1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng việt nam giai đoạn 2000 2011

100 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 723,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam vì vậy đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái song phương VND/CNY vào chỉ số giá Thứ hai, x

Trang 1

-฀ω฀ -

ĐOẠN 2000 - 2011

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn là GS TS Trần Ngọc Thơ Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham

TP.HCM, ngày tháng năm 2012

Tác gi ả

Tr ần Quốc Phong

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Trần Ngọc Thơ đã tận tình hướng dẫn

đến các Quý thầy cô những người đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong cả khóa học Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời tri ân đến các anh chị đồng nghiệp tại Phòng Luật & KSNB - Công Ty CP Chứng khoán Sài Gòn, những người đã tận tình giúp đỡ,

này

Tr ần Quốc Phong

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM T ẮT 1

M Ở ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 7

T ỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN 7

1.1 M ối quan hệ giữa giá cả hàng hóa nhập khẩu và tỷ giá hối đoái 7

1.1.1 Mô hình lu ật một giá (LOP): 7

1.1.2 Các tranh lu ận về tính hiệu lực của LOP trong việc giải thích sự biến động của tỷ giá và giá cả hàng hóa nhập khẩu 8

1.1.3 M ức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá cả hàng hóa 9

1.1.4 Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 10 1.1.5 Các nghiên c ứu liên quan về truyền dẫn của tỷ giá 11

1.1.5.1 Các nghiên c ứu trên thế giới 11

1.1.5.2 Các nghiên c ứu về mức độ truyền dẫn của tỷ giá ở Việt Nam 17

1.2 Các y ếu tố ảnh hưởng đến độ lớn của mức độ truyền dẫn (ERPT) 18 1.2.1 Môi trường lạm phát của nền kinh tế 18

1.2.2 M ức độ biến động của tỷ giá hối đoái 20

1.2.3 M ức độ đô la hóa của nền kinh tế 21

1.2.4 M ức độ mở cửa của nền kinh tế 21

1.2.5 Độ chênh sản lượng (output gap) 22

1.2.6 Thành ph ần hàng hóa nhập khẩu 23

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

CHƯƠNG 2 26

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) VÀO CH Ỉ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG VIỆT NAM (CPI) – XÁC ĐỊNH XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA ERPT 26

2.1 M ức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) c ủa Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011 26

Trang 6

2.1.1 Mô hình nghiên c ứu 26

2.1.2 D ữ liệu nghiên cứu 28

2.1.3 Các bước thực hiện trong quá trình chạy mô hình 29

2.1.4 Ki ểm định nghiệm đơn vị 30

2.1.5 Ch ọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 31

2.1.6 Ki ểm định đồng liên kết theo phương pháp Johasen 33

2.1.7 Đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng trong dài h ạn bằng mô hình VECM 34

2.1.8 M ức độ truyền dẫn trong ngắn hạn: mô hình hiệu chỉnh sai số ECM 37

2.2 Xu hướng biến động của mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) vào ch ỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong giai đoạn Q1 2000 đến Q2 2011 44

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3 49

XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ VÀO MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 49

3.1 Mô hình nghiên c ứu 49

3.2 D ữ liệu và các bước thực hiện 50

3.3 Ki ểm định nghiệm đơn vị 51

3.4 M ức độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đối với ERPT 53

K ẾT LUẬN CHƯƠNG 3 56

K ẾT LUẬN CHUNG 57

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 1 61

PHỤ LỤC 2 64

PHỤ LỤC 3 67

PHỤ LỤC 4 71

PHỤ LỤC 5 74

PHỤ LỤC 6 77

PHỤ LỤC 7 81

Trang 7

PHỤ LỤC 8 82

PHỤ LỤC 9 83

PHỤ LỤC 10 84

PHỤ LỤC 11 85

PHỤ LỤC 12 86

PHỤ LỤC 13 88

PHỤ LỤC 14 89

PHỤ LỤC 15 90

PHỤ LỤC 16 91

Trang 8

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

- ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á

- ADF: Augmented Dickey-Fuller

- CNY: Nhân dân tệ của Trung Quốc

- CPI: chỉ số giá tiêu dùng

- CPIA: chỉ số giá tiêu dùng của các quốc gia Đông Á

- ECM: Error correction model

- ERPT: mức độ truyền dẫn của tỷ giá (exchange rate pass through)

- Gos: tổng cục thống kê Việt Nam

- GDP: thu nhập quốc dân

- IFS: thống kê tài chính

- IMF: quỹ tiền tệ quốc tế

- IP: sản lượng công nghiệp

- NEER: tỷ giá danh nghĩa hiệu lực

- PPI: chỉ số giá sản xuất

Trang 9

DANH M ỤC BẢNG

- Bảng 2.1 kết quả kiểm định nghiệm đơn vị các biến trong phương trình 5, 6

- Bảng 2.2 Bảng độ trễ tối ưu (tỷ giá VND/CNY, CPITQ)

- Bảng 2.3 Bảng độ trễ tối ưu (tỷ giá VND/CNY, PPITQ)

- Bảng 2.4 Bảng độ trễ tối ưu (NEER, CPIA)

- Bảng 2.5 Kết quả kiểm đồng liên kết theo phương pháp Johasen

- Bảng 2.6 Mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng CPI trong dài

- Bảng 2.7 Kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số ECM rút gọn

- Bảng 2.8 Kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số ECM đầy đủ

- Bảng 3.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị các biến trong phương trình 11

- Bảng 3.2 Kết quả các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn

DANH M ỤC HÌNH VẼ

- Hình 2.1: Xu hướng biến động mức độ truyền dẫn (ERPT) của tỷ giá song phương VND/CNY vào chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam (CPI) trong giai đoạn Q4

2001 đến Q2 2011( tương ứng với 02 trường hợp PPI và CPI là đại diện cho chi

- Hình 2.2: Xu hướng biến động mức độ truyền dẫn của tỷ giá danh nghĩa hiệu lực (NEER) vào CPIVN trong giai đoạn Q4 2001 đến Q2 2011

Trang 10

TÓM TẮT

giả đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong giai đoạn 2000 – 2011 Vì trong giai đoạn nghiên cứu, hàng hóa nhập khẩu từ

đoạn nghiên cứu Nghiên cứu cũng xác định xu hướng tăng dần của mức độ truyền

của tỷ giá, độ chênh sản lượng, mức độ đô la hóa và độ mở của nền kinh tế đến độ

đoạn nghiên cứu

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

(CPI) năm 2008 của Việt Nam lên đến 24%, đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất kể từ năm 2000 và cũng là tỷ lệ cao nhất so với các nền kinh tế trong khu vực Đông Nam

qua có liên hệ với nhau? Hay nói cách khác, lạm phát cao có bị ảnh hưởng bởi việc phá VNĐ không? Và nếu có thì mức độ ảnh hưởng của phá giá VNĐ lên lạm phát

vào ch ỉ số giá tiêu dùng (CPI) Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2011 để làm

luận văn bảo vệ khóa học thạc sĩ của mình

2 Tính cấp thiết của đề tài

dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI) và chỉ số giá nhập khẩu (IMP) luôn là một chủ

đề đáng quan tâm của các nhà kinh tế thế giới Vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu về

theo hai phương pháp: phương pháp hồi qui tuyến tính và phương pháp phân tích VAR

Trang 12

đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) Trong điều kiện nền kinh tế Việt

ngoài qua đó làm tỷ giá thường xuyên biến động có thể là nguyên nhân gây ảnh hưởng không nhỏ đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Việt Nam Vì vậy, một nghiên cứu

về mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng theo phương pháp hồi qui tuyến tính là cần thiết ở thời điểm hiện tại

3 Mục tiêu nghiên cứu

chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam vì vậy đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái song phương VND/CNY vào chỉ số giá

Thứ hai, xác định xu hướng biến động của mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2011

đến mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

4 Đối tượng nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam

- Tỷ giá song phương VND/CNY và tỷ giá danh nghĩa hiệu lực (NEER) của

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá sản xuất (PPI) của Trung Quốc

Trang 13

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của các quốc gia Đông Á đại diện cho chi phí sản

- Sản lượng công nghiệp (IP) của Việt Nam

- Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái song phương và đa phương vào chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam

- Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số

5 Phạm vi nghiên cứu

- Các số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng

đoạn từ Q1 2000 đến Q2 2011

- Tỷ giá hối đoái song phương VND/CNY và tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu

trong giai đoạn từ Q1 2000 đến Q2 2011 Rổ tiền tệ để tính NEER gồm 9 đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam, đó là đồng SGD

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh đối chứng: Dựa trên số liệu thực tế thu thập được tác

- Phương pháp mô hình hoá: Phương pháp này được sử dụng để làm rõ những phân tích định tính bằng các hình vẽ cụ thể để vấn đề trở nên dễ hiểu hơn;

- Phương pháp phân tích kinh tế lượng:

+ Tác giả sử dụng mô hình VECM để đo lường mức độ truyền dẫn của

+ Tác giả sử dụng mô hình ECM để đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ

Trang 14

giá hối đoái (ERPT) lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam

7 Dữ liệu nghiên cứu

thống kê Việt Nam (GSO), Tổng cục hải quan Việt Nam, Tổng cục thống kê Trung

thời gian từ năm 2001 đến 2011

8 Bố cục của luận văn

- Chương 1: tổng quan lý thuyết về giải thích sự truyền dẫn theo quan điểm

ảnh hưởng đến mức độ truyền đẫn của tỷ giá (ERPT)

- Chương 2: Đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá đối đoái song phương VND/CNY, tỷ giá danh nghĩa hiệu lực (NEER) trong dài hạn và trong ngắn hạn vào chỉ số giá tiêu dùng dùng (CPI) Việt Nam trong giai đoạn từ 2000 –

- Chương 3: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến mức độ

Nam

Trang 15

9 Những đóng góp của luận văn

đoái (ERPT) trong ngắn hạn

Trang 16

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN

1.1 Mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa nhập khẩu và tỷ giá hối đoái

1.1.1 Mô hình luật một giá (LOP):

Theo Luật một giá (LOP), các hàng hóa giống nhau được bán cùng một mức giá ở

đồng tiền của quốc gia H, p* đại diện cho giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia

p i = E (1)

ứng ngang giá sức mua trong điều kiện tuyệt đối tồn tại và được thể hiện như sau:

P = EP* (1’)

pt = α + δXt + γEt + µZt + εt (2)

Trong đó, tất cả các biến đều dưới dạng logarit, p là giá của một hàng hóa nhập khẩu cụ thể, X là biến kiểm soát đại diện cho phí sản xuất hoặc giá cả hàng hóa, E

là tỷ giá hối đoái, Z đại diện cho một biến kiểm soát khác ảnh hưởng đến giá nhập

động của giá cả hàng hóa và tỷ giá phải phù hợp với sự thay đổi của X, E và Z

Trang 17

Goldberg (1997) cho rằng, nếu luật một giá (LOP) được thể hiện như phương trình (1) là đúng tức giá cả những hàng hóa giống nhau sẽ có giá bán như nhau khi qui về

trong phương trình (2) như sau: Nếu giá hàng hóa được đo lường trong những đơn

vị tiền tệ khác nhau thì luật một giá LOP chỉ ra rằng α = 0, δ = 1, γ = 1 Nếu giá cả

được đo lường cùng một đơn vị tiền tệ thì theo LOP ta có α = 0, δ = 1, γ = 0 Điều

giá thay đổi tăng lên (hoặc giảm xuống) thì giá cả hàng hóa tính theo đồng tiền của

1.1.2 Các tranh luận về tính hiệu lực của LOP trong việc giải thích sự biến

động của tỷ giá và giá cả hàng hóa nhập khẩu

Có rất nhiều nhà nghiên cứu không đồng ý với luật một giá (LOP) trong việc giải

sự thay đổi của tỷ giá hối đoái Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra rất nhiều lý do để

- Các nhà xuất khẩu sẽ định giá hàng hóa khác nhau trong các phân khúc thị trường khác nhau: trong một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, các công

ty đưa ra các mức giá khác nhau đối với cùng một hàng hóa ở các phân khúc

hóa Do đó, khi tỷ giá thay đổi thì giá hàng hóa nhập khẩu chưa chắc sẽ thay

Trang 18

đổi hoặc sẽ thay đổi ít hơn một khoảng tương ứng với mức độ thay đổi của tỷ giá

- Các công ty xuất khẩu định giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia nhập

động, chính sách tiền tệ ổn định, các công ty này sẽ thiết lập giá hàng hóa của nó theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu Vì vậy khi xảy ra một cú sốc

- Chi phí phân phối và giao dịch cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi của giá hàng

điều chỉnh lợi nhuận mà không cần tăng giá hàng hóa

- Hàng hóa nhập khẩu được chia thành nhiều công đoạn sản xuất ở các quốc gia khác nhau, khi đó chi phí của sản phẩm cuối cùng được quy đổi từ nhiều đồng tiền khác nhau Vì vậy giá cả của hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc

- Các biện pháp bảo hộ tỷ giá, giữ cho tỷ giá ít biến động sẽ làm cho giá hàng hóa nhập khẩu ít biến động Tất nhiên, các biện pháp bảo hộ này chỉ là tạm

1.1.3 Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá cả hàng hóa

Trang 19

trên nên theo Goldberg (1997), vào những năm 70 của thế kỷ 20, những công ty

đồng tiền bị phá giá? Hay từ quan điểm của những nhà nhập khẩu nhập khẩu: liệu ảnh hưởng của việc phá giá có được truyền dẫn (pass through) một cách hoàn toàn vào giá nhập khẩu tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu không? Từ đây, đã hình thành nên định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) như sau: truyền dẫn

theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu từ việc thay đổi một phần trăm của tỷ giá

Theo Goldberg (1997), nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá (ERPT) vào giá hàng hóa

là tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của quốc gia nhập khẩu đối với đồng tiền của quốc

ngược lại nếu γ < 1 thì sự truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào giá hàng hóa nhập khẩu

1.1.4 Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trang 20

- Thứ nhất, sự thay đổi của tỷ giá sẽ được truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu,

- Thứ hai, sự thay đổi của chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Mức độ chỉ số giá tiêu dùng bị ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷ

ép tăng giá hàng hóa nội địa và tăng lương, nếu giá cả hàng hóa và lương tăng sẽ tiếp tục tạo sức ép lên chỉ số giá tiêu dùng trong nước Theo Bạch Thị Phương Thảo (2011), sự ảnh hưởng của chỉ số giá nhập khẩu vào chỉ số giá tiêu dùng theo 01 trong 02 cách sau:

 Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng cho mục đích tiêu dùng cuối

 Nếu hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên phụ liệu được dùng cho quá

xuất và thông qua đó ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng

1.1.5 Các nghiên cứu liên quan về truyền dẫn của tỷ giá

1.1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá, nhiều nhà nghiên cứu đã ứng dụng nhiều mô hình kinh tế lượng khác nhau để

Trang 21

Phương pháp hồi qui tuyến tính:

Ghosh và Rajan (2007a): Tác giả đã phát triển mô hình luật một giá bằng cách thêm vào các biến kiểm soát như chỉ số giá sản xuất của quốc gia xuất khẩu, biến đại diện cho nhu cầu hàng hóa nhập khẩu ở Ấn Độ (IP) để đo lường mức độ truyền

tỷ giá danh nghĩa hiệu lực ở Ấn Độ (Neer) vào CPI thì không có ý nghĩa thống kê

Ghosh và Rajan (2008): Tác giả đã kế thừa nghiên cứu 2007 (nêu trên), bằng phương pháp hồi qui theo mô hình DOLS (Dynamic OLS) để đo lường độ lớn

cao hơn so với ERPT tại Hàn Quốc; ERPT của tỷ giá song phương giữa Balt/USD

và Won/USD thì cao hơn với ERPT của tỷ giá song phương Balt/Yen và Won/Yen;

Ihrig (2006): Xuất phát từ mô hình luật một giá, tác giả đã bổ sung vào mô hình các

Trang 22

nhóm G7 trong giai đoạn từ 1975 đến 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự sụt

giai đoạn từ 1975 đến 1980 nếu đồng tiền ở quốc gia nhập khẩu bị mất giá 10% thì giá nhập khẩu sẽ gia tăng khoảng 7% và gia tăng khoảng 4% trong giai đoạn từ

1980 đến 2004; đối với giá tiêu dùng, trong giai đoạn từ 1975 đến 1980, nếu đồng

Barhoumi, K (2006): Bắt nguồn từ lý thuyết Luật một giá LOP, tác giả xem xét

phát triển vào giai đoạn 1980 đến 2003 Tác giả giả định rằng điều kiện đặc thù ở các nước đang phát triển là giống hệt nhau: khó có thể đạt được sự tự do thương mại

không hoàn toàn và không đồng nhất giữa các quốc gia Cuối cùng để giải thích cho

nhóm theo 03 yếu tố vĩ mô: chế độ tỷ giá, rào cản thương mại, điều kiện lạm phát

Ilan Goldfajn and Sergio R.C Werlang (2007): bài nghiên cứu này xem xét mối

Trang 23

truyền dẫn khi phá giá (hoặc định giá cao) vào lạm phát gia tăng theo thời gian và

độ mở nền kinh tế và độ chênh sản lượng (output gap) đều ảnh hưởng đến độ lớn

giá ảnh hưởng lớn đến mức độ truyền dẫn ở các nước đang phát triển, trong khi đó điều kiện lạm phát ban đầu lại có ý nghĩa ở các nước đã phát triển; (4) tác giả cũng

tính đều xuất phát theo mô hình luật một giá (LOP), từ đó khi các tác giả xem xét

soát khác có tác động đến giá hàng hóa nhập khẩu như: yếu tố đại diện cho chi phí

Phương pháp Var

McCarthy, J (2000): Là người tiên phong trong việc sử dụng mô hình VAR để

VAR) được sử dụng để nghiên cứu mức tác động của tỷ giá hối đoái và chỉ số giá

triển giai đoạn 1976 – 1998 Kết quả nghiên cứu cho thấy: 1) việc nâng giá đồng nội

tệ sẽ làm giảm giá cả nhập khẩu và điều này kéo dài với thời gian ít nhất là 1 năm ở

dùng đối với chỉ số giá nhập khẩu là dương và có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các nước được khảo sát

Faruqee (2006): Tác giả sử dụng mô hình VAR để xem xét mức độ truyền dẫn của những cú sốc tỷ giá vào các chỉ số giá ở khu vực sử dụng đồng tiền EURO Kết quả nghiên cứu như sau: (1) mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn vào các chỉ số giá thì

Trang 24

thấp, tương tự như Mỹ, mức tác động của các cú sốc về tỷ giá trong ngắn hạn vào

về hệ thống bán lẻ và chi phí phân phối được cho là ảnh hưởng đến sự khác nhau giữa mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng

Ito và Sato (2008): Tác giả đã sử dụng mô hình VAR để đo lường mức độ truyền

nước Đông Á Kết quả nghiên cứu cho thấy: độ lớn của mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu là cao nhất, sau đó đến chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng; mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu là khá cao ở các nước bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ; mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng nhìn chung tương đối thấp ở các nước được khảo sát ngoại

nước được khảo sát và đạt mức lớn nhất tại Indonesia; điều này cho thấy NHTW các nước đặc biệt là NHTW Indonesia đã áp dụng chặt chẽ chính sách thắt chặt tiền

tệ để hạn chế lạm phát và hạn chế mức phá giá mạnh hơn đồng nội tệ trong tương

Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn and Marcelo Sánchez (2007): bằng phương pháp

VAR, tác giả đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào các chỉ số giá tại

Trang 25

phát triển Bài viết cũng cung cấp những bằng chứng cho thấy mối quan hệ cùng

cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ truyền dẫn (ERPT) và độ mở nền kinh tế nhưng mức độ tin cậy thấp hơn so với môi trường lạm phát

So sánh phương pháp phân tích đồng liên kết và hàm phản ứng xung

Beirne (2009): Tác giả đã sử dụng đồng thời hai phương pháp: phân tích đồng liên

- Mức độ truyền dẫn trung bình vào chỉ số giá tiêu dùng là 0.6 khi sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết và 0.5 khi sử dụng hàm phản ứng xung

liên kết cao hơn so với phương pháp VAR là vì số liệu trong phân tích đồng

ảnh hưởng của những thông tin ban đầu chưa qua xử lý

- Tác giả cũng tìm thấy sự khác nhau về mức độ truyền dẫn giữa các quốc gia

pháp phân tích đồng liên kết là 0.785, ở một vài quốc gia còn xảy ra trường hợp truyền dẫn hoàn toàn; theo phương pháp hàm phản ứng xung là 0.509 sau 48 tháng xảy ra cú sốc về tỷ giá Đối với các quốc gia theo chế độ tỷ giá

Trang 26

thả nổi, mức truyền dẫn trung bình trong dài hạn là 0.483 và không có trường

xung là do “giai đoạn dài hạn” của phân tích đồng liên kết

1.1.5.2 Các nghiên cứu về mức độ truyền dẫn của tỷ giá ở Việt Nam

Ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu được chính thức công bố về chủ đề mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào các chỉ số giá của Việt Nam Theo thống kê của tác giả chỉ có 02 nghiên cứu được chính thức công bố về vấn đề này và đều sử dụng phương pháp VAR đề đo lường mức độ truyền dẫn, cụ thể như sau:

B ạch Thị Phương Thảo (2011): tác giả đã sử dụng phương pháp VAR để tính mức

độ truyền dẫn của các cú sốc tỷ giá danh nghĩa hiệu lực vào các chỉ số giá tiêu dùng

đoạn Q1 2001 đến Q2 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ truyền dẫn của tỷ

Võ Văn Minh (2009) sử dụng mô hình VAR để ước lượng mức tác động của cú sốc

lượng cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá nhập khẩu sau 6 tháng

là 1.04, sau 1 năm là 0.21; tuy nhiên mức truyền dẫn đến chỉ số giá tiêu dùng trong

4 tháng đầu là âm và mức tác động tích lũy sau 1 năm chỉ là 0,13 – ở mức thấp so

động biên độ tỷ giá hối đoái lớn hơn được tác giả khuyến nghị

Trang 27

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ lớn của mức độ truyền dẫn (ERPT)

truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào lạm phát (hay vào các chỉ số giá nhập khẩu, chỉ

1.2.1 Môi trường lạm phát của nền kinh tế

tương quan thuận Điều này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Choudhri

phát cao trong đó bao gồm một số nước từng trải qua giai đoạn siêu lạm phát, nhóm

có lạm phát vừa và nhóm có lạm phát thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ

trong giai đoạn có lạm phát cao so với giai đoạn có lạm phát thấp ở từng quốc gia Bên cạnh đó, theo Khundrakpam (2007), mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào giá cả

sau:

- Một khi các quốc gia thả nổi, không quản lý cơ chế giá cả của một số hàng

Trang 28

do bù lỗ giá dầu của Chính phủ, lúc này các công ty xăng dầu sẽ tăng giá tiêu dùng Tương tự, việc bãi bỏ kiểm soát giá một cách hành chính của các loại

làm gia tăng mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào giá cả hàng hóa

- Tình trạng bội chi ngân sách của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra lạm

trường trong nước Điều này có thể được giải thích như sau: Thứ nhất, đối

đắp thâm hụt ngân sách phải đổi ra đồng nội tệ để chi tiêu, trên cơ sở bán cho ngân hàng Nhà nước là chính, mà ngân hàng nhà nước lại phát hành tiền ra

để mua ngoại tệ là cơ bản Chính việc phát hành tiền này là phần làm cho

thu tiền từ trong lưu thông vào ngân sách nhà nước và sau đó lại chuyển ra lưu thông nên không làm tăng lượng tiền cơ bản trên thị trường mà chỉ làm

làm gia tăng lạm phát kỳ vọng của người tiêu dùng

- Một số yếu tố khác không kém phần quan trọng là việc tăng lương cơ bản Khi lương cơ bản tăng sẽ kéo theo chi phí gia tăng vì vậy làm gia tăng lạm

Trang 29

Theo Khundrakpam (2007), chính các yếu tố trên: không kiểm soát giá cả các mặt

1.2.2 Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái

đoái vào giá cả hàng hóa Khi xảy ra sự biến động của tỷ giá hối đoái của đồng tiền quốc gia nhập khẩu, nếu các công ty xuất khẩu cho rằng sự biến động này chỉ là tạm

trường hợp này mức độ truyền dẫn của tỷ giá có mối quan hệ ngược chiều với sự biến động của tỷ giá Ngược lại, nếu như các công ty xuất khẩu nhận thấy rằng sự

biến động của tỷ giá hối đoái

đoái và mức độ truyền dẫn của tỷ giá khi nghiên cứu về mức độ truyền dẫn ở 08 quốc gia: Mỹ, Nhật, Canada, Ý, Anh, Phần Lan, Thụy Điển và Tây Ban Nha Một

độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá

Điều này ngụ ý rằng mức độ biến động của tỷ giá hối đoái ở Thái Lan và Hàn Quốc trong giai đoạn sau khủng hoảng là lâu dài

Trang 30

1.2.3 Mức độ đô la hóa của nền kinh tế

mạnh khác là đồng tiền duy nhất được sử dụng trong các giao dịch trao đổi mua bán

và được sự công nhận của chính phủ của quốc gia đó Vì đây là một đồng tiền

qua đó chỉ số giá tiêu dùng của quốc gia đó cũng ít thay đổi hay mức truyền dẫn của

gia đó có đồng tiền nội tệ yếu nên tỷ giá thường xuyên bị biến động mạnh từ đó ảnh hưởng giá nhập khẩu hàng hóa và làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của quốc giá đó

Điều này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Naa Anyeley Akofio-Sowah (2009), bằng phương pháp hồi qui tuyến tính, tác giả xem xét mức độ truyền dẫn

quốc gia có chính sách tiền tệ bị đô la hóa chính thức (Các quốc gia châu Mỹ Latin)

và nhóm nước có chính sách tiền tệ đô la hóa không chính thức (Các quốc gia khu

chính thức

1.2.4 Mức độ mở cửa của nền kinh tế

tỷ lệ tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu trên GDP càng lớn thì giá cả hàng hóa chịu ảnh hưởng một cách trực tiếp từ sự biến động của tỷ giá, do đó mức độ truyền dẫn

Trang 31

vào chỉ số giá tiêu dùng sẽ lớn hơn; mặt khác, khi độ mở của nền kinh tế lớn tức hàng hóa trong nước chịu sự cạnh tranh ngày càng lớn từ các hàng hóa nhập khẩu,

và Hàn Quốc càng lớn thì mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu của hai quốc gia này càng lớn, còn mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá tiêu dùng thì không rõ ràng:

độ mở càng lớn thì mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá tiêu dùng của Thái Lan càng

Trong điều kiện thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, một quốc gia mở cửa với các

các chỉ số giá càng lớn Khundrakpam (2007) cho rằng thuế quan và mức độ truyền

tạo điều kiện để các nhà xuất khẩu gia tăng giá hàng hóa nhằm đạt được mục tiêu

Điều này được chứng minh ở Ấn Độ, trong giai đoạn 1992 – 2003 mức thuế nhập

hướng tăng lên trong giai đoạn đó Trường hợp tương tự sẽ xảy ra đối với các rào

1.2.5 Độ chênh sản lượng (output gap)

Trang 32

nền kinh tế lớn, khi sản sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thất

nghịch Ngược lại, khi sản lượng thực tế của nền kinh tế cao hơn mức tiềm năng, một mặt nhu cầu về hàng hóa gia tăng qua đó làm tăng giá tiêu dùng; mặt khác khi

trường hợp này, độ chênh sản lượng (output gap) sẽ có mối quan hệ cùng chiều với

lượng (output gap) ảnh hưởng như thế nào đến mức truyền dẫn tỷ giá (ERPT) ở 71

các yếu tố tác động đến mức độ truyền dẫn ở 26 quốc gia trong giai đoạn 1970 –

1996

1.2.6 Thành phần hàng hóa nhập khẩu

Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá sẽ khác nhau đối với các

đó, nếu một quốc gia có tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu các mặt hàng: dầu, thực phẩm

Trang 33

Lập luận trên được chứng minh qua nghiên cứu của Otani và cộng sự (2003),

danh sách các hàng hóa nhập khẩu Tác giả cũng đưa ra mức truyền dẫn của tỷ giá vào giá cả của từng mặt hàng, trong đó mức truyền dẫn lớn nhất là 1,46 thuộc về

này

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

khi quy đổi ra một đồng tiền Nếu dựa vào lý thuyết này thì giá cả của hàng hóa

đổi của tỷ giá Và ông đã cung cấp một khái niệm về sự truyền dẫn tỷ giá như sau:

theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu từ việc thay đổi một phần trăm của tỷ giá hối

đoái giữa đồng tiền của quốc gia nhập khẩu và đồng tiền của quốc gia xuất khẩu

lường mức độ truyền dẫn của ERPT thường là phương pháp hồi qui tuyến tính và phương pháp VAR: các nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi qui tuyến tính phần

biến có ảnh hưởng đến giá cả nhập khẩu tùy từng hàng hóa và từng quốc gia Các

động của tỷ giá, môi trường lạm phát, độ mở của nền kinh tế, cơ cấu hàng hóa nhập

Trang 35

CHƯƠNG 2

ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) VÀO CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG VIỆT NAM (CPI) – XÁC ĐỊNH XU HƯỚNG

BIẾN ĐỘNG CỦA ERPT

2.1 Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011

2.1.1 Mô hình nghiên cứu

Để đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Trong đó:

Như đã trình bày ở phần trên, theo Luật một giá LOP, giá cả hàng hóa nhập khẩu chỉ phụ thuộc vào tỷ giá và giá cả của hàng hóa đó ở quốc gia sản xuất, khi tỷ tỷ giá của đồng tiền của quốc gia nhập khẩu so với đồng tiền của quốc gia xuất khẩu thay đổi thì giá nhập khẩu ở quốc gia A cũng thay đổi một khoảng tương ứng và gần như ngay lập tức

Trang 36

Kế thừa nghiên cứu của Goldberg (1997), Ghosh và Rajan (2007a) cũng cho rằng giá của hàng hóa nhập khẩu không chỉ phụ thuộc vào tỷ giá và giá cả của hàng hóa

đó ở quốc gia xuất khẩu mà còn phụ thuộc vào yếu tố khác Trong nghiên cứu của

Ấn Độ vào mô hình (4) để nghiên cứu về sự truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng ở Ấn Độ

tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2011 Vì trong giai đoạn nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu, vì vậy, tác giả sử dụng tỷ giá song phương giữa đồng tiền của Việt Nam và Trung Quốc (VND/CNY), bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng tỷ giá danh nghĩa hiệu lực (NEER) để đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam Mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam được thể hiện qua mô hình cụ thể như sau:

- Tỷ giá song phương:

- Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực:

- CPIVN: chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam

Trang 37

- : đại diện tỷ giá song phương giữa đồng tiền của quốc gia nhập khẩu và quốc gia xuất khẩu, trường hợp này là VNĐ của Việt Nam và CNY của Trung Quốc

- NEER: tỷ giá danh nghĩa hiệu lực của Việt Nam

- CPIA: chỉ số giá tiêu dùng của các nước Đông Á, đại diện cho chi phí sản xuất của các quốc gia có giao thương với Việt Nam trong rổ tính chỉ số NEER

- IPVN: sản lượng công nghiệp của Việt Nam

toàn

khẩu vào Việt Nam Vì vậy khi các đại lượng này tăng lên có thể làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tăng vì thế làm tăng chỉ số tiêu dùng và ngược lại Do đó, các hệ số β

và β’ được kỳ vọng mang dấu dương Tương tự, biến Ln(IPVN) đại diện cho thu nhập của Việt Nam, khi thu nhập tăng thì cầu hàng hóa tăng do đó làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tăng lên nên làm tăng chỉ số giá tiêu dùng và ngược lại Vì vậy, các

hệ số λ và λ’ cũng được kỳ vọng mang dấu dương

2.1.2 Dữ liệu nghiên cứu

2 năm 2011 Nguồn dữ liệu và cách xử lý số liệu ban đầu như sau:

Trang 38

- Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam (CPIVN): được quy về kỳ gốc (Q1 2000 =

- Tỷ giá song phương VND/CNY: Nguồn dữ liệu IFS

- Tỷ giá danh nghĩa hiệu lực (NEER) được tính với các đối tác thương mại chính của Việt Nam, được qui về kỳ gốc (Q1 2000 = 100) Nguồn dữ liệu: IFS, GSO

- Chỉ số giá sản xuất Trung Quốc (PPITQ) và chỉ số giá tiêu dùng Trung Quốc (CPITQ): được quy về kỳ gốc (Q1 2000 = 100) Nguồn dữ liệu: IFS, tổng

- Sản lượng công nghiệp của Việt Nam (IPVN): tổng cục thống kê Việt Nam GSO

2.1.3 Các bước thực hiện trong quá trình chạy mô hình

Để đo lường mức độ biến động của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam (CPI), tác giả thực hiện các bước theo trình tự như sau:

- Đầu tiên, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để xem xét tính dừng và

- Thứ hai, tác giả thực hiện kiểm định đồng liên kết theo phương pháp phân tích Johasen để xem xét mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình nghiên cứu Từ đó, xác định mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng trong dài hạn

- Thứ ba, sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để đo lường mức độ

- Thứ tư, tác giả sử dụng chức năng Kalman filter trong phần mềm Eviews để

2011 Từ đó có thể dễ dàng xác định được xu hướng của mức độ truyền dẫn trong giai đoạn từ 2000 – 2011

Trang 39

2.1.4 Kiểm định nghiệm đơn vị

Trước khi thực hiện mô hình hồi qui đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) Tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị riêng lẻ từng biến để xác định thuộc tính dừng của các chuỗi số thời gian của các biến trong mô hình thực nghiệm Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp ADF Kết quả như sau:

Bảng 2.1: kết quả kiểm định nghiệm đơn vị

I(0) (Ngoại trừ LnCPITQ và LnIPVN) và đều là chuỗi dừng ở sai phân bậc 1 I(1)

Trang 40

2.1.5 Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình

Trước khi tiến hành phân tích đồng liên kết để từ đó đo lường mức độ truyền dẫn trong dài hạn thông qua mô hình VECM và đo lường mức độ truyền dẫn trong ngắn

B ảng 2.2 Bảng độ trễ tối ưu (tỷ giá VND/CNY, CPITQ)

VAR Lag Order Selection Criteria

Endogenous variables: LNCPIVN LNVND_CNY LNCPITQ LNIPVN

* indicates lag order selected by the criterion

LR: sequential modified LR test statistic (each test at 5% level)

FPE: Final prediction error

AIC: Akaike information criterion

SC: Schwarz information criterion

HQ: Hannan-Quinn information criterion

Ngày đăng: 17/09/2020, 07:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w