Đặc biệt, trái thanh long của Long An chưa xây dựng được thương hiệu cho mình, khi nhắc đến thanh long người ta thường nghĩ đến thanh long Chợ Gạo của Tiền Giang và thanh long Bình Thuậ
Trang 1TRƯƠNG HOÀNG CHINH
TP H ồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 2TRƯƠNG HOÀNG CHINH
TP H ồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử
dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi
hiểu biết của tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Học viên thực hiện
Trương Hoàng Chinh
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU BỀN VỮNG TRÁI THANH LONG C ỦA TỈNH LONG AN TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Thực trạng sản xuất và xuất khẩu thanh long của Long An …… ……19 2.1.1 Thực trạng sản xuất thanh long của Long An ……….…….… 19 2.1.2 Th ực trạng xuất khẩu thanh long của Long An……….….…….21
Trang 52.2.2 Chỉ tiêu xã hội ……… ……… 28
2.2.3 Ch ỉ tiêu môi trường……… ……… 37
2.3 Đánh giá tính bền vững trong xuất khẩu thanh long của Long An ….42
2.3.1 Chỉ tiêu kinh tế……… ……… 42
2.3.2 Ch ỉ tiêu xã hội ……… ……….… 52
2.3.3 Chỉ tiêu môi trường……… ……….…… 54
2.4 Kết luận về sản xuất và xuất khẩu bền vững thanh long của Long An 54
2.4.1 Nh ững thành tựu đạt được……… ………… 54
2.4.1.1 Thành tựu về mặt kinh tế……… ………… 54
2.4.1.2 Thành t ựu về mặt xã hội……… ……… 55
2.4.1.3 Thành t ựu về mặt môi trường……… ……… 55
2.4.2 Những hạn chế……… ……… ….………….56
2.4.2.1 H ạn chế 1: Trái thanh long Long An chưa có thương hiệu xuất khẩu ……….………56
2.4.2.2 Hạn chế 2: Yếu kém trong công tác xúc tiến thương mại và phụ thu ộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc……… ……… 56
2.4.2.3 Hạn chế 3: Công tác phát triển giống cây trồng còn yếu làm cho sản xu ất thiếu ổn định……… ……… …….… 57
2.4.2.4 H ạn chế 4: Thanh long trồng tự phát, thiếu quy hoạch dài hạn… 58
2.4.2.5 Hạn chế 5: Kỹ thuật canh tác và trình độ cơ giới hóa trong các khâu còn h ạn chế……… ………….……… 58
Trang 6CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU BỀN VỮNG CHO TRÁI THANH LONG LONG AN
3.1 M ục tiêu, quan điểm, cơ sở đề xuất giải pháp……… …….…60
3.1.1 Mục tiêu giải pháp ……… ……….60
3.1.2 Quan điểm đề xuất giải pháp ……… …… ………60
3.1.3 Cơ sở đề xuất giải pháp……… ………61
3.2 Đề xuất các nhóm giải pháp về sản xuất và xuất khẩu bền vững thanh long cho Long An……… ….………61
3.2.1 Nhóm giải pháp xây dựng thương hiệu xuất khẩu cho trái thanh long Long An……… ……….… 61
3.2.2 Nhóm gi ải pháp về đẩy mạnh xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường mới cho trái thanh long……… ………….…….63
3.2.3 Nhóm gi ải pháp về nghiên cứu công tác chọn giống nhằm ổn định sản xu ất trong thời gian tới……….………67
3.2.4 Nhóm giải pháp về quy hoạch vùng canh tác cho trái thanh long Long An trong tương lai……….68
3.2.5 Nhóm giải pháp về ứng dụng kỹ thuật canh tác hiện đại và nâng cao trình độ cơ giới hóa……… ……….69
3.2.6 Nhóm gi ải pháp nâng cao phúc lợi xã hội và xây dựng mô hình liên kết giữa nhà sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu………… ……… 71
TÓM T ẮT CHƯƠNG 3……… ……… 75
K ẾT LUẬN ……… ……….76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Ch ữ viêt tắt Di ễn giải bằng tiếng Anh Di ễn giải bằng tiếng Việt
GlobalGAP Global Good Agricultural
Practices
Thực hành nông nghiệp tốt tiêu chuẩn quốc tế
EuroGAP Euro Good Agricultural
Practices
Thực hành nông nghiệp tốt tiêu chuẩn châu Âu
PRA Pest Risk Analysis Phân tích nguy cơ dịch hại
VietGAP Vietnamese Good Agricultural
Practices
Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
Trang 8là “Phân tích nguy cơ dịch hại” gọi tắt là PRA, trong đó ấu trùng ruồi đục quả
là v ấn đề rào cản chủ yếu khi xuất khẩu vào các thị trường này Xuất trái cây sang các th ị trường này phải có điều kiện (1.chiếu xạ; 2.xử lý nhiệt; 3.xây
d ựng vùng phi dịch hại; 4.một giải pháp loại bỏ nguy cơ cụ thể khác) Thí dụ: + Thanh long, nhãn, v ải, chôm chôm, xoài, vú sữa: phải chiếu xạ để vào
M ỹ, hoặc xử lý hơi nước nóng để vào Nhật
+ Chu ối: thu hoạch giai đoạn quả còn xanh (green mature), trước khi chín vàng để vào Mỹ và Nhật
Là các th ị trường Mỹ, Nhật, New Zealand, Úc, Hàn Quốc, Chile…
Th ị trường dễ tính: PRA chưa phổ biến; hoặc tương đồng về sinh thái; hoặc
có đặc điểm đặc biệt về khí hậu Ấu trùng ruồi đục quả không là rào cản Xuất
kh ẩu trái cây vào các thị trường này dễ dàng Phần lớn các nước ở Châu Á
Tiêu chu ẩn VietGAP: (là cụm từ viết tắt của: Vietnamese Good Agricultural
Practices) có nghĩa là Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam dựa trên 4 tiêu chí như:
- Tiêu chu ẩn về kỹ thuật sản xuất
ch ất nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch
- Môi trường làm việc mục đích nhằm ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân
- Truy tìm ngu ồn gốc sản phẩm Tiêu chuẩn này cho phép xác định được
nh ững vấn đề từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
Trang 9chu ẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chu ẩn kỹ thuật đó” Như vậy, để bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức kho ẻ con người, môi trường, an ninh , các nước đều thiết lập và duy trì một
h ệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá
nh ập khẩu Tuy nhiên, nhiều nước lại có xu hướng lạm dụng các biện pháp kỹ thu ật này nhằm mục tiêu hạn chế hàng hóa nhập khẩu, bảo hộ cho sản xuất trong nước Do đó các biện pháp kỹ thuật này còn được gọi với cái tên “ các rào c ản kỹ thuật đối với thương mại”
Trang 10B ảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu thanh long và tốc độ tăng trưởng xuất
kh ẩu so với năm trước giai đoạn từ 2003 tới 2013 15
B ảng 2.1 Danh sách các hợp tác xã sản xuất thanh long tại Long An 20
B ảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu thanh long Long An qua các năm 21
B ảng 2.3 Giá thanh long xuất khẩu của Long An 22
B ảng 2.4 Thị trường tiêu thụ thanh long Long An 24
B ảng 2.5 Lý do người nông dân vẫn đang áp dụng phương pháp truyền th ống 28
B ảng 2.6 Tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp 42
B ảng 2.7 Tổng số lao động của doanh nghiệp 43
2 BI ỂU ĐỔ Bi ểu đồ 1.1 Diện tích và sản lượng thanh long qua các năm 14
Bi ểu đồ 1.2 kim ngạch xuất khẩu thanh long của Việt Nam 15
Bi ểu đồ 1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thanh long theo giá trị năm 2013 .… 16
Bi ểu đồ 2.1 thống kê thu nhập của các hộ nông dân trồng thanh long……25
Bi ểu đồ 2.2 Thống kê về dự định mở rộng diện tích canh tác của các hộ tr ồng thanh long 26
Bi ểu đồ 2.3 Thống kê dự định của người nông dân nếu thanh long liên tục r ớt giá 27
Bi ểu đồ 2.4 Thống kê tỷ lệ thanh long không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu 27
Bi ểu đồ 2.5 Anh chị có thiếu người thu hoạch thanh long vào mùa thu
ho ạch không ….36
Trang 11Bi ểu đồ 2.11 Kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp trong 2 năm tới 46
Bi ểu đồ 2.12 Tình hình đăng ký thương hiệu cho trái thanh long tại các doanh nghi ệp 47
Bi ểu đồ 2.13 Thị trường xuất khẩu thanh long của các doanh nghiệp ở Long An 48
Bi ểu đồ 2.14 Thống kê số doanh nghiệp có bộ phận Marketing 50
Bi ểu đồ 2.15 Mức độ thường xuyên của các hoạt động quảng bá thương
hi ệu thanh long ra quốc tế 51
Bi ểu đồ 2.16 Thống kê tỷ lệ nhân viên thời vụ tại các doanh nghiệp xuất
kh ẩu thanh long ở Long An 52
Bi ểu đồ 2.17 Mức độ liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu với các hộ
tr ồng thanh long tại Long An 53
Bi ểu đồ 2.18 Thống kê các giai đoạn được cơ giới hóa của doanh nghiệp 54
3 HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ phát triển bền vững …… 7 Hình 2.1 Chu ỗi cung ứng thanh long Long An 33 Hình 2.2 M ối liên hệ giữa độ ngày dài và nhiệt độ, ẩm độ để cây thanh long
ra hoa 40
Trang 12PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài:
Thanh long là một trong những chủng loại cây ăn quả đặc sản của huyện Châu Thành nói riêng hay của tỉnh Long An và cả nước nói chung Tính đến năm 2014,
tổng diện tích đất trồng thanh long toàn tỉnh Long An là hơn 3000 ha, chiếm gần 10% diện tích sản xuất của cả nước, được trồng tập trung chủ yếu tại các xã Long Trì, Dương Xuân Hội, An Lục Long, thị trấn Tầm Vu và các xã lân cận Thanh Phú Long, Phú Ngãi Trị, Phước Tân Hưng, Hiệp Thạnh,
Trong vài năm gần đây, thanh long đã trở thành cây ăn trái có giá trị kinh tế cao hơn
so với trồng lúa, bình quân 1 hecta canh tác thanh long đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn lúa từ 7-10 lần Từ năm 2005, nông dân trồng thanh long đã ứng dụng nhiều kỹ thuật mới vào sản xuất (chong đèn xử lý nghịch vụ, trồng mới bằng trụ bêtông, kỹ thuật bón phân, chăm sóc vườn,…) nên năng suất được nâng lên, trung bình 1 ha thanh long đạt lợi nhuận dao động từ 100-250 triệu/ha Điều này cho thấy thanh long là một trong những ngành hàng của tỉnh nhà có lợi thế cạnh tranh cao ngay cả
ở thị trường nội địa lẫn thị trường thế giới
Mặc dù thanh long được xem là loại trái cây xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao
của tỉnh, từng được xem là cây “xóa đói giảm nghèo” và hiện nay được coi là “cây
trồng làm giàu” của địa phương nhưng giá trị chưa tương xứng với tiềm năng thực
sự của nó Cụ thể diện tích thanh long trồng theo hướng GAP (tiêu chuẩn quốc tế) còn khá thấp, chiếm tỷ lệ tương đối thấp so với tổng diện tích trồng thanh long trong toàn tỉnh Hầu hết, thanh long được trồng nhỏ lẻ, mức độ phân tán khá cao, chưa sản xuất theo hướng chuyên canh với quy mô hơn Điều này, tạo ra một thách
thức lớn cho ngành xuất khẩu vì không thể cung cấp sản phẩm với số lượng lớn,
chất lượng sản phẩm đồng đều đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Ngoài ra phần lớn thanh long được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm hơn 80%, chưa phân tán tốt
mức độ rủi ro về sản phẩm và thị trường, điều này tạo ra một nghịch lý là thanh long được mùa lại mất giá Công nghệ bảo quản chế biến, phân loại đóng gói trái thanh long sau thu hoạch còn lạc hậu chủ yếu bằng biện pháp thủ công, làm cho tỷ
lệ hư hỏng, hao hụt ở mức cao, dẫn đến giá thành sản xuất cao, gây bất lợi cho trái thanh long Long An trong cạnh tranh về giá so với thanh long của các tỉnh khác trong nước như Tiền Giang, Bình Thuận cũng như các nước trong khu vực Hơn
nữa, các doanh nghiệp xuất khẩu thanh long chưa xây dựng được vùng nguyên liệu cho riêng mình mà chủ yếu thu mua qua trung gian Mối liên kết giữa nhà xuất khẩu
và người sản xuất còn rất yếu, tình trạng cung vượt cầu, giá cả giảm mạnh, nhưng
Trang 13doanh nghiệp xuất khẩu lại không đủ số lượng để xuất khẩu cũng thường xuyên xảy
ra Đặc biệt, trái thanh long của Long An chưa xây dựng được thương hiệu cho mình, khi nhắc đến thanh long người ta thường nghĩ đến thanh long Chợ Gạo của
Tiền Giang và thanh long Bình Thuận, làm cho công tác quảng bá tiếp thị trái thanh long Long An đến với người tiêu dùng trong nước và quốc tế cũng gặp khó khăn hơn.Cả người nông dân trồng thanh long lẫn các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn còn thiếu thông tin về thị trường, thiếu định hướng trong phát triển
Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu làm sao để việc sản xuất và xuất khẩu thanh long phát triển cả về lượng và chất trong lâu dài, tức là tăng trưởng và bền vững Để đạt được điều đó không chỉ là tăng quy mô, tăng năng suất, tăng chất lượng mà cần chú
ý đến những giá trị từ việc sản xuất và xuất khẩu trái thanh long mang lại cho xã hội đồng thời không làm tổn hại đến môi trường sinh thái Chính vì lý do trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái
thanh long c ủa tỉnh Long An” cho luận văn của mình nhằm mục đích nhận diện rõ
nguyên nhân dẫn tới sự sản xuất và phát triển xuất khẩu không bền vững trái thanh long để từ đó đề xuất giải pháp nhằm hướng tới sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái thanh long Long An
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng tính bền vững trong phát triển của hoạt động sản xuất và
xuất khẩu thanh long của tỉnh Long An
- Đề xuất giải pháp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu bền vững sản phẩm trái thanh long cho tỉnh Long An
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính bền vững của hoạt động sản xuất và xuất
khẩu thanh long tại Long An được xem xét tập trung ở 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề bền vững trong sản xuất và xuất khẩu thanh long
của tỉnh Long An
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu tổng hợp trên các tài liệu thu thập được, từ các công trình nghiên cứu trước đó, từ đó đưa ra các nhân tố tác động tới hoạt động sản xuất và xuất khẩu bền
vững làm cơ sở đề xuất mô hình sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái thanh long Long An
Nghiên cứu thực nghiệm và xử lý dữ liệu bằng phương pháp thống kê mô tả
Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn các hộ trồng thanh long chuyên canh xuất khẩu tại tỉnh Long An ( với số mẫu là 110 hộ) và các doanh nghiệp tổ chức thu mua, xuất khẩu thanh long của tỉnh Long An( với số mẫu là 15 doanh nghiệp) Tác giả tiến hành thu thập số liệu từ việc thực hiện bảng khảo sát các hộ nông dân trồng thanh long và các doanh nghiệp xuất khẩu thanh long trong tỉnh Long An, chủ yếu ở huyện Châu Thành Sau đó chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, mô tả và so sánh dữ liệu để làm rõ thực trạng sản xuất và xuất khẩu thanh long trong toàn tỉnh từ đó đề ra những giải pháp nhằm hướng hoạt động xuất
khẩu thanh long của tỉnh theo hướng bền vững trong tương lai
Ngoài ra chúng tôi còn thảo luận với các chuyện gia từ nước ngoài như Giáo sư Abdul Ghafoor, giảng dạy tại Đại học nông nghiệp Pakistan, ThS Trần Đan Tâm, chuyên viên nghiên cứu phát triển kinh tế, các chuyên gia của hợp tác xã thanh long
tại huyện Châu Thành, phòng nghiên cứu và phát triển nông thôn huyện Châu Thành về những giải pháp phát triển sản xuất và xuất khẩu bền vững mà chúng tôi
đề xuất để hoàn thiện, bổ sung cho bài nghiên cứu của mình
Ngu ồn dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp: số liệu của tổng cục thống kê, cục thống kê tỉnh Long An, sở kế
họach đầu tư Long An, sở khoa học công nghệ Long An, sở công thương Long An,
tổng cục Hải quan, một số tài liệu, sách báo và website có liên quan,…
Dữ liệu sơ cấp: số liệu điều tra thực tế qua bảng câu hỏi
5 Tổng quan nghiên cứu trước đây và tính mới của đề tài:
Từ khi Việt Nam nói chung và tỉnh Long An nói riêng xuất khẩu trái thanh long đi nước ngoài dường như chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về thực trạng
và giải pháp sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái thanh long Trong quá trình
Trang 15nghiên cứu tác giả có tham khảo các đề tài, công trình nghiên cứu liên quan như sau:
- Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Một số giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ thanh long tại bang California, Mỹ” của Phạm Thanh Thảo ( 2012), luận văn trình bày về nhu cầu tiêu thụ trái thanh long Việt Nam tại bang California của Mỹ, chưa
đi sâu vào giải pháp trồng và xuất khẩu trái cây này sang Mỹ và chỉ nghiên
cứu chủ yếu vùng trồng thanh long ở Bình Thuận, chưa đi sâu nghiên cứu
khả năng trồng và cung cấp loài trái cây đặc sản này tại Long An
- Công trình nghiên cứu: “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thanh long Bình Thuận sang thị trường Nhật Bản” của nhóm nghiên cứu ngành khoa học
xã hội, tuy nhiên đề tài này đưa ra nghiên cứu chung cho toàn diện tích trồng thanh long của Việt Nam, không đi sâu và một địa phương nào và không đưa
ra giải pháp cho tính xuất khẩu bền vững trong tương lai
- Công trình nghiên cứu: “ Chiến lược xuất khẩu thanh long sang thị trường
Mỹ” của công ty TNHH Thanh long Hoàng Hậu (2013), công trình chủ yếu nghiên cứu về tình hình xuất khẩu thanh long của tỉnh Bình Thuận và các nhân tố tác động tới hoạt động xuất khẩu thanh long, chưa đưa ra giải pháp phát triển mang tính lâu dài gắn liền 3 mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường
- Luận văn: “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu trái cây đồng bằng sông
Cửu Long” của Nguyễn Thế Lộc ( 2006), luận văn trình bày chung về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các loại trái cây có giá trị xuất khẩu cao của đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên chưa đi sâu để cập mặt hàng trái thanh long
và giải pháp cho việc xuất khẩu bền vững loại trái cây này
Đề tài “Giải pháp sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái thanh long của tỉnh
Long An” có những điểm mới như sau:
- Xác định được tiêu chí đánh giá sản xuất và xuất khẩu bền vững từ đó có cơ
sở đánh giá tính bền vững của họat động sản xuất và xuất khẩu thanh long về các mặt: tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường
- Xác định các yếu tố tác động đến sản xuất và xuất khẩu bền vững, trên cơ sở
đó xác định và phân tích các yếu tố tác động đến tính bền vững của họat động sản xuất và xuất khấu trái thanh long của Long An, từ đó tìm ra nguyên nhân của những vấn đề không bền vững
Trang 16- Các giải pháp đưa ra gắn liền với yêu cầu phát triển của sản xuất và xuất
khẩu bền vững ở các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của mặt hàng thanh long Long An
6 Kết cấu của đề tài
Bố cục luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về sản xuất và xuất khẩu bền vững của một ngành hàng Trình bày lý thuyết về phát triển bền vững từ đó tổng hợp và đưa ra những tiêu chí đánh giá sản xuất, xuất khẩu bền vững cho 1 ngành hàng nông sản, liên hệ xây dựng tiêu chí đánh giá cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu bền vững trái thanh long Chương 2: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu bền vững trái thanh long của tỉnh Long
An trong thời gian qua
Trong chương này, tác giả đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất và xuất khẩu thanh long tại tỉnh Long An thông qua kết quả sản xuất và xuất khẩu thanh long trong thời gian qua và những khảo sát thực tế từ việc sản xuất và xuất khẩu thanh long tại Long An.Từ đó, tác giả so sánh tiêu chí đánh giá sản xuất và xuất khẩu bền
vững, rút ra kết luận về những thành tựu đạt được và những hạn chế trong hoạt động
sản xuất và xuất khẩu thanh long tại tỉnh Long An làm cơ sở đề xuất giải pháp cho
họat động sản xuất và xuất khẩu bền vững
Chương 3: Giải pháp sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái thanh long của tỉnh Long An
Dựa trên những đánh giá và phân tích ở chương 2, tác giả đề xuất các giải pháp có liên quan đến sản xuất và xuất khẩu bền vững cho trái thanh long được trồng trên địa bàn tỉnh Long An, giải pháp bao gồm các nhóm giải pháp xuất phát từ lý thuyết
sản xuất và xuất khẩu bền vững: kinh tế, xã hội và môi trường dựa trên cơ sở phân tích số liệu khảo sát và kết luận rút ra từ chương 2
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU BỀN
V ỮNG MỘT NGÀNH HÀNG
1.1 Cơ sở khoa học về phát triển sản xuất và xuất khẩu bền vững nông sản
Thuật ngữ “ phát triển bền vững” ngày càng trở nên phổ biến và được quan tâm khi thế giới ngày càng phát triển Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên vào năm
1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà c̣òn ph ải tôn
trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái
học”
Đến năm 1987, thông qua báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của ủy ban môi trường và phát triển thế giới – WCED (nay là ủy ban Brundtland), khái niệm này được phổ biến rộng rãi hơn Báo cáo ghi rõ: Phát triển
bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế
hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội…phải
bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế, xã hội, môi trường
Khía c ạnh môi trường trong “ phát triển bền vững” đòi hỏi chúng ta duy trì sự
cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ lợi ích con người
Khía cạnh xã hội của “phát triển bền vững” chú trọng vào sự phát triển sự công
bằng và xã hội, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho con người có cơ hội phát huy hết
tiềm năng của bản thân cũng như mang lại điều kiện sống tốt hơn
Y ếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong “phát triển bền vững” Nó
đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên, được tạo điều kiện thuận lợi, được quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế và được chia sẻ một cách bình đẳng Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản
xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản Yếu tố được chú
trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập
Trang 18trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, nhưng trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản con người
biến thanh long cũng gây ảnh hưởng lớn tới môi trường Do đó, buộc chúng ta phải xem xét lại thước đo của sự phát triển Cần phải tính đến lợi ích của những cộng đồng không được hưởng lợi hoặc hưởng lợi quá ít từ sự tăng trưởng, đến lợi ích của
thế hệ mai sau
1.2 Tìm hi ểu phát triển sản xuất và xuất khẩu bền vững
1.2.1 Khái ni ệm sản xuất và xuất khẩu bền vững
1.2.1.1 Khái ni ệm xuất khẩu bền vững
Trang 19Xuất khẩu bền vững là hoạt động xuất khẩu hàng hóa trong đó nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu ổn định, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu ngày càng được nâng cao, góp phần tăng trưởng ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường
Theo đó, phát triển xuất khẩu bền vững là sự phát triển kết hợp hài hòa hai
nội dung:
+ Thứ nhất duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, đảm bảo
chất lượng tăng trưởng được nâng cao
+ Thứ hai là đảm bảo yêu cầu sự hài hòa giữa các mặt của phát triển bền
vững: kinh tế, xã hội, môi trường
Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động kinh tế nói chung, do đó phát triển
xuất khẩu bền vững cũng giống như phát triển kinh tế bền vững, phải duy trì được
tốc độ tăng trưởng cao và liên tục, đảm bảo chất lượng tăng trưởng trên cơ sở tăng giá trị gia tăng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng hiện đại, sức
mạnh cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu ngày càng được nâng cao Việc tăng trưởng xuất khẩu không liên tục, chứa đựng nhiều rủi ro tăng trưởng khi có biến động lớn do cơ cấu không hợp lý, sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu yếu kém, sụt
giảm tốc độ xuất khẩu gây nên bất ổn kinh tế vĩ mô…thì không thể coi là xuất khẩu
bền vững
Xuất khẩu bền vững phải đáp ứng yêu cầu về sự hài hòa của phát triển bền
vững: Kinh tế, xã hội, môi trường Xuất khẩu tăng trưởng cao liên tục, chất lượng được nâng cao nhưng xuất khẩu chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, tức là đánh dấu đổi mới môi trường để có được thành tích xuất khẩu cao thì không thể coi là xuất khẩu bền vững
Hoặc là, xuất khẩu chỉ phục vụ cho lợi ích một nhóm người, nhất là trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, chia sẻ lợi ích xuất khẩu không công bằng thì cũng không thể coi đây là xuất khẩu bền vững
Một vấn đề khác cũng cần chú ý khi nghiên cứu xuất khẩu bền vững là tính
bền vững của hoạt động xuất khẩu phải được xem xét trong dài hạn Tăng trưởng
xuất khẩu cao trong ngắn hạn trên cơ sở khai thác các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có
mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế cao (thu được nhiều ngoại tệ) chưa hẳn là xuất
khẩu bền vững nếu chỉ xuất khẩu hàng thô, có gía trị gia tăng thấp, làm cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường, đem lại lợi ích kinh tế cho một bộ phận tham gia xuất khẩu
Trang 20Xuất khẩu, xét về bản chất là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các
quốc gia Do đó, hoạt động xuất khẩu bền vững của một nước cũng cần tính đến sự
bền vững chung của thế giới Một môi trường phát triển bền vững trên bình diện thế
giới là một trong những điều kiện để phát triển xuất khẩu bền vững của một nước
1.2.1.2 Khái niệm sản xuất bền vững:
Sản xuất được xem là bền vững khi việc sản xuất đó đáp ứng được các nhu
cầu cơ bản và đem lại chất lượng cuộc sống tốt hơn, đồng thời giảm thiểu việc sử
dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các vật liệu độc hại, và giảm thiểu lượng
chất thải và các chất ô nhiễm phát thải trong suốt vòng đời sản phẩm, nhằm tránh gây nguy hại đến các nhu cầu của các thế hệ sau
Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về sản xuất nông nghiệp bền vững, trong
đó đáng quan tâm là định nghĩa của tổ chức sinh thái và môi trường thế giới (WORD) bởi tính tổng hợp và khái quát cao: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau, cũng có ý kiến cho rằng sự bền
vững của hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái Như vậy, nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản là: đảm bảo nhu cầu nông sản của loài người hiện nay bằng việc cung ứng sản phẩm ra
thị trường mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà sản xuất và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau, đảm bản tính gắn kết cộng đồng trong sản xuất Xây dựng nền nông nghiệp bền vững là việc làm cấp thiết và là xu hướng tất yếu
của tiến trình phát triển
Như vậy, đặc trưng một nền sản xuất nông nghiệp được coi là bền vững khi
nó đạt được 3 mục đích:
− Khía cạnh kinh tế: Đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo tính ổn định
− Khía cạnh xã hội: Đảm bảo công bằng kinh tế và công bằng xã hội
− Khía cạnh môi trường: Giữ gìn và làm phong phú môi trường, phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp theo xu hướng nền nông nghiệp sinh thái
Trang 21Cách tiếp cận về sản xuất bền vững được xem là chiến lược thực hiện cụ thể
để đạt được phát triển bền vững, trong đó bao gồm các yếu tố về kinh tế, môi trường
và xã hội Một cấu phần quan trọng của cách tiếp cận về sản xuất bền vững là việc
áp dụng rộng rãi các chính sách, các hoạt động của các thành phần, cũng như các
hoạt động đầu tư sản xuất để tác động đến cả cung và cầu các sản phẩm nhằm giúp
giảm thiểu các tác động xấu của việc sản xuất một cách đồng bộ
Ngoài việc đảm bảo thu nhập, lợi tức thì vấn đề môi trường cần luôn được quan tâm đúng mức trong một nền nông nghiệp bền vững Hiện nay trên thế giới đã
có nhiều trang trại lớn thực hành kiểu canh tác thân thiện với môi trường, trong đó
có quản lý sâu bệnh hại tổng hợp, bảo vệ và dự trữ nguồn nước, tạo ra những công
việc có tiền lương cao, giảm thiểu công việc nặng nhọc, công việc dễ gây tai nạn lao động, sử dụng máy móc tiết kiệm năng lượng v.v
Nhu cầu hướng đến sản xuất bền vững ngày càng gia tăng, sản xuất bền vững bao gồm việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới, sáng tạo trong thiết kế và cải tiến
sản phẩm, cũng như chú trọng đến các quá trình sản xuất như khuyến khích áp
dụng sinh thái công nghiệp, các tiếp cận vòng đời sản phẩm, sản xuất sạch hơn, sản
xuất xanh,
Tại các nước phát triển, những cải tiến, đổi mới về quá trình, công nghệ sản
xuất đã giúp giảm bớt lượng năng lượng cần sử dụng, giảm thiểu lượng phát thải các chất ô nhiễm như các oxit lưu huỳnh và các kim loại nặng, cũng như giúp tiết
kiệm chi phí cho doanh nghiệp Vấn đề cần chú ý là những nỗ lực giúp các sản
phẩm trở nên hoà hợp, tương thích với môi trường, cũng như đem lại các lợi ích về kinh tế (tiết kiệm chi phí) cho các công ty từ những cải tiến trên lại tạo ra điều kiện
rất thuận lợi để tiêu thụ nhiều hơn các sản phẩm và dịch vụ đó, và do đó phần nào
phủ nhận những lợi ích đạt được từ việc cải tiến quá trình sản xuất
Rõ ràng là các mục tiêu đặt ra của một nền sản xuất nông nghiệp bền vững
rất tuyệt vời Tuy nhiên để làm tốt các mục tiêu đó không phải là chuyện dễ dàng Ngay cả những nước phát triển cũng cần phấn đấu để dần có được một nền nông nghiệp bền vững trên cơ sở có sự phối hợp và liên kết hài hòa các mục tiêu kinh tế,
xã hội và môi trường Các mục tiêu này nhắm đến một sự bền vững cho cả thế giới,
và phải có bước đi thích hợp để đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của mọi người dân nói riêng và của cả cư dân trên trái đất Không thể vì một mục tiêu cứng nhắc nào
mà quên đi các mục tiêu khác, nhất là sự sinh tồn của cả cộng đồng
Trở lại với nền nông nghiệp Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 899/QĐ-TTg "Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao
Trang 22giá trị gia tăng và phát triển bền vững" sẽ là bước đột phá trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nếu biết xem trọng vai trò chủ thể của nông dân
1.2.2 M ối liên hệ giữa sản xuất bền vững và xuất khẩu bền vững
Sản xuất là một khâu quan trọng để tạo ra sản phẩm xuất khẩu, giá trị xuất
khẩu mang lại có cao hay không phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng sản phẩm, mức
độ thõa mãn từ sản phẩm đối với người tiêu dùng, muốn có chất lượng sản phẩm tốt
để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu thì ngay từ khâu sản xuất cũng phải đạt yêu cầu Trong xu thế chung của toàn cầu đang hướng đến phát triển bền vững, việc xuất
khẩu không còn chỉ phụ thuộc vào giá trị kim ngạch hay nói khác hơn là phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của kỳ sau cao hơn kỳ trước mà muốn xuất khẩu bền vững
phải xét tới mối quan hệ tổng hòa của 3 mặt kinh tế, xã hội, môi trường
Xuất khẩu muốn phát triển bền vững cũng phải dựa trên mối quan hệ sản
xuất bền vững Sản xuất không còn đơn thuần là quá trình tạo ra sản phẩm để cung
cấp ra thị trường mang lại thu nhập cho nhà sản xuất mà về lâu dài phải hướng tới
mục tiêu phát triển bền vững, muốn có một sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn phục vụ cho
xuất khẩu bền vững thì phải dựa trên một nền sản xuất bền vững trong mối quan hệ tổng hòa của các nhân tố kinh tế, xã hội, môi trường
Như vậy, điểm chung của mối quan hệ sản xuất và xuất khẩu bền vững là hướng tới mục tiêu tổng hòa các nhân tố kinh tế, xã hội, môi trường trong mục tiêu chung là phát triển bền vững Trong sản xuất nông nghiệp, nền tảng cho việc cung ứng ra các sản phẩm đạt chất lượng, mang lại giá trị kinh tế cao cho họat động xuất
khẩu bền vững chính là từ hoạt động sản xuất bền vững, xét về khía cạnh này đòi
hỏi phải có sự gắn kết giữa nhà sản xuất và nhà xuất khẩu, đó cũng là mục tiêu gắn
kết giữa cá cá nhân, các khâu thành một thể thống nhất trong tiêu chí xã hội của phát triển bền vững
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá sản xuất bền vững và xuất khẩu bền vững
*Tiêu chí 1: Tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững về kinh tế
- Tiêu chí này thể hiện bằng việc duy trì quy mô và tốc độ tăng trưởng Đó là tổng kim ngạch xuất khẩu hằng năm và tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm trong
họat động xuất khẩu và việc tăng trưởng trong quy mô sản xuất Quy mô kim ngạch
xuất khẩu được thể hiện ở tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu một nước trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả khu vực và thế giới Quy mô tăng trưởng trong sản xuất được đánh giá bằng việc mở rộng diện tích đất canh tác và xu hướng chuyển dịch cơ
cấu cây trồng
Trang 23- Một chỉ số khác thể hiện chất lượng tăng trưởng xuất khẩu là mức độ gia tăng giá
trị của hàng hóa xuất khẩu Đây là chỉ số rất quan trọng để đánh giá tính hiệu quả
của hoạt động xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
- Tính bền vững của hoạt động sản xuất và xuất khẩu còn được thể hiện qua một số
yếu tố khác như chất lượng hoạt động của hệ thống tài chính, ngân hàng, dịch vụ hỗ
trợ xuất khẩu, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, hệ thống phân phối.( Hồ Trung Thanh ( 2010), trang 42)
*Tiêu chí 2: Tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững về môi trường
- Mức độ ô nhiễm môi trường được đo bằng nồng độ các thành phần môi trường không khí, nước, đất, xử lý chất thải rắn…Chẳng hạn như mối quan hệ giữa tăng trưởng quy mô sản xuất và xuất khẩu với mức độ ô nhiễm hay mức độ cải thiện các thành phần môi trường
- Mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo và mức độ khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo Chẳng hạn, suy giảm đa dạng sinh học cải thiện nó dưới tác động của việc mở rộng xuất khẩu
- Tỷ lệ các doanh nghiệp đạt được các chứng chỉ môi trường Chẳng hạn như tỷ lệ các doanh nghiệp có chứng nhận tiêu chuẩn ISO 14000, HACCP,…
- Tỷ lệ các nhà sản xuất đạt được các chứng chỉ sản xuất như VIETGAP, GLOBAL GAP,…
- Mức độ đóng góp của sản xuất và xuất khẩu vào kinh phí bảo vệ môi trường cũng
là một trong những tiêu chí đánh giá tính bền vững về môi trường Trên thực tế khó
có thể tách bạch phần đóng góp của hoạt động sản xuất và xuất khẩu dành cho các
hoạt động bảo vệ môi trường Tuy nhiên, có thể thấy được phần đóng góp này thông qua đóng góp của các họat động này vào tăng trưởng kinh tế
- Khả năng kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động sản xuất và xuất khẩu
để hạn chế các tác động tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân…Tiêu chí này để phản ánh thông qua các chính sách bảo vệ môi trường
*Tiêu chí 3: Các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển bền vững về xã hội
- Tiêu chí đầu tiên đánh giá tính bền vững của sự phát triển sản xuất và xuất khẩu về
mặt xã hội là mức độ gia tăng việc làm từ việc mở rộng sản xuất và xuất khẩu Điều này có thể nhận biết được qua việc phân tích mối quan hệ giữa mở rộng sản xuất và thu hút lao động, tạo ra những việc làm mới
Trang 24- Một tiêu chí khác đánh giá sự phát triển xuất khẩu bền vững về mặt xã hội là mức
độ cải thiện thu nhập của người dân Các chỉ số đo lường mức thu nhập, tỷ lệ nghèo đói có thể được áp dụng để đánh giá tính bền vững về xã hội của sự phát triển xuất
khẩu
- Tỷ trọng các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu áp dụng các biện pháp để cải thiện môi trường và điều kiện lao động, chẳng hạn như áp dụng tiêu chuẩn SA8000 cũng
là một tiêu chí khác đánh giá tính bền vững về xã hội của xuất khẩu
- Phát triển sản xuất và xuất khẩu bền vững về mặt xã hội cũng có thể đánh giá thông qua việc phân tích cơ chế chia sẻ lợi ích từ hoạt động xuất khẩu, các vụ biểu tình, đình công của công nhân, khảo sát về bất bình đẳng thu nhập,…
Như vậy, việc phát triển sản xuất và xuất khẩu bền vững là nhiệm vụ kinh tế quan trọng đối với mọi quốc gia và mọi ngành nghề trên thế giới hiện nay nhằm đảm bảo một nền kinh tế ổn định, lâu dài cho hôm nay và cho cả thế hệ mai sau Ngành sản xuất và xuất khẩu thanh long cũng không nằm ngoài sự phát triển này
Để sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thanh long bền vững thì chúng ta phải quay về tìm lời giải cho vấn đề khó khăn là đáp ứng yêu cầu về sự hài hòa của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội, môi trường
1.3 Vài nét v ề tình hình sản xuất và xuất khẩu thanh long của Việt Nam 1.3.1 Tình hình sản xuất thanh long của Việt Nam
Thanh long là loại cây mau cho trái, sau khi trồng khoảng 8 tháng là có thể thu
hoạch, là cây dễ trồng, dễ chăm sóc, bên cạnh đó lợi nhuận từ cây thanh long có thể
gấp 7-10 lần so với trồng lúa Chính vì vậy diện tích thanh long phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây (năm 2000 diện tích khoảng 5000 – 7000ha, đến nay đã trên 26.000 ha) Vùng trồng thanh long cũng đã mở rộng rất nhiều Trước đây chỉ tập trung ở Bình Thuận, Tiền Giang và Long An, nay đã trồng khắp các vùng Đông Nam Bộ (Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vùng Tàu), ĐBSCL (Trà Vinh, Vĩnh Long, v.v cả đến Cà Mau) và lan rộng ra các tỉnh phía Bắc Tương tự như vậy, sản lượng thanh long cũng tăng lên rất nhiều (năm 2000 dưới 50.000 tấn, đến nay đã hơn 600.000 tấn)
Trang 25Biểu đồ 1.1 Diện tích và sản lượng thanh long qua các năm
(Nguồn: Ts Lương Ngọc Trung Lập, Báo cáo HN TFNet, 2013)
1.3.2 Tình hình xu ất khẩu thanh long của Việt Nam
1.3.2.1 Kim ng ạch xuất khẩu thanh long của Việt Nam
Trong thời gian qua, xuất khẩu thanh long của Việt Nam đã đạt được những
kết quả đột phá vượt bậc Đây là mặt hàng có tăng trưởng rất mạnh và liên t ục từ năm 2003 đến nay Sản lượng xuất khẩu thanh long Việt Nam lớn nhất thế giới hiện nay, 6 tháng đầu năm 2013 xuất khẩu thanh long đạt 120,6 nghìn tấn với kim ngạch đạt 78,9 triệu USD, tăng 3,7% về lượng và 24,1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm
2012 (Thông tin thương mại Bộ Công thương, năm 2012-2013)
Trong giai đoạn 2003-2013, kim ngạch xuất khẩu thanh long của nước ta đạt
mức tăng trưởng gấp 35 lần Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu thanh long của nước
ta chỉ đạt 5,8 triệu USD thì đến năm 2011 đã đạt 107 triệu và năm 2013 đạt 203 triệu USD Hiện, thanh long là chủng loại trái cây xuất khẩu chủ lực và có tỷ trọng
lớn nhất (trên 50% tổng giá trị trái cây xuất khẩu) của nước ta (thông tin thương mại
Bộ Công thương, 2012-2013)
Trang 26Năm 2013
203 triệu USD
Năm 2003
Năm 2005
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
5,8 triệu USD
10,4 triệu USD
59,1 triệu USD
107 triệu USD
181 triệu USD
203 triệu USD
(12,2% so với 2012)
Nguồn : Viện cây ăn quả miền Nam ( 2014)
Biểu đồ 1.2 Kim ngạch xuất khẩu thanh long của Việt Nam
Thanh long Việt Nam sản xuất chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu (chiếm trên 80% sản lượng) Kim ngạch xuất khẩu thanh long tăng đáng kể qua các năm Theo
tổng kết trong năm 2013, thanh long Việt Nam xuất sang khoảng 40 quốc gia, vùng, lãnh thổ trên thế giới, phát triển thêm 05 thị trường mới là: Phillipine, Myanma, Úc,
Ấn Độ và Đan Mạch và có 02 thị trường xuất khẩu bị gián đoạn là Đài Loan và Chilê
B ảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu thanh long và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu so
v ới năm trước giai đoạn từ 2003 đến 2013
Năm Kim ng ạch (triệu
Trang 271.3.2.2 Thị trường xuất khẩu thanh long của Việt Nam
Hiện nay, thanh long Việt Nam được xuất khẩu khoảng 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ; trong đó có cả các
thị trường được coi là khó tính như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc Ngoài
những thị trường truyền thống như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hà Lan… như lâu nay, năm 2013 đã phát triển thêm một số thị trường mới như Chilê, Brunei và Greenland Tuy kim ngạch xuất khẩu thanh long vào các thị trường mới này còn khiêm tốn nhưng bước đầu đã thâm nhập và tạo được sự đa dạng hóa trong
cơ cấu thị trường xuất khẩu thanh long của Việt Nam
(Nguồn :Viện Cây Ăn Quả Miền Nam năm 2013)
Biểu đồ 1.3 cơ cấu thị trường xuất khẩu thanh long theo giá trị năm 2013
Qua cơ cấu thị trường cho thấy sự phụ thuộc rất lớn của thanh long Việt Nam vào thị trường Trung Quốc Khi thị trường này có sự thay đổi (về cơ chế chính sách
xuất nhập khẩu, sử dụng rào cản kỹ thuật…) thì người sản xuất - kinh doanh thanh long dễ gặp rủi ro và bất lợi lớn Việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đối với bất
cứ mặt hàng nào, cũng có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp nước nhà
Trang 281.3.2.3 Đối thủ cạnh tranh của thanh long Việt Nam
Tại Mỹ, thanh long chủ yếu được trồng ở Hawai khoảng 500 ha Đối tượng tiêu thụ thanh long tại Mỹ chủ yếu vẫn là người Châu Á Vì vậy cần có những chiến
dịch quản bá trái thanh long đến người dân Mỹ để nhu cầu về thị trường này tăng
mạnh hơn trong tương lai Bên cạnh đó Thái Lan cũng đã nộp đơn với phía Mỹ cho thanh long chiếu xạ của Thái xuất vào Mỹ
Thanh long cũng có trồng ở đảo Okinawa ở Nhật Bản, tuy nhiên diện tích không nhiều Hiện nay, thanh long đã trồng được ở Đài Loan và cũng được cấp phép xuất khẩu vào Nhật Bản
Israel cũng có trồng khoảng 500 ha thanh long
Hiện tại Trung Quốc cũng đang thử nghiệm trồng thanh long ruột trắng tại
một số tỉnh, tuy nhiên do đặc tính cây trồng chỉ thích hợp với mỗi vùng đất nên tính hiệu quả chưa cao
Trang 29TÓM TẮT CHƯƠNG 1:
Chương 1 cung cấp cho người đọc một cách tổng quan nhất về lý thuyết phát triển
bền vững và lý thuyết về xuất khẩu bền vững của một ngành hàng, mà cụ thể là ngành hàng nông sản, đồng thời cũng xác định được các tiêu chí cụ thể của việc đánh giá sản xuất và xuất khẩu bền vững của một ngành hàng Sản xuất và xuất
khẩu bền vững phải được đặt trong mối quan hệ tổng hòa lợi ích giữa các nhân tố kinh tế, xã hội, môi trường
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU BỀN VỮNG TRÁI THANH LONG C ỦA TỈNH LONG AN TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Th ực trạng sản xuất và xuất khẩu thanh long của Long An
2.1.1 Th ực trạng sản xuất thanh long của Long An
2.1.1.1 Vùng sản xuất
Trước đây huyện Châu Thành được tỉnh quy hoạch vùng trồng thanh long đến năm 2015 là 1.500 ha, huyện bố trí quy hoạch trồng trên địa bàn 5 xã cụ thể ấp 1,6,7,8 xã Hiệp Thạnh, Thị trấn Tầm Vu, Dương Xuân Hội, Long Trì, An Lục Long
Do hiệu quả của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây thanh long đến năm
2012 huyện đã điều chỉnh bổ sung quy hoạch diện tích trồng thanh long đến năm 2015-2020: 2.380-3.315 trên địa bàn 11/13 xã cụ thể diện tích trồng thanh long được bố trí trồng hết diện tích đất sản xuất của địa bàn 5 xã: Hiệp Thạnh, Thị trấn
Tầm Vu, Dương Xuân Hội, Long Trì, An Lục Long Mở rộng thêm diện tích 6 xã: Thanh Phú Long, Phước Tân Hưng, Phú Ngãi Trị, Hòa Phú, Vĩnh Công, Bình Quới Riêng 2 xã Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông do điều kiện đất nhiễm phèn, mặn, xa nguồn nước tưới nên không bố trí trồng
Ngày 25/12/2013 tỉnh phê duyệt đề án “Sản xuất thanh long xuất khẩu huyện Châu Thành tỉnh Long An giai đoạn 2011-2015, định hướng năm 2020” diện tích thanh long huyện 2015: 3.300 ha, 2020: 5.000 ha
Năm 2014 UBND tỉnh quy hoạch đến 2020 diện tích thanh long toàn tỉnh 10.000 ha Trong đó Châu Thành là 8.000ha
2.1.1.2 Diện tích trồng thanh long của tỉnh Long An
Năm 2011 diện tích toàn huyện Châu Thành 1.204 ha, năm 2012 diện tích toàn huyện 1.478 ha Năm 2013 diện tích 2.748 ha, trong 2.748 ha có 1.200 ha thanh long cho trái, đến 15/1/2014 diện tích 3.258 ha, trong vòng 3 năm 2011-2013
diện tích tăng 2.058 ha Năm 2014 diện tích thanh long 3.258 ha có 2.272 ha thanh long cho trái Do hiệu quả kinh tế từ thanh long diện tích tăng nhanh các xã mới bổ sung quy hoạch Thanh Phú Long, Phước Tân Hưng, Phú Ngãi Trị, Hiệp Thạnh, Hòa Phú, Vĩnh Công, Bình Quới Đến 30/3/2014 diện tích 3.300 ha Dự kiến diện tích sau khi thu hoạch lúa vụ 3 năm 2014 sẽ tăng từ 3.800-4.000 ha
Trang 31Hiện nay, tại Long An đã có 04 hợp tác xã, nhưng hoạt động và hiệu quả
chưa cao Trong đó, chỉ có một hợp tác xã đã tiêu chuẩn GlobalGAP với diện tích
8/2004 85/55
có 38 hộ tham gia sản xuất thanh long theo tiêu chuẩn GlobalGAP với
diện tích 34,54ha
19/4/2012 15/20
Nguồn: Hợp tác xã Dương Xuân
2.1.1.3 Năng suất, sản lượng
Trong 3.258 ha thanh long có 2.000 ha thanh long ruột trắng, 1.257 ha thanh
long ruột đỏ, với trên 6.800 hộ trồng Sản lượng thanh long năm 2013 đạt 72.000
tấn Năng suất bình quân 45 tấn/ha/năm (thanh long chính vụ 10 tấn, thanh long rải
vụ 15 tấn/ha/lần thắp đèn, bình quân 2 lần thắp đèn/năm) Dự kiến sản lượng thanh
long toàn tỉnh năm 2014 đạt 102.000 tấn
Trang 32KẾT LUẬN
Từ những thông tin thống kê trên, chúng tôi đưa ra nhận định chung về tình
sản xuất Thanh Long tại Long An như sau:
- Thanh Long là loại trái cây xuất khẩu chủ lực trong cả nước nói chung và
tỉnh Long An nói riêng Long An hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên về môi trường, xã hội, con người để phát triển loại cây này Tuy nhiên, hơn 80% thanh long của Việt Nam đươc xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc Khi
thị trường này có sự thay đổi (về cơ chế chính sách xuất nhập khẩu, sử dụng rào cản kỹ thuật…) thì người sản xuất - kinh doanh thanh long dễ gặp rủi ro
và bất lợi lớn Từ năm 2009 đến nay, thanh long Việt Nam đã được xuất
khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, tuy nhiên
số lượng và kim ngạch xuất khẩu còn khiêm tốn Đẩy mạnh xúc tiến thương
mại để đưa trái thanh long Việt Nam đến các thị trường khác nhau trên thế
giới là một công việc quan trọng nhằm tiến đến xúc khẩu bền vững trong tương lai
- Diện tích trồng thanh long của toàn tỉnh Long An vào khoản 3.450 ha, chủ yếu đươc trồng tại huyện Châu Thành với 2748 ha (chiếm 80% diện tích toàn
tỉnh) Tuy nhiên diện tích trồng thanh long còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu quy
hoạch ảnh hướng đến công tác định hướng trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGap và GlobalGap của toàn tỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững giống cây trồng này trong tương lai
2.1.2 Th ực trạng xuất khẩu thanh long của Long An
2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu và giá xuất khẩu của thanh long Long An
B ảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu thanh long Long An qua các năm
Năm Kim ngạch ( triệu USD)
Trang 33Theo số liệu thống kê kim ngạch xuất khẩu thanh long của Long An tăng nhanh qua các thời kỳ, năm 2011 tăng gần 83 % so với năm 2010, năm 2012 tăng 110% so với năm 2011, sở dĩ tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu trong thời gian 2010
tới 2012 tăng nhanh là do thanh long Long An tìm được thị trường xuất khẩu mới
và bên cạnh đó thương lái Trung Quốc tăng mua thanh long tại khu vực Long An làm cho tốc tăng sản lượng nhanh chóng, năm 2013 tăng gần 68% so với cùng kỳ năm 2012 tuy nhiên tốc độ tăng có chậm dần do thị trường Trung Quốc tạm giảm số lựơng thu mua thanh long tại Việt Nam Nhìn chung, tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu của thanh long Long An có tăng nhanh qua các năm nhưng chưa tương xứng
với tiềm năng của tỉnh và so với cả nước Nguyên nhân chủ yếu của việc sản phẩm trái thanh long của Long An chưa đạt được kim ngạch như mong muốn là do chưa
có thương hiệu lớn và vẫn còn ít vùng trồng thanh long có đủ các tiêu chuẩn hàng hóa như EURAPGAP (tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của châu Âu) hoặc ASIANGAP (châu Á) Bên cạnh đó, việc tổ chức thâm nhập thị trường còn hạn chế, ngoài một số nhà xuất khẩu chính đã có thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, một lượng lớn thanh long đang lưu thông trên thị trường vẫn còn mang danh nghĩa của nhà nhập khẩu Vì vậy, hầu hết lượng thanh long của Long An
chỉ được xuất khẩu dưới dạng ủy thác hay gia công hàng xuất khẩu cho các công ty nước ngoài Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2013, diện tích canh tác trồng thanh long sẽ mở rộng tới hơn 3000 ha Để tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ, Long An cần phải xây dựng nhiều biện pháp tối ưu, đồng bộ như: xây dựng quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh đạt năng suất cao và phẩm
chất tốt, sưu tầm và tuyển chọn giống thích hợp với điều kiện sinh thái, thị hiếu của người tiêu dùng
B ảng 2.3 Giá thanh long xuất khẩu của Long An
Khu vực xuất khẩu Giá trị hợp đồng xuất thanh long
Châu Á 0,7 – 1,5 USD/kg
Châu Âu 2,5 - 5,5 USD/kg
Mỹ 5,5 USD/kg
Nội địa Tùy thxông đèn, lễ tết) ời điểm trong năm ( chính vụ,
Nguồn: Hợp tác xã thanh long Dương Xuân tổng hợp
Trang 34Nhìn chung, giá thanh long xuất khẩu vào các thị trường qua các năm có tăng, năm sau so với năm trước Giá thanh long xuất khẩu ở mỗi thị trường có chênh lệch khác nhau tùy theo mùa vụ, yêu cầu về tiêu chuẩn, mẫu mã; phương tiện vận chuyển, yêu cầu xử lý kỹ thuật trước khi xuất khẩu (chiếu xạ, gia nhiệt),… Những thị trường xa
và khó tính như Châu Âu, Hoa Kỳ giá xuất khẩu khá cao nhưng doanh nghiệp xuất khẩu phải có kinh nghiệm và thật sự “chuyên nghiệp”, am hiểu nghiệp vụ ngoại thương; ngoài ra doanh nghiệp phải tìm, lựa chọn nguồn hàng đáp ứng yêu cầu, trong quá trình xuất khẩu dễ gặp rủi ro… nên chỉ có các doanh nghiệp có kinh nghiệm mới xuất khẩu vào những thị trường khó tính này
2.1.2.2 Th ị trường tiêu thụ
Thanh long Long An ban đầu chủ yếu được tiêu thụ trong nước với sản lượng tương đối thấp nhưng từ khi trái thanh long được xuất khẩu thì sản lượng tăng lên nhanh chóng, ban đầu trái thanh long Long An chủ yếu được xuất khẩu
bằng đường tiểu ngạch sang thị trường chính là Trung Quốc nhưng sau đó thị trường xuất khẩu thanh long Long An được mở rộng ra các quốc gia khác trong khu
vực Hiện nay, ngoài những thị trường xuất khẩu truyền thống như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Hà Lan, thời gian gần đây thanh long còn xuất được sang các
thị trường mới như Tây Ban Nha, Philippine, Ấn Độ, Quata, Nhật Với các thị trường mới kim ngạch chưa cao, nhưng bước đầu đã tạo được sự đa dạng trong cơ
cấu thị trường, tiến tới giảm dần việc phụ thuộc vào một số thị trường chính
Hiện Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu thanh long lớn của Long An, chiếm tỷ trọng kim ngạch hơn 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thanh long của
tỉnh Thanh long của Long An do được trồng theo tiêu chuẩn quốc tế nên thời gian
gần đây kim ngạch xuất khẩu thanh long sang EU cũng đã tăng trở lại và bước đầu
xuất khẩu được sang Hoa Kỳ, tuy nhiên số lượng và kim ngạch còn hạn chế không đạt được giá trị và kim ngạch như thanh long Bình Thuận khi xuất sang nhóm thị trường khó tính này Tháng 4/2014, đặc sản này của Long An được bảo hộ độc quyền tại Mỹ trong thời hạn 10 năm
Khu vực Trung Đông cũng đang có nhu cầu nhập thanh long rất cao và dần
trở thành thị trường xuất khẩu tiềm năng của thanh long Long An Bên cạnh đó, thị trường Ấn Độ cũng là thị trường đầy tiềm năng với thanh long Long An Tại các thị trường gần như Thái Lan, thanh long cũng tăng được lượng xuất khẩu do được ưa chuộng, đặc biệt với giống thanh long ruột đỏ và tím hồng
Trang 35Bảng 2.4 Thị trường tiêu thụ thanh long Long An
Từ những thông tin thống kê trên, chúng tôi đưa ra nhận định chung về tình
xuất khẩu Thanh Long tại Long An như sau:
- Kim ngạch xuất khẩu thanh long tăng qua các năm tuy nhiên tính tăng trưởng còn chưa ổn định và chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, giá thanh long còn thấp so với mặt bằng chung giá thanh long thế giới, giá thanh long Việt Nam Nguyên nhân là do công tác trồng thanh long theo hướng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu tại Long An còn hạn chế, không đảo bảo tính bền vững trong sản xuất
- Thị trường tiêu thụ thanh long Long An trong thời gian qua có phát triển, nhiều thị trường mới được thâm nhập và bước đầu trái thanh long Long
An xuất sang được người tiêu thụ chấp nhận tốt Tuy nhiên, việc xuất
Trang 36khẩu thanh long Long An vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào thị trừơng Trung Quốc làm tăng nguy cơ không xuất khẩu được khi thị trường này
tạm ngưng tiêu thụ, thanh long Long An xuất khẩu sang thị trường này
chủ yếu là con đường tiểu ngạch nên còn rủi ro Chính điều này tạo nên
sự không bền vững trong họat động xuất khẩu thanh long
2.2 Đánh giá tính bền vững trong sản xuất thanh long của Long An
2.2.1 Ch ỉ tiêu kinh tế
Với 1: ‘Thu nhập cao tăng qua các năm và ổn định’
2: ‘Thu nhập cao tăng qua các năm nhưng không ổn định’
3: ‘Thu nhập không cao nhưng ổn định’
4: ‘Thu nhập không cao và không ổn định’
Nguồn: khảo sát từ tác giả (Xem phụ lục thống kê bảng 2.1)
Bi ểu đồ 2.1 Thống kê thu nhập của các hộ nông dân nhờ trồng thanh long
Thu nhập của các hộ trồng thanh long nhìn chung tăng mạnh qua các năm (khoảng trên 80%, xem biểu đồ 2.1), nhưng phần lớn người dân nhận định là không
ổn định Như trong năm 2008, 2009 giá thanh long xuống rất thấp khoảng 1000đ –
2000 đ/kg nhưng không ai mua, trong những năm gần đây giá thanh long liên tục tăng, khiến cho người dân ồ ạt trồng thanh long và có dự định mở rộng diện tích
trồng thanh long trong tương lai (khoảng 79%, xem bảng 2.2), chính điều này tạo sự
bất ổn, thiếu quy hoạch và cũng là một trong những nguyên nhân gây nên sự phát triển không bền vững trong tương lai cho việc sản xuất thanh long
Trang 37Biểu đồ 2.2 Thống kê về dự định mở rộng diện tích canh tác của các hộ trồng thanh long (Ngu ồn: khảo sát từ tác giả (Xem phụ lục thống kê 2.2))
Theo thống kê tại huyện Châu Thành, chính nhờ thu nhập từ cây ăn quả này,
tỷ lệ hộ khá của xã đã tăng lên, hơn 90% trong năm 2013, thu nhập bình quân đầu người của xã là 35 triệu đồng/người/năm
Tuy nhiên, hiện nay giá cả thanh long vẫn còn bấp bênh chưa tạo được sự tin tưởng cho nông dân, để họ yên tâm vào canh tác Nếu không có công tác dự báo và khuyến nông hiệu quả thị rất dễ xảy người dân rất dễ rơi vào vòng lẩn quẩn của việc
“bỏ rồi lại trồng, trồng rồi lại bỏ theo thị trường” Kết quả khảo sát từ biểu đồ 2.3 cho thấy, phần lớn các hộ trồng thanh long sẽ chuyển đổi loại cây trồng nếu giá của thanh long cứ giảm liên tục, giống như họ đã từng làm với cây lúa, và cây nếp (tỷ lệ 94%, xem biểu đồ 2.3), từ đó cho thấy tính bền vững trong công tác quy hoạch vùng
sản xuất thanh long chưa đảm bảo, còn ẩn chứa nhiều rủi ro, tạo sự khó khăn trong công tác quy hoạch và quản lý nông nghiệp của địa phương, không có nền tảng cho
một nền kinh tế phát triển bền vững
Trang 38Nguồn: khảo sát từ tác giả (xem phụ lục thống kê 2.3)
Bi ểu đồ 2.3 Th ống kê dự định của người nông dân nếu thanh long liên tục rớt giá: Năng suất cây thanh long ở Long An
Nguồn: Khảo sát của tác giả (Xem phụ lục thống kê 2.4)
Bi ểu đồ 2.4 Thống kê số lượng thanh long không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
Kết quả ở biểu đồ 2.4 cho thấy số lượng thanh long không đủ tiêu chuẩn xuất
khẩu trên 60 kg chiếm đến 11%, từ 30 đến 60 kg chiếm 25% và dưới 30Kg chiếm 64%
Trang 392.2.2 Chỉ tiêu xã hội
Trình độ kỹ thuật của người trồng thanh long ở Long An
Quy trình trồng thanh long dân Long An khá đơn giản, nhưng để trồng được trái thanh long đạt chuẩn đủ điều kiện để xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, châu Âu và nhật Bản đòi hỏi người nông dân phải có một quy trình chăm sóc, theo dõi và ghi chép cận thận theo yêu cầu của tiêu chuẩn VietGap và xa hơn nữa là tiêu chuẩn GlobalGap, tuy nhiên hiện tại để đảm bảo tính bền vững trong họat động sản
xuất và tạo tiền đề cho công tác xuất khẩu bền vững, việc chuyển từ trồng thanh long theo cách truyền thống sang trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGap hay GlobalGap của người dân vẫn còn thấp, bảng 2.5 cho thấy một số lý do khiến người nông dân chưa mạnh dạn trong việc trồng theo tiêu chuẩn hiện đại
B ảng 2.5 Lý do người nông dân vẫn đang áp dụng phương pháp truyền thống
Ý kiến Số hộ N ( mẫu) Tỷ lệ Tôi thấy VietGap phức tạp và tốn nhiều thời gian 70 110 64% Phí tái cấp chứng nhận VietGap quá cao 105 110 95% Giá bán của thanh long VietGap và truyền thống
không mấy khác biệt 110 110 100% Tôi có nghe đến phương pháp VietGap nhưng
không hiểu rõ 5 110 5% Tôi chưa biết về phương pháp VietGap 1 110 1%
Nguồn: khảo sát từ tác giả
Kết quả khảo sát vẫn còn 6 hộ trồng thanh long trong mẫu chiếm 6% chưa
biết hoặc chưa nắm rõ phương pháp trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGap là gì
Hầu hết phương thức canh tác của người nông dân đều dựa vào kinh nghiệm của mình hoặc truyền miệng từ những người xung quanh, chưa có sự cập nhật kịp thời
Mặc dù có các buổi tập huấn, tuyên truyền hướng dẫn về phương thức trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGap, tuy nhiên nhiên nhiều địa phương vẫn đặt nặng hình thức, nới lỏng các khâu tổ chức, thanh tra, cấp chứng nhận còn chưa hiệu quả
Trang 40Hơn nữa, do hạn chế về trình độ, cũng như chưa nhận thức được tầm quan
trọng của việc thực hiện theo tiêu chuẩn VietGap hướng đến xuất khẩu lâu bền khi
mà việc đa dạng hóa thị trường tiêu thụ trở nên cần thiết Có đến 64% số hộ được
khảo sát cho rằng việc trồng thanh long theo tiêu chuẩn VietGap thì tốn nhiều thời gian và phức tạp (xem bảng 2.5) Theo tìm hiều của chúng tôi khó khăn lớn nhất
của người nông dân khi áp dụng theo tiêu chuẩn VietGap đó là việc ghi chép nhật
ký đồng ruộng Theo Quyết định số 179/2008/QĐ-SNN ngày 4 tháng 6 năm 2008 Của Sở Nông nghiệp & PTNT Bình Thuận “Tổ chức và cá nhân sản xuất Thanh Long theo tiêu chuẩn VietGAP đều phải thực hiện đầy đủ quy trình đăng ký, ghi chép và lưu giữ các loại hồ sơ, nhật ký theo quy định về quản lý các yếu tố về môi trường, tiến trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm Các loại hồ sơ được lưu giữ tại cơ sở sản xuất ít nhất là hai năm hoặc lâu hơn tùy theo yêu cầu của khách hàng hoặc cơ quan quản lý Đặc biệt khoảng 95% các hộ được khảo sát cho
rằng phí tái cấp chứng nhận quá cao (khoảng 40 triệu/ đơn vị trồng thanh long) Do
diện tích trồng thanh long manh múng, nhỏ lẻ thiếu huy hoạch nên việc áp dụng tiêu chuẩn VietGap tiết kiệm được chi phí về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tuy nhiên lại phát sinh những khoản phí khác như nhân lực, thời gian và phí tái cấp chứng
nhận
Sản phẩm thanh long xuất bán phải ghi rõ vị trí, mã số của lô sản xuất Các
lô hàng hóa phải ghi rõ nơi sản xuất, thời gian cung cấp và nơi nhận Bao bì chứa
sản phẩm phải có nhãn mác để thuận tiện cho việc truy nguyên nguồn gốc khi cần thiết
Khi phát hiện khẳng định hoặc nghi ngờ sản phẩm bị ô nhiễm đều phải tiến hành cách ly lô sản phẩm đó và ngưng ngay việc phân phối Nếu đã phân phối phải thông báo ngay cho người tiêu dùng Đồng thời, báo cáo cơ quan chức năng để tiến hành điều tra nguyên nhân, cách xử lý và các biện pháp ngăn ngừa tái nhiễm
Trước những quy định chặt chẽ về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và người lao động tham gia trong quá trình trồng thanh long, có thể thấy chúng ta sẽ hạn chế được rất nhiều lượng chất hóa học, thuốc trừ sâu gây hại cho môi trường đất, nước, không khí Ngoài ra việc sử dụng phân bón hữu cơ giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng nông sản Bên cạnh đó người dân Long An
đã sử dụng một loại phân hữu cơ đặt biệt làm từ cành và phế phẩm của thanh long Trước đây sau khi cắt tỉa cành, phế phẩm từ thanh long chất đống không biết làm gì,
bốc mùi và gây ô nhiễm cho môi trường Bây giờ người người nông dân trồng thanh long sau khi tỉa cành, họ chặt khúc ngắn từ 3 - 5 cm sau đó trộn với loại chế phẩm Biofert UPC hoặc Biofert M (3 lít/tấn), giữ độ ẩm 50 - 55% rồi ủ đống 3 - 4 ngày,