Do đó việc nghiên cứu về hiệu quả huy động vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết để giúp các nhà quản trị ngân hàng có những giải pháp góp phần nâng cao hiệu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRÊN ĐỊA
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUY ỄN THỊ QUYÊN
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRÊN ĐỊA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô trường Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh đã hết lòng truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi tham gia học tập tại trường cũng như là trong lúc tôi làm đề tài nghiên cứu
luận văn này Đặc biệt là thầy PGS.TS Trần Huy Hoàng khoa ngân hàng đã hướng
dẫn tận tình cho tôi để thực hiện tốt phương pháp khoa học và nội dung đề tài luận văn này Cám ơn các nhân viên làm việc tại Cục thuế tỉnh Bình Dương đã giúp tôi điều tra một phần số liệu thứ cấp
Cuối cùng xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè các lớp cao học K20 chuyên ngành Ngân hàng của trường Đại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh đã
hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã được hướng dẫn của Quý thầy cô và trao đổi cũng như được hỗ trợ của các bạn cùng lớp nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của Quý thầy cô và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ chí Minh, ngày 31 tháng 05 năm 2013
Người viết
NguyễnThị Quyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Quyên, xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác
Người viết
NguyễnThị Quyên
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng trung gian tín dụng 3
Hình 1.2 Sơ đồ chức năng trung gian thanh toán 5
Hình 2.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của người dân 58
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn phân theo loại hình ngân hàng 30
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn phân theo đối tượng gửi tiền 32
Bảng 2.3 Tình hình huy động vốn phân theo loại tiền tệ 33
Bảng 2.4 Bảng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn trả lãi cuối kỳ bằng VNĐ của một số NHTM VN trên địa bàng tỉnh Bình Dương cập nhật ngày 31/05/2013 36
Bảng 2.5 Bảng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn trả lãi cuối kỳ bằng USD của một số NHTM VN trên địa bàng tỉnh Bình Dương cập nhật ngày 31/05/2013 37
Bảng 2.6 Chi phí trả lãi huy động vốn của NHTM 38
Bảng 2.7 Tương quan giữa huy động vốn và cho vay theo kỳ hạn tại các NHTM 41
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp thu nhập và chi phí của các NHTM 42
Bảng 2.9 Số liệu huy động vốn một số NHTM từ năm 2010 đến 2012 46
Bảng 2.10 Hệ số Cronbach Alpha của thang đo các yếu tố ảnh hưởng quyết định gửi tiền của người dân 58
Bảng 2.11 Hệ số Cronbach Alpha của thang đo quyết định gửi tiền của người dân 63
Bảng 2.12 Hệ số hồi quy đa biến của mô hình 65
Bảng 2.13 Hệ số phương sai ANOVAb của hồi quy tuyến tính 65
Bảng 2.14 Hệ số hồi quy Coefficientsa 66
Bảng 2.15 Hệ số tương quan giữa các biến xử lý theo phần mềm Ordered probit regression 68
Bảng 2.16 Hệ số hồi quy Coefficients của Hiệu quả Huy động vốn theo Ordered probit regression 69
Trang 6DANH M ỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đồ thị biểu diễn tình hình huy động vốn phân theo loại hình
ngân hàng 30 Biểu đồ 2.2 Đồ thị biểu diễn tình hình huy động vốn phân theo đối tượng
gửi tiền 32
Biểu đồ 2.3 Đồ thị biểu diễn tình hình huy động vốn phân theo loại tiền tệ 34
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề huy động vốn sao cho hiệu quả luôn là vấn đề khiến các nhà quản trị ngân hàng phải đau đầu, nhất là trong tình hình chính trị và kinh tế thế giới có nhiều bất ổn như hiện nay đã tác động đến tâm lý người gửi tiền và gây những ảnh hưởng xấu đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng Các ngân hàng hiện nay đang trong một cuộc chay đua khóc liệt cạnh tranh về vốn, nguồn nhân lực, chất lượng dịch vụ và công nghệ, nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động, gia tăng thị phần,
tối đa hóa lợi nhuận Để duy trì hoạt động và phục vụ cho mục đích kinh doanh, ngân hàng cần một lượng vốn rất lớn Do đó việc nghiên cứu về hiệu quả huy động
vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết để giúp các nhà quản trị ngân hàng có những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả huy động
vốn nói riêng và hiệu qủa hoạt động kinh doanh nói chung của ngân hàng Đó là lý
do tôi chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bình Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam Đồng thời, thông qua việc phân tích, đánh giá tình hình
thực tế công tác huy động vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư của Ngân hàng thương
mại Việt Nam, đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác huy động vốn từ tổ chức kinh tế
và dân cư của ngân hàng
Trang 8• Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trên phạm vi ngân hàng thương mại Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Ngoài ra, luận văn còn thu thập thêm thông tin và số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các sách tham khảo, tạp chí, báo điện tử, các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam liên quan đến huy động vốn ngân hàng thương mại
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp: Phương pháp định tính và phương pháp định lượng, phương pháp định tính: Mô tả - giải thích, đối chiếu - so sánh, phân tích - tổng hợp và phương pháp định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS 20 và phần
mềm Stata 11
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Huy động vốn hiệu quả là một trong những vấn đề được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm hàng đầu hiện nay Luận văn từ việc nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động vốn cho đến việc ứng dụng vào thực tế hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại Việt Nam, đã đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại ngân hàng thương mại Việt Nam Do đó, luận văn có ý nghĩa thực tiễn đối với hiệu quả huy động vốn và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam
6 Nội dung kết cấu của luận văn
Chương 1: Lý luận về hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Trang 9DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Việt Nam
BIDV: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Sacombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Việt Nam NH: Ngân hàng
NHTW: Ngân hàng Trung ương
NHTƯ: Ngân hàng Trung ương
NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP QD: Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc doanh
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm và bản chất của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công
ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng
Có thể nói rằng ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội
1.1.1.2 Bản chất ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế Ngân hàng thương mại hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác
Hoạt động của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh Để hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại phải có vốn (vốn dược cấp nếu là ngân hàng công, được cổ đông đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần…) Phải tự chủ về tài chính (tự lấy thu nhập để bù đắp chi phí); Đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó
Hoạt động kinh tế của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội và
Trang 11mặt khác, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự tôn trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã hội
Tóm lại, ngân hàng thương mại là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Đây là loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển
1.1.1.3 Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Ngân hàng thương mại quốc doanh: Được thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước Thuộc loại này gồm:
- Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
- Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long
Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức cổ phần giữa nhà nước và nhân dân Trong đó, một cá nhân hay pháp nhân được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, ngân hàng TMCP ngoại thương, ngân hàng Công thương Việt Nam, ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam…
Ngân hàng thương mại liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng Việt Nam và một bên khác là ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam: Indo Vina Bank, VID Public Bank, Chohung Vina Bank, Vina Siam bank, Vina Russia Bank…
Chi nhánh ngân hành nước ngoài là ngân hàng được lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhành tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam đã có hàng chục chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động
Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: ngân hàng Hong Kong- Thượng Hải (HSBC), ngân hàng ANZ Việt Nam, ngân hàng Standard Chartered, ngân hàng Shinhan và ngân hàng Hong Leong, ngân hàng Việt Thái…
Trang 12Ngân hàng của Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận: Ngân
hàng phát triển Việt Nam, ngân hàng Chính sách xã hội
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của ngân
hàng thương mại, nó không những cho thấy bản chất của ngân hàng thương mại
mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của ngân hàng thương mại Trong chức
năng này, chức năng “trung gian tín dụng” ngân hàng thương mại đóng vai trò là
người trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn
rỗi trong nền kinh tế, biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay, đáp ứng các
nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu
Ngân hàng thương mại chỉ là nơi trung gian để chuyển vốn tiền tệ từ nơi
thừa sang nơi thiếu Các chủ thể tham gia gồm những người gửi tiền vào ngân
hàng thương mại và những người vay tiền từ ngân hàng không có mối liên hệ
kinh tế trực tiếp nào Họ không chịu trách nhiệm và nghĩa vụ gì cho nhau cả Tất
cả đều thông qua ngân hàng thương mại, nghĩa là ngân hàng thương mại có trách
nhiệm hoàn tiền cho người gửi Còn người đi vay phải có trách nhiệm trả nợ cho
Công ty
Xí nghiệp
Tổ chức kinh tế
Hộ gia đình
Cá nhân
Trang 13Ngân hàng không phải là nơi trung gian tài chính thuần túy, mà là trung gian tín dụng, nghĩa là việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này phải theo nguyên tắc “hoàn trả” vô điều kiện
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, các ngân hàng thương mại thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vị kinh tế, các tổ chức
và cá nhân bằng đồng tiền trong nước hay bằng ngoại tệ Nhận tiền gửi tiết kiệm của tổ chức và cá nhân Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với các đơn vị, cá nhân Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá đối với các đơn vị, cá nhân Chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng thương mại có vai trò và tác dụng to lớn đối với nền kinh tế xã hội
Trước hết, nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống ngân hàng thương mại huy động và tập trung hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn cho nền kinh tế Nhờ thực hiện chức năng trung gian tín dụng mà hệ thống ngân hàng thương mại cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyển” không ngừng của nó
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của hàng thương mại mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đứng ra là trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán,… để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau, là nội dung thuộc chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại
Trang 14Lệnh Giấy
Trả tiền Báo
Qua tài khoản Có
Hình 1.2: Sơ đồ chức năng trung gian thanh toánNhiệm vụ cụ thể của chức năng này gồm:
- Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân
- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng
- Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng
1.2 Hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1 Khái niệm của vốn huy động
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ của một ngân hàng thương mại nào
1.2.2 Đặc điểm của vốn huy động
Vốn huy động trong ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại hoạt động
được chủ yếu được là nhờ vào nguồn vốn này
Vốn huy động là nguồn vốn không ổn định vì thế các ngân hàng thương mại cần phải duy trì một khoản “dự trữ thanh toán” để sẵn sàng đáp ứng một nhu cầu rút tiền của khách hàng
Có chi phí sử dụng tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn
trong hoạt động kinh doanh đầu vào của ngân hàng thương mại Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng Vốn huy động, chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các ngân hàng thương mại không được sử dụng nguồn vốn này để đầu tư
Người thụ hưởng Người bán (Cty, XN, tổ chức kinh tế,
cá nhân)
Trang 151.2.3 Cơ cấu huy động vốn trong ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền (chủ tài khoản) được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt, không bị ràng buộc về thời gian Tiền gửi không kỳ hạn phục vụ nhu cầu giao dịch, thanh toán cho chủ tài khoản như trả tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền mặt từ ATM, chuyển tiền…
Tiền gửi không kỳ hạn là loại nguồn vốn huy động có chi phí sử dụng vốn (chi phí trả lãi) thấp Chính vì vậy các ngân hàng nên tập trung huy động nguồn vốn này, thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới có hiệu quả cao Do vậy, tiền gửi không kỳ hạn phải được sử dụng cho vay ngắn hạn
1.2.3.2 Tiền gửi định kỳ (tiền gửi có kỳ hạn)
Tiền gửi định kỳ là loại tiền gửi mà người tiền chỉ có thể rút ra khi đáo hạn, tuy nhiên trong trường hợp bình thường, các ngân hàng vẫn cho khách hàng rút vốn trước hạn với điều kiện chỉ được hưởng lãi theo lãi suất không kỳ hạn
- Tính ổn định chắc chắn, những người sở hữu kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm chỉ được hoàn vốn khi đáo hạn Đây là đặc điểm nổi bật của loại nguồn vốn này
- Lãi suất thường cao hơn lãi suất tiền gửi định kỳ, do đó hấp dẫn hơn đối với khách hàng
Trang 16- Loại vốn này không được tái lập thời hạn như tiền gửi định kỳ, nhưng bù lại người sở hữu có thể thế chấp, cầm cố để vay vốn ngân hàng
1.2.3.4 Nguồn vốn huy động khác
- Tiền gửi ký quỹ
- Tiền gửi đảm bảo thanh toán
- Tiền tạm giữ, tiền đang chuyển
- Các khoản khác
của ngân hàng thương mại
Hiệu quả huy động vốn là gì? Hiệu quả huy động vốn là thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng từ việc huy động nguồn vốn có tính ổn định lâu dài, và ở số lượng nhiều Hay nói cách khác đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý
- Để phân tích sử dụng vốn hiệu quả chúng ta xét sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí/kết quả
Khái niệm hiệu quả như trên cho thấy rằng chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó
Mỗi cách thức đánh giá hiệu quả huy động vốn đem lại cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn có tính chất khác nhau, với chi phí khác nhau Để đánh giá hiệu huy động vốn của một ngân hàng thương mại ta cần dựa vào các chỉ tiêu cụ thể Mỗi chỉ tiêu nêu lên một mặt của hoạt động hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại Sau đây là một số chỉ tiêu:
Trang 171.3.2.1 Quy mô vốn huy động / chi phí vốn huy động
Vốn của ngân hàng thương mại được chia làm hai loại: Vốn chủ sở hữu và
Nợ Vốn chủ sở hữu chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng và đặc biệt là được dùng để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng
Nợ chiếm phần lớn trong nguồn vốn của ngân hàng thương mại, nó là nguồn vốn hoạt động chính đối với mỗi ngân hàng Cho nên hầu hết các khoản
nợ của ngân hàng thương mại đều liên quan đến chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn của ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và chi phí phi trả lãi Trong tổng số chi phí vốn huy động thì chi phí trả lãi là chủ yếu Ngoài ra còn có các chi phí khác như: Chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí quản lý, dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo để thu hút khách hàng gửi tiền, chi phí để mở các quỹ tiết kiệm, chi phí mua máy móc thiết bị, và các chi phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn
Chi phí trả lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là chi phí trả lãi dựa trên lãi suất danh nghĩa, lãi suất ngân hàng công bố cho khách hàng Chi phí này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như kỳ hạn, loại tiền gửi, mục tiêu gửi tiền của khách hàng, chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ, tiện ích kèm theo Tuy nhiên, lãi suất thực tế của từng nguồn vốn huy động đối với ngân hàng là cao hơn bởi vì ngoài chi phí trả lãi, ngân hàng còn phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nữa, chi phí phi trả lãi Vì vậy chỉ tiêu chi phí huy động vốn/ tổng vốn huy động được chia nhỏ ra làm hai chỉ tiêu khác Đó là:
- Chi phí trả lãi/ tổng vốn huy động, cho thấy để huy động được một
đồng vốn thì ngân hàng cần phải trả bao nhiêu tiền dựa trên lãi suất công bố cho khách hàng
Trang 18- Chi phí phi trả lãi/ tổng vốn huy động,cho thấy một đồng vốn huy động được ngân hàng bỏ ra chi phí là bao nhiêu cho việc quản lý, cất giữ, bảo quản,
Tóm lại, chi phí huy động vốn/ tổng vốn huy động được dùng để đánh
giá xem một đồng vốn ngân hàng huy động được cần phải bỏ ra bao nhiêu chi phí Như vậy, khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chi phí cho một đồng vốn phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này và có lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả huy động vốn càng có hiệu quả Tuy nhiên cũng phải thấy rằng để giảm chi phí hiệu quả huy động vốn thì cần phải giảm lãi suất huy động và có các chi phí quản lý, bảo quản, dự trữ vốn huy động một cách tối ưu nhất Việc đưa ra một lãi suất huy động hợp lý là rất quan trọng, lãi suất không quá cao - đảm bảo lợi ích ngân hàng, cũng không quá thấp – thu hút được khách hàng gửi tiền Đồng thời giảm các chi phí phi trả lãi cũng sẽ làm cho hiệu quả của hoạt động huy động vốn của ngân hàng hiệu quả hơn
1.3.2.2 Chênh lệch thu chi lãi / chi phí trả lãi của ngân hàng
Mối liên hệ nguồn vốn và tài sản là mối liên liên hệ giữa hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn Đó là hai mặt của quá trình hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, tức là khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu về sử dụng vốn hay khả năng sinh lời từ đồng vốn huy động được thì các ngân hàng cũng thường sử dụng chỉ tiêu chêch lệch thu chi lãi / chi phí trả lãi của ngân hàng để đánh giá mối liên hệ sinh lời của tài sản
và nguồn vốn cũng như hiệu quả hoạt động huy động vốn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 19Chênh lệch thu chi lãi
=
Thu lãi – Chi lãi
Chi phí trả lãi Chi phí trả lãi Chỉ tiêu này cho thấy một đồng chi phí ngân hàng bỏ ra để huy động vốn
sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ đồng vốn đó Chỉ tiêu này càng cao thì cho thấy ngân hàng đã sử dụng rất hiệu quả đồng vốn huy động của mình trong việc tối thiểu hóa chi phí huy động cho đồng vốn đó Chỉ tiêu này cao do chênh lệch thu chi lãi trước thu chi khác cao và chi phí trả lãi nhỏ Chỉ tiêu chênh lệch thu, chi lãi/ chi phí trả lãi cao cũng có thể do chí phí tăng và thu nhập trước thu nhập khác và chi khác giảm, tuy nhiên tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ giảm của thu nhập đó
Trước tiên, để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thông qua chỉ tiêu này, cần phải đánh giá chỉ tiêu quy mô vốn huy động của một cán bộ huy động vốn
Chỉ tiêu này được tính bằng tổng số vốn mà ngân hàng huy động được trong một thời kỳ từ khách hàng cá nhân chia cho tổng số lao động trong hoạt động hiệu quả huy động vốn của ngân hàng trong thời kỳ đó
Quy mô vốn huy động
=
Tổng số vốn huy động
1 cán bộ huy động vốn Tổng số lao động huy động vốn
Chỉ tiêu này cho thấy trong một thời kỳ nhất định, một lao động của ngân hàng huy động được bao nhiêu vốn, hay nói cách khác chỉ tiêu này cho biết năng suất huy động vốn của lao động hoạt động hiệu quả huy động vốn trong ngân hàng
Chỉ tiêu này tăng cho thấy năng suất hiệu quả huy động vốn của ngân hàng tăng lên khi nguồn vốn huy động tăng nhanh hơn số lao động hoạt động huy
Trang 20động vốn làm cho chỉ tiêu này tăng lên Tuy nhiên cũng phải xem xét tới sự giảm của nguồn vốn huy động và số lượng lao động hoạt động hiệu quả huy động vốn của ngân hàng qua các năm Bởi chỉ tiêu này vẫn tăng nếu sự giảm xuống của nguồn vốn huy động được chậm hơn so với sự giảm xuống của lao động hoạt động huy động vốn
Chỉ tiêu nguồn vốn huy động trên một lao động hoạt động huy động vốn tăng qua các năm cho thấy hiệu quả trong việc huy động vốn của ngân hàng Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng chỉ cho thấy một cách định lượng về khả năng huy động vốn của lao động hoạt động huy động vốn của ngân hàng Chúng không nêu lên được cơ cấu nguồn vốn huy động cũng như các chi phí phải bỏ ra để huy động vốn, sự phù hợp của nguồn vốn huy động với mục tiêu sử dụng vốn
Đối với chỉ tiêu quy mô vốn huy động / chi phí tiền lương phải trả cho
tổng cán bộ huy động vốn, cho thấy một đồng chi phí phải trả cho một cán bộ
huy động vốn sẽ thu được bao nhiêu đồng vốn huy động
Quy mô vốn huy động
=
Tổng số vốn huy động Chi phí tiền lương Tổng tiền lương trả cho cán bộ huy động vốn Chỉ tiêu này càng cao thì càng thể hiện rõ hiệu quả trong huy động vốn của ngân hàng Bởi chỉ tiêu này cao khi chi phí thấp và quy mô vốn huy động cao hoặc là chi phí huy động tăng nhưng tốc độ tăng lại không nhanh bằng quy mô vốn huy động Tuy nhiên, cũng phải xét tới sự giảm sút của 2 yếu tố cấu thành nên chỉ tiêu này Bởi nếu quy mô vốn giảm nhưng vẫn nhanh hơn tốc độ giảm của chi phí sẽ làm cho chỉ tiêu này vẫn phản ánh được hiệu quả huy động vốn của ngân hàng Như vậy, chỉ tiêu sẽ cho thấy hiệu quả huy động vốn của ngân hàng về mặt lượng một cách cụ thể
Trang 211.3.2.4 Sự ổn định vốn huy động của các hình thức huy động vốn
Một hình thức hiệu quả huy động vốn được đánh giá là tốt ngoài những yếu tố như đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp cần phải có sự ổn định, tức là không
có sự thay đổi đột ngột trong thời gian sử dụng nguồn vốn đó của ngân hàng
Thông thường các nguồn vốn huy động đều có thể dự tính được trước thời gian sử dụng như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,
Vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về mặt số lượng để thoả mãn nhu cầu tín dụng cũng như nhu cầu của các hoạt động khác Mặt khác vốn huy động đó cũng cần phải có sự ổn định về thời gian Chẳng hạn như nếu ngân hàng huy động được một nguồn vốn lớn đáp ứng được yêu cầu tín dụng nhưng lại không đánh giá được khả năng ổn định của nguồn vốn đó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, tạo cho ngân hàng những rủi ro khó lường trước được Ngược lại, nếu ngân hàng chỉ huy động được nguồn vốn nhỏ nhưng ổn định về thời gian sẽ làm cho việc đầu tư của ngân hàng từ nguồn vốn đó đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
Chỉ tiêu này được đánh giá qua mức độ tăng giảm vốn huy động Nếu vốn huy động tăng đều qua các năm, có tốc độ gia tăng ổn định, đều đặn thì vốn đó được coi là có hiệu quả trong việc huy động
1.3.2.5 Cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay
Hiệu quả công tác huy động vốn còn được đánh giá thông qua mối quan
hệ cân đối với nhu cầu cho vay Bởi một trong các chức năng chính của ngân hàng thương mại là chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng thương mại thực hiện huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng số vốn huy động được để đầu tư, cho vay, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, góp phần phát triển kinh tế xã hội và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng
Trang 22Nếu nguồn vốn ngân hàng huy động không đáp ứng đủ nhu cầu cho vay đối với nền kinh tế, ngân hàng sẽ không phát huy hết khả năng sinh lời và không đạt được hiệu quả kinh doanh như mong muốn Bên cạnh đó, ngân hàng còn phải gánh chịu những thiệt hại do việc bị mất khách hàng từ tay các ngân hàng bạn và những chi phí cơ hội không đáng có Nếu ngân hàng huy động được một lượng lớn nguồn vốn tiền gửi nhưng không sử dụng hết nguồn vốn này, ngân hàng phải trả các chi phí lãi và phi lãi cho khoản vốn bị đóng băng mà không có khoản thu nào để bù đắp lại
Một số chỉ tiêu phản ánh tính cân đối giữa nguồn vốn tiền gửi huy động và cho vay có thể kể đến như sau:
Chênh lệch giữa huy động = Quy mô _ Quy mô cho
vốn và cho vay huy động vốn vay
Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn
sử dụng cho vay trung
và dài hạn =
Nguồn vốn ngắn hạn Chỉ tiêu này dùng để đánh giá về mức độ tiềm ẩn rủi ro thanh khoản trong công tác huy động vốn của ngân hàng
Chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào = Lãi suất đầu ra – Lãi suất đầu vào
Dư nợ trung và - dài hạn
Nguồn vốn trung và dài hạn đã trừ
dự trữ bắt buộc tương ứng
Trang 23Thu từ lãi x 100% Chi trả lãi x 100%
Chênh
lệch lãi
bình quân
Tài sản có sinh lời bình quân Nguồn vốn trả lãi bình quân
Chênh lệch thunhập lãi =
cho vay và chi phí lãi
huy động vốn
Thu nhập lãi - cho vay
Chi phí lãi huy động vốn
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của các ngân hàng Nó có ý nghĩa quan trọng với hoạt động của bất cứ ngân hàng thương mại nào vì nó cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do đó để nghiệp vụ này mang lại hiệu quả cao nhất thì bên cạnh việc tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả huy động vốn, các ngân hàng thương mại cũng phải xem xét tới các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn, để tìm cách đưa ra những giải pháp khắc phục và hạn chế chúng
1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan
Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên địa bàn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng Để có thể tồn tại và phát triển, ngân hàng cần phải định ra chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể thắng trong việc cạnh tranh với ngân hàng khác Khi quyết định ra chiến lược phát triển cho ngân hàng rõ ràng cần phải tính đến điều kiện về môi trường kinh doanh Trong quá trình cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ,
thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm tốt công tác quảng
bá tiếp thị marketing Ngân hàng phải bồi dưỡng trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, để có thể làm tốt công việc của
Trang 24mình Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động huy động vốn
Mọi hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động của ngân hàng đều phải chịu sự điều chỉnh của luật pháp Các hoạt động của ngân hàng thương mại chịu
sự điều chỉnh của luật các TCTD và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay các ngân hàng thương mại được tổ chức theo mô hình tổng công ty, do vậy các chi nhánh của các ngân hàng trong hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành, còn phải tuân thủ theo các quy định mà ngân hàng
mẹ ban hành trong từng thời kỳ về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho vay Trong
sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng của hoạt động huy động vốn
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếp đến mọi hoạt động của các ngân hàng thương mại nên ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn Trong điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập dân
cư được đảm bảo và ổn định thì nguồn tiền vào ra của các ngân hàng cũng ổn định, số vốn huy động được của ngân hàng ngày càng tăng lên và cơ hội đầu tư cho vay của ngân hàng cũng được mở rộng do lòng tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế Nếu nền kinh tế suy thoái, thu nhập dân cư biến động thì lòng tin về đồng tiền của dân chúng bị giảm sút Khi đó hiệu quả huy động vốn của ngân hàng không những bị giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã ký gửi vào ngân hàng cũng có nguy cơ bị rút ra Và như vậy ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn, quản lý dự trữ và củng cố niềm tin cho khách hàng
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân hàng và những đối tượng sử dụng vốn đó Về môi trường xã hội ở các nước phát
Trang 25triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyển vào tài khoản của họ Nhưng ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huy động trong tương lai
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền Tâm
lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai
sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng Mặt khác, một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức
độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng Mức độ sử dụng càng cao, ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn của mình
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng chủ yếu được hình thành từ việc huy động các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong dân cư Đây là lượng tiền nhàn rỗi chủ yếu có được do việc người dân tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại để kỳ vọng sẽ được chi tiêu nhiều hơn trong tương lai Do đó công tác huy động vốn của ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố này Nếu không có tiết kiệm thì sẽ không có vốn để đầu tư cho sản xuất và ngược lại
Yếu tố tiết kiệm của dân cư lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thu nhập của dân cư, thói quen chi tiêu bằng tiền mặt và đặc biệt là sự ổn định của nền kinh tế Nếu nền kinh tế mất ổn định, giá trị đồng tiền luôn biến động thì xu hướng chung của dân cư sẽ đổi các đồng tiền nội tệ ra các đồng tiền mạnh như ngoại tệ, cất trữ vàng bạc, mua bất động sản…là những tài sản có tính ổn định cao hơn Ngoài ra việc phân bố dân cư ở các vùng lãnh thổ khác nhau thì yếu tố tâm lý, văn hoá và lối sống cũng khác nhau Do đó, ngân hàng phải nắm bắt được yếu tố tâm lý của dân từ đó để đưa ra các hình thức huy động vốn sao cho phù hợp và hiệu quả hơn
Trang 261.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan:
Mỗi ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh riêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài ngân hàng Chiến lược kinh doanh có tính quyết định tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức Trên cơ sở đó dự đoán
sự thay đổi của môi trường để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển qui mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể của ngân hàng Trong từng thời kỳ, dựa trên chỉ tiêu được giao về huy động vốn, sử dụng vốn và các hoạt động khác của NHTƯ cùng với tình hình thực tế của từng ngân hàng, ngân hàng phải lập kế hoạch và lên cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn Nếu nhận thấy trong năm có những dự án tốt cần vay vốn với khối lượng lớn, thời hạn dài thì ngân hàng sẽ có kế hoạch huy động vốn để tìm kiếm được nguồn vốn tương ứng bằng cách đưa ra các loại hình huy động với lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn đa dạng Ngược lại nhận thấy trong năm tới ngân hàng cần phải thu hẹp khối lượng tín dụng thì ngân hàng sẽ có kế hoạch huy động một lượng vốn vừa đủ để tối đa hoá hiệu quả
sử dụng vốn Mặt khác, trong chiến lược kinh doanh của mình ngân hàng cần phải đặc biệt chú trọng vào chi phí vốn mà ngân hàng phải chịu trong khâu huy động Phải tìm kiếm nguồn vốn rẻ, thời hạn dài thông qua việc lựa chọn các hình thức huy động khác nhau, có như vậy ngân hàng mới chủ động trong việc tìm kiếm và sử dụng vốn
cung ứng và hệ thống mạng lưới
Một yếu tố ảnh hưởng đến qui mô và chất lượng nguồn vốn huy động là hình thức, kỳ hạn và các dịch vụ cung cấp có liên quan như giao dịch tại nhà, rút tiền tự động, tư vấn kinh doanh, dịch vụ thu tiền hộ Ngoài ra còn có một số yếu
tố khác như thời gian giao dịch và thủ tục giao dịch
Trang 27Do nhu cầu của khách hàng khi đến ngân hàng là khác nhau nên việc thoả mãn được những nhu cầu đa dạng của khách hàng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn Trong nền kinh tế thị trường thì hiện tượng cạnh tranh là tất yếu, việc đáp ứng nhu cầu khách hàng là điều kiện tiên quyết để đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh Một ngân hàng có các hình thức huy động và kỳ hạn huy động vốn phong phú, linh hoạt, thuận tiện hơn sẽ có sức thu hút khách hàng mới
và duy trì những khách hàng hiện có hơn những ngân hàng khác Các ngân hàng hiện nay không chỉ huy động tiền gửi tiết kiệm mà còn khuyến khích người dân gửi tiền dưới nhiều hình thức khác nhau như mở tài khoản tiền gửi, huy động qua
kỳ phiếu, trái phiếu phong phú cả về mệnh giá, kỳ hạn và chủng loại…
Khi hình thức huy động vốn đa dạng và hấp dẫn thì sẽ làm cho số lượng người gửi tiền tăng lên và khi dó chi phí huy động sẽ giảm xuống Hơn nữa, hình thức huy động vốn phong phú cũng là điều kiện để thu hút những khoản vốn đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau với những tính chất khác nhau về số lượng, chất lượng và kỳ hạn Từ đó sẽ giúp ngân hàng sử dụng vốn linh hoạt, an toàn và hiệu quả hơn
Dịch vụ ngân hàng chỉ là sản phẩm phụ trong hoạt động của ngân hàng nhưng trong chiến lược cạnh tranh đã cho thấy ngân hàng nào có dịch vụ đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, đáp ứng được những nhu cầu của khách hàng thì sẽ thu hút được khách hàng đến với mình Hiện nay với sự tham gia của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng cùng cạnh tranh với nhau, điều đó
có nghĩa là khách hàng càng có điều kiện thuận lợi để lựa chọn ngân hàng tốt nhất đáp ứng được nhu cầu của mình Vì vậy dịch vụ ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng và chính là một yếu tố góp phần thu hút khách hàng tinh tế nhất
Điều đầu tiên mà bất kỳ một cá nhân hay tổ chức kinh tế nào cũng muốn tham khảo khi gửi tiền vào ngân hàng chính là lãi suất Vì vậy chính sách lãi suất
Trang 28là một trong những chính sách quan trọng nhất trong số các chính sách bổ trợ cho công tác huy động vốn của ngân hàng
Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất như là một công cụ quan trọng trong việc huy động và thay đổi qui mô nguồn vốn thu hút vào ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần phải ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện ưu đãi về lãi suất cho khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên
Tuy nhiên không phải ngân hàng cứ đưa ra mức lãi suất cao là thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi suất
cụ thể mà ngân hàng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu Điều đó có nghĩa là mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra phải luôn đảm bảo lớn hơn tỷ lệ lạm phát, do đó ngân hàng phải dự đoán chính xác tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ để đưa ra mức lãi suất hợp lý Ngoài ra khi quyết định đưa ra mức lãi suất nào đó còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như thời gian đáo hạn của khoản tiền gửi, khả năng chuyển hoán giữa các kỳ hạn, mức độ rủi
ro và lợi nhuận mang lại từ các khoản đầu tư khác, các qui định của nhà nước, qui định của ngân hàng Trung ương, mức lãi suất đầu ra mà ngân hàng có thể áp dụng đối với các khách hàng vay vốn
Lãi suất càng cao thì càng hấp dẫn người gửi tiền nhưng lãi suất huy động cao cũng có nghĩa là lãi suất cho vay cũng phải cao tương ứng thì ngân hàng kinh doanh mới có lãi Mức lãi suất đủ cao để thu hút khách hàng nhưng cũng không được cao quá để vẫn có thể thu hút được khách đi vay mà không làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Hơn nữa ngân hàng phải tính đến chi phí huy động vốn của mình và mặt bằng lãi suất huy động của ngân hàng mình cạnh tranh so với các ngân hàng khác
Cùng với việc đổi mới hoạt động ngân hàng, các NHTM ngày càng chú trọng tới việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng, đặc biệt
là khâu thanh toán Nhờ đó làm cho vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo
Trang 29an toàn cho khách hàng trong việc gửi tiền, rút tiền và vay vốn Nếu thực hiện tốt khâu này thì sẽ hạn chế được việc lưu thông bằng tiền mặt vừa không hiệu quả vừa không an toàn Ngoài ra nếu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên thì ngân hàng sẽ thu hút được càng nhiều các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh
tế vào hệ thống ngân hàng và góp phần làm giảm chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm…
Hiện nay các ngân hàng đang vận động dân cư mở tài khoản tiền gửi thanh toán, thực hiện quá trình thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ qua tài khoản tiền gửi trong đó ngân hàng đóng vai trò là người làm trung gian thanh toán Ngoài ra, ngân hàng còn đưa ra các hình thức huy động vốn thông qua các hình thức hấp dẫn như tiền gửi tiết kiệm ở một nơi có thể rút ở nhiều nơi, thực hiện thanh toán qua thẻ tín dụng, thẻ atm…
Để thực hiện tốt vấn đề này, ngành ngân hàng phải tiếp tục trang bị những công nghệ hiện đại, nhất là khâu thanh toán Mặt khác ngân hàng cần nghiên cứu
để đưa ra các hình thức huy động vốn phù hợp Từ đó tạo cho khâu thanh toán luân chuyển vốn nhanh và thuận tiện cho công tác kiểm soát
Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm giúp cho ngân hàng nắm bắt được yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng Từ đó ngân hàng đưa ra được các hình thức khuyến mãi, marketing phù hợp với từng loại hình huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng Đồng thời các ngân hàng phải tiến hành thu thập thông tin đầy đủ, kịp thời để nắm bắt được nhu cầu của thị trường từ đó để có các chiến lược tốt hơn đối thủ cạnh tranh nhằm giành ưu thế về mình
Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy động từ đó giúp ngân hàng chủ động hơn trong kinh doanh Một ngân hàng có một bề dày lịch sử với danh tiếng,
cơ sở vật chất, trình độ nhân viên… sẽ tạo ra hình ảnh tốt về ngân hàng, gây
Trang 30được sự chú ý của khách hàng từ đó lôi kéo được khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình
Trên cơ sở thực tế sẵn có, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được hình ảnh riêng của mình trong lòng thị trường Một ngân hàng lớn, có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong các hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động hiệu quả huy động vốn nói riêng
1.5 Bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới
Giai đoạn khó khăn của ngành ngân hàng thế giới trong giai đoạn những năm 2001-2004 là: Suy giảm kinh tế thế giới, áp lực cạnh tranh gay gắt trên thị
trường trong nước và quốc tế, giá cả trên thị trường cũng không ổn định, sự kiện chiến tranh tại các nước như Irac Tất cả những yếu tố trên đã tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các hệ thống ngân hàng trên thế giới và ANZ bank cũng không tránh khỏi ảnh hưởng xấu của tình hình trên
Cũng trong giai đoạn này, sự sụt giảm của lãi suất thế giới dưới tác động của Cục dự trữ liên bang Mỹ với trên 11 lần cắt giảm lãi suất nhằm ngăn chặn đà suy thoái của nền kinh tế đã ảnh hưởng lan đến hoạt động huy động vốn của ANZ Bank nói riêng và hệ thống ngân hàng thế giới nói chung Điều này đã khiến ANZ Bank phải điều chỉnh giảm lãi suất huy động ngoại tệ Trong bối cảnh tỷ giá đô la Mỹ so với đồng đô la Australia tương đối ổn định, ANZ đã nhận định rằng giảm lãi suất tất yếu sẽ kéo theo giảm nguồn vốn huy động ngoại tệ Trong khi đó, cạnh tranh trên thị trường ngân hàng Australia nói riêng
và thị trường thế giới nói chung lại hết sức gay gắt, khiến cho chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra bị thu hẹp Để đối phó với những khó khăn này, ANZ đã đẩy mạnh việc đa dạng hóa các loại hình huy động vốn cũng như phát triển, bổ sung nhiều tiện ích đi kèm cho khách hàng gửi tiền Việc điều chỉnh lãi suất tiền gửi đôla Mỹ của ANZ Bank hoàn toàn phụ thuộc vào diễn biến cung cầu ngoại
tệ trên thị trường trên cơ sở đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh cũng như duy trì được lợi nhuận của ngân hàng
Trang 31Không chỉ trên hoạt động huy động vốn, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trên thế giới rất mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác Những năm sau
đó, nhận thấy những thế mạnh của các ngân hàng khác về quy mô hoạt động toàn cầu, về vốn, công nghệ thông tin, các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng,
đã và đang chứng tỏ sẽ là đối thủ cạnh tranh của ANZ trong hiện tại và tương lai Để đối phó với những khó khăn, thách thức trên, ANZ đã đề ra các chiến lược kinh doanh tức thì, điển hình là chiến lược tái cơ cấu ANZ Bank đến năm
2010 và được thực hiện ngay khi chiến lược được thông qua Ngoài ra, ANZ cũng không ngừng nghiên cứu đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới
Vị thế vững chắc của ANZ như hiện nay là minh chứng cho những nỗ lực trên Qua đó cho ta thấy, trong thời buổi khó khăn và cạnh tranh mạnh mẽ, ngân hàng nào có chiến lược đúng đắn, biết tận dụng cơ hội và biết cách đối phó với những thách thức sẽ thắng cuộc Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đang đứng trước những khó khăn bao gồm những ảnh hưởng từ biến động của nền kinh tế Việt Nam và thế giới cũng như áp lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng Để đứng vững và ngày càng phát triển, gia tăng thị phần huy động vốn đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng động não, nhận ra những hạn chế cũng như lợi thế cạnh tranh của ngân hàng mình, cơ cấu lại ngân hàng theo hướng hoàn thiện hơn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Đồng thời, luôn tìm hiểu và tiên đoán trước về các nhu cầu thị trường để phát triển sản phẩm dịch vụ ngày càng đa dạng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Các ngân hàng cũng cần học cách thích nghi và thay đổi linh hoạt với mọi sự biến động của thị trường
1.5.2 Bài học kinh nghiệm từ ngân hàng của Nhật Bản
Năm 2008, tại Nhật Bản, Jinbun Bank chính thức đi vào hoạt động, là ngân hàng ảo 100% đầu tiên trên thế giới Jinbun Bank là ngân hàng liên doanh giữa Bank of Tokyo – Mítsubishi UFJ và công ty viễn thông KDDI, cung cấp
Trang 32đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng chỉ trên điện thoại di động Nhật
Bản là nước đầu tiên trên thế giới phát triển thiết bị di động 3G và 90% thiết bị viễn thông trên nền tảng 3G Ở Nhật Bản, gần 100% khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng di động Nguyên nhân của sự phát triển về công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng ở Nhật Bản là nhờ vào sự phát triển của hạ tầng viễn thông ở nước này, cho phép ứng dụng công nghệ 3G – chuẩn viễn thông di động tiên tiến, hỗ trợ truyền dữ liệu tốc độ cao kết hợp nhận dạng giọng nói Hiệu quả đem lại từ việc phát triển sản phẩm ngân hàng di động rất lớn: đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên có liên quan, giúp ngân hàng thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, thông qua đó phổ biến hoạt động ngân hàng đến đông đảo khách hàng, tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn nói riêng cũng như gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung của ngân hàng
Học tập kinh nghiệm từ Nhật Bản, các ngân hàng Việt Nam luôn không ngừng hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin, phát triển các sản phẩm ngân hàng mang tính công nghệ cao, điển hình như các sản phẩm ngân hàng di động Tuy nhiên để phát triển thành công các loại hình sản phẩm này, cần phải có các điều kiện chủ quan từ phía ngân hàng và các điều kiện khách quan từ nền kinh
tế, từ sự hỗ trợ từ hệ thống công nghệ thông tin của quốc gia, các chính sách và điều kiện pháp lý từ phía Chính phủ và ngân hàng Trung ương
Các ngân hàng Nhật bản đã thành công với mô hình hệ thống chuyển mạch tập trung (MICS) Nhờ vào việc nhận ra tầm quan trọng của hệ thống thanh toán
tự động gồm mạng lưới các máy rút tiền tự động và hệ thống các máy giao dịch
tự động đối với hoạt động huy động vốn, thanh toán và cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng Thực ra, mang lưới các máy rút tiền tự động và hệ thống các máy giao dịch tự động của các ngân đã hình thành từ những năm 90 của thế kỷ 20, nhưng đến 2/1990, các mạng lưới này đã được kết nối thông qua
Trang 33hệ thống chuyển mạch tập trung của Nhật Bản với nhiều cấp chuyển mạch với
cơ chế hoạt động khá phức tạp
Đến 3/2002, để giảm chi phí phát triển nhiều hệ thống và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng Nhật Bản đã thỏa thuận thiết lập các hệ thống chuyển mạch tập trung thế hệ mới có khả năng liên kết hoạt động thanh toán và giao dịch thẻ tự động giữa tất cả các thành viên tham gia, tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán nội bộ và liên ngân hàng cũng như đem lại rất nhiều tiện ích cho khách hàng Từ đó sẽ góp phần gia tăng số lượng tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, góp phần gia tăng nguồn vốn tiền gửi từ loại tài khoản này
Ở Việt Nam, học tập kinh nghiệm từ Nhật Bản cũng như từ các quốc gia khác có công nghệ ngân hàng hiện đại, 07/2004, Banknetvn được thành lập với
sự tham gia góp vốn của 8 cổ đông sáng lập gồm Công ty điện toán và truyền số liệu VDC; 7 ngân hàng gồm Agribank, BIDV, Vietinbank, ACB, Sacombank, EAB, Saigonbank Mục tiêu của Banknetvn là xây dựng hệ thống chuyển mạch tài chính quốc gia kết nối hệ thống thanh toán thẻ nói chung, hệ thống ATM/POS nói riêng của các ngân hàng ở Việt Nam, xử lý bù trừ thanh toán thẻ đối với các ngân hàng Tuy nhiên hiện nay mới chỉ có 16 ngân hàng thương mại tham gia là thành viên của hệ thống Banknetvn và một số ngân hàng khác kết nối với Banknetvn thông qua Smartlink Với những hiệu quả hệ thống này mang lại cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nói chung và công tác huy động vốn nói riêng
Hệ thống Banknet cũng cần không ngừng hoàn thiện, tiếp tục học hỏi, tiếp
thu các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ hiện đại trên thế giới để giúp cho hệ thống ngày càng hiệu quả hơn
• Về việc phát triển các hoạt động tài chính bán lẻ đã gia tăng tài khoản khách hàng, góp phần hiệu quả vào công tác huy động vốn
Trang 34Ở Việt Nam vào tháng 6/2011 tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) của Nhật Bản đang nỗ lực mở rộng kinh doanh ở Việt Nam thông qua quan hệ với đối tác là Eximbank Công ty con của SMBC, đã cử các chuyên gia tài chính bán lẻ sang để hỗ trợ Eximbank với hy vọng tăng so lượng tài khoản lên gấp đôi so với cùng kỳ năm trước vào cuối năm nay Theo SMBC, các nhân viên của các công ty Nhật Bản ở Việt Nam là những khách hàng tiềm năng trong khi rất nhiều người trong số họ lại không sử dụng tài khoản ngân hàng SMBC tin rằng các tài khoản tiết kiệm trực tiếp có thể tạo ra chỗ đứng cho việc bán các sản phẩm tài chính
Các ngân hàng thương mại Việt Nam có đúc kết các kinh nghiệm sau: Thông qua kinh nghiệm về giải pháp phát triển hoạt động tài chính bán lẻ của tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) của Nhật Bản, Không ngừng tìm kiếm và khai thác thị trường tiềm năng Tùy theo năng lực tài chính của ngân hàng và điều kiện thực tế, ngân hàng cần mở rộng thị phần hoạt động thông qua việc khai thác các thị trường tiềm năng trong và ngoài nước
Phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng bán lẻ vì các dịch vụ này bên cạnh việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung còn góp phần gia tăng so lượng khách hàng, gia tăng số lượng tài khoản và từ đó góp phần gia tăng nguồn vốn huy động
Trang 35K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, chương 1 đã tìm hiểu những lý luận về huy động vốn và hiệu quả huy động vốn cũng như các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Bên cạnh đó chương 1 có phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng thương mại Chương 1 cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm của các nước phát triển đó là ngân hàng AZN, ngân hàng ANZ đã đẩy mạnh việc đa dạng hóa các loại hình huy động vốn cũng như phát triển, bổ sung nhiều tiện ích đi kèm cho khách hàng gửi tiền Việc điều chỉnh lãi suất tiền gửi đôla Mỹ của ANZ Bank hoàn toàn phụ thuộc vào diễn biến cung cầu ngoại tệ trên thị trường trên cơ sở đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh cũng như duy trì được lợi nhuận của ngân hàng, và chúng ta cũng đúc kết kinh nghiệm từ ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) của Nhật Bản không ngừng tìm kiếm và khai thác thị trường tiềm năng phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng bán lẻ vì các dịch vụ này bên cạnh việc góp phần nâng cao hiệu qủa hoạt động kinh doanh nói chung còn góp phần gia tăng so lượng khách hàng và góp phần gia tăng nguồn vốn huy động Qua những cơ sở lý luận, những nhân tố ảnh hưởng và các bài học được phân tích đánh giá ở trên, cho rằng đây là cơ sở quan trọng để vận dụng vào phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trên địa bàn Bình Dương được trình bày chương 2
Trang 36CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH
- Tiền gửi không kỳ hạn: Khách hàng được sử dụng các tiện ích ngân hàng
từ tài khoản loại này như chuyển tiền, thanh toán, các giao dịch qua hệ thống máy ATM, dịch vụ SMS Banking, nạp tiền điện thoại di động qua dịch vụ VNTopup, giao dịch qua Internet Banking, Mobile Banking, Lãi suất áp dụng đối với loại tiền gửi này là lãi suất không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Khách hàng được cấp sổ tiết kiệm để theo dõi, quản lý tiền gửi Lãi suất đối với loại tiền gửi này cũng là lãi suất không kỳ hạn
- Tiền gửi, tiết kiệm có kỳ hạn: bao gồm nhiều sản phẩm tiền gửi, tiết kiệm đa dạng về kỳ hạn, phương thức thanh toán lãi, mục đích sử dụng và các
ưu đãi kèm theo Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này là lãi suất có kỳ hạn theo biểu lãi suất ngân hàng thương mại công bố từng thời kỳ
- Ngoài ra, Các NHTM còn phát hành các loại chứng từ có giá như: chứng chỉ tiền gửi, giấy chứng nhận giữ hộ vàng, Khi gửi tiền tại các NHTM, khách hàng ngoài hưởng lãi còn có thể được hưởng các tiện ích khác Khách hàng được đảm bảo an toàn và bí mật tài khoản tiền gửi Khách hàng gửi tiền gửi, tiết kiệm có kỳ hạn đến ngày đáo hạn nếu không rút vốn và không có yêu cầu gì khác, tiền lãi sẽ được nhập vào gốc và chuyển sang kỳ hạn mới Khách
Trang 37hàng có thể làm thủ tục thừa kế, chuyển nhượng đối với các tài khỏan tiền gửi nói chung hoặc cầm cố để vay vốn đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn Khách hàng có tài khoản tại các NHTM có thể rút tiền từ các tài khoản tiền gửi của mình ở tất cả các chi nhánh của hệ thống NHTM trong cả nước
2.1 2 Dịch vụ cấp tín dụng
Các NHTM đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng để phục vụ cho các mục đích như: Sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tiêu dùng, đầu tư phát triển, Hiện nay các NHTM đang triển khai các sản phẩm cho vay sau:
• Đối với khách hàng cá nhân
− Cho vay bất động sản
− Cho vay sản xuất kinh doanh
− Cho vay hỗ trợ tiểu thương
− Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá
− Cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán
− Cho vay du học
− Cho vay mua xe ô tô
− Cho vay cán bộ công nhân viên không có tài sản đảm bảo
− Cấp hạn mức thấu chi
• Đối với khách hàng doanh nghiệp
− Cho vay tài trợ lưu động vốn
− Cho vay thấu chi
− Cho vay đầu tư
− Cho vay bổ sung vốn kinh doanh trả góp dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
− Bao thanh toán
− Các hình thức cho vay khác: đồng tài trợ, cho vay theo ủy thác
− Dịch vụ chuyển tiền: Chuyển và nhận tiền trong và ngoài nước
Trang 38− Thanh toán quốc tế: Áp dụng cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp, bao gồm bao thanh toán xuất - nhập khẩu và thanh toán xuất - nhập khẩu
2.1.4 Các dịch vụ khác
Ngoài các loại hình dịch vụ nêu trên, các NHTM còn có các loại hình dịch vụ khác dành cho khách hàng cá nhân như: dịch vụ thanh toán thẻ, giao dịch hối đoái, dịch vụ du học trọn gói, thu tiền điện, các dịch vụ ngân hàng điện tử: Internet Banking, Mobile Banking, dịch vụ nạp tiền thuê bao di động VnTopup, SMS Banking và một số loại hình dịch vụ khác Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác như: Giao dịch hối đoái, dịch
vụ quản lý tiền gửi tập trung, chi hộ lương, Internet Banking và các dịch vụ khác
Tỉnh Bình Dương (từ những năm 2010 đến năm 2012)
2.2.1 Quy mô huy động vốn
− Quy mô huy động vốn là chỉ tiêu quan trọng đầu tiên để đánh giá khả năng hiệu quả huy động vốn của ngân hàng Quy mô huy động vốn càng lớn, càng thể hiện ngân hàng có uy tín cao và hoạt động hiệu quả, thông qua các chính sách thu hút vốn hợp lý cùng với sự nỗ lực không ngừng đã thu hút được một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và dân cư, trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác
2.2.1.1 Tình hình huy động vốn phân theo loại hình ngân hàng
Trang 39Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn phân theo loại hình ngân hàng
NH có vốn đầu tư NN 99,47 16,99% 113,53 14,42% 133,37 13,14% Tổng cộng 585,33 100% 786,89 100% 1.014,90 100%
Trang 40− Bảng số liệu cho ta thấy được số dư huy động vốn của các NHTM QD tuy
có tăng qua các năm nhưng thị phần đang có xu hướng giảm dần, cụ thể năm 2012 chỉ chiếm 22,27% tổng nguồn vốn huy động đó là do ngân hàng này chỉ tồn tại hai ngân hàng; Trong khi đó thị phần của khối NHTMCP đang tăng nhanh chóng,
cụ thể năm 2011 đạt 468,60 nghìn tỷ đồng (chiếm 59,55% tổng nguồn vốn) thì đến năm 2012 số dư huy động vốn đạt được 655,50 nghìn tỷ đồng (chiếm 64,59% tổng nguồn vốn huy động, gấp 3 lần thị phần của NHTMQD)
− Theo số liệu cục thống kê Tỉnh Bình Dương, vốn huy động đến cuối năm
2011 đạt 786,89 nghìn tỷ đồng, tăng 34,43% so với cùng kỳ năm trước Vốn huy động đến cuối năm 2012 đạt 1.014,90 nghìn tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ Thị phần của các NHTMCP không ngừng gia tăng cho thấy được hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của khối NH này Các NHTM QD cũng từng bước hoàn thiện thay đổi cơ chế hoạt động nhằm đáp ứng được yêu cầu của quy luật cạnh tranh
− Khối NH có vốn đầu tư NN cũng không ngừng gia tăng số dư huy động vốn, tuy thị phần 2012 đang sụt giảm nhưng trong thời gian tới, với việc cho phép hoạt động đầy đủ chức năng giống như các ngân hàng thương mại thì việc gia tăng thị phần là điều có thể xảy ra Các ngân hàng thương mại sẽ mất dần thị phần do các ngân hàng nước ngoài có một số lợi thế nhất định
− Đối với các ngân hàng thương mại, việc xây dựng, hoạch định chính sách huy động vốn cho từng đối tượng khách hàng là điều vô cùng quan trọng Bởi vì khi phân khúc được nhóm đối tượng khách hàng, đưa ra được chính sách huy động vốn hiệu quả thì sẽ phát huy tối đa hiệu suất huy động vốn, đáp ứng vốn cho nền kinh tế