Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: 1 Xác định các nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đối với ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh;2 Đo lường sự tác động của mô hình nhà
Trang 1-
VÕ LÊ QU ỲNH LAM
NHÀ LÃNH ĐẠO LÝ TƯỞNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC CỦA
TP H ồ Chí Minh- Năm 2012
Trang 2-
VÕ LÊ QU ỲNH LAM
NHÀ LÃNH ĐẠO LÝ TƯỞNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THỎA MÃN TRONG CÔNG VIỆC CỦA
Trang 3Lời đầu tiên, tôi xin phép gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Qúy thầy cô phụ trách Khóa 19, Cao học, Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM Trong suốt thời gian học tập, tôi đã được Qúy thầy Cô trang bị thêm các kiến thức mới, kèm theo những
dẫn chứng thực tế minh họa rất hữu ích,hỗ trợ kiến thức rất tốt cho tôi trong công việc cũng như những nhận định tốt về các diễn biến thị trường Ngoài ra, thầy cô cũng đã cho tôi thêm các lời khuyên cũng như hỗ trợ kịp thời cho những vướn mắc
mà tôi gặp phải trong công việc sau thời gian học tập trên lớp
Và lời cảm ơn chân thành nhất, tôi xin phép gửi đến giáo viên hướng dẫn
luận văn tốt nghiệp cho tôi, cô Trần Kim Dung Trong suốt thời gian dài tập trung cho luận văn, cô đã hướng dẫn chi tiết và rất tận tình để tôi hoàn tất luận văn này Với sự giúp đỡ của Cô, tôi có thể hiểu sâu thêm về đề tài mình đang làm, định hướng đúng cái cần làm, cách xử lý và phân tích số liệu cũng như phân tích những
gì tìm ra được
Lời cảm ơn không thể quên kể đến, bằng tất cả sự yêu mến và trân trọng đó
là giành cho gia đình và đồng nghiệp Công ty Sài Gòn Truyền thông, đã luôn sát cánh, động viên và hỗ trợ tốt tinh thần và công việc để tôi có thể hoàn tất luận văn này
Bằng tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã giúp đỡ tôi kể trên Và để đền đáp phần nào công ơn đó, tôi mong đề tài phần nào sẽ mang lại hữu ích cho thực tế công
việc của ngành truyền thông
Trân trọng
Tác giả
Võ Lê Quỳnh Lam
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nghiên cứu này do chính tôi thực hiện, toàn bộ kết quả nghiên cứu của đề tài này chưa từng được công bố trước đó Mọi thông tin và tính xác thực của luận văn, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Võ Lê Quỳnh Lam
Trang 5Trang LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4
1.6 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
Giới thiệu 6
2.1 Lý thuyết về lãnh đạo 6
2.1.1 Khái niệm lãnh đạo 6
2.1.2 Sự khác biệt giữa nhà lãnh đạo và nhà quản lý 8
Trang 62.1.4 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng 12
2.1.4.1 Nhà lãnh đạo lý tưởng (implicit leadership) và nhà lãnh đạo tường minh (explicit leadership) 12
2.1.4.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng 13
2.1.4.3 Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng 14
2.1.4.4 So sánh mô hình lý thuyết nhà lãnh đạo lý tưởng 15
2.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng ngành truyền thông 17
2.2.1 Giới thiệu về ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh 17
2.2.2 Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh 19
2.2.2.1 Thành phần Hấp dẫn 19
2.2.2.2 Thành phần Uy tín 20
2.2.2.3 Thành phần Cống hiến 21
2.2.2.4 Thành phần Thông minh 21
2.2.2.5 Thành phần Mạnh mẽ 22
2.2.2.6 Thành phần Nhạy cảm 23
2.2.2.7 Thành phần Chuyên chế/Độc đoán 23
2.3 Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên 24
2.4 Mối liên hệ giữa mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn công việc của nhân viên 28
2.5 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết 29
Tóm tắt 30
Trang 7Giới thiệu 31
3.1 Thiết kế nghiên cứu 31
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 31
3.1.2 Xử lý số liệu 32
3.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 36
3.3 Xây dựng và mã hóa thang đo 37
3.3.1 Thành phần Hấp dẫn 37
3.3.2 Thành phần Cống hiến 37
3.3.3 Thành phần Thông minh 38
3.3.4 Thành phần Nhạy cảm 38
3.3.5 Thành phần Uy tín 39
3.3.6 Thành phần Mạnh mẽ 39
3.3.7 Thành phần Chuyên chế/Độc đoán 40
3.3.8 “Sự thỏa mãn chung trong công việc” 40
Tóm tắt 41
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
Giới thiệu 42
4.1 Đánh giá sơ bộ thang đo 42
4.1.1 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach Alpha 44
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 45
Trang 84.3 Đo lường ảnh hưởng của các biến độc lập và biến phụ thuộc 48
4.3.1 Kiểm định hệ số tương quan (r) 48
4.3.2 Kiểm định các điều kiện hồi quy tuyến tính 49
4.4 Phân tích hồi quy đa biến 51
4.5 Kiểm định giả thuyết 53
Tóm tắt 54
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 55
Giới thiệu 55
5.1Tóm tắt nội dung nghiên cứu 55
5.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 56
5.3 Nhận xét và kết luận 57
5.3.1 Nhân tố uy tín 57
5.3.2 Nhân tố nhạy cảm 57
5.3.3 Nhân tố thông minh 58
5.3.4 Nhân tố cống hiến 58
5.3.5 Các nhân tố “hấp dẫn”, “mạnh mẽ”, “độc đoán” 59
5.3.6 Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên 61
5.4 Kiến nghị nhằm nâng cao mức độ thỏa mãn của CBNV đối với lãnh đạo ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh 61
5.4.1 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận về yếu tố “uy tín” của nhà lãnh đạo 62
Trang 9đạo
64
5.4.3 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận yếu tố “thông minh” của nhà lãnh đạo 67
5.4.4 Kiến nghị nhằm nâng cao sự cảm nhận về yếu tố “cống hiến” của nhà lãnh đạo 69
5.4.5 Kiến nghị về các thành phần mạnh mẽ, hấp dẫn và độc đoán 70
5.5 Hạn chế của đề tài và hướng đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo 72
5.5.1 Hạn chế 72
5.5.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
M ỤC LỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC
Trang 10T ừ viết tắt T ừ đầy đủ Nghĩa
ATL Abote The Line Truyền thông gián tiếp
Mass communications Truyền thông đại chúng BTL Below The Line Truyền thông trực tiếp
PR Public Relation Quan hệ công chúng
Cronbach Alpha Hệ số tin cậy
EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
Leadership Lãnh đạo Management Quản lý Charisma leadership Lãnh đạo hấp dẫn Implicit leadership Nhà lãnh đạo lý tưởng Explicit leadership Nhà lãnh đạo tường minh VAA Vietnam Advertising Association Hiệp Hội Quảng cáo Việt Nam
Trang 11Vietnam Television Cable, Truyền hình hình cáp VN, Voice of Vietnam Đài phát thanh Việt Nam Std Deviation Standard Deviation Độ lệch chuẩn
Factor loading Hệ số truyền tải
VIF Nhân tố phóng đại phương sai Sig Significant Mức ý nghĩa
D Dubin-Watson Đại lượng thống kê
Trang 12Bảng 2.1 Các khái niệm lãnh đạo 7
Bảng 2.2 Bảng đối chiếu hai mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) và Ling (2000) 16
Bảng 2.3 Các định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc 25
Bảng 2.4 Thống kê các thang đo sự thỏa mãn công việc của Scott Macdonald và Peter MacIntyre (1997) 27
Bảng 4.1 Bảng cơ cấu về mẫu nghiên cứu 43
Bảng 4.2 Cronbach Alpha của các khái niệm nghiên cứu 44
Bảng 4.3: Kết quả ma trận nhân tố với phép quay varimax 46
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan tuyến tính 48
Bảng 4.5: Kiểm định đa cộng tuyến 50
Bảng 4.6 : Mô hình tóm tắt sử dụng phương pháp Enter 52
Trang 13Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 29 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 32 Hình 4.1 Kết quả hồi quy 52
Trang 14Nghiên cứu này được thực hiện nhằm: (1) Xác định các nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đối với ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh;(2) Đo lường sự tác động của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của các bộ công nhân viên đang làm việc trong ngành truyền thông
Đối tượng khảo sát là các cán bộ công nhân viên đang làm việc tại các đơn
vị Báo, Đài truyền hình và Công ty truyền thông trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
Mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước: Bước 1 gồm nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính thông qua phương pháp thảo luận nhóm với 8 chuyên gia Kết quả của bước này nhằm điều chỉnh thang đo và mô hình cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu định lượng sơ bộ được
thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi với n=100 Kết quả của bước này hình thành thang đo chính thức để sử dụng trong nghiên cứu định lượng ở bước tiếp theo Bước 2 nghiên cứu định lượng thông qua việc phát bảng câu hỏi
phỏng vấn trực tiếp cho 230 người, dữ liệu thu thập được làm sạch và có 211 bảng được sử dụng chính thức cho nghiên cứu Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống
kê SPSS 16.0 với các bước kiểm tra độ tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định các giả định và phân tích hồi quy đa biến
Thang đo các biến độc lập dựa vào thang đo các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) Theo kết quả thảo luận nhóm, đề tài tìm được 7 thành phần độc lập , bao gồm : hấp dẫn, cống hiến, uy tín, thông minh,
nhạy cảm, mạnh mẽ và chuyên chế với 39 biến quan sát Kết quả kiểm định thang
đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của đề tài bao gồm 31 biến Thang đo sự thỏa mãn chung trong công việc gồm 5 biến quan sát Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy có 4 nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng tác động cùng chiều đến sự thỏa mãn công
Trang 15uy tín có mức tác động cao nhất và thành phần cống hiến có mức tác động thấp nhất
Nghiên cứu này giúp cho các nhà lãnh đạo hiểu rõ về các phẩm chất trong
mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng có ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của nhân viên Từ
đó, nhà lãnh đạo có thể hiểu rõ yếu tố nào trong các nhân tố đó có tác động đến sự
thỏa mãn của chính nhân viên, đồng thời có cách thức hoàn thiện bản thân hơn để
có thể nâng cao sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
Trang 16C HƯƠNG 1 : TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu lý do chọn đề tài
Như chúng ta đều biết, nhà lãnh đạo có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Thật khó khăn khi lãnh đạo một doanh nghiệp trong thời bình, càng khó hơn khi là người đứng đầu dẫn dắt doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng chung của toàn cầu như hiện nay Vì thế, các lãnh đạo doanh nghiệp muốn quản lý tốt đội ngũ nhân viên, đòi hỏi họ phải liên tục nâng cao trình độ nghiệp vụ và khả năng lãnh đạo, linh hoạt trong phong cách lãnh đạo, biết nhìn người và dùng người, tạo cho cấp dưới sự tin cậy, sự tận tâm phục vụ vì lợi ích chung Để lãnh đạo đội ngũ nhân viên trẻ trung, giỏi giang, đầy năng lực…các vị lãnh đạo phải có bản lĩnh
Truyền thông (Communication) là quá trình truyền tải thông tin, bao hàm tất
cả mọi phương tiện truyền tải thông điệp, tính cách nhãn hiệu và hình ảnh đến công chúng Bao gồm cả truyền thông gián tiếp (Abote The Line-ATL) hoặc truyền thông đại chúng (mass communications); cả truyền thông trực tiếp (Below The Line-BTL)
như: PR, Event, kích hoạt nhãn hiệu, POS, POSM…; và cả các loại truyền thông mới (new communication) như internet, PR 2.0, blog, forum, mạng xã hội….Ngành truyền thông là một loại hình dịch vụ đặc thù, đầy tính sáng tạo, đòi hỏi lực lượng nhân sự phải có hiểu biết, kinh nghiệm cũng như sự tự tin, nhạy bén Sự khác biệt giữa truyền thông và ngành khác tập trung ở đầu ra, xử lý thông tin và đầu vào của quá trình hoạt động Sản phẩm vô hình mà ngành truyền thông tạo ra là các ý tưởng
và các hoạt động nhằm mục đích tác động đến ý thức và tinh thần con người, trong khi ngành sản xuất vật chất lại tạo ra sản phẩm hữu hình phục vụ cho nhu cầu vật chất Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của cả hai đều hướng tới phục vụ các cho đối tượng khách hàng của mình Đôi khi tác động truyền thông thực hiện trước, làm tiền
đề cho sự ra đời thuận lợi của sản phẩm vật chất Do có sự khác biệt này, nhà lãnh đạo trong ngành truyền thông thường có nét đặc thù hơn so với lãnh đạo trong các ngành sản xuất, dịch vụ khác
Trang 17Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đầu tiên đã được Offermann và cộng sự (1994) phát triển tại Mỹ, sau đó được kiểm định bởi Anusuiya S và cộng sự (2009) tại Malaysia Tiếp đó, Ling và cộng sự (2000) đã phát triển mô hình này tại Trung Quốc Tại Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) có sử dụng mô hình của Ling và cộng
sự (2000) để kiểm định nhưng chưa tìm thấy các nghiên cứu kiểm định mô hình lãnh đạo của Offermann Riêng đối với ngành truyền thông vẫn chưa có đề tài hay nghiên cứu nào ứng dụng mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng để phục vụ cho ngành
Vậy, nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành truyền thông tại thành phố Hồ Chí Minh có những phẩm chất nào? Những phẩm chất này có tác động như thế nào đến việc sự thỏa mãn công việc của nhân viên? Là một nhân viên đang làm việc trong ngành truyền thông, tác giả muốn đi tìm một mô hình thể hiện những nét đặc trưng của một nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành Với những lý do trên đây chính là động
lực để thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên ngành truyền thông tại thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
1 Xác định các nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đối với ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
2 Đo lường sự tác động của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của các bộ công nhân viên đang làm việc trong ngành truyền thông
Để đáp ứng các mục tiêu này, nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Xác định các thành phần của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng trong ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Đo lường sự thỏa mãn của người lao động trong ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Trang 18 Dùng kỹ thuật phân tích hồi quy bội để kiểm định mối liên hệ giữa các biến độc lập trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và biến phụ thuộc là sự thỏa mãn trong công việc Xác định mức độ tác động của các biến độc lập đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
1.3 P hạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như khó khăn trong vấn đề khảo sát diện rộng nên việc nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn, từ tháng 01/2012 đến tháng 08/2012 tại các cơ quan truyền thông thuộc địa bàn TP.Hồ Chí Minh
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
Đối tượng khảo sát bao gồm các cán bộ công nhân viên đang làm việc tại cơ quan truyền thông, Báo chí, Đài truyền hình tại TP.Hồ Chí Minh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 bước: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Ng hiên cứu sơ bộ : bằng phương pháp định tính và định lượng Nghiên cứu định
tính bằng kỹ thuật thảo nhuận nhóm chuyên gia với n=8 nhằm điều chỉnh và bổ sung khái niệm, thang đo trong mô hình nghiên cứu Nghiên cứu định lượng sơ bộ bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp 100 người bằng bảng câu hỏi Bước này nhằm kiểm định mức độ hợp lý của các khái niệm và thang đo nghiên cứu
Nghiên cứu chính thức: dùng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc
phát bảng câu hỏi phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu Bảng câu hỏi gồm 2 phần: phần 1 khảo sát mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và khảo sát thang đo sự thỏa mãn trong công việc, phần 2 là phần thông tin của đối tượng khảo sát
Mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 với phương pháp xác định độ tin cậy Cronbach Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy bội
Trang 191.5 Ý nghĩa của nghiên cứu:
Đề tài mang lại một số ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn cho các lãnh đạo trong ngành truyền thông, cụ thể như sau:
1.6 Kết cấu của đề tài:
Kết cấu của đề tài gồm 5 Chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn của nhân viên để làm cơ sở của mô hình, giả thuyết và thang đo các thành phần nghiên cứu
Chương 3: Trình bày phương pháp để kiểm định thang đo, mô hình lý thuyết
và giả thuyết cho nghiên cứu
Chương 4: Trình bày phương pháp xử lý phân tích thông tin và các kết quả
có được từ nghiên cứu
Chương 5: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu của đề tài, đưa ra những kết luận
và một số góp ý làm giải pháp nâng cao đặc tính theo mô hình nhà lãnh đạo lý
Trang 20tưởng nhằm tăng sự thỏa mãn công việc của nhân viên Đồng thời, trong chương này cũng nêu ra những mặt được và hạn chế của đề tài để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 21CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2 nêu lên các lý thuyết
về lãnh đạo, các kiểu tiếp cận về lãnh đạo, nhà lãnh đạo lý tưởng, mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và sự thỏa mãn trong công việc, mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Lý thuyết về lãnh đạo
2.1 1 Khái niệm lãnh đạo
Sau đây là một số khái niệm lãnh đạo được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu trên thế giới:
Trang 22Bảng 2.1 Các khái niệm lãnh đạo
Hemphill & Coons, 1957 “là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các
hoạt động của nhóm để đạt tới những mục tiêu chung”
Tannenbaum, Weschler &
Masarik, 1961
“là sự ảnh hưởng (tác động) mang tính tương tác, được thực hiện trong một tình huống, được chỉ đạo thông qua quá trình thông tin để đạt tới những mục tiêu cụ thể”
Katz & Kahn, 1978 “là sự khởi xướng và duy trì cấu trúc trong sự mong
đợi và sự tương tác”
Rauch & Behling, 1984 “ là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của
nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu.”
House và các cộng sự, 1999 “Là khả năng của một cá nhân nhằm gây ảnh
hưởng, thúc đẩy, và có thể làm cho mọi người góp phần vào sự hiệu quả và thành công của tổ chức họ”
Yukl, 2002 “Là quá trình ảnh hưởng đến người khác để họ hiểu
và đồng ý về những công việc cần thực hiện và thực hiện nó như thế nào một cách hiệu quả, quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và tập thể nỗ lực đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra”
Borra, Kunkel, 2002
“khả năng truyền cảm hứng và hướng dẫn những người khác theo hướng xây dựng và đạt được tầm nhìn chung”
(Nguồn: Theo tổng hợp của Mary B G và cộng sự, 2003)
Trang 23Các khái niệm đều có điểm chung là giả định rằng nó bao hàm sự tương tác giữa hai hay nhiều người, đặc biệt nhấn mạnh rằng lãnh đạo là sự tác động tích cực của một người đến nhiều người khác trong cùng một tập thể bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm đạt mục tiêu chung
Nguyễn Trọng Điều (2003, trang 82) phát biểu rằng: “Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm người nhằm đạt được mục đích trong một tình huống nhất định” Khái niệm này được hình thành dựa trên việc tổng hợp các khái niệm về lãnh đạo được sử dụng phổ biến trên thế giới kết hợp với việc điều chỉnh cho phù hợp với môi trường lãnh đạo tại Việt Nam
Vì thế, đề tài chọn đây là khái niệm nền tảng để làm rõ hơn cho khái niệm nhà lãnh đạo lý tưởng được sử dụng trong đề tài này
2.1.2 Sự khác biệt giữa nhà lãnh đạo và nhà quản lý
Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm về lãnh đạo Trên thực tế, người ta hay đồng nhất lãnh đạo với quản lý và điều này được thấy rõ nhất trong nhận thức của người Việt Nam chúng ta Lãnh đạo và quản lý có các điểm khác biệt sau đây:
Thứ nhất, nhà quản lý tác động đến con người thông qua tổ chức và bố trí nguồn nhân lực một cách khoa học, tạo ra cấu trúc tổ chức hợp lý, phân chia nhóm công việc phù hợp, bố trí nguồn lực hợp lý với kỹ năng và trình độ nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động doanh nghiệp đạt đến mục tiêu hiệu quả nhất Nhà lãnh đạo thì tập trung vào việc tạo sự liên kết, gắn bó chặt chẽ giữa con người trong tổ chức thông qua việc truyền thông để mọi thành viên hiểu về tầm nhìn, chiến lược và tạo
ra sự cam kết thực hiện một cách tự nguyện từ các thành viên
Thứ hai, để đảm bảo việc hoàn thành kế hoạch, nhà quản lý kiểm tra, giám sát công việc thông qua các báo cáo, từ đó, tiến hành điều chỉnh sai lệch và khắc phục sai sót nếu có Trong khi đó, nhà lãnh đạo hướng dẫn mọi người theo định hướng mong muốn ngay từ đầu, trên cơ sở này, nhà lãnh đạo dùng yếu tố động viên, thúc đẩy để mọi người thực hiện công việc một cách nhiệt tình và nghiêm chỉnh, tức
Trang 24là khắc phục hiện tượng sai sót thông qua việc nghiên cứu đối tượng và phòng ngừa trước khi công việc bắt đầu
Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 13): “Quản lý là thích ứng với sự phức tạp, quản lý tốt đáp ứng những đòi hỏi và tạo ra mức độ cao của sự nhất quán với những khía cạnh cốt lõi như chất lượng và năng lực lợi nhuận của sản phẩm Lãnh đạo là thích ứng với sự thay đổi” Bên cạnh đó, “quản lý bao gồm hoạch định, tổ chức, kiểm soát và giải quyết vấn đề”; “lãnh đạo là đưa ra các chỉ dẫn, bố trí lực lượng lao động và động viên nhân viên”
Qua phân tích khái niệm, chúng ta có thể thấy rõ sự khác nhau về mặt ý nghĩa, nội dung và chức năng của hai khái niệm này Tuy nhiên, trên thực tế, tùy vào văn hóa, quy mô doanh nghiệp và cách thức tổ chức hoạt động, mà có đồng nhất hay tách riêng hai chức năng quản lý và lãnh đạo trong nhận thức của những người trong tổ chức
2.1 3 Các tiếp cận chủ yếu trong nghiên cứu về lãnh đạo
Kết quả của các nghiên cứu về lãnh đạo có sự khác nhau là do sự khác biệt trong nhận thức và phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu Nhìn chung, có năm cách tiếp cận : (1) Tiếp cận về quyền lực và sự ảnh hưởng ; (2) Tiếp cận về phẩm chất ; (3) Tiếp cận về hành vi (phong cách) ; (4) Tiếp cận về tình huống; (5) Tiếp cận về người lãnh đạo mới về chất
Tiếp cận về phẩm chất
Đây là cách tiếp cận được xem như nền tảng của nghiên cứu về lãnh đạo Cách tiếp cận này chú trọng đến phẩm chất, đặc tính cá nhân của nhà lãnh đạo Các nghiên cứu theo hướng phẩm chất trong giai đoạn gần đây chú trọng đến việc xem xét mối quan hệ của phẩm chất cụ thể với vai trò cụ thể của nhà lãnh đạo ở các cấp khác nhau Theo Nguyễn Hữu Lam (2007) cho rằng các phẩm chất của người lãnh đạo thành công, gồm : tài giỏi, thông minh, sáng tạo, quyết đoán, đáng tin cậy Các phẩm chất, kỹ năng này làm tăng khả năng thành công nhưng chúng còn phụ thuộc
Trang 25vào tình huống lãnh đạo cụ thể Ngoài ra, còn có các cách tiếp cận khác về phẩm chất nhà lãnh đạo như : Tiếp cận về người lãnh đạo “Trật hướng”, nghiên cứu về năng lực quản trị, nghiên cứu về động cơ quản lý
Cách tiếp cận về quyền lực và sự ảnh hưởng
Cách tiếp cận này đã giải thích hiệu quả lãnh đạo về mức độ quyền lực mà nhà lãnh đạo có, các dạng quyền lực và cách thức sử dụng chúng Quyền lực không chỉ dùng tác động người dưới quyền, mà còn có tầm quan trọng khi ảnh hưởng tới cấp trên, đồng sự và người ngoài tổ chức Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 53), gồm : quyền lực vị trí, quyền lực cá nhân và quyền lực chính trị Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 22) cho rằng quyền lực có năm cơ sở khác nhau, gồm: quyền trao phần thưởng, quyền trừng phạt, quyền hợp pháp, quyền chuyên môn và quyền tham chiếu Ngoài ra, còn có mô hình về quyền lực, các chiến lược và kỹ năng ảnh hưởng của người lãnh đạo là thành tựu nổi bật nhất về cách tiếp cận này
Tiếp cận theo hành vi
Kiểu tiếp cận này cho rằng hành vi của nhà lãnh đạo tác động đến các biến kết quả cuối cùng Cách tiếp cận này tập trung vào xem xét các hành vi mà nhà lãnh đạo trên cương vị công tác của mình và vai trò của nhà lãnh đạo Các nghiên cứu theo kiểu này cố gắng giải thích và phân biệt hành vi giữa nhà lãnh đạo thành công và không thành công Và những nghiên cứu gần đây xem xét sự tác động của giá trị và văn hóa dân tộc đến hành vi lãnh đạo Nguyễn Hữu Lam (2007), một vài nghiên cứu đặc trưng theo kiểu tiếp cận này, gồm : nghiên cứu của Kurt Lewin (1939) chỉ ra có
ba loại phong cách lãnh đạo : độc đoán, dân chủ và tự do; mô hình của Trường Đại học Bang Ohio (1950) cho rằng cho dù có nhiều hành vi lãnh đạo khác nhau nhưng chung quy có 2 nhóm hành vi độc lập là quan tâm đến công việc và quan tâm đến con người; mô hình của trường Đại học Michigan (1950) đã làm rõ hai khái niệm là định hướng nhiệm vụ và định hướng quan hệ Ngoài ra, có nghiên cứu hệ thống quản lý của Rensis Likert khám phá thể thức quản lý đạt sản lượng cao được mô tả
Trang 26trên đường liên tục từ hệ thống 1 đến 4 Sơ đồ mạng lưới lãnh đạo, tập trung hai khái niệm : nhấn mạnh việc thi hành bổn phận và nhấn mạnh tới sự phát triển các mối quan hệ cá nhân
Tiếp cận theo ngẫu nhiên/tình huống
Theo cách tiếp cận này cho rằng không có phong cách lãnh đạo nào thành công cho mọi tình huống Sự thành công của phong cách lãnh đạo áp dụng khi nó phù hợp giữa phong cách lãnh đạo và tình huống áp dụng Theo Nguyễn Hữu Lam (2007) cho rằng nhà lãnh đạo có thể lựa chọn một trong bảy hành vi lãnh đạo giữa hai thái cực độc đoán và dân chủ Ngoài ra, có thuyết đường dẫn mục tiêu cho rằng động viên nhân viên là con đường lãnh đạo hiệu quả Thuyết ngẫu nhiên cho rằng
có hai định hướng lãnh đạo : định hướng nhiệm vụ và định hướng quan hệ
Tiếp cận người lãnh đạo mới về chất
Cách tiếp cận này tập trung vào những năm 1970 đến 1990, khi thế giới đầy biến động với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hóa diễn
ra mạnh mẽ Có hai quan điểm khác nhau để diễn đạt cho kiểu tiếp cận này là lãnh đạo hấp dẫn và lãnh đạo mới về chất Tiêu biểu là thuyết lãnh đạo hấp dẫn của Max Weber , nhà lãnh đạo hấp dẫn là một dạng ảnh hưởng không dựa trên quyền lực vị trí hoặc truyền thống mà dựa trên nhận thức của người dưới quyền về người lãnh đạo là : người lãnh đạo được phú cho những phẩm chất đặc biệt Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 24), thuyết hấp dẫn trên giả định sức hấp dẫn phụ thuộc vào một
số yếu tố mang tính suy diễn của người dưới quyền đối với nhà lãnh đạo của mình
Nhà lãnh đạo mới về chất có tính bao quát hơn nhà lãnh đạo hấp dẫn, nhà lãnh đạo mới về chất là không chỉ hấp dẫn, lôi cuốn người dưới quyền mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới họ và đưa họ đến mục tiêu cao cả hơn
Trang 27có tác dụng trong thời gian ngắn khoảng dưới 12 tháng Lãnh đạo kiểu này làm việc rất cần mẫn nhưng chỉ nhận được càng lúc càng ít phản hồi Mọi người trở nên lơ đễnh, thiếu suy nghĩ cho bản thân và không làm gì trừ khi được ra lệnh Như vậy là không phải sự uyển chuyển Lãnh đạo tường minh cũng như phúc lợi xã hội, nó cướp đi động cơ và sự chủ động của con người
Kiểu lãnh đạo còn lại là lãnh đạo lý tưởng (implicit leadership) Phong cách này được hình thành ở các lãnh đạo ít theo đuổi danh vọng, tìm kiếm sự đồng thuận,
và cống hiến tất cả cho người khác Họ rất rõ những gì bản thân muốn nhưng lại không nói mình sẽ đạt được bằng cách nào Họ dạy người của mình rất kĩ càng và chuyên cần rồi để mọi người tự do thực hiện những gì được yêu cầu Mọi người được tin tưởng để tự giải quyết vấn đề theo cách của họ Sự uyển chuyển là một cách làm việc, không phải là mốt thời trang Và lãnh đạo tiềm ẩn là tinh thần lãnh đạo tốt nhất cho các tổ chức về lâu dài Nó khởi đầu bằng việc định mức các mục tiêu rõ ràng và ổn định Các mục tiêu có ý nghĩa chính là tuyên bố của các dự tính,
Trang 28mô tả những gì mà tổ chức hướng tới Điều này không bao giờ thay đổi cho dù tổ chức có gặp sự thay đổi mọi lúc mọi nơi
Một doanh nghiệp năng động là một doanh nghiệp có thể ứng biến tốt với sự thay đổi của điều kiện môi trường bên ngoài Đối với môi trường kinh doanh cạnh tranh năng động và không ngừng phát triển như hiện nay, nhân viên và doanh nghiệp làm việc với nhau theo kiểu hợp tác Vì thế, nhân viên sẽ tự tìm cho mình cách làm cho hiệu quả nhất mà không phải đợi chỉ đạo từ phía cấp trên Và điều này cũng có thể thấy rõ nhận xét về sự cần thiết của kiểu lãnh đạo lý tưởng trong môi trường kinh doanh năng động của Michael ở trên là hợp lý
2.1.4.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
Theo Tiffany K (1999), lý thuyết lãnh đạo lý tưởng giả định rằng có sự tồn tại một cấu trúc khái niệm về lãnh đạo trong suy nghĩ của nhân viên Vì thế, việc tìm ra những đánh giá của nhân viên về nhà lãnh đạo của mình chịu ảnh hưởng lớn
bởi lý thuyết lãnh đạo lý tưởng Đặc trưng của nhà lãnh đạo lý tưởng được tìm ra dựa trên đặc điểm, phẩm chất cá nhân mà một nhân viên mong đợi có được từ nhà lãnh đạo Các đặc điểm này cũng đại diện cho tiềm năng, xu hướng hành vi của một con người và chúng tồn tại trong cấu trúc nhận thức của một con người Vì vậy, có thể nói, mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng hình thành dựa trên nền tảng của cách tiếp cận lãnh đạo về phẩm chất Trong nghiên cứu của Offermann và cộng sự (1994) đã
có bước đột phá khi nghiên cứu và chỉ ra được 08 nhân tố trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng theo nền văn hóa Mỹ Penny (2008) cho rằng kết quả mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng đã cung cấp một cấu trúc khái niệm nhằm phát triển cho các lý thuyết lãnh đạo tường minh (explicit leadership) của hàng loạt các nghiên cứu về lãnh đạo
ở các nước khác sau đó, bao gồm Irac, Malaysia, Trung Quốc
Những thập kỷ sau đó, các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều nghiên cứu tập trung khái quát, làm rõ và phát triển lý thuyết lãnh đạo lý tưởng trên nhiều khía cạnh khác nhau của môi trường, đặc biệt là môi trường văn hóa, xã hội Chẳng hạn, Anusuiya S và cộng sự (2009) cho rằng văn hóa có vai trò quan trọng ảnh hưởng
Trang 29đến các đặc tính của mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng Nghiên cứu hành vi lãnh đạo ở Iraq và tìm thấy sự khác nhau trong cấu trúc các nhân tố của các đối tượng mẫu khảo sát giữa Iraq, Châu Âu và Mỹ Tiffany K (1999) cho rằng sự khác biệt văn hóa không chỉ tồn tại trong mục tiêu và giới hạn quyền lực của nhà lãnh đạo mà còn tồn tại trong phong cách lãnh đạo Với đại đa số các nghiên cứu trên đây đều cho thấy, đối với mỗi nền văn hóa khác nhau của các đối tượng mẫu khảo sát ở các quốc gia khác nhau thì sẽ tìm thấy các thành phần cấu thành nên mô hình lý thuyết lãnh đạo lý tưởng khác nhau Kết quả nghiên cứu của Ling và cộng sự (1989) cho rằng nếu có sự khác biệt này, sẽ làm tiền đề cho các cuộc thi tìm hiểu về hành vi lãnh đạo của Trung Quốc sau đó Cho đến tháng 12 năm 2000, nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã chứng minh cho lời phát biểu trên của Ling bằng việc cho ra kết quả nghiên cứu của mô hình lãnh đạo lý tưởng Trung Quốc gồm 04 nhân tố hoàn toàn khác so với mô hình lý thuyết của Offermann và cộng sự (1994) mà họ dựa vào, 04 nhân tố bao gồm: đạo đức cá nhân, hiệu quả mục tiêu, năng lực giao tiếp và đa tài
2.1.4.3 Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng
a Cá c thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann và cộng sự (1994)
Trong cuộc khảo sát các nhân viên văn phòng đang làm việc tại Mỹ,
Offermann (1994) đã có kết luận về mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng với 8 thành phần cơ bản, bao gồm : hấp dẫn, uy tín, cống hiến, thông minh, nam tính, mạnh mẽ, nhạy cảm và độc đoán Tám thành phần này được giải thích bởi 41 biến quan sát thể hiện vừa năng lực vừa phẩm chất đạo đức của nhà lãnh đạo Trong đó, thành phần hấp dẫn bao gồm 4 biến quan sát: ăn mặc đẹp, thu hút, ăn mặc lịch sự và nổi bậc trước đám đông vì sự ưu tú của nhà lãnh đạo; thành phần uy tín với 5 biến quan sát: nghị lực, có uy tín, truyền cảm hứng, nhiệt tình, năng động; thành phần cống hiến gồm 4 biến: cống hiến, tích cực theo hướng có mục đích, chăm chỉ, định hướng công việc theo mục tiêu ; thành phần thông minh với 6 biến quan sát : có trí tuệ, có học vấn, thông minh, thông thái, am tường mọi việc, khéo léo ; thành phần nam tính
Trang 30có 2 biến quan sát : là nam giới và nam tính; thành phần nhạy cảm gồm có tám biến quan sát : biết thông cảm, dễ xúc động, có lòng thương xót, chân thành, trái tim nồng ấm, biết khoan dung, hiểu người khác và biết giúp đỡ; thành phần sức mạnh với hai biến giải thích là có sức khỏe và dũng cảm; thành phần chuyên chế được giải thích bởi 10 biến quan sát : độc đoán, huênh hoang, có sức ảnh hưởng lớn, khó chịu, lôi kéo người khác, thèm khát quyền lực, kiêu ngạo, nói to tiếng, ích kỷ và đòi hỏi khắt khe với công việc người khác
b Các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Ling và cộng sự (2000):
Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Ling và cộng sự (2000) gồm 4 thành phần: đạo đức cá nhân, hiệu quả mục tiêu, năng lực giao tiếp và tính tháo vát Trong
đó, đạo đức cá nhân thể hiện qua các phẩm chất như trung thực, liêm khiết, kỷ luật
tự giác cao…; hiệu quả mục tiêu thể hiện qua các phẩm chất: có tầm nhìn xa trộng rộng, kiên định, thạo việc, sắp xếp công việc khoa học…; năng lực giao tiếp thể hiện qua: có kỹ năng giao tiếp xã hội, có sức thu hút, chín chắn…; tính tháo vát thể hiện qua các phẩm chất như đa tài, hiểu biết tâm lý, có nhiều sở thích…
2.1.4.4 So sánh mô hình lý thuyết nhà lãnh đạo lý tưởng
Nhằm mục đích chọn ra mô hình tham khảo để kiểm định trong môi trường ngành truyền thông , đề tài chọn ra hai mô hình nghiên cứu lớn về nhà lãnh đạo lý tưởng: một là của tác giả của Offermann và cộng sự (1994), hai là của tác giả Ling và cộng
sự (2000) Bảng đối chiếu bên dưới thể hiện cho việc phân biệt nội dung so sánh hai
mô hình này
Trang 31Bảng 2.2 Bảng đối chiếu hai mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) và Ling (2000)
Đặc điểm
Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann và cộng sự (1994)
Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Ling và cộng sự (2000)
Môi trường văn hóa của đối
tượng khảo sát Văn hóa phương Tây Văn hóa Á Đông
Các tiếp cận về lãnh đạo của
lãnh đạo
-Khảo sát chính thức với các nhân viên
-Khảo sát sơ bộ với các nhà lãnh đạo
-Khảo sát chính thức với các nhân viên
Điểm nhấn mạnh của mô
hình
Về năng lực và đạo đức cá nhân của nhà lãnh đạo
Nhấn mạnh đạo đức cá nhân của nhà lãnh đạo
Tính tham khảo của đề tài
cho các nghiên cứu khác
Có tính tham khảo rộng tại nhiều quốc gia như Mexico, Malaysia, Iraq, Mỹ…
Được tham khảo rộng rãi tại Trung Quốc
Các thành phần của mô hình Mô hình gồm 8 thành phần:
hấp dẫn, uy tín, nam tính, nhạy cảm, cống hiến, độc đoán, mạnh mẽ và thông minh
Mô hình gồm 4 thành phần : đạo đức cá nhân, hiệu quả mục tiêu, năng lực giao tiếp
và tính tháo vát
Nhìn chung, mô hình của Ling nhấn mạnh vào phẩm chất đạo đức, còn mô hình của Offermann lại chú trọng đến hiệu quả và năng lực cá nhân Xét về văn hóa xã hội nói chung và văn hóa doanh nghiệp nói riêng của Việt Nam hiện nay, khi đánh giá một đối tượng nào đó, đều xem trọng đến cả hai khía cạnh vừa năng lực vừa phẩm chất đạo đức Tuy nhiên, để chọn ra người tài theo văn hóa Á Đông, đạo đức được chú trọng nhiều hơn
Trang 32Dựa vào so sánh trên, có thể thấy mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann có ưu điểm hơn mô hình của Ling với các điểm sau : mô hình của Offermann có tính tham khảo rộng rãi và đã được sử dụng để kiểm định trên các nền văn hóa khác nhau, trong khi mô hình của Ling chỉ dùng tham khảo chủ yếu ở Trung Quốc Bên cạnh đó, các thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann bao gồm khía cạnh đạo đức và năng lực cá nhân, điều này đủ để diễn đạt phẩm chất nhà lãnh đạo Ngoài ra, tại Việt Nam có Trần Kim Dung (2006) đã sử dụng mô hình của Ling kiểm định trong đề tài nghiên cứu về đặc điểm của nhà lãnh đạo ảnh hưởng đến danh tiếng của họ; trong khi đó, mô hình của Offermann vẫn chưa được sử dụng cho các đề tài nghiên cứu tại Việt Nam, đặc biệt là ngành truyền thông Do đó, đề tài này chọn mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) để kiểm định phẩm chất của nhà lãnh đạo trong ngành truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng ngành truyền thông
2.2.1 Giới thiệu về ngành truyền thông tại TP.Hồ Chí Minh
Từ năm 2000 đến nay, các ngành công nghệ thông tin, thiết kế sáng tạo, marketing
và truyền thông được xem là ngành “hot” tại Việt Nam Phương tiện truyền thông tại Việt Nam có đủ bốn loại hình báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay hàng loạt trang tin điện
tử đã ra đời được xem là kênh truyền thông chiếm ưu thế nhất hiện nay Theo thống
kê của Sở thông tin truyền thông TP.Hồ Chí Minh (trích từ www.saga.vn/ [Truy cập ngày 05 tháng 01 năm 2012]), tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó
có 178 báo và 528 tạp chí, có 67 đài phát thanh – truyền hình, gồm 3 đài phát thanh truyền hình trung ương (VTV, VTC, VOV) và 64 đài phát thanh – truyền hình ở các địa phương; 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài
và hàng ngàn trang thông tin điện tử xã hội khác
Theo nguồn thống kê của trang web điện tử Saga, loại hình quảng cáo chiếm
tỉ lệ lớn nhất trong các phương thức truyền thông, riêng quảng cáo trên tivi vẫn tăng
Trang 33trưởng đến 75%, trên báo chí tăng 45%, ngoài trời tăng 49% năm 2011 Năm 2010, ngành công nghiệp quảng cáo Việt Nam đạt doanh thu gần 1 tỷ USD Hiện có hơn 7.000 công ty quảng cáo, truyền thông, PR, tổ chức sự kiện với gần 100.000 lao động, trong đó hơn 70% là những bạn trẻ tuổi dưới 30 tuổi Truyền thông là ngành
có cầu nhân lực cao nhất hiện nay Mức lương trung bình của người lao động ngành quảng cáo từ 500 - 1.000 USD/tháng
Hiện nay, thị phần truyền thông tại Việt Nam đa số do các công ty nước ngoài quản lý, với khoảng gần 30 đơn vị quảng cáo, chiếm 80% thị trường trong nước, gồm JW Thompson, Mc Can, Sattchi, Densu với doanh số mỗi năm lên tới 5-7 tỷ USD, trong khi Đất Việt - công ty quảng cáo Việt Nam lớn nhất, mỗi năm doanh số cũng chỉ khoảng 10-15 triệu USD Số lượng công ty truyền thông từ năm
2000 đến năm 2008 liên tục gia tăng, riêng doanh thu quảng cáo đạt mức tăng
trưởng trung bình từ 30-35%/năm Tuy nhiên, so với các nước cùng khu vực như Thái Lan, Singapore, Indonesia, doanh thu quảng cáo của nước ta vẫn thấp hơn 2 đến 3 lần (theo ông Đỗ Kim Dũng phát biểu trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online)
Từ năm 2009 đến nay, doanh thu quảng cáo của nước ta liên tục giảm mạnh do chịu ảnh hưởng khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu Các công ty truyền thông trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ và làm đại lý cho các tập đoàn truyền thông nước ngoài hay các cơ quan thông tin được sự bảo trợ của nhà nước Sự chệnh lệch quá lớn cả về quy mô hoạt động, tiềm lực tài chính, năng lực sáng tạo, tính chuyên nghiệp giữa doanh nghiệp nước ngoài và các công ty quảng cáo trong nước khá rõ ràng
Chịu ảnh hưởng bởi khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, các hoạt động truyền thông từ năm 2009 tại Việt Nam liên tục cắt giảm Điều này là do các doanh nghiệp tập trung vào việc bán sản phẩm trực tiếp hơn là các hoạt động quảng bá rầm
rộ như trước đây Hoạt động truyền thông bị cắt giảm kéo theo tình trạng cắt giảm nhân sự hàng loạt đang diễn ra trong ngành khiến cho căng thẳng trong vấn đề giải quyết việc làm Nhân viên làm việc tại các công ty truyền thông có những đặc điểm sau: trẻ tuổi, năng động, học các chuyên ngành marketing hay quản trị kinh doanh,
Trang 34ngoại ngữ tốt và giao tiếp tốt Các công ty thường chọn người đã có kinh nghiệm làm việc từ các công ty truyền thông khác để làm việc Mọi người làm việc dựa trên
sự yêu thích và thể hiện khả năng của mình hơn là việc trọng lương thưởng và chế
Theo kết quả thảo luận nhóm, tám thành phần trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994) được điều chỉnh còn 7 thành phần, bao gồm : hấp dẫn, cống hiến, nhạy cảm, mạnh mẽ, thông minh, uy tín và độc đoán Thành phần nam tính được gọp vào thành phần mạnh mẽ theo sự nhất quán của tám nhà lãnh đạo ngành truyền thông trong kết quả thảo luận nhóm Lý giải cho việc gọp 2 thành phần này, các chuyên gia cho rằng tên thành phần mạnh mẽ đã đủ diễn đạt và mang nghĩa bao hàm cho thành phần nam tính Nếu để thành phần nam tính độc lập, nó sẽ
bị trùng lấp Hai biến giải thích cho thành phần nam tính “là phái nam” và “mạnh mẽ” Trong đó, biến “là phái nam” được các chuyên gia đánh giá không đủ để giải thích cho sự mềm dẻo, uyển chuyển trong xử lý công việc của lãnh đạo là nữ giới Nếu thay thế điều này bằng sự khéo léo sẽ gây ra sự trùng lấp với “khéo léo” thuộc thành phần thông minh Biến thứ hai là “mạnh mẽ” được chuyển sang thành phần mạnh mẽ để giải thích rõ ràng và đầy đủ hơn
2.2.2.1 Thành phần Hấp dẫn
Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 44), sức thu hút/ hấp dẫn là việc tạo ra một sự hấp dẫn mãnh liệt về xúc cảm đối với người dưới quyền Đối với các nhà
Trang 35nghiên cứu thì sức thu hút này còn chưa rõ ràng, nhưng có thể kể ra vài đặc tính biểu hiện của nó như: sức quyến rũ, sự nhiệt tình, khả năng thuyết phục, khả năng gây ấn tượng…
Có nhiều thuyết nói về lãnh đạo hấp dẫn Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 169-173) cho rằng một số đặc điểm thể hiện cho sự thu hút/hấp dẫn của nhà lãnh đạo như : người dưới quyền tin rằng những niềm tin của nhà lãnh đạo là đúng đắn, những tình cảm yêu thương, quý trọng của cấp dưới đối với lãnh đạo, người lãnh đạo luôn làm gương cho người dưới quyền bằng những hành động mẫu mực của mình…Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, 174-175) cho rằng: sức hấp dẫn luôn được gán cho những người lãnh đạo biết hy sinh vì lợi ích của người dưới quyền, sự
tự tin trong giao tiếp và thông tin của nhà lãnh đạo cũng góp phần tăng sức thu hút của họ trước cấp dưới
Thu hút vừa được tạo ra từ phong thái bên ngoài, hay có thể tạo ra từ tiếng tăm và năng lực có sẵn của nhà lãnh đạo được Sức thu hút có thể làm tăng sự nể phục và tuân theo của cấp dưới dành cho nhà lãnh đạo Vì thế, nhà lãnh đạo cần xem đây là đặc điểm nền tảng mình cần có cũng như trau dồi nó tạo động lực tăng mức độ tín nhiệm và nể phục từ nhân viên
2.2.2.2 Thành phần Uy tín
Trần Kim Dung (2005) cho rằng: uy tín là một khái niệm rộng và chưa được
đo lường một cách rõ ràng “20 năm sau quan sát của Tsui, uy tín lãnh đạo vẫn còn là hiện tượng hầu như chưa được khám phá” Uy tín cá nhân được định nghĩa là „„sự xác định về nhận thức thể hiện sự kết hợp tổng hợp các phẩm chất cá nhân và các thành tựu nổi bật chứng tỏ hành vi, hình ảnh được thể hiện qua một số giai đoạn thời gian được quan sát trực tiếp hoặc được báo cáo từ nguồn thông tin thu thập được” Để làm rõ cho khái niệm này, Trần Kim Dung (2005) đã phát biểu rằng “uy tín lãnh đạo
là sự xác định về nhận thức của mọi người về người lãnh đạo, có tác dụng làm giảm những bất trắc liên quan đến các hành vi tương lai được mong đợi của vị lãnh đạo đó”
Trang 36Uy tín là yếu tố khá quan trọng và cần thiết cho nhà lãnh đạo Uy tín là sức mạnh có khả năng chi phối, chinh phục người khác bằng sự tin cậy và tín nhiệm Trong bất kỳ mối quan hệ xã hội, uy tín giúp cho mối quan hệ giữa các bên trở nên bền vững hơn Khi nói đến uy tín, người ta sẽ nghĩ ngay đến việc giữ lời hứa và làm đúng với điều mình nói Đặc biệt, với những giao dịch kinh doanh lớn, uy tín là điều kiện quan trọng trong các quyết định lựa chọn đối tác kinh doanh Những người không có uy tín, hay phá vỡ thỏa thuận để theo đuổi lợi nhuận trước mắt, sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi thương trường Vì vậy, có thể khẳng định rằng uy tín là phần quan trọng và cần thiết đối với phẩm chất một nhà lãnh đạo
2.2.2.3 Thành phần Cống hiến
Cống hiến là đóng góp những phần to lớn nhất của cá nhân vào sự nghiệp chung của một tổ chức hay tập thể Theo Offermann (1994), một nhà lãnh đạo được cho là có cống hiến trong công việc khi họ làm việc một cách chăm chỉ và tích cực Bên cạnh đó, nhà lãnh đạo phải dành nhiều thời gian và toàn bộ tâm trí cho công việc, đặt công việc lên trên lợi ích cá nhân và sắp xếp công việc theo định hướng mục tiêu rõ ràng
Vì sao lãnh đạo phải cống hiến cho công việc nhiều như vậy? Câu trả lời có thể vì mục tiêu hiệu quả công việc sẽ mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần cho bản thân nhà lãnh đạo Hay cũng có thể do sở thích của nhà lãnh đạo mà không bị chi phối bởi lợi ích cá nhân nào khác Cho dù vì bất kỳ mục tiêu nào thì cống hiến giúp mang lại hiệu quả cao nhất cho công việc Cống hiến là một đặc tính tốt và cần thiết cho nhà lãnh đạo để cấp dưới có thể noi gương và học hỏi
2.2.2.4 Thành phần Thông minh
Trí thông minh không phải là một năng lực đơn độc, nó là sức mạnh tổng hợp của nhiều loại năng lực Theo điều tra tâm lý và quan điểm của các nhà tâm lý học Trung Quốc, trí thông minh bao gồm khả năng quan sát, khả năng của trí nhớ, sức suy nghĩ, óc tưởng tượng, kỹ năng thực hành và sáng tạo Nguyễn Hữu Lam
Trang 37(2007, trang 69) cho rằng thông minh là một trong những phẩm chất được lặp lại trong nhiều nghiên cứu có tương quan chặt chẽ với vai trò của nhà lãnh đạo
Theo tổng kết của Nguyễn Thế Tuấn Anh (2012), để trở thành một nhà lãnh đạo, trí thông minh là một trong những phẩm chất cần có nhưng không bắt buộc phải có quá nhiều Với kết luận này, trí thông minh được cho rằng chỉ cần ở mức trung bình trở lên là đủ Đây là lý do vì sao người Việt hay nhìn nhận sai về lãnh đạo, hay đòi hỏi lãnh đạo phải là người thông minh nhất, IQ cao nhất, chuyên môn phải giỏi nhất song thực tế lãnh đạo giỏi không cần những điều này Thông minh mang tính bẩm sinh nhưng phải kết hợp với sự liều lĩnh mới cho kết quả tốt nhất Một người thông minh sẽ giải quyết vấn đề nhanh và đúng hướng hơn những người không thông minh Thông minh giúp người đó tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí
2.2.2.5 Thành phần Mạnh mẽ
Sức mạnh bao gồm sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần Sức mạnh thể
chất đo lường thể lực của một con người mạnh hay yếu Sức mạnh tinh thần biểu hiện ở sự liều lĩnh, can đảm trong cuộc sống Giải thích này trùng khớp với kết quả giải thích về thành phần sức mạnh trong mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng của Offermann (1994)
Thời gian trước đây, các nhà lãnh đạo đa số là nam giới Nhưng càng về giai đoạn sau này, nữ giới cũng tham gia lãnh đạo trong nhiều lĩnh vực then chốt của đất nước Theo bài viết của Hà Nam, (trích từ www.vov.vn [Ngày truy cập: 13 tháng 7 năm 2012]) cho rằng “gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước
là nữ Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25% Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1%” Điều này đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương Sức mạnh thể chất có thể phụ nữ không bằng nam giới, tuy nhiên, sự tinh tế, khéo léo và uyển chuyển của nữ
Trang 38giới thường có phần trội hơn so với nam giới Một lãnh đạo có sức khỏe bền bĩ, có đầy dũng cảm khi đứng trước sóng gió của thương trường, người đó sẽ là chỗ dựa vững chắc để giúp tạo lòng tin và sức mạnh cho cả doanh nghiệp Vì vậy, sức mạnh của nhà lãnh đạo là phẩm chất không thể thiếu có tác động tích cực xây dựng nên một nhà lãnh đạo đầy tài năng và hoàn hảo
2.2.2.6 Thành phần Nhạy cảm
Nhạy cảm là việc nhận biết nhanh và tinh bằng giác quan và cảm tính Theo
mô hình của trường Đại học Ohio trích trong Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 105), nhạy cảm thuộc nhóm hành vi quan tâm tới con người Nhà lãnh đạo nhạy cảm được thể hiện qua: sự quan tâm đến người khác thông qua sự gần gũi, gắn bó, lắng nghe ý kiến nhân viên, hỗ trợ, giúp đỡ người dưới quyền ngày càng tiến bộ Theo nhiều nghiên cứu cho rằng, mặc dù phong cách quan tâm tới con người có mối tương quan thuận đến sự thỏa mãn người lao động, song việc quan tâm quá nhiều tới cả công việc và con người không phải luôn tạo ra kết quả tốt nhất
Trong mối quan hệ giữa người với người, việc hiểu và thông cảm lẫn nhau sẽ giúp duy trì mối quan hệ được lâu dài và bền vững Một nhà lãnh đạo quá nhạy cảm
sẽ gây ra tính cách ủy mị và thiếu quyết đoán Tuy nhiên, một người thiếu nhạy cảm lại tạo ra môi trường làm việc căng thẳng và bất đồng Nhà lãnh đạo là cầu nối giữa người với người, người với công việc trong một tổ chức Khi họ thể hiện sự nhạy cảm ở mức độ hợp lý và đúng lúc, sự thỏa mãn sẽ nâng cao Thuộc những con người Á Đông xem trọng cảm xúc nên thành phần nhạy cảm đóng vai trò rất quan trọng khi xem xét phẩm chất đạo đức của một con người
2.2.2.7 Thành phần chuyên chế/độc đoán
Độc đoán là giải quyết việc gì đó theo ý riêng của mình, để đạt được những điều mong muốn của bản thân bất chấp ảnh hưởng của người khác Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 102), với kiểu lãnh đạo độc đoán, người lãnh đạo tập trung mọi kiến thức, thông tin, quan hệ và mọi quyền lực trong tay mình Các quyết định
Trang 39được đề ra nghiêm ngặt và buộc người dưới quyền phải thực thi mà không được phản kháng
Công việc theo phong cách độc đoán được giải quyết một chiều theo hướng
từ trên xuống Ưu điểm của phong cách này là giúp công việc giải quyết nhanh chóng và không tốn nhiều thời gian Theo Nguyễn Hữu Lam (2007, trang 103), lãnh đạo kiểu này thường “không quan tâm đến ý kiến người dưới quyền, quyết định dựa trên thông tin mình có sẵn nên hình thức lãnh đạo này không tận dụng được sáng tạo và kinh nghiệm của cấp dưới”
Phong cách lãnh đạo độc đoán bản thân nó không phải là phong cách tốt hay xấu Nhược điểm của nó là làm cho nhân viên bị cô lập và ít được hỗ trợ Hiệu quả làm việc của nhân viên cao hơn khi có mặt lãnh đạo, khi được lãnh đạo chỉ việc
Không khí làm việc luôn căng thẳng, gây hấn Điều này có thể tạo nên sự đồng thuận giả tạo của nhân viên với nhà lãnh đạo của mình
Ngành truyền thông có cách làm việc khá thông thoáng về thời gian nên kiểu
lãnh đạo dân chủ được áp dụng khá rộng rãi hơn là hình thức độc đoán Mối quan
hệ giữa cấp trên và cấp dưới là phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau Do đó, phong cách độc đoán thường mang cảm giác khó chịu cho cấp dưới Nhân viên thường bất tuân khi thực hiện công việc Chính vì thế, có thể thấy độc đoán thường có mối tương quan nghịch chiều với sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên ngành truyền thông
2.3 Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên
Theo Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) cho rằng “sự thỏa mãn công việc là mức
độ người nhân viên yêu thích công việc của họ Đó là thái độ dựa trên nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc”
Nói về sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên, có hai khía cạnh là sự thỏa mãn chung và sự thỏa mãn theo các yêu tố thành phần trong công việc
Sự thỏa mãn chung trong công việc
Nguyễn Thị Kim Ánh (2010) tổng kết các định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc như bảng 2.3:
Trang 40Bảng 2.3 Các định nghĩa về sự thỏa mãn trong công việc
Tác giả Sự thỏa mãn công việc là:
Spector (1997) Việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh
công việc của họ như thế nào
Vroom (1964) Là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ
ràng đối với công việc trong một tổ chức
Locke (1976) Là việc người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công
việc của họ
Quinn & Staines
(1979)
Là phản ứng tích cực đối với công việc,
Weiss (1967) Là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin
và hành vi của người lao động
(Nguồn : Nguyễn Thị Kim Ánh, 2010)
James L.Price (1997) cho rằng không có một định nghĩa rõ ràng về sự thỏa mãn công việc Để hiểu được điều này, chỉ có thể đặt ra một câu hỏi là: Người ta cảm thấy như thế nào về các công việc khác nhau? Và câu trả lời sẽ xếp thứ tự từ thỏa mãn cao đến thấp Tác giả này cũng đưa ra được 18 biến quan sát với các mức
độ khác nhau về sự thỏa mãn chung trong công việc
Thang đo về sự thỏa mãn chung trong công việc
Theo Võ Thị Thiện Hải & Phạm Đức Kỳ (2009), có 03 biến đánh giá mức độ hài lòng chung của nhân viên: (a) Nói chung, tôi cảm thấy hài lòng với công việc; (b) Về tổng thể, tôi không thích công việc mình đang làm; (c) Về tổng thể, tôi thích