1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG TỚI HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ HIỆN NAY

24 551 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tự do hóa lãi suất tác động tới huy động vốn cho đầu tư hiện nay
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 86,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ

Trang 1

THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG TỚI HUY

ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ HIỆN NAY

I LỘ TRÌNH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM

1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức

quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1998)

Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao cấp khá nặng nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao

và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa

2 Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường

phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm 1988 đến nay)

Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy những bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế Quá trình tự do hóa lãi suất của Việt Nam được thể hiện tổng quát như sau:

a. Cơ chế thức thi chính sách lãi suất cố định (1989 – 5/1992)

Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bước chuyển của cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương

Trang 2

b. Cơ chế điều hành khung lãi suất (6/1992 – 1995)

Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

c. Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996 – 7/2000)

Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước

đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra) Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á

d. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000 – 5/2002)

Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời

Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách

Trang 3

lãi suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới

e. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008)

Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5/2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo 5/2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết quả nhất định

f. Cơ chế điều hành lãi suất được thực hiện theo các quy định của luật pháp(5/2008 – nay)

Từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam

áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản:

- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp

vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung - cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân

tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước

- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) "Trần" là lãi suất tái cấp vốn, "sàn" là lãi suất tái chiết khấu (hiện nay là 7% - 5%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc

"bơm" tiền ra hoặc "hút" tiền về, từ đó tác động đến cung - cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM

Trang 4

II THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG TỚI HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ HIỆN NAY

1 Thực trạng tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua đã chứng kiến sự thay đổi đáng kể về quy

mô vốn đầu tư Một trong những nguyên nhân chính tác động đến sự thay đổi này của quy mô vốn đầu tư chính là lãi suất

Như ta đã biết, lãi suất và qui mô vốn đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau được thể hiện qua công thức:

Khi lãi suất càng thấp thì cầu vốn đầu tư càng cao, dẫn đến làm tăng qui mô vốn đầu tư và ngược lại

Trong giai đoạn 2000 – 2007, mối quan hệ giữa lãi suất thực ngắn hạn (tiền gửi huy động 3 tháng) với lãi suất thực dài hạn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, biến động cùng xu hướng, sự tăng lên trong lãi suất ngắn hạn có tác động làm tăng lãi suất dài hạn Điều đó cũng cho thấy yếu tố kỳ vọng về lạm phát cùng xu hướng với sự biến động của lãi suất ngắn hạn (xem đồ thị dưới)

I=Io-b.r

Trang 5

Lãi suất thực kỳ hạn 3 tháng giai đoạn từ năm 1995 – 2006 ở Việt Nam

Đồ thị sau đây phản ánh mối quan hệ giữa lãi suất thực trung, dài hạn với mức độ đầu tư của toàn xã hội từ năm 2000 - 2006 (thông qua chỉ tiêu vốn đầu

tư thực hiện theo giá so sánh) Qua đồ thị cho thấy, lãi suất thực có tác động tương đối rõ đến mức độ đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân hơn là các doanh nghiệp nhà nước với một độ trễ nhất định

Trang 6

Xu hướng giảm của lãi suất tiết kiệm thực VND trong hơn mười năm từ 1995-2006 đã có tác động tới quy mô vốn đầu tư theo hướng gia tăng lượng vốn đầu tư Trong mối quan hệ giữa quy mô vốn đầu tư và lãi suất, khu vực tư nhân

có sự nhạy cảm hơn so với khu vực doanh nghiệp của nhà nước Điều này là do, các doanh nghiệp của Nhà nước được tiếp cận nhiều nguồn vốn ngoài ngân hàng hơn các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân và được hưởng nhiều nguồn vốn ưu đãi với mức lãi suất thấp hơn so với khu vực tư nhân Mặt khác, trong giai đoạn này, khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn giai đoạn trước (số doanh nghiệp khu vực tư nhân tăng từ 35.004 DN năm 2000 lên 84.003 DN năm 2004 và 123.392 năm 2006, số doanh nghiệp Nhà nước giảm từ mức 5.759

DN năm 2000 xuống còn 4.596 DN năm 2004 và 3.720 năm 2006) Việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng của khu vực tư nhân ngày càng thuận lợi hơn Theo số liệu thống kê của NHNN, dư nợ cho vay doanh nghiệp tư nhân tăng từ mức 55,3% tổng dư nợ năm 2000 lên 68,7% tổng dư nợ năm 2007 Vì vậy sự thay đổi trong lãi suất càng ngày càng có ảnh hưởng lớn đến quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung

Trang 7

Sang đến đầu năm 2008, với quyết tâm kiềm chế lạm phát, các ngân hàng đều thực hiện chiến dịch lãi suất và có thời gian cực kỳ khó khăn với tính thanh khoản Chỉ trong có vài ngày, có NHTM tăng lãi suất tiền gửi từ 15% lên đến 19%/năm Hệ thống ngân hàng lúc này hoạt động cực kì sôi động nhưng các nhà đầu tư lại đứng trước khó khăn mới khi lãi suất quá cao khiến khả năng tiếp cận vốn trở nên khó khăn Theo khảo sát của VCCI, việc tiếp cận vốn của DN được phân bổ như sau: ngân hàng (74%), các quỹ đầu tư (14,89%), TTCK (4,26%) Dù là kênh tiếp cận vốn chủ yếu song tiếp cận ngân hàng là một khó khăn lớn của DN khi mà lãi suất cho vay đã tăng cao đến 21%/năm nhưng số

DN thỏa mãn được nhu cầu vay vốn cũng rất ít (10,5%) theo thống kê của hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ thì có tới 60% doanh nghiệp gặp khó khăn do lãi suất tăng Trong bối cảnh lạm phát, lãi suất tăng cao, nhiều DN đã phải tìm kiếm các giải pháp "thắt lưng buộc bụng”

Theo số liệu về tình hình đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam trong giai đoạn 2000 đến nay, tốc độ tăng trưởng quy mô vốn đầu tư khu vực tư nhân giai đoạn 2006-2008 chỉ đạt mức 118-119% so với tốc độ xấp xỉ 130% của các năm trước đó Tốc độ tăng trưởng qui mô vốn đầu tư giảm đi trong giai đoạn 2006-2008 chịu một phần lớn tác động từ việc tăng lãi suất cho vay

Theo báo cáo nhanh về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tháng 3/2010, vốn đầu tư thực hiện đạt 2,5 tỷ USD bằng 113,6% so với cùng kỳ năm trước

Vốn đăng ký là 2,139 tỷ USD bằng 29% so với 3 tháng của năm 2009; trong

đó vốn cấp mới là 1,924 tỷ USD và vốn tăng thêm là 215 triệu USD

Về số dự án, trong 3 tháng của năm 2010 đã có 139 dự án được cấp mới bằng 59,1% so với cùng kỳ năm trước (235 dự án) và có 41 dự án tăng vốn bằng 51,3% so với 3 tháng đầu năm của 2009

Trang 8

Hoa Kỳ tiếp tục là quốc gia có số vốn đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam với 979,8 triệu USD bao gồm cả cấp mới và đăng ký thêm, tiếp đến là Hàn Quốc với 584,8 triệu USD, Singapore là 146,7 triệu USD

Qua phân tích trên, có thể thấy tác động của lãi suất trên thị trường tiền tệ

đã có tác động tương đối rõ nét đến hành vi tiết kiệm, tiêu dùng của cá nhân và đầu tư của doanh nghiệp và phù hợp với lý thuyết, qua đó sẽ có tác động đến tổng cầu của nền kinh tế, đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát Vì vậy, việc điều tiết lãi suất của NHNN để tác động đến tăng trưởng và lạm phát trong giai đoạn hội nhập này là rất cần thiết

2 Sự tác động tới huy động vốn ở Việt Nam

Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sản suất và tiêu dùng của xã hội Lãi suất là công cụ điều tiết cho vay kinh tế rất nhạy bén và hiệu quả Thông qua việc thay đổi mức và

cơ cấu lãi suẩt trong từng thời kỳ nhất định mà chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỉ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu; đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỉ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước.Trong những năm qua, thị trường tiền tệ Việt Nam đã

có khá nhiều biến động và vì thế lãi suất cũng được điều chỉnh liên tục Nhắc đến lãi suất, đầu tiên chúng ta phải xét đến là lãi suất cơ bản mà NHTW quy định Trên lý thuyết, lãi suất cơ bản sẽ là định hướng chung cho lãi suất trong nước

Tháng 8/2000 thay cơ chế điều hành lãi trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng tiền Việt Nam, và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ Đây là những nhân

tố tác động không nhỏ đến sự tăng trưởng tín dụng VND trong năm 2000

Từ tháng 1/2003 đến nay, lãi suất có xu hướng tiếp tục gia tăng, đặc biệt là lãi suất tiền gửi, do hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ nói chung và chính

Trang 9

sách lãi suất nói riêng của NHNN Lãi suất trên thị trường mở dao động tương đối mạnh trong năm, lãi suất thấp nhất ở mức 1,58%/năm, cao nhất là 5% và có

xu hướng giảm dần

Trang 10

Bảng lãi suất của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 Ngày áp dụng Giá trị Văn bản quyết định

01/03/2008 8.75% Quyết định 479/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 2 năm 2008

01/11/2007 8,25%/năm 2538/QĐ-NHNN ngày 31/10/2007 01/10/2007 8,25%/năm 2265/QĐ-NHNN ngày 28 tháng 9 năm 2007

01/09/2007 8,25%/năm Số:2018/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 8 năm

2007 01/08/2007 8,25%/năm 1787/QĐ-NHNN ngày 31/7/2007 01/07/2007 8,25%/năm 1546/QĐ-NHNN ngày 29/06/2007 01/06/2007 8,25%/năm 1143/QĐ-NHNN ngày 29/5/2007 01/05/2007 8.25%/năm 908/QĐ-NHNN ngày 27/04/2007 01/04/2007 8,25%/năm 632/QĐ-NHNN ngày 29/03/2007 01/03/2007 8,25%/năm 424/QĐ-NHNN ngày 27/02/2007 01/02/2007 8,25%/năm số 298/QĐ-NHNN ngày 31/1/2007 01/01/2007 8,25%/năm 2517/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 01/12/2006 8,25%/năm 2308/QĐ-NHNN ngày 30/11/2006 01/11/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 2045/QĐ-NHNN ngày 30/10/2006 01/10/2006 8,25%/năm 1887/QĐ-NHNN ngày 29/09/2006 01/09/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 1714/QĐ-NHNN ngày 31/08/2006 01/08/2006 0,6875%/tháng 8,25%/năm) 1522/QĐ-NHNN ngày 31/7/2006 01/07/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 1234/QĐ-NHNN ngày 30/6/2006 01/07/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 1234/QĐ-NHNN ngày 30/06/2006 01/06/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 1044/QĐ-NHNN ngày 31/05/2006 01/05/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 854/QĐ-NHNN ngày 28/4/2006 01/04/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 581/QĐ-NHNN ngày 30/3/2006 01/03/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 311/QĐ-NHNN ngày 28/2/2006

Trang 11

01/02/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 140/QĐ-NHNN ngày 26/01/2006 01/01/2006 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 1894/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005 01/12/2005 0,6875%/tháng (8,25%/năm) 1746/QĐ-NHNN ngày 1/12/2005 01/11/2005 0,65%/tháng (7,80%/năm) 1556/QĐ-NHNN ngày 28/10/2005 01/10/2005 0,65%/tháng (7,8%/năm) 1426/QĐ-NHNN ngày 30/9/2005 01/09/2005 0,65%/tháng (7,8%/năm) 1246/QĐ-NHNN ngày 26/8/2005 01/08/2005 0,65%/tháng (7,8%/năm) 1103/QĐ-NHNN ngày 28/7/2005 01/07/2005 0,65%/tháng (7,80%/năm) 936/QĐ-NHNN ngày 30/6/2005 01/06/2005 0,65%/tháng (7,80%/năm) 781/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 01/05/2005 0,65%/tháng (7,80%/năm) 567/QĐ-NHNN ngày 29/4/2005 01/05/2005 0,65%/tháng (7,8%/năm) 567/QDD-NHNN ngày 29/4/2005 01/04/2005 0,65%/tháng (7,80%/năm) 315/QĐ-NHNN ngày 25/03/2005 01/03/2005 0,65%/tháng (7,8%/năm) 211/QĐ-NHNN ngày 28/2/2005 01/02/2005 0,65%/tháng (7,80%/năm) 93/QĐ-NHNN ngày 27 tháng 1 năm 2005

01/01/2005 0,625%/tháng (7,50%/năm) QĐ số 1716/QĐ-NHNN ngày 31/12/2004

của Thống đốc NHNN

01/12/2004 0,625%/tháng (7,50%/năm) 1522/QĐ-NHNN ngày 30/11/2004 của Thống đốc NHNN

01/11/2004 0,625%/tháng (7,50%/năm) QĐ số 1398/QĐ-NHNN ngày 29/10/2004 của Thống đốc NHNN

01/10/2004 0,625%/tháng (7,5%/năm) QĐ số 1254/QĐ-NHNN ngày 30/9/2004

01/09/2004 0,625%/tháng (7,5%/năm) QĐ số 1079/QĐ-NHNN ngày 31/8/2004 của Thống đốc NHNN

01/08/2004 0,625%/tháng (7,50%/năm) QĐ Số 968/QĐ-NHNN ngày 29/7/2004 của Thống đốc NHNN

01/07/2004 0,625%/tháng (7,5%/năm) QĐ số 797/QĐ-NHNN ngày 29/6/2004 của

Thống đốc NHNN

01/06/2004 0,625%/tháng (7,5%/năm) QĐ số 658/QĐ-NHNN ngày 28/05/2004 của Thống đốc NHNN

01/03/2004 0,625%/tháng (7,5%/năm) QĐ số 2210/QĐ-NHNN ngày 27/02/2004 của Thống đốc NHNN

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 12

Qua bảng số liệu trên ta thấy lãi suất cơ bản năm 2004 và 2005 tương đối

ổn định trung bình là 7.6%/năm.Trong những tháng đầu năm 2006, lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng VND của dân cư kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,5-8,5% đối với các ngân hàng thương mại và trên 9% ở các NHCP Lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng USD cũng tăng mạnh và đạt mức xấp xỉ 5%/năm

Đầu năm 2008 VND khan hiếm, có thời điểm lãi suất cho vay ở các ngân hàng đã lên tới 27%/năm Sang tháng 5/2008, lãi suất cơ bản một lần nữa lại được điều chỉnh lên tới 12% - 14%/năm, kéo theo đó là lãi suất tiền vay lên đến 20% - 21%/năm Việc này gây không ít khó khăn cho các cá nhân và các doanh nghiệp đi vay

Liên tục trong 2 tuần cuối tháng 8.2008, nhiều Ngân hàng đã điều chỉnh hạ lãi suất kinh doanh (tiền gửi, cho vay) VND Các NHTM liên tục bám đuổi nhau tăng lãi suất huy động vốn nội tệ Chỉ trong có 1 tuần một số NHTM điều chỉnh lãi suất tới 2 - 3 lần

Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu Chỉ tính riêng lãi suất cơ bản, được điều chỉnh tới

8 lần sau 26 tháng duy trì ở mức 8,25%/năm Điểm khác biệt so với trước, kể từ tháng 5/2008, Ngân hàng Nhà nước lấy lãi suất cơ bản làm cơ sở để ngân hàng thương mại quy định mức lãi suất huy động và cho vay Việc thay đổi lãi suất cơ bản quá nhiều lần đã làm cho rủi ro lãi suất tác động cực mạnh lên bảng cân đối của các ngân hàng thương mại Ở vế tài sản nợ , khách hàng gửi tiền cao vẫn còn lưu giữ cho đến hết kì hạn gửi nhưng ngược lại ở vế tài sản có thì khả năng sinh lời, nhất là những khoản cho vay trung và dài hạn theo chỉ đạo chung (đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh hoặc có yếu tố quốc doanh chiếm tỷ

lệ chi phối – PV) thì đến kỳ điều chỉnh phải điều chỉnh về theo mặt bằng lãi suất cho vay mới Chưa hết, những khoản vay ngắn hạn trong khả năng trả được, khách hàng tìm mọi biện pháp trả trước để vay lại nhằm giảm thấp chi phí trả lãi

Ngày đăng: 18/10/2013, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng lãi suất của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 - THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG TỚI HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ HIỆN NAY
Bảng l ãi suất của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w