29, để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên dùng khả năng chuyên môn của mình để đánh giá hàng loạt các nhân tố ở giai đoạn lập báo cáo tài chính và
ở giai đoạn kiểm tra số dư tài khoản và loại nghiệp vụ Kiểm toán viên đánh giá rủi
ro kiểm soát thông qua quá trình đánh giá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ và hệ thống kế toán của doanh nghiệp trong việc ngăn chặn hay phát hiện các sai sót quan trọng trong báo cáo tài chính
Những năm 1980, phương thức tiếp cận theo phân tích rủi ro tài chính được sử dụng Cách tiếp cận này yêu cầu kiểm toán viên phải xem xét một cách thận trọng những vấn đề về rủi ro và trọng yếu trong quá trình chuẩn bị chương trình kiểm toán cho từng nghiệp vụ của Doanh nghiệp Chương trình kiểm toán phải nhấn mạnh vào những khu vực có rủi ro và các khoản mục trọng yếu trong cuộc kiểm toán Để theo kịp những thay đổi này, đòi hỏi sự ra đời của các chuẩn mực kiểm toán
Trang 2821
Đến năm 1994, IAPC đã nâng cấp các nguyên tắc thực hành kiểm toán quốc tế và ban hành chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế ở giai đoạn này, các chuẩn mực liên quan trực tiếp đến đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính gồm:
ISA 240 – Gian lận và sai sót
ISA 250 – Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán báo cáo tài chính
ISA 300 – Lập kế hoạch kiểm toán
ISA 310 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh
ISA 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ
Trong các chuẩn mực trên, ISA 400 giữ vai trò trung tâm Sơ đồ sau đây sẽ tóm tắt mối quan hệ giữa các chuẩn mực trong việc thiết lập các yêu cầu đối với công tác đánh giá và đối phó rủi ro
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chuẩn mực liên quan đến đánh giá rủi ro
ISA 400 đề cập khái niệm rủi ro kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu:
Chuẩn mực yêu cầu kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả
ISA 400 cho rằng toàn bộ sai sót và gian lận là do bản chất của khoản mục được kiểm toán gây ra, điều này có thể thấy qua cách kiểm toán truyền thống của các
ISA 310
ISA 240
ISA 400
ISA 300ISA 250
Trang 29mô hình rủi ro truyền thống vì mô hình này ngày càng bộc lộ nhược điểm Trong
mô hình truyền thống, rủi ro được tiếp cận ở trạng thái tĩnh trong khi thực tế rủi ro thay đổi chủ yếu theo môi trường kinh doanh mà các thay đổi này thường diễn ra và luôn có ảnh hưởng lớn đến ngành nghề và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề đó Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, khó tách biệt rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát Nên nếu chỉ tập trung vào rủi ro về mặt tài chính trong cuộc kiểm toán, việc tư vấn sẽ kém hiệu quả
Do đó, phương thức tiếp cận kiểm toán theo phân tích rủi ro tài chính được nâng cấp bằng cách tập trung nhiều hơn vào các rủi ro kinh doanh hay rủi ro mang tính chất chiến lược mà khách hàng đang gặp phải, tức chuyển sang tiếp cận kiểm toán theo mô hình rủi ro kinh doanh
Mô hình rủi ro kinh doanh yêu cầu bên cạnh những hiểu biết vè rủi ro tác động đến việc xử lý và ghi chép các nghiệp vụ, kiểm toán viên phải có kiến thức sâu rộng hơn
về hoạt động kinh doanh của khách hàng, cụ thể là chiến lược kinh doanh, rủi ro gắn với chiến lược kinh doanh của khách hàng, các biện pháp đánh giá và đối phó rủi ro và xác định ảnh hưởng của các rủi ro đến sự trình bày trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính
Theo phương pháp tiếp cận này, kiểm toán viên phải dành nhiều thời gian hơn cho giai đoạn lập lế hoạch Đối vơi các nghiệp vụ thường xuyên xảy ra, kiểm toán viên
Trang 3023
sẽ dựa nhiều hơn vào hệ thống kiểm soát nội bộ bằng cách thực hiện các thử nghiệm kiểm soát Kiểm toán viên sẽ chỉ tập trung kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ không thường xuyên và với cách tiếp cận như thế, kiểm toán viên tin rằng sẽ giảm được rủi
ro kiểm toán và tăng tính hiệu quả của cuộc kiểm toán
Như vậy với một cách nhìn toàn diện hơn về doanh nghiệp (Top-down), mô hình rủi
ro kinh doanh giúp cho cuộc kiểm toán trở nên hiệu quả và hữu hiệu hơn so với cách tiếp cận truyền thống dựa trên việc kiểm tra các nghiệp vụ và số dư để suy ra các thông tin trên báo cáo tài chính (Bottom-up) Việc nhấn mạnh hơn vào các rủi
ro kinh doanh của cách tiếp cận này không mâu thuẫn mà chỉ mở rộng hơn phương thức tiếp cận theo rủi ro tài chính Do những thay đổi trong quan điểm đánh giá và đối phó rủi ro dẫn đến chuẩn mực ISA 400 đã không còn hiệu lực và sự ra đời hai chuẩn mực liên quan đến công tác đánh giả rủi ro gồm:
ISA 315 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị
và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu
ISA 330 – Thủ tục của kiểm toán viên trong việc đối phó những rủi ro đã lường trước
Ngoài ra, các chuẩn mực kiểm toán khác liên quan đến đánh giá rủi ro (ISA 200, ISA 240) cũng được thay đổi theo hướng đã hướng dẫn chi tiết hơn về những vấn
Trang 3124
yếu trong báo cáo tài chính và mở rộng các yêu cầu về lập hồ sơ kiểm toán đối với việc đánh giá rủi ro
Cụ thể, chuẩn mực ISA 315 đề cập đến các vấn đề chính như sau:
Thủ tục đánh giá rủi ro và nguồn thông tin về công ty được kiểm toán và môi trường kinh doanh kể cả kiểm soát nội bộ: Kiểm toán viên cần có hiểu biết về doanh nghiệp, về môi trường kinh doanh kể cả hệ thống kiểm soát nội bộ, đủ để nhận diện rủi ro có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính do sai sót hay gian lận gây ra, và
đủ để thiết kế và thực hiện thử nghiệm kiểm soát, bao gồm cả hệ thống kiểm soát nội bộ Các thủ tục bao gồm:
+ Phỏng vấn người quản lý và các nhân viên đơn vị
+ Thủ tục phân tích
+ Quan sát và kiểm tra
+ Thảo luận trong nhóm kiểm toán về khả năng báo cáo tài chính có sai lệch trọng yếu
Hiểu biết về đơn vị và môi trường kinh doanh, bao gồm cả hệ thống kiểm soát nội bộ: Phần này yêu cầu kiểm toán viên hiểu biết về các khía cạnh trọng yếu của doanh nghiệp và môi trường hoạt động, các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ, để nhận định và đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu Các thông tin cần tìm hiểu gồm:
+ Các nhân tố bên ngoài, như: ngành nghề, quy định pháp lý, hệ thống kế toán
+ Tính chất và đặc điểm của đơn vị
+ Mục tiêu, chiến lược và các rủi ro kinh doanh có liên quan
+ Đánh giá và soát xét kết quả hoạt động
+ Hệ thống kiểm soát nội bộ
Đánh giá rủi ro có sai lệch trọng yếu: Phần này yêu cầu kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ từng cơ sở dẫn liệu cho nhóm nghiệp vụ, cho số dư tài khoản và cho trình bày và công bố Để đánh giá, kiểm toán viên cần:
Trang 3225
+ Nhận diện những rủi ro thông qua thu thập hiểu biết tình hình của đơn vị
và môi trường, bao gồm hệ thống kiểm soát; và xem xét loại nghiệp vụ, số
dư tài khoản, và việc trình bày trên báo cáo tài chính
+ Liên hệ những rủi ro đã nhận diện với những sai sót có thể xày ra ở mức
đủ cung cấp bằng chứng hữu hiệu Kiểm toán viên được yêu cầu đánh giá việc thiết kế và việc thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong thực tế Cần chú ý những rủi ro mà những thủ tục kiểm toán riêng lẻ không cung cấp đủ bằng chứng thích hợp
Duyệt xét lại việc đánh giá rủi ro: Việc đánh giá rủi ro ở mức độ cơ sở dẫn liệu dựa trên các bằng chứng đáng tin cậy qua cuộc kiểm toán và có thể thay đổi theo bằng chứng thu thập được
Thông tin cho ban lãnh đạo (Governance and Management): Kiểm toán viên phải thông báo cho ban lãnh đạo ngay khi có thể có các yếu kém trọng yếu trong kiểm soát nội bộ đã biết
Lập hồ sơ kiểm toán: Hồ sơ kiểm toán phải lưu lại các vấn đề trong cuộc thảo luận giữa các thành viên trong nhóm kiểm toán về khả năng xảy ra những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính do gian lận hay sai sót, việc đi đến các quyết định quan trọng khác,…
1.3.2.2 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 330 – Thủ tục của kiểm toán viên trong việc đối phó với những rủi ro đã lường trước
ISA 330 hướng dẫn quá trình đánh giá và đối phó rủi ro, phân biệt rủi ro ở mức độ báo cáo tài chính và rủi ro ở mức độ cơ sở dẫn liệu, làm cơ sở cho các thủ tục kiểm toán được thiết kế để đối phó với các rủi ro đó Trường hợp đơn vị có những rủi ro
Trang 33hồ sơ kiểm toán đối với những thủ tục đối phó với rủi ro
Cụ thể, chuẩn mực này đề cập đến các nội dung chính như sau:
Đối phó rủi ro: Kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm toán trong đó chú trọng đến bản chất, phạm vi, quy mô, tính chất và thời gian của các thử nghiệm kiểm toán nhằm đối phó rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ cơ sở dẫn liệu Mục đích của công việc này nhằm làm rõ hơn mối liên hệ giữa nội dung, phạm vi, thời gian của các thử nghiệm kiểm toán với đánh giá và đối phó rủi ro
Thử nghiệm kiểm soát: Khi kiểm toán viên đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ cơ sở dẫn liệu, để xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị hoạt động
có hiệu quả không, kiểm toán viên phải thực hiện thử nghiệm kiểm soát để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp chứng minh rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị hoạt động hiệu quả trong suốt thời gian kiểm toán
Thử nghiệm cơ bản: Bất chấp việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu hay không, kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện thử nghiệm cơ bản cho mỗi nghiệp vụ kinh
tế, số dư tài khoản và công bố số liệu quan trọng
Đánh giá bằng chứng: Dựa trên những thử nghiệm kiểm toán đã thực hiện và những bằng chứng kiểm toán đã đạt được, kiểm toán viên phải đánh giá xem liệu rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ cơ sở dẫn liệu có còn phù hợp không
Lập hồ sơ kiểm toán: Kiểm toán viên phải lưu toàn bộ câu trả lời trong các cuộc trao đổi về đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở mức độ báo cáo tài chính; nội dung, phạm vi và thời gian của những thử nghiệm kiểm toán; mối quan hệ giữa các thử nghiệm này với việc đánh giá rủi ro ở mức độ cơ sở dẫn liệu; và kết quả của các thử nghiệm kiểm toán
1.3 Các quy định liên quan đến đánh giá và đối phó rủi ro trong chuẩn mực kiểm toán hiện hành tại Việt Nam
Trang 3427
Ở Việt Nam, Bộ tài chính chịu trách nhiệm ban hành các chuẩn mực kiểm toán, dựa trên cơ sở các chuẩn mực kiểm toán quốc tế (do IAASB ban hành):
Dựa trên hệ thống chuẩn mực này, Việt Nam đã soạn thảo hệ thống chuẩn mực cho
VN Chuẩn mưc kiểm toán đầu tiên được VN ban hành vào năm 1999 dựa trên chuẩn mực kiểm toán quốc tế ban hành vào năm 1994 Qua hơn 10 năm triển khai thì hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành từ 1999 – đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường Trước yêu cầu đó, ngày 13 tháng 5 năm
2008, Bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ký Quyết định số 1053/QĐ-BTC về việc “Ủy quyền cho Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam thực hiện nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam”
Việc nghiên cứu, soạn thảo và cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được thực hiện từ năm 2009 đến 2012, trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế do IAASB soạn thảo và công bố tháng 4 năm 2009, gồm 36 chuẩn mực kiểm toán, 01 chuẩn mực về kiểm soát chất lượng (ISQC1) có hiệu lực từ 15 tháng
12 năm 2009
Ngày 06 tháng 12 năm 2012, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới để thay thế hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 2014 Đây là công cụ quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động tài chính, kinh tế đất nước trong bối cảnh hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới Đây cũng là bước tiến quan trọng trong lộ trình nâng cao chất lượng dịch
vụ kiểm toán Việt Nam
Trong hệ thống chuẩn mực có hiệu lực từ năm 2014, các chuẩn mực liên quan trực tiếp đến đánh giá và đối phó rủi ro bao gồm:
VSA 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
VSA 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
VSA 330 – Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá
Trang 3528
Trong đó, VSA 315 và VSA 330 giữ vai trò chủ đạo trong việc đánh giá và đối phó rủi ro trong quá trình kiểm toán BCTC
Nội dung các chuẩn mực:
VSA 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính
“Khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi
là kiểm toán viên không phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.” (- Mục 05)
“Để đạt được sự đảm bảo hợp lý, kiểm toán viên phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình kiểm toán, phải cân nhắc khả năng Ban Giám đốc có thể khống chế kiểm soát và phải nhận thức được thực tế là các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện nhầm lẫn một cách hiệu quả có thể không hiệu quả trong việc phát hiện gian lận Các quy định của chuẩn mực kiểm toán này nhằm hỗ trợ kiểm toán viên trong việc xác định và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và thiết lập các thủ tục nhằm phát hiện sai sót đó.” (- Mục 08)
Đồng thời, chuẩn mực cũng đưa ra những tình huống, sự kiện để giúp KTV có thể xác định các trường hợp có nguy cơ xảy ra gian lận và sai sót và cách ứng xử của KTV khi phát hiện ra gian lận và sai sót
VSA 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết
về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
VSA 315 yêu cầu KTV trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán phải tìm hiểu về hoạt động kinh doanh, hệ thống kế toán, HTKSNB của đơn vị được kiểm toán để từ
đó xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp
độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu, thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ, từ đó cung cấp
Trang 3629
cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá
VSA 330 – Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá
Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên
và doanh nghiệp kiểm toán trong việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu mà kiểm toán viên đã xác định và đánh giá khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 Kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo với nội dung, lịch trình và phạm vi dựa vào kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu
Kết luận chương 1
Đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC là một tiến trình quan trọng và cần thiết trong việc nâng cao chất lượng hoạt động kiếm toán Trong chương này, người viết đã nêu lên cơ sở lý luận của công tác đánh giá và đối phó rủi ro, các nhân
tố ảnh hưởng, mối quan hệ của các loại rủi ro cũng như các mô hình rủi ro được áp dụng Ngoài ra, chương 1 cũng đã hệ thống hóa lại các yêu cầu về đánh giá và đối phó rủi ro theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế Đây là những cơ sở lý luận quan trọng để người viết xem xét, đánh giá tình hình khảo sát thực tiễn về đánh giá và đối phó rủi ro và những khó khăn mà kiểm toán viên gặp phải được thực hiện ở chương
2, cũng như đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện thêm quy trình này tại các công
ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại Việt Nam
Trang 3730
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỐI PHÓ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM
2.1 Đặc điểm các công ty kiểm toán vừa và nhỏ ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm công ty nhỏ và vừa ở Việt Nam
Công ty nhỏ và vừa là những công ty có quy mô nhỏ về mặt vốn, lao động hay doanh thu Với các tiêu chí này, các quốc gia trên thế giới tự xây dựng cách xác định các đối tượng thuộc doanh nghiệp nhỏ và vừa cho phù hợp với điều kiện kinh
tế của mỗi nước Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, các công ty nhỏ và vừa được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn, hoặc
số lao động bình quân Đối với nhóm ngành thương mại và dịch vụ, tiêu chí đánh giá theo Nghị định này như sau:
Bảng 2.1: Tiêu chí đánh giá quy mô các công ty nhỏ và vừa theo NĐ 56/2009 Cấp Tổng nguồn vốn Số lao động
Vừa Từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng Từ trên 50 người đến 100 người
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP)
Nghị định cũng cho rằng, tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp
Cần lưu ý, tiêu chí được chính phủ đưa ra trong nghị định nêu trên chủ yếu phục vụ cho việc thực thi các chính sách hỗ trợ của nhà nước dành cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ
2.1.2 Rủi ro và đặc thù của các công ty kiểm toán nhỏ và vừa tại Việt Nam
Hiện nay, ở nước ta đã có hơn 100 công ty kiểm toán có quy mô nhỏ và vừa được thành lập và hoạt động trên địa bàn cả nước, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành
Trang 38Chính vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế của ngành kiểm toán Việt Nam, với mục đích chính của việc phân loại nhằm hình thành nên một cơ sở cho việc thống
kê, đánh giá và kiểm soát chất lượng kiểm toán, Bộ tài chính và VACPA đã xác định các tiêu chí cụ thể phù hợp với đặc thù của ngành gồm: Số lượng khách hàng,
số lượng nhân viên, số lượng nhân viên có chứng chỉ hành nghề kiểm toán, số lượng khách hàng, doanh thu… Như vậy, từ bảng 2.1 người viết có thể xác định được những công ty thuộc quy mô nhỏ và vừa là những công ty có một trong các tiêu chí thỏa điều kiện sau:
Bảng 2.2: Tiêu chí xác định công ty KTĐL nhỏ và vừa
STT Chỉ tiêu Mức độ đánh giá
Trên cơ sở đó, người viết tiến hành chọn mẫu khảo sát các công ty KTĐL vừa và nhỏ
2.2 Thực trạng đánh giá và đối phó rủi ro tại các công ty kiểm toán nhỏ và vừa tại Việt Nam
2.2.1 Phương pháp khảo sát
Phương pháp khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng về đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC của các công ty kiểm toán độc lập nhỏ và vừa tại Việt Nam, người viết đã tiến hành khảo
Trang 39- Nội dung bảng câu hỏi dựa trên yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán VN
số 315 và VSA 330 Thang đo sử dụng là thang đo Likert Nội dung bảng
khảo sát được trình bày ở phụ lục số 1
Đối tượng khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát tại 30 công ty KTĐL nhỏ và vừa đang hoạt động ở Việt Nam Do hạn chế về mặt địa lý, việc chọn mẫu để khảo sát chủ yếu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Đối tượng khảo sát là các công ty kiểm toán vừa và nhỏ hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Kết quả khảo sát được trình bày ở mục 2.3.3 của chương này Đối tượng trả lời bảng khảo sát là các cá nhân có kinh nghiệm kiểm toán tại các Công ty KTĐL nhỏ và vừa trên 2 năm Danh sách đối tượng khảo sát được trình bày ở phụ lục số 3
Tổng hợp kết quả khảo sát: sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá, kết hợp điều tra thống kê thông qua xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS
2.2.2 Quy trình khảo sát, xử lý số liệu và kết quả nghiên cứu
Dựa trên kết quả các câu trả lời, người viết tiến hành tổng kết thực trạng đánh giá và đối phó rủi ro trong kiểm toán BCTC tại các công ty KTĐL nhỏ và vừa ở Việt Nam Kết quả khảo sát được tổng hợp theo phương pháp thống kê mô tả xử lý dữ liệu tổng hợp thông qua phần mềm SPSS, chi tiết mô tả các câu hỏi được trình bày trong từng giai đoạn đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán
Các câu hỏi tập trung vào các giai đoạn của quy trình đánh giá và đối phó rủi ro kiểm toán bao gồm:
Trang 4033
Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán – giai đoạn tiếp nhận khách hàng Giai đoạn này được đo lưởng bởi 4 câu hỏi, cho điểm mỗi câu hỏi tương ứng với thang đo Likert, điểm số bình quân 4 câu hỏi tối đa là 5 điểm
Giai đoạn tìm hiểu khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán – Tìm hiểu về môi trường hoạt động và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp được kiểm toán Giai đoạn này được đo lưởng bởi 5 câu hỏi, cho điểm mỗi câu hỏi tương ứng với thang đo Likert, điểm số bình quân tối đa là 5 điểm
Giai đoạn tìm hiểu khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán – Tìm hiểu về kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro sai sót do gian lận và rủi ro kiểm soát Giai đoạn này được đo lưởng bởi 5 câu hỏi, cho điểm mỗi câu hỏi tương ứng với thang đo Likert, điểm số bình quân 5 câu hỏi tối đa là 5 điểm
Giai đoạn đối phó rủi ro - Biện pháp xử lý đổi với các rủi ro đã đánh giá Giai đoạn này được đo lưởng bởi 3 câu hỏi, cho điểm mỗi câu hỏi tương ứng với thang đo Likert, điểm số bình quân 3 câu hỏi tối đa là 5 điểm
Như vày, nếu các công ty kiểm toán thực hiện đầy đủ, điểm số bình quân 4 giai đoạn tối đa sẽ là 5
chuẩn
truong nhom kiem