Với vai trò quan trọng của tăng trưởng tín dụng đến nền kinh tế, việc đánh giá sự biến động tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết và phải tìm ra nguyên n
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những nội dung trong luận văn này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của Tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác và được thu thập từ những nguồn chính thống và đáng tin cậy Tôi cam đoan rằng luận văn này chưa được công bố trên bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013
TÁC GIẢ Phạm Thị Hồng Ly
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa của đề tài
6 Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN
TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG 4
1.1 Tổng quan về tăng trưởng tín dụng: 4
1.1.1 Khái niệm tín dụng: 4
1.1.2 Tín dụng ngân hàng và đặc điểm của tín dụng ngân hàng: 5
1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng: 7
1.1.4 Tăng trưởng tín dụng: 8
1.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại: 11
1.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng tín dụng trong nước và thế giới: 11
1.2.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại: 14
Trang 51.2.2.1 Lãi suất: 15
1.2.2.2 Tỷ giá hối đoái: 16
1.2.2.3 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): 20
1.2.2.4 Lạm phát: 22
1.2.2.5 Tăng trưởng huy động : 24
Kết luận chương 1: 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 28
2.1 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 đến 2012: 28
2.1.1 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong năm 2008: 29
2.1.2 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong năm 2009: 33
2.1.3 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong năm 2010: 35
2.1.4 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong năm 2011: 38
2.1.5 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong năm 2012: 41
2.2 Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam: 44
2.2.1 Lãi suất cho vay bình quân tác động đến tăng trưởng tín dụng: 46
2.2.2 Tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng tác động đến tăng trưởng tín dụng: 48
2.2.3 Tổng sản phẩm quốc nội tác động đến tăng trưởng tín dụng: 49
2.2.4 Lạm phát tác động đến tăng trưởng tín dụng: 50
2.2.5 Tăng trưởng tiền gửi tác động đến tăng trưởng tín dụng: 51
2.3 Đo lường tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam: 52
2.3.1 Mô hình phân tích: 52
Trang 62.3.2 Phương pháp nghiên cứu: 52
2.3.2.1 Thu thập dữ liệu: 52
2.3.2.2 Xử lý dữ liệu: 53
2.3.3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm: 53
2.3.3.1 Xây dựng mô hình: 53
2.3.3.2 Mô tả thống kê nghiên cứu: 54
2.3.3.3 Hồi quy đánh giá các biến số kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam: 56
2.3.4 Hạn chế của mô hình: 62
Kết luận chương 2: 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ VỚI TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 64
3.1 Giải pháp dài hạn: 65
3.1.1 Chính sách tiền tệ phải được điều hành độc lập bởi NHNN: 65
3.1.2 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại: 67
3.1.3 Ổn định tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán: 68
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô với tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn (giai đoạn 2013 – 2015): 69
3.2.1 Ổn định cơ chế lãi suất: 70
3.2.2 Tăng trưởng kinh tế bền vững, gia tăng tổng cầu: 72
3.2.3 Giải quyết nợ xấu: 74
Kết luận chương 3: 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 7DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPI: Consumer Price Index: Chỉ số giá tiêu dùng
CSTT: Chính sách tiền tệ
DG: Deposit Growth: Tăng trưởng tiền gửi
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
ER: Exchange Rate: Tỷ giá hối đoái
FED: Federal Reserve: Cục dự trữ liên bang Mỹ
GDP: Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội
IFS: International Financial Statistics: Cục thống kê tài chính quốc tế
IMF: International Monetary Fund: Quỹ tiền tệ quốc tế
CG: Credit Growth: Tăng trưởng tín dụng
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
PSSSTĐ: Phương sai sai số thay đổi
TCTD: Tổ chức tín dụng
Trang 8DANH M ỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Các biến số kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng
Bảng 2.2: Giả thiết nghiên cứu của mô hình
Bảng 2.3: Bảng mô tả thống kê các biến tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm quốc nội, lạm phát và tăng trưởng tiền gửi
Bảng 2.4: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng 2.5: Mô hình hồi quy OLS của phương trình (2.1)
Bảng 2.6: Kết quả kiểm định loại bỏ biến ER của phương trình (2.1)
Bảng 2.7: Mô hình hồi quy (1a) sau khi loại bỏ biến ER của phương trình (2.1) Bảng 2.8: Kết quả kiểm định bỏ biến ER và CPI ra khỏi mô hình (1a) của phương trình (2.1)
Bảng 2.9: Mô hình hồi quy (1b) sau khi loại bỏ biến ER, CPI của phương trình (2.1) Bảng 2.10: Kiểm định tự tương quan cho mô hình (1b)
Bảng 2.11: Kiểm định PSSSTĐ cho mô hình (1b)
Bảng 2.12: Kết quả kiểm định giả thiết cho phương trình (2.1)
Trang 9DANH M ỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 2.1: Biến động của tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay bình quân, tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng, GDP, CPI và tăng trưởng tiền gửi giai đoạn 2008 – 2012
Đồ thị 2.2: Biến động tăng trưởng tín dụng, lạm phát, GDP và lãi suất cho vay bình quân từ quý 1 đến quý 4 năm 2008
Đồ thị 2.3: Biến động tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tiền gửi, lãi suất cho vay, GDP từ quý 1 đến quý 4 năm 2009
Đồ thị 2.4: Biến động tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tiền gửi, lãi suất cho vay, tỷ giá từ quý 1 đến quý 4 năm 2010
Đồ thị 2.5: Biến động tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay, CPI, tỷ giá hối đoái
Đồ thị 2.6: Biến động tăng trưởng tín dụng, GDP, CPI, lãi suất cho vay
Đồ thị 2.7: Lãi suất cho vay bình quân và tăng trưởng tín dụng
Đồ thị 2.8: Tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng và tăng trưởng tín dụng
Đồ thị 2.9: Tổng sản phẩm quốc nội và tăng trưởng tín dụng
Đồ thị 2.10: Lạm phát và tăng trưởng tín dụng
Đồ thị 2.11: Tăng trưởng tiền gửi và tăng trưởng tín dụng
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Đặt vấn đề:
Ngân hàng được coi là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia và toàn cầu Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán, trong đó tín dụng giữ vai trò đặc biệt quan trọng Đối với nền kinh tế, tín dụng đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Theo mô hình tổng cung tổng cầu, tín dụng tác động đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thông qua 3 kênh: Tiêu dùng; đầu tư; xuất - nhập khẩu Nếu mở rộng tín dụng trên cả ba kênh này kéo theo tổng cầu, tức là sản lượng (Y) tăng lên Nếu thu hẹp tín dụng, thì ba kênh này giảm đi về mặt giá trị, sẽ kéo theo tổng cầu giảm (Y giảm) Tuy nhiên, tín dụng tác động trong ngắn hạn làm tăng sản lượng (Y), nếu tăng trưởng tín dụng kéo dài trong nhiều năm sẽ làm gia tăng lạm phát, mất cân đối kinh tế vĩ mô dẫn đến tăng trưởng kinh tế không tăng hoặc có thể giảm Là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ, tăng trưởng tín dụng là sự biểu hiện của chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt chặt Sự gia tăng tín dụng sẽ có tác động làm tăng cung tiền, qua đó làm thay đổi mức tăng trưởng kinh tế
Với vai trò quan trọng của tăng trưởng tín dụng đến nền kinh tế, việc đánh giá sự
biến động tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết
và phải tìm ra nguyên nhân tác động đến tăng trưởng tín dụng để từ đó đưa ra những
giải pháp, đường lối, chính sách thích hợp nhằm có những định hướng đối với tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của tăng trưởng tín dụng, và một trong những nguyên nhân quan trọng là các nhân tố kinh tế vĩ mô Chính vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài
“Nghiên cứu tác động của nhân tố kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu xu hướng tác động của một số nhân tố kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam từ 2008 đến 2012, từ đó gợi ý các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ
mô với tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra như sau:
- Xác định một số nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đo lường ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ
mô với tăng trưởng tín dụng, từ đó giúp cho các cơ quan hữu quan thực hiện các chính sách tiền tệ được nhất quán, ổn định nền kinh tế trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là biến tăng trưởng tín dụng và các biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế như: lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm quốc nội, lạm phát và tăng trưởng tiền gửi
Phạm vi nghiên cứu:
- Các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam bao gồm: 39 ngân hàng thương mại cổ phần (trong đó có 5 ngân hàng thương mại Nhà nước) trong giai đoạn từ quý 1/2008 đến quý 4/2012
- Chỉ nghiên cứu các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế Việt Nam, không nghiên cứu các yếu tố khác như: môi trường, chính trị, xã hội, pháp lý, văn hóa…
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp định tính kết hợp với định lượng bằng cách dùng mô hình hồi quy đa biến để phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô với biến tăng trưởng tín dụng thông qua chuỗi dữ liệu thời gian
Trang 125 Ý nghĩa của đề tài:
Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn
- Về lý luận, đề tài này tóm tắt và củng cố lại những kiến thức nền tảng về tín dụng ngân hàng cũng như ý nghĩa của tăng trưởng tín dụng trong nền kinh tế thị trường
- Về thực tiễn, đề tài này có ý nghĩa đóng góp cho người đọc có cái nhìn tổng quát
về các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng,
từ đó có những giải pháp cụ thể để các ngân hàng thương mại có những chính sách tín dụng nhằm kiểm soát tăng trưởng tín dụng trong hoạt động kinh doanh cũng như các nhà điều hành có những công cụ chính sách tiền tệ một cách hiệu
quả hơn
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tăng trưởng tín dụng và các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng
Chương 2: Thực trạng các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô
với tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG TÍN
D ỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG
1.1 Tổng quan về tăng trưởng tín dụng:
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các ngân hàng thương mại (NHTM), do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung Chính vì vậy vấn đề về tín dụng được Chính phủ, các ngân hàng và các chủ thể trong nền kinh tế rất quan tâm
1.1.1 Khái niệm tín dụng:
Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời
thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay Bên cạnh đó luôn có một
số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay Đây chính là quan hệ tín dụng Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả hai bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả hai bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống ngày nay, tín dụng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, có thể đưa ra các cách nhìn như sau:
- Tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay từ người cho vay sang người đi vay nếu xét trên góc độ chuyển dịch quỹ
- Tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả nếu xét trong một quan hệ tài chính cụ thể
Trang 14- Tín dụng ở nghĩa hẹp được hiểu như một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng
Tuy nhiên nếu xét ở góc độ ngân hàng, mà cụ thể là chức năng của nó thì tín dụng
được hiểu là: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên
cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán (Lê
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan
hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các
thể nhân khác trong nền kinh tế Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc
Trang 15tế Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia
là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế Tín dụng ngân hàng là mối quan
hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:
- Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ
là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân
- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự
vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị
co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp Đây là một hiện tượng rất phổ biến của nền kinh tế
- Hơn nữa tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn; có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay; có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh
tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay
Trang 161.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng:
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:
- Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau:
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của
cá nhân
Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục
vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung
cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và
một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh
Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên
- Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu
Trang 17ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng
1.1.4 Tăng trưởng tín dụng:
Tăng trưởng là khái niệm đo lường sự tăng thêm về giá trị trong một khoảng
thời gian nhất định Tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ (%) gia tăng lượng tiền cho các cá nhân, tổ chức vay của năm này so với năm trước đó Chẳng hạn, tổng dư nợ cho vay của năm ngoái là 100 tỷ đồng, năm nay là 130 tỷ đồng thì tăng trưởng tín dụng là 30% (Lê Nhật Quý Thiệu, 2011)
Tín dụng và lượng cung tiền M2 có mối liên hệ mật thiết với nhau, một sự thay đổi trong tăng trưởng tín dụng sẽ ảnh hưởng đến lãi suất và cung về vốn trên thị trường Khi tăng trưởng tín dụng tăng lên cũng đồng nghĩa với cung về vốn tăng lên dẫn đến nền kinh tế và các doanh nghiệp sẽ có nhiều nguồn vốn hơn để đầu tư, mở
rộng hoạt động kinh doanh Qua đó, tạo ra những tác động tích cực đối với nền kinh
tế và ngược lại, khi tăng trưởng tín dụng giảm sẽ khiến dòng tiền tín dụng cung ứng cho nền kinh tế bị thu hẹp lại, khiến cho tổng cầu giảm và làm giảm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng tín dụng hay nói cách khác mở rộng cho vay là một điều kiện
để mở rộng lượng tiền trong lưu thông, mà ở đây là bút tệ do các ngân hàng thương
mại tạo ra Với đặc điểm liên hệ mật thiết với mức cung tiền trong nền kinh tế như vậy, tăng trưởng tín dụng có những tác động hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến sự phát triển kinh tế đất nước cũng như ổn định vĩ mô
Tăng trưởng tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Trong một nghiên cứu mới
đây của một chuyên gia kinh tế người Mỹ, Richard Duncan, đã công bố bài nghiên
cứu của mình “CREDIT GROWTH DRIVES ECONOMIC GROWTH, UNTIL IT DOESN’T” vào tháng 5 năm 2011 trên tờ Tạp chí The Daily Reckoning của Mỹ
Trang 18cho rằng: “Điều quan trọng nhất để hiểu về nền kinh tế trong thời đại trọng tiền ngày nay là tăng trưởng tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” Ông cho rằng một
sự gia tăng trong cung tiền (M1 và M2) sẽ tác động mạnh mẽ trong nền kinh tế Vào cuối năm 2010, tỷ lệ tổng tín dụng trên GDP của Mỹ là 150%, năm 2011 là 354% Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế (thậm chí tốc độ tăng trưởng tín dụng còn nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế) Thật vậy, khi tín dụng được mở rộng, người tiêu dùng có thể vay và chi tiêu nhiều hơn, các doanh nghiệp cũng vay và đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng mức tiêu thụ và đầu tư tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập và lợi nhuận Hơn nữa, việc mở rộng tín
dụng có xu hướng làm cho giá trị tài sản như cổ phiếu hoặc bất động sản gia tăng, qua đó thúc đẩy gia tăng giá trị thực trong công chúng Giá trị tài sản tăng cao giúp cho các chủ sở hữu dựa vào đó làm tài sản thế chấp để có thể vay mượn được nhiều
tiền hơn Nguồn vốn tín dụng này sẽ tiếp tục dẫn đến sự gia tăng trong chi tiêu, đầu
tư, tạo ra việc làm và sự giàu có, tiếp theo đó là việc vay mượn sẽ trở nên nhiều hơn tạo ra một xu hướng tâm lý gia tăng hạnh phúc trong xã hội … và vòng quay vốn tín dụng cứ thế liên tục tiếp diễn
Tăng trưởng tín dụng là tiền đề để tiên đoán khả năng một cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong tương lai: Trước khi bài viết của Ducan ra đời thì trong một bài
viết “CREDIT BOOMS GONE BUST: MONETARY POLICY, LEVERAGE CYCLES AND FINANCIAL CRISES, 1870–2008” của hai nhà kinh tế học người
Mỹ Moritz Schularick và Alan M Taylor được công bố trên NBer Working Paper Series vào tháng 09/2009 Các ông đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tiền, tín dụng
và chính sách tiền tệ nhằm đưa ra một kết luận rằng con số tăng trưởng tín dụng chứa thông tin có giá trị về khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai Dĩ nhiên nó không phải là một yếu tố dự báo hoàn hảo mà nó có thể lý giải được một số nguyên nhân cơ bản của chính sách tiền tệ, của các yếu tố kinh tế
vĩ mô trong một thời kỳ nào đó, đặc biệt trong thời đại đổi mới và phát triển tài chính mạnh mẽ như hiện nay – thời đại mở rộng tín dụng để hỗ trợ lợi ích kinh tế thực ở mỗi quốc gia
Trang 19 Ý ngh ĩa của tăng trưởng tín dụng:
Tín dụng ngân hàng đóng vai trò là một mối quan hệ kinh tế, có những tác động nhất định đến hoạt động kinh tế biểu hiện qua tốc độ tăng trưởng tín dụng Dưới góc
độ tổng quan nền kinh tế ở một quốc gia thì tốc độ tăng trưởng tín dụng phản ánh bức tranh của một nền kinh tế, nó có ý nghĩa khá quan trọng
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng là sự biểu hiện của lực lượng sản xuất xã hội phát tri ển Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng góp phần tài trợ cho các doanh nghiệp bổ
sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng cường, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tín dụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng, giúp cho việc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát triển Như vậy tốc độ tăng trưởng tín dụng gia tăng cho thấy nguồn vốn tín dụng đã được giải ngân và lưu thông trong nền kinh tế, nếu nguồn vốn ấy được vận hành theo chiều hướng tích cực thì nó sẽ tạo ra một lực lượng sản xuất trong xã hội ngày càng phát triển
- Tăng trưởng tín dụng là biểu hiện của quá trình tích tụ và tập trung sản xuất
Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao Đồng thời các doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời gian tích luỹ vốn Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không
Trang 20cạnh tranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng phản ánh tình hình điều hoà nguồn vốn, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch
chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước
1.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại:
1.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng
tín dụng trong nước và thế giới:
Kai Guo and Vahram Stepanyan nghiên c ứu các nhân tố kinh tế vĩ mô với tăng trưởng tín dụng ở nền kinh tế mới nổi:
Ph ạm vi nghiên cứu: Trong bài nghiên cứu “DETERMINANTS OF BANK
CREDIT IN EMERGING MARKET ECONOMIES” của Kai Guo and Vahram Stepanyan được đăng trên IMF Working Paper vào tháng 3/2011, một mô hình nhân
tố kinh tế vĩ mô được sử dụng để kiểm tra tác động của các biến kinh tế vĩ mô với tăng trưởng tín dụng ở các nền kinh tế mới nổi bao gồm các nước: Argentina, Brazil, Bulgaria, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Croatia, Cộng hòa Séc,
Ai Cập, El Salvador, Estonia, Georgia , Guatemala, Hungary, Indonesia, Israel,
Trang 21Jamaica, Jordan, Hàn Quốc, Latvia, Lithuania, Malaysia, Mexico, Morocco, Panama, Peru, Philippines, Ba Lan, Romania, Nga, Serbia, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine, Venezuela, và Việt Nam trong khoảng thời gian từ quý I/2001 đến quý II/2010 của trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Kai Guo và Vahram Stepanyan đã phân tích những tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng qua hai giai đoạn trước và sau cuộc khủng hoảng trong mỗi quốc gia Sau đó, tác giả thảo luận và đưa ra các chính sách phù
hợp
Mô hình nghiên c ứu: Biến kinh tế vĩ mô sử dụng trong nghiên cứu này là tốc độ
tăng trưởng tiền gửi, lạm phát, tăng trưởng GDP, lãi suất huy động, tỷ giá hối đoái,
nợ xấu, lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), cung tiền M2 và nợ nước ngoài Một mô hình hồi quy trong giai đoạn trước và sau khủng hoảng được thiết kế để
kiểm tra các mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với các yếu tố kinh tế vĩ mô Trong mô hình hồi quy, biến tăng trưởng tín dụng được sử dụng như là biến phụ thuộc trong khi các biến kinh tế vĩ mô được sử dụng như là các biến độc lập
K ết quả nghiên cứu:
(1) “Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy rằng tăng trưởng tiền gửi
trong nước đóng góp tích cực vào tăng trưởng tín dụng, nghĩa là tốc độ tăng trưởng tiền gửi tăng sẽ làm gia tăng tốc độ tăng trưởng tín dụng Lạm phát làm suy giảm tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng GDP cao dẫn đến nhu cầu về tín dụng cao và vì thế tăng trưởng tín dụng cao hơn, trong khi lãi suất huy động cao biểu hiện của việc thắt chặt tiền tệ và do đó tăng trưởng tín dụng giảm đi Môi trường toàn cầu cũng có vấn đề: sự nới lỏng chính sách tiền tệ ở Mỹ cao dẫn tới tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nền kinh tế mới nổi (EMES) gia tăng Ở một
số nước của EMES, ví dụ Croatia, Estonia, Latvia thì khoản vay nước ngoài là một phần quan trọng trong việc tăng trưởng tín dụng, nhân tố này được nhấn mạnh kỹ hơn trong nghiên cứu của Rosenberg và Tirpak (2008) Còn việc nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá thì nó chỉ có tác động đến tăng trưởng tín dụng cho đồng tiền nội tệ so với ngoại tệ chứ không phản ảnh toàn bộ tăng trưởng tín
Trang 22dụng của một nước Bài nghiên cứu cho rằng sức khỏe của các ngân hàng có thể
là một yếu tố quyết định quan trọng của tăng trưởng tín dụng, một hệ thống ngân hàng kém lành mạnh (chẳng hạn có nợ xấu cao) có xu hướng mở rộng tín dụng
ít hơn, nhân tố này cũng đã được minh chứng trong nghiên cứu của McGuire và Tarashev (2008)
(2) Kết quả nghiên cứu còn cho thấy ở những nước châu Âu như: Romania, Latvia,
Bulgaria, Lithuania, Estonia, Hungary, Ba Lan và Cộng hòa Séc, sự mở rộng tín
dụng trước khủng hoảng là cao nhất Trong nhóm này có Romania, Latvia, Bulgaria, Lithuania, Estonia cho thấy tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ở mức trên 30% trong khi đó tốc độ tăng trưởng GDP ở các nước này không cao (bình quân ở mức 7-8%) – đây cũng là một đặc điểm có nét tương đồng ở nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 5 năm trở lại đây Trong khi Hungary, Ba Lan và Cộng hòa Séc được ghi nhận tăng trưởng tín dụng tương đối vừa phải Tăng trưởng tiền gửi trong nước và tăng trưởng GDP thực tế là các yếu tố quyết định quan trọng trong việc mở rộng tín dụng trong giai đoạn trước khủng hoảng Sự phát triển tín dụng trong giai đoạn hậu khủng hoảng bị ảnh hưởng bởi việc cắt giảm tài trợ nước ngoài đã lan rộng và hầu hết các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn này Do đó, sau khủng hoảng một sự suy giảm mạnh trong tăng trưởng tín dụng
đã xảy ra và tác giả thấy rằng suy giảm tăng trưởng kinh tế cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích việc sụt giảm tăng trưởng tín dụng mạnh như thế
(3) Ở nhóm EMES châu Âu khác gồm: Croatia, Georgia, Israel, Russia, Serbia, Thổ
Nhĩ Kỳ, Ukraine thì hầu như tất cả các nước trong nhóm này ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình ở hai con số trong giai đoạn trước khủng hoảng, với Ukraine trải qua việc mở rộng tín dụng cao nhất trong nhóm (gần 60%) Ngoài ra, trong hầu hết các nước của nhóm này, việc vay vốn nước ngoài là một đóng góp lớn cho tăng trưởng tín dụng Trong giai đoạn hậu khủng hoảng, tất cả các nước đã trải qua sự suy giảm đáng kể trong tín dụng, tiền gửi trong nước và vay nước ngoài.”
Trang 23 Nghiên c ứu các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng tại Việt Nam năm 2011: Bằng chứng định lượng của Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến:
Trong bài nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Thùy Dương và Trần Hải Yến đã nghiên cứu tác động của các biến kinh tế đến tăng trưởng tín dụng trong quý 1, quý
2, quý 3 năm 2011 Các biến sử dụng trong nghiên cứu này là tốc độ tăng trưởng tín dụng, tốc độ tăng trưởng huy động vốn, thanh khoản ngân hàng, suất sinh lợi trên
vốn chủ sở hữu (ROE), NHTM Nhà nước, NHTM Cổ phần Nghiên cứu này sử dụng cho tất cả các NHTM (tập hợp 84 ngân hàng, trong đó có 5 NHTM Nhà nước,
16 NHTM nước ngoài hoạt động tại thị trường Việt Nam) Tác giả đã dùng mô hình hồi quy có sử dụng biến giả (biến NHTM Nhà nước: nhận giá trị 1 nếu là NHTM Nhà nước, ngược lại nhận giá trị 0 và biến Ngân hàng nước ngoài: nhận giá trị 1 nếu
là ngân hàng nước ngoài, ngược lại nhận giá trị 0) để đo lường tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, trong đó tăng trưởng tín dụng được sử dụng là biến phụ thuộc, các nhân tố kinh tế: tốc độ tăng trưởng huy động vốn, thanh khoản ngân hàng, suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), NHTM Nhà nước, NHTM Cổ phần
là các biến độc lập Kết quả thực nghiệm cho thấy khi tốc độ huy động vốn, khả năng thanh khoản tăng thì các ngân hàng sẵn lòng trong việc cho khách hàng vay làm tăng tốc độ tăng trưởng tín dụng Và khi chênh lệch lãi suất bình quân tăng thì lại làm giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng Còn việc đưa biến giả vào là không có ý nghĩa khi ngân hàng được xét dù là NHTM Nhà nước hay Ngân hàng nước ngoài thì đều chịu tác động giống như nhau
1.2.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng
thương mại:
Có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng của NHTM, từ nhân tố kinh
tế như: lãi suất, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm quốc nội, lạm phát, tăng trưởng tiền gửi, nợ xấu… đến các nhân tố phi kinh tế như: pháp lý, môi trường, văn hóa, tâm lý, thông tin… Trong bài luận này, tác giả tập trung phân tích các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại
Trang 241.2.2.1 Lãi suất:
Khái ni ệm:
Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay, là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu (Lê Văn Tám, 2010)
Lợi tức là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự vận động của tín dụng và do bản
chất của tín dụng quyết định Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay Thực chất, lãi suất được biểu hiện bằng quan hệ tỷ lệ giữa lợi tức tín dụng và tổng số tiền vay trong một thời gian
nhất định
Có nhiều loại lãi suất như: lãi suất tiền vay; lãi suất tiền gửi; lãi suất tái cấp vốn; lãi suất liên ngân hàng…
Các phép đo lãi suất:
Phép đo chính xác nhất là lãi suất hoàn vốn Nó là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện
tại của khoản tiền trả trong tương lai với giá trị hôm nay của nó Vì khái niệm tiềm
ẩn trong việc tính lãi suất hoàn vốn có ý nghĩa tốt về mặt kinh tế:
Vay đơn: Fn = P (1+i)n Trong đó:
Fn: số tiền vay và lãi thu về trong tương lai
P, n, i: số tiền vay ban đầu, thời hạn vay tín dụng và lãi suất
Vay hoàn trả cố định:
TV= FP1 + FP2 + FP3+ … + FPn Trong đó:
TV: toàn bộ món tiền vay FP: số tiền trả cố định hàng năm n: số năm cho tới mãn hạn
Trang 25John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền
Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất - cầu về vốn cho mục đích đầu tư và tiết kiệm
Tác động đến tăng trưởng tín dụng:
Trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả của Chính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia Lãi suất tăng làm cho các cá nhân giảm đi vay và tăng gửi tiết kiệm, do đó tác động trực tiếp đến tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại
Trên tầm vi mô, lãi suất là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình như chi tiêu hoặc tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục
vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gửi tiền vào ngân hàng Lãi suất tăng, doanh nghiệp giảm vay mới, do đó nó tác động trực tiếp đến dư nợ cho vay Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thời của doanh nghiệp tăng, giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất, không có nhu cầu vay mới, nợ xấu gia tăng, các ngân hàng thương mại hạn chế việc giải ngân các khoản vay mới Điều này tác động tiêu cực đến dư nợ tín dụng Vì vậy, lãi suất có mối quan hệ nghịch biến với tăng trưởng tín dụng
1.2.2.2 Tỷ giá hối đoái:
Khái ni ệm:
Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhau Đó là giá cả chuyển đổi một đơn vị tiền tệ của nước này thành những đơn vị tiền tệ của nước khác Ví dụ: Tỷ giá bán ra của ngân hàng ngoại thương Việt Nam ngày
Trang 2612/03/2005 là 1 USD = 15804VND Như vậy, bản chất của tỷ giá hối đoái là một loại giá cả nhưng là giá cả của hàng hóa đặc biệt, đó là tiền tệ
Phương pháp xác định:
Khi xác định tỷ giá hối đoái có các phương pháp sau:
Xác định tỷ giá hối đoái căn cứ vào hàm lượng vàng đảm bảo của các đồng tiền
để xác định:
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền A và B được xác định như sau:
Tỷ giá A/B = Khối lượng vàng đảm bảo sức mua cho đồng tiền A trên Khối lượng vàng đảm bảo sức mua cho đồng tiền B
Ví dụ: Năm 1958: Hàm lượng vàng của GBP là 2,488 gr Au nguyên chất Của
đô la Mỹ là 0,888671 gr Au nguyên chất Quan hệ so sánh về hàm lượng vàng giữa GBP và USD là: 8,2888.0488.2= 1 GBP = 2,8 USD Hiện nay phương pháp này không được áp dụng nữa bởi chế độ bản vị vàng của các đồng tiền không còn nữa
Phương pháp xác định tỷ giá hối đoái nghịch đảo:
Ví dụ: Tại thị trường Frankfurt USD/EURO = 0,8832/0,8835 Tại thị trường New York EURO/USD = 1,1325/1,1335 Quy đổi cách yết giá trên thị trường New York theo cách yết giá trên thị trường Frankfurt tức là: 30/8822.01325.11/1335.11/==EUROUSD
Phương pháp xác định tỷ giá chéo: Tỷ giá chéo là tỷ giá giữa hai đồng tiền không phải USD được xác định thông qua USD Ví dụ: xác định tỷ giá chéo giữa hai đồng tiền là đồng tiền định giá với các thông số thị trường như sau: I/A=(a1,a2) , I/B=(b1,b2)
Dùng A mua I theo tỷ giá bán của ngân hàng: I=a2A Bán I mua B theo tỷ giá mua của ngân hàng: I=b1B Vậy: a2A=b1B hay A/B = b1/a2
Phân lo ại tỷ giá hối đoái:
Trang 27Có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại khác nhau
- Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do ngân hàng trung ương của mỗi nước công bố Tỷ giá hối đoái này được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc
của ngân hàng trung ương Dựa vào tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi
Tỷ giá kinh doanh: là tỷ giá dùng để kinh doanh mua bán ngoại tệ Tỷ giá này do các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng đưa ra Cơ sở xác định tỷ giá này là tỷ giá chính thức do ngân hàng trung ương công bố xem xét đến các yếu tố liên quan trực tiếp đến kinh doanh như: quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán Tỷ giá kinh doanh bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán
Tỷ giá chợ đen: là tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ chính
thức
- Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán:
Tỷ giá giao nhận ngay là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện ngay trong ngày hôm đó hoặc một vài ngày sau
Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn là tỷ giá giao dịch do tổ chức tín dụng yết giá
hoặc do hai bên tham gia giao dịch tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định về tỷ giá kỳ hạn hiện hành của ngân hàng nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng
Tỷ giá mở cửa: Tỷ giá mua bán ngoại tệ của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày
Tỷ giá đóng cửa: Tỷ giá mua bán ngoại tệ của hợp đồng ký kết cuối cùng trong ngày
- Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá: Tỷ giá được chia thành tỷ giá danh nghĩa
và tỷ giá thực
Trang 28 Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng
Tỷ giá thực là tỷ giá đã được điều chỉnh theo sự thay đổi trong tương quan giá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả hàng hóa của nước có đồng tiền định giá
Er = En * Pb
En: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Er:Tỷ giá hối đoái thực
Pb: Giá cả ở nước có đồng tiền yết giá Pf: Giá cả ở nước có đồng tiền định giá
Tác động đến tăng trưởng tín dụng:
Thông qua cơ chế tỷ giá, chính phủ sử dụng tỷ giá để tác động đến xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ, khuyến khích những ngành hàng, chủng loại hàng hóa tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại, hạn chế nhập khẩu nhằm thực hiện định hướng phát triển cho từng giai đoạn Khi tỷ giá tăng làm giá trị đồng nội tệ giảm, điều này thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, kích thích sản xuất hàng hóa trong nước, là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu có cơ hội mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng những mặt hàng nhập khẩu từ phía đối tác Điều này làm gia tăng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp xuất khẩu và tác động tích cực đến tăng trưởng tín dụng Mặt khác, khi tỷ giá tăng làm cho giá trị hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu tăng cao, điều này ảnh hưởng bất lợi cho các nhà nhập khẩu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhập khẩu máy móc thiết bị, sẽ làm cho chi phí đầu vào tăng, từ đó ảnh hưởng đến doanh số đầu ra, lợi nhuận giảm, quy mô sản xuất kinh doanh thu hẹp lại và lẽ dĩ nhiên nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp này
giảm dần và ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng của một quốc gia
Trang 29Do đó, khi tỷ giá tăng hay giảm kéo theo giá trị đồng nội tệ giảm hoặc tăng, điều này ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu của một quốc gia, nhưng ảnh hưởng thuận chiều hay nghịch chiều đến tăng trưởng tín dụng thì chưa thể kết luận
1.2.2.3 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP):
Khái ni ệm:
- Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
- GDP thể hiện mức sản xuất do các doanh nghiệp đóng trên lãnh thổ của một nước tạo ra
- GDP chỉ bao gồm sản phẩm cuối cùng, chứ không bao gồm sản phẩm trung gian
Sản phẩm trung gian: là sản phẩm đóng vai trò là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất và được sử dụng hết trong quá trình đó
Sản phẩm cuối cùng: là sản phẩm mà người sử dụng cuối cùng mua
- GDP gồm sản phẩm hoàn chỉnh được sản xuất ra trong năm hiện hành và có thể được bán ở năm sau
- GDP không bao gồm hàng hóa được sản xuất ở năm trước
(Nguyễn Như Ý và cộng sự, 2009)
Phương pháp tính GDP:
- Phương pháp chi tiêu:
Theo phương pháp chi tiêu, tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia là tổng số tiền mà các hộ gia đình trong quốc gia đó chi mua các hàng hóa cuối cùng Như vậy trong một nền kinh tế giản đơn ta có thể dễ dàng tính tổng sản phẩm quốc nội như là
tổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng hàng năm
GDP = C + G + I + NX Trong đó:
C: tiêu dùng của hộ gia đình G: tiêu dùng của chính phủ
Trang 30I: tổng đầu tư I=De+In
De: khấu hao
In: đầu tư ròng
NX: cán cân thương mại NX=X-M
X: xuất khẩu, M: nhập khẩu
Tiêu dùng (C): bao gồm những khoản chi cho tiêu dùng cá nhân của các hộ gia đình
về hàng hóa và dịch vụ ( xây nhà và mua nhà không được tính vào tiêu dùng mà được tính vào đầu tư tư nhân)
Đầu tư (I): là tổng đầu tư ở trong nước của tư nhân Nó bao gồm các khoản chi tiêu
của doanh nghiệp về trang thiết bị và nhà xưởng hay sự xây dựng, mua nhà mới của
hộ gia đình (hàng hóa tồn kho khi được đưa vào kho mà chưa đem đi bán thì vẫn được tính vào GDP)
Chi tiêu chính phủ (G): bao gồm các khoản chi tiêu của chính phủ cho các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương như chi cho quốc phòng, luật pháp, đường xá, cầu cống, giáo dục, y tế, Chi tiêu chính phủ không bao gồm các khoản chuyển giao thu nhập như các khoản trợ cấp cho người tàn tật, người nghèo,
Xuất khẩu ròng (NX) = Giá trị xuất khẩu (X)- Giá trị nhập khẩu(M)
- Phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí:
Theo phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí, tổng sản phẩm quốc nội bằng tổng thu nhập từ các yếu tố tiền lương (wage), tiền lãi (interest), lợi nhuận (profit) và tiền thuê (rent); đó cũng chính là tổng chi phí sản xuất các sản phẩm cuối cùng của xã hội
Ti: thuế gián thu ròng
De: phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định
Trang 31- Phương pháp giá trị gia tăng:
Giá trị gia tăng của doanh nghiệp ký hiệu là (VA), giá trị tăng thêm của một ngành (GO), giá trị tăng thêm của nền kinh tế là GDP
VA = Giá trị thị trường sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp - Giá trị đầu vào được chuyển hết vào giá trị sản phẩm trong quá trình sản xuất
Giá trị gia tăng của một ngành (GO)
GO =∑ VAi (i=1,2,3, ,n) Trong đó:
VAi là giá trị tăng thêm của doanh nghiệp i trong ngành
n là số lượng doanh nghiệp trong ngành
Giá trị gia tăng của nền kinh tế GDP
giảm đi Như vậy, GDP có tác động ngược chiều với tăng trưởng tín dụng
1.2.2.4 Lạm phát:
Khái niệm:
Trang 32Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một
chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được được gọi là sự "ổn định giá cả" (Mankiw, 2010, trang 155)
Thuật ngữ "lạm phát" ban đầu được chỉ các gia tăng trong số lượng tiền trong lưu thông, và một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này Tuy nhiên, hầu
hết các nhà kinh tế hiện nay sử dụng thuật ngữ "lạm phát" để chỉ một sự gia tăng trong mức giá Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là 'lạm phát giá cả' Các nhà kinh tế nói chung đều đồng ý rằng về lâu dài, lạm phát là do tăng cung tiền
Cách tính tỷ lệ lạm phát (I f ):
If = Chỉ số giá năm t - Chỉ số giá năm t-1
Chỉ số giá năm t-1 x 100
Có các loại chỉ số giá sau đây được sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát:
Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) được xác định như sau:
GDP
t R
GDP x 100 = ∑ t
i
q p t i
∑ t i
q p i0 x 100 Trong đó:
Trang 33t i
q : Khối lượng sản phẩm loại i được sản xuất ở năm t
t i
p : đơn giá sản phẩm loại i ở năm t
0
i
p : đơn giá sản phẩm loại i ở năm gốc
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng tín dụng:
Lạm phát ảnh hưởng đến nền kinh tế theo nhiều mặt, có thể vừa ảnh hưởng tiêu cực vừa ảnh hưởng tích cực Ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát bao gồm sự giảm giá trị thực tế của tiền và các khoản mục tiền tệ khác theo thời gian Lạm phát cao có thể dẫn đến thiếu hụt hàng hóa nếu người tiêu dùng bắt đầu tích trữ bởi lo ngại rằng giá cả sẽ tăng trong tương lai Ảnh hưởng tích cực của lạm phát là giảm
nợ bằng việc giảm mức độ nợ thực tế do sự mất giá của đồng tiền
Lạm phát tác động gián tiếp đến tăng trưởng tín dụng thông qua lãi suất
Hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Relation) chỉ ra rằng tỷ lệ lạm phát kỳ vọng và lãi suất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua biểu thức: (1+Lãi suất danh nghĩa) = (1+ lãi suất thực) * (1+ Tỷ lệ lạm phát kỳ vọng) Hay công thức gần đúng: Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát tăng cao là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng nóng, cung tiền trong nền kinh tế đang dư thừa, giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng, đồng tiền nội địa mất giá, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giảm hiệu quả, nhu
cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp giảm, ngân hàng Nhà nước sẽ có biện pháp
để hút bớt lượng tiền trong lưu thông thông qua chính sách thắt chặt tiền tệ Từ các điều đó tác động tiêu cực đến tăng trưởng tín dụng Ngoài ra, khi lạm phát tăng cao, tiền mất giá, người dân không muốn giữ tiền mặt hoặc gửi tiền trong ngân hàng nếu mức lãi suất nhận được thấp hơn tỷ lệ lạm phát, lượng vốn tiền gửi trong ngân hàng hàng giảm, từ đó lượng vốn tín dụng cung ứng cho nền kinh tế cũng giảm do bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay Vì vậy, lạm phát tăng ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng tín dụng Hai yếu tố này có mối quan hệ ngược chiều nhau (Trần Ngọc Thơ, 2011)
1.2.2.5 Tăng trưởng huy động :
Khái niệm:
Trang 34Huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng (Dương Thị Bình Minh và Sử Đình Thành, 2004)
Các sản phẩm huy động vốn của NHTM:
- Nguồn vốn huy động tiền gửi:
Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào
Để tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, ngân hàng phải đa dạng hóa và phục vụ tốt các dịch vụ trung gian, huy động nhiều khách hàng là các doanh nghiệp lớn sẽ làm cho mức dư tiền gửi bình quân tại các ngân hàng luôn cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể sử dụng lượng tiền này để cho vay mà không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng
Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời gian
nhất định theo kỳ hạn đã được thỏa thuận khi gửi tiền Để mở rộng khoản vốn này, ngoài biện pháp lãi suất, ngân hàng có thể thực hiện một số biện pháp nhằm tạo nên tính lỏng cho loại tiền gửi có kỳ hạn như cho phép khách hàng rút trước hạn hoặc sổ
Phát hành chứng từ có giá: Ngân hàng chủ động phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn nhằm thực hiện những những dự án đầu tư đã định Có hai phương thức huy động vốn dưới hình thức này: Phát hành theo mệnh giá và phát hành bằng hình thức chiết khấu
Trang 35 Vay của các ngân hàng và các trung gian tài chính khác: Vay qua thị trường liên ngân hàng nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu vốn khả dụng trong thời gian ngắn, ngân hàng có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các ngân hàng, tổ chức tài chính tín dụng khác Hoạt động vay mượn này nhằm mục đích điều hòa nhu cầu vốn khả dụng và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển thông suốt liên tục trong hệ thống ngân hàng
Tác động của tăng trưởng huy động đến tăng trưởng tín dụng:
Một ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có vốn Hai nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là vốn tự có
và vốn huy động
Ngân hàng thương mại nằm trong hệ thống ngân hàng chịu sự tác động của chính sách tiền tệ, chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương và tuân thủ các quy định của Luật ngân hàng Nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy động vốn càng cao, và ngân hàng càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình
Đặc điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của NHTM và các doanh nghiệp phi tài chính là các NHTM kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế còn các doanh nghiệp khác hoạt động bằng nguồn vốn tự có là chính Bản chất của ngân hàng là huy động để cho vay Hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng được tăng cường, số lượng và chất lượng cho vay càng lớn khi mà nguồn vốn của ngân hàng càng lớn mạnh Khi nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì ngân hàng có thêm nhiều tiền cho khách hàng vay, điều
đó cũng có nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàng được mở rộng, lượng cung tiền cho nền kinh tế tăng Ngược lại khi lượng vốn huy động ít thì các NHTM không có nhiều tiền để cho khách hàng vay, lượng cung tiền trên thị trường giảm Nếu xét về họat động kinh doanh của bản thân các NHTM, nếu vốn quá nhiều, các ngân hàng cho vay ít hơn so với lượng vốn huy động (hệ số sử dụng vốn thấp) thì sẽ gây ra hiện tượng tồn đọng vốn Lúc bấy giờ để lo cho an nguy lợi nhuận của ngân hàng, các ông chủ ngân hàng sẽ tìm cách đẩy dòng vốn dư thừa ấy sang các ngân
Trang 36hàng bạn – các ngân hàng thiếu vốn (cho vay trên thị trường liên ngân hàng) Nếu kéo dài tình trạng này sẽ tạo ra hiện tượng mất khả năng thanh khoản trong tương lai, ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của một quốc gia Do đó, việc nghiên cứu tình hình huy động vốn vô cùng quan trọng Như vậy hai yếu tố tăng trưởng huy động và
tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ cùng chiều
Lãi suất và tăng trưởng tín dụng có mối tương quan nghịch Một sự tăng lên trong lãi suất sẽ tạo ra một sự sụt giảm trong mức tăng trưởng tín dụng và ngược lại Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tăng trưởng tín dụng trong dài hạn có mối tương quan thuận Nghĩa là khi GDP tăng sẽ dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng và ngược lại
Lạm phát và tăng trưởng tín dụng có mối tương quan nghịch, khi lạm phát tăng
sẽ làm cho tăng trưởng tín dụng giảm và ngược lại
Riêng về tỷ giá hối đoái, mối tương quan với tăng trưởng tín dụng là thuận hay nghịch tùy thuộc vào đặc thù của các quốc gia khác nhau Theo đó, trong một giai đoạn nào đó đối với một đất nước nhập siêu và không thu hút được nhiều dòng vốn đầu tư nước ngoài thì mối tương quan này là nghịch; còn đối với một đất nước xuất siêu và thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài thì mối tương quan này
là thuận
Đối với nhân tố tăng trưởng huy động là biến có tác động mạnh đến sự tăng giảm của tăng trưởng tín dụng Và mối quan hệ này là mối quan hệ thuận, nghĩa là khi tăng trưởng huy động tăng so với cùng kỳ năm trước sẽ tạo nên một sự tăng trưởng trong dư nợ tín dụng
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ
MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG
T ẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 đến 2012:
Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra, ngành tiền tệ ngân hàng Việt Nam phải chịu nhiều thử thách Tăng trưởng kinh tế suy giảm, lạm phát tăng cao, tăng trưởng tín dụng có giai đoạn đạt mức cao ngất ngưởng nhưng có giai đoạn rất trầm lắng Năm 2008, tăng trưởng tín dụng đạt mức thấp kỷ lục trong 10 năm trở lại
kể trong giai đoạn 2002 – 2012 Sang năm 2009, NHNN đã mạnh tay trong công cuộc điều hành chính sách tiền tệ theo chủ trương của Chính phủ nên đã đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng cao gấp 6 lần Tăng trưởng tín dụng quá nóng, tăng trưởng kinh tế không mấy khả quan, năm 2010 chính sách tiền tệ thận trọng đã được NHNN áp dụng và kéo tăng trưởng tín dụng giảm nhưng mức độ giảm không đáng
kể so với tăng trưởng GDP, lạm phát vẫn cao Trước bối cảnh đó, năm 2011 NHNN
áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm điều chỉnh tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý Các nhà điều hành chính sách tiền tệ đã có rất nhiều cố
gắng trong việc ổn định nền kinh tế nên cũng không thể phủ nhận năm 2011 là năm
mà nền kinh tế ổn định nhất trong giai đoạn 2008 – 2012 Tuy nhiên tình trạng nợ xấu và lạm phát gia tăng trong các năm trước kéo sang năm 2012 với hệ quả là tăng trưởng tín dụng giảm xuống mức thấp nhất chưa từng có trong lịch sử
Đồ thị 2.1: Biến động của tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay bình quân, tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng, GDP, CPI và tăng trưởng tiền
gửi giai đoạn 2008 – 2012:
Đơn vị tính: %, đồng
Trang 38Nguồn: IFS; Báo cáo thường niên NHNN, các NHTM; Tổng cục thống kê
Nhìn vào đồ thị ta thấy, trong giai đoạn 2008 – 2012 tăng trưởng tín dụng có
sự biến động vô cùng mạnh mẽ và các nhân tố như lãi suất, tỷ giá, GDP, CPI, tăng trưởng tiền gửi cũng biến động không kém Hãy cùng tác giả tìm hiểu các nhân tố kinh tế vĩ mô đó tác động đến tốc độ tăng trưởng tín dụng như thế nào và ngân hàng Nhà nước đã dùng các biện pháp gì để hoàn thiện hơn mối quan hệ giữa các nhân tố này với tăng trưởng tín dụng Điều đó sẽ được phân tích cụ thể qua từng năm trong giai đoạn này
2.1.1 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong năm 2008:
Trước sự suy thoái của nền kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu diễn ra vào năm 2007, bắt đầu bành trướng vào cuối năm 2007 và kéo dài đến
nửa năm 2008, nền kinh tế Việt Nam không những đối mặt với những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại: lạm phát tăng mạnh So với năm 2007 tốc độ tăng giá tiêu dùng là 19,89%, thâm hụt cán cân thương mại ở mức kỷ lục (hơn 14% GDP), thị trường chứng khoán liên tục giảm, kế
hoạch tăng trưởng GDP 9% nhưng đã giảm còn 6,5%; biên độ giá của các mặt hàng
0 5,000 10,000 15,000 20,000 25,000
BIẾN ĐỘNG TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG (CG), LÃI SUẤT CHO VAY (LR), TỶ GIÁ
(ER), GDP, CPI, TĂNG TRƯỞNG TIỀN GỬI (DG)
CG LR GDP CPI DG ER
Trang 39dao động mạnh, lãi suất ngân hàng liên tục thay đổi, giá dầu giảm ở mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua (Xem đồ thị 2.2)
Đồ thị 2.2: Biến động tăng trưởng tín dụng, lạm phát, GDP và lãi suất cho vay
bình quân từ quý 1 đến quý 4 năm 2008
Đơn vị tính: %
Nguồn: IFS; Báo cáo thường niên NHNN, các NHTM; Tổng cục thống kê
Nhằm hạn chế đà tăng giá thời điểm đó, ngay từ những tháng đầu năm 2008, Chính phủ đã ban hành các văn bản: số 75/TTg-KTTH ngày 15/01/2008 về biện pháp kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng giá năm 2008, số 319/TTg-KTTH ngày 03/3/2008 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát năm 2008 và đặc biệt là Nghị quyết 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 về tám giải pháp đồng bộ để kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó nhấn mạnh các định hướng chủ đạo trong hoạt động kiềm chế lạm phát là
“… Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) một cách chặt chẽ, thận trọng và
chủ động; sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ CSTT theo nguyên tắc thị trường để kiểm soát quy mô, tốc độ tăng tín dụng và tăng tổng phương tiện thanh toán một cách hợp lý nhằm đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, góp phần thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhưng đồng thời đảm bảo
Trang 40mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng kinh tế… và điều tiết có hiệu quả vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) và kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm”
Thực hiện chỉ đạo này, NHNN đã điều hành CSTT theo hướng thắt chặt để
kiềm chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30% Để thực hiện mục tiêu này, NHNN đề ra những biện pháp sau:
- Chỉ đạo các TCTD kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi ro cao như đầu
tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc:
Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD
Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay
Ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của TCTD theo hướng chặt chẽ hơn nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại
tệ
- Sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc (DTBB), thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM)
và từ đó tác động lên khả năng cung vốn ngân hàng ra thị trường theo mục đích đặt
ra và thu hút mạnh tiền từ lưu thông về, cụ thể:
Tăng tỷ lệ DTBB (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn)
Tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường mở và phát hành 20.300
tỷ đồng tín phiếu bắt buộc đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương)