1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn

119 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 680,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có những NHTM đã tận dụng được cơ hội là người đi trước để khẳng định thương hiệu, chiếm thị phần lớn và đang từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, khả năng kinh doanh, phương thức quản t

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

HOÀNG TH Ị HỒNG

Chuyên ngành: Kinh t ế tài chính - Ngân hàng

Mã s ố: 60.31.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS HAY SINH

TP, H ồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Hay Sinh

Các số liệu, kết quả nghiên cứu này là trung thực, nội dung của luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý quá trình nghiên cứu

khoa học của luận văn này

TPHCM, Ngày 30 tháng 08 năm 2012 Tác giả

Trang 4

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục bảng biểu

M ở đầu

Chương 1

1.1 Những vấn đề chung về rủi ro 4

: Cơ sở lý luận về rủi ro tại các NHTM 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động ngân hàng 4

1.1.3 Một số rủi ro phổ biến trong hoạt động kinh donah ngân hàng 5

1.1.3.1 Rủi ro tín dụng 5

1.1.3.2 Rủi ro tỷ giá 10

1.1.3.3 Rủi ro thanh khoản 13

1.1.3.4 Rủi ro lãi suất 16

1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của NH và nền kinh tế 19

1.2.Kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro của một số ngân hàng trên thế giới 19

1.2.1 Kinh nghiệm của ngân hàng TMCP SMBC Nhật Bản trong việc phòng ngừa rủi ro thanh khoản 19

1.2.2 Rủi ro thanh khoản tại Northern Rock năm 2007 20

1.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý rủi ro thanh khoản cho các NHTM Việt Nam22 1.2.4 Kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro tín dụng từ Thái Lan 23

Kết luận chương 1 26

Trang 5

2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của SCB 27

2.1.1 Sơ lược về SCB 27

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh của SCB 29

2.2 Thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của SCB 34

2.2.1 Hoạt động tín dụng 34

2.2.1.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại SCB 34

2.2.1.2 Tình hình nợ quá hạn, nợ đã trích dự phòng 37

2.2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 39

2.2.2 Hoạt động kinh doanh ngoại hối 41

2.2.2.1 Thực trạng rủi ro ngoại hối tại SCB 41

2.2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro ngoại hối 45

2.2.3 Rủi ro thanh khoản 46

2.2.3.1 Thực trạng rủi ro thanh khoản tại SCB 46

2.2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 50

2.2.4 Rủi ro lãi suất 51

2.2.4.1 Thực trạng rủi ro lãi suất tại SCB 51

2.2.4.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất tại SCB 54

2.3 Một số những thuận lợi và khó khăn của SCB trong công tác phòng ngừa rủi ro 55

2.3.1 Về cơ chế quản lý 55

2.3.2 Về công nghệ 56

2.3.3 Về nhân sự 57

Trang 6

doanh của SCB 60

3.1 Chiến lược phát triển của SCB 60

3.2 Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh của SCB 62

3.2.1 Đề xuất đối với SCB 62

3.2.2 Giải pháp phòng ngừa rủi ro chung cho các hoạt động 63

3.2.3 Giải pháp phòng ngừa rủi ro riêng cho từng loại rủi ro 66

3.2.3.1 Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng 66

3.2.3.2 Giải pháp phòng ngừa rủi ro ngoại hối 71

3.2.3.3 Giải pháp phòng ngừa rủi ro thanh khoản 74

3.2.3.4 Giải pháp phòng ngừa rủi ro lãi suất 77

3.3 Một số kiến nghị 78

3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luât nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong công tác 78

3.3.2 Chính sách tỷ giá và chính sách quản lý ngoại hối 79

3.3.3 Hệ thống thông tin 80

3.3.2.4 Về hoạt động thanh tra 80

Kết luận chương 3 83

K ết luận 84

Danh mục tài liệu tham khảo 86

Phụ lục 88

Trang 7

B ảng Trang

1 Bảng 2.1 Một số kết quả hoạt động của SCB giai đoạn 2007-2011 30

2 Bảng 2.2 Lợi nhuân, thu nhập, chi phí qua các năm 2007-2011 33

3 Bảng 2.3 Dư nợ cho vay và đầu tư tại SCB 34

4 Bảng 2.4 Dư nợ cho vay theo loại tiền 37

5 Bảng 2.5 Tỷ lệ nợ quá hạn tại SCB từ 2007-2011 38

6 Bảng 2.6 Doanh số mua bán ngoại tệ qua các năm 42

7 Bảng 2.7 Trạng thái ngoại hối tại thời điểm 31/12 43

8 Bảng 2.8 Tình hình cân đối nguồn vốn kinh doanh 2011 47

9 Bảng 2.9 Số dư dự trữ bắt buộc qua các quý 2011 47

10 Bảng 2.10 Nguồn tiền ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn 48

11 Bảng 2.11 Tỷ lệ khả năng chi trả 49

12 Bảng 2.12 Biểu lãi suất cho vay của SCB 50

13 Bảng 2.13 Chênh lệch lãi suất đầu ra đầu vào 51

14 Bảng 2.14 Hệ số chênh lệch lãi ròng qua các năm 52

15 Bảng 2.15 Độ lệch nhạy cảm lãi suất tại thời điểm 31/12/11 53

Trang 8

Bi ểu đồ Trang

1 Biểu đổ 2.1 Tổng tài sản của SCB qua các năm 30

2 Biểu đồ 2.2 Lợi nhuận sau thuế của SCB các năm 2007-2011 31

3 Biểu đồ 2.3 Lợi nhuận, thu nhập, chi phí qua các năm 2007-2011 33

4 Biểu đồ 2.4 Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế 35

5 Biểu đồ 2.5 Dư nợ cho vay theo thời hạn vay 36

6 Biểu đồ 2.6 Dư nợ vay quá hạn từ 2007-2011 38

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH THIẾT THỰC CỦA ĐỀ TÀI:

Hiện nay các NHTM Việt Nam đang trong quá trình phát triển mạnh về cả số lượng và quy mô hoạt động, sức cạnh tranh trên thị trường tài chính Việt Nam ngày càng mạnh mẽ tạo ra áp lực rất lớn cho các NHTM trong quá trình kinh doanh Có những NHTM đã tận dụng được cơ hội là người đi trước để khẳng định thương hiệu, chiếm thị phần lớn và đang từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, khả năng kinh doanh, phương thức quản trị rủi ro…Trong khi đó, không ít các ngân hàng mới trong giai đoạn bắt đầu phát triển với quy mô hoạt động được mở rộng nhanh chóng để giành thị phần và khẳng định tên tuổi Đối với tất cả các ngân hàng dù đang trong quá trình hoàn thiện tổ chức hay đang trong giai đoạn tìm cách mở rộng thị phần thì phịng ngừa rủi ro là một công tác cực kỳ quan trọng Cũng do quản lý không tốt rủi ro trong hoạt động tín dụng hay hoạt động kinh doanh ngoại tệ mà một số ngân hàng dù có bề dày hoạt động, vốn chủ sở hữu lớn nhưng vẫn gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, làm giảm lợi nhuận và phải xử lý rất nhiều khoản nợ xấu

Việc hạn chế rủi ro cho tất cả các mảng nghiệp vụ của các NHTM Việt Nam nói chung và SCB nói riêng là một hoạt động rất thiết thực nhằm giúp cho ngân hàng có thể tăng trưởng và phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả

Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp phòng ngừa rủi ro trong

hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Sài Gòn” với hy vọng những

kinh nghiệm thực tiễn của bản thân trong công tác kinh doanh tại ngân hàng và những kiến thức nghiên cứu được sẽ có thể ứng dụng cho cơng tác phòng ngừa rủi ro tại SCB và mong rằng có thể nhân rộng ra cho toàn hệ thống NHTM Việt Nam

Trang 10

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm tập trung vào các nội dung sau:

- Nghiên cứu những lý luận cơ bản về những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

- Phân tích thực trạng các loại rủi ro trên, nêu ra những hạn chế trong hoạt động phòng ngừa rủi ro tại SCB hiện nay

- Đưa ra những kiến nghị đối với SCB, ngân hàng nhà nước và đề xuất một số biện pháp đối SCB trong việc phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình thực hiện có sử dụng phương pháp so sánh, phân tích và phương pháp thống kê để xác định bản chất của vấn đề cần nghiên cứu từ đó có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Phạm vi nghiên cứu: vì đây là lĩnh vực khá rộng lớn nên phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung vào phân tích bốn loại rủi ro chính đó là: rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Sài Gòn

Trang 11

5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Xin chân thành cảm ơn

Trân trọng

Người thực hiện đề tài

Trang 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TẠI CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO

1.1.1 Một số khái niệm

Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực Nó là một yếu tố khách quan nên con người không thể loại trừ được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những thiệt hại do chúng gây ra Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro nhưng nhìn chung có thể chia làm hai quan điểm:

Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hai, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố có liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người

Theo quan điểm trung hòa thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi

ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực: Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (NH) là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của NH là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định

1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho NH nhưng có thể chia làm ba nhóm như sau:

Trang 13

 Những nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của NH: quản lý yếu kém (nhân viên không có khả năng đánh giá chất lượng khoản vay), tham ô của nhân viên (cố tình làm sai quy định để mưu lợi riêng)

 Các nguyên nhân về phía khách hàng: làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, cố tình chây ì, lừa đảo… dẫn đến không trả được nợ cho NH

 Các nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh: thay đổi bất thường trên thị trường vượt quá khả năng phán đoán của NH như thay đổi lãi suất, tỷ giá hay khủng hoảng nợ dây chuyền, thay đổi trong quyết định của chính phủ

1.1.3 Một số rủi ro phổ biến trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Phân chia theo nguyên nhân có các loại rủi ro phổ biến như sau: rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất

1.1.3.1 Rủi ro tín dụng

Khái niệm

Theo quyết định 493 thì :”Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Rủi ro tín dụng hiểu theo một cách chung nhất là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của NH, thể hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH Nói một cách khác là người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn

Đánh giá rủi ro tín dụng

Mặc dù rủi ro tín dụng là khách quan, song NH phải quản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Có thể đánh giá rủi

ro tín dụng dựa vào một số chỉ tiêu cụ thể hóa như sau

Trang 14

Thứ nhất có thể dựa vào tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu trong tổng dư nợ của

NH Theo quy định của NHNN hiện nay thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay của mỗi NHTM không được vượt quá 5%

Tính tỷ lệ nợ quá hạn:

Dư nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng người ta có thể căn cứ vào tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, trong đó nợ xấu là khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)

Theo QĐ 493 thì nợ nhóm 3 bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

Nợ nhóm 4 bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

Nợ nhóm 5 bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý;

Dư nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = - x 100%

Tổng dư nợ cho vay

Trang 15

- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại

Thứ hai, dựa vào đặc điểm của khách hàng: thông qua phân tích tình hình

tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án… từ đó NH lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại cho điểm Chẳng hạn khách hàng loại A rủi ro tín dụng thấp, khách hàng loại C rủi ro tín dụng cao Các chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên các dấu hiệu rủi ro mà NH xây dựng

Thứ ba, căn cứ vào sự kém đa dạng của tín dụng: Đa dạng hóa là biện pháp

hạn chế rủi ro Nếu chỉ tập trung vào tài trợ cho một khách hàng, một ngành nghề hoặc một vùng thì rủi ro sẽ cao hơn

Thứ tư, dựa vào sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô: Chính sách thường xuyên

thay đổi, lạm phát cao, tình hình chính trị bất ổn định, thiên tai… đều tạo nên sự mất ổn định của nền kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến khách hàng vay Do vậy, mất ổn định kinh tế vĩ mô cũng là yếu tố phản ánh rủi ro tín dụng

Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Nguyên nhân khách quan

Trong kinh doanh tín dụng, NHTM chịu tác động của các nhân tố khách quan chủ yếu như sau:

- Các yếu tố thời tiết, khí hậu

Những hiện tượng thời tiết không dự báo và bất thường cũng làm ngưng trệ việc xây dựng, khai khoáng, hoặc ngừng sản xuất

Khí hậu theo mùa ảnh hưởng đặc biệt lớn đối với ngành nông nghiệp và khu vực kinh doanh bán lẻ

- Môi trường kinh tế không thuận lợi

Môi trường kinh tế không thuận lợi chịu tác động của các nhân tố:

Trang 16

+ Các chính sách của Chính Phủ bao gồm: Những thay đổi về mức thuế, ngân sách hàng năm, những thay đổi của chính sách tiền tệ (định hướng về lãi suất) và những thay đổi trong lĩnh vực NH

+ Giá trị của đồng bản tệ: Đồng bản tệ có giá trị thấp làm tăng giá nhập khẩu, từ đó có thể làm cho lãi suất tăng lên và làm giảm sự tự tin của người tiêu dùng

+ Phản ứng và hành động của người tiêu dùng Sự tin tưởng của người tiêu dùng giảm sút có thể ảnh hưởng giảm cầu và doanh thu

- Thông tin không cân xứng

Quan hệ tín dụng giữa NH và khách hàng là quan hệ kinh tế, vì vậy phát sinh nhu cầu trao đổi và thu thập thông tin giữa các bên Tuy nhiên trong thực tế

do nhiều lý do khác nhau (về tài chính, về khả năng) xảy ra tình trạng thông tin không cân xứng

+ NH không có đầy đủ thông tin về khách hàng, thông tin về nhà quản lý, về các kế hoạch kinh doanh, về quan hệ bạn hàng, quan hệ thanh toán

+ Khách hàng không có đầy đủ thông tin về NH: quy mô các dịch vụ đáp ứng, phương thức tài trợ phù hợp, giá cả thực tế

Nguyên nhân từ phía ngân hàng

- Chính sách tín dụng không hợp lý

Những nhược điểm của chính sách cho vay vừa là nguyên nhân sâu xa, vừa là nguyên nhân trực tiếp gây ra rủi ro tín dụng, cụ thể như:

+ Chính sách cho vay chưa triệt để theo nguyên tắc thị trường, đã bị cuốn theo các hội chứng kinh tế, theo phong trào, theo khẩu hiệu phát triển kinh tế, chạy theo chủ nghĩa thành tích Có thể thấy được qua nhiều chương trình kinh tế mà chính sách cho vay của NHTM hướng theo nhưng kết cục lại không hiệu quả như chương trình đánh bắt xa bờ, mía đường

Trang 17

+ Chưa quản trị rõ ràng về danh mục cho vay theo lĩnh vực sở trường của bản thân mỗi NHTM Cạnh tranh giành giật thị phần ở các ngành, ở nhóm khách hàng mà chính NH mình không có sở trường đã mang đến rủi ro hiện tại và tiềm ẩn ở một số NH

- Cán bộ ngân hàng

Trong hoạt động tín dụng của NH, yếu tố cán bộ ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng thể hiện qua:

+ Thứ nhất là trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế

+ Thứ hai là đạo đức nghề nghiệp, trong rất nhiều trường hợp xảy ra rủi ro tín dụng tại các NH thường có sự cấu kết giữa cán bộ làm công tác tín dụng và khách hàng đã gây hậu quả rất nghiêm trọng

Nguyên nhân từ phía khách hàng:

- Đối với khách hàng là các doanh nghiệp

+ Thứ nhất là quản lý không hiệu quả: Hoạt động kinh doanh không

được quản lý tốt sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, thiếu thông tin tài chính, không có kế hoạch kinh doanh được triển khai, các sản phẩm không có sự gắn kết, không có khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường

+ Thứ hai là những nguyên nhân trong việc xử lý các vấn đề về thị trường Các doanh nghiệp đều phải giải quyết hai vấn đề cơ bản là "mua" và

"bán" giải quyết các vấn đề liên quan tới thị trường, các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm

+ Thứ ba là do sự hạn chế của nhân viên thuộc doanh nghiệp Sự yếu kém

của đội ngũ nhân viên của một doanh nghiệp làm cho kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện không thành công, kém hiệu quả

- Nguyên nhân từ phía khách hàng là cá nhân

Với khách hàng cá nhân, nguyên nhân rủi ro có thể là:

Trang 18

+ Hoạt động kinh doanh không thuận lợi, khả năng quản lý yếu kém

+ Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mất việc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động

+ Đạo đức cá nhân không tốt: cố tình lừa NH, sử dụng tiền vay không đúng mục đích

1.1.3.2 Rủi ro tỷ giá (rủi ro ngoại hối)

Đánh giá rủi ro tỷ giá

Trạng thái ngoại hối của mỗi loại ngoại tệ là chênh lệch giữa tổng tài sản có và tổng tài sản nợ của ngoại tệ đó bao gồm cả tài khoản ngoại bảng tương ứng

Trạng thái ngoại hối của từng loại ngoại tệ: được đo lường qua 2 chỉ tiêu:

- Trạng thái ngoại hối hiện tại ròng ( còn gọi là trạng thái hiện tại)

- Trạng thái ngoại hối tương lai ròng (còn gọi là trạng thái tương lai): là

chênh lệch giữa tổng các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn mua vào và tổng các giao

dịch ngoại tệ kỳ hạn bán ra

Trạng thái ngoại Số dư của ngoại tệ Số dư của ngoại tệ

hối hiện tại của

ngoại tệ A = A thuộc tài sản Có - A thuộc tài sản Nợ

Trạng thái ngoại hối tương Tổng các giao dịch ngoại tệ kỳ Tổng các giao dịch ngoại tệ

Trang 19

+ Trạng thái ngoại hối = 0 : Tỷ giá ngoại tệ A tăng hoặc giảm thì rủi ro tỷ giá không xuất hiện vì thu nhập và chi phí sẽ tăng và giảm với tốc độ bằng nhau nên lợi nhuận không đổi Lúc này rủi ro tỷ giá xem như bằng 0

+ Trạng thái ngoại hối > 0 : Tỷ giá ngoại tệ A giảm thì thu nhập giảm nhanh hơn tốc độ giảm của chi phí Vì vậy, rủi ro tỷ giá xuất hiện khi tỷ giá ngoại tệ A giảm giá

+ Trạng thái ngoại hối < 0 : Tỷ giá ngoại tệ A tăng thì rủi ro tỷ giá sẽ xuất hiện, vì tốc độ tăng của thu nhập nhỏ hơn tốc độ tăng chi phí nên giảm lãi, ngân hàng sẽ bị lỗ Vì vậy, trong trường hợp này rủi ro tỷ giá xuất hiện khi tỷ giá ngoại tệ A tăng

Trạng thái ngoại hối tính chung cho các loại ngoại tệ

Do quản lý rủi ro ngoại hối thông qua trạng thái của từng loại ngoại tệ có nhược điểm là chỉ xem xét mối quan hệ tỷ giá trực tiếp giữa hai loại ngoại tệ chứ không đo lường được sự biến động tương đối của các loại ngoại tệ khác Để khắc phục nhược điểm này, các NH phải sử dụng tổng trạng thái ngoại hối

Tổng trạng thái ngoại hối của NH là trạng thái ngoại hối của từng loại ngoại tệ cộng lại.

 Nguyên nhân c ủa rủi ro tỷ giá

- Kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn để vận hành giao dịch và đo lường rủi ro quá yếu kém, kỹ năng xử lý dữ liệu bằng điện toán chưa cao, chưa có

Trang 20

Hiện nay dù có tham gia vào một số nghiệp vụ phái sinh nhưng hầu như các NHTM Việt Nam chỉ chú ý đến việc mua bán ngoại tệ nhằm mục đích thanh toán, cho vay ngoại tệ mà quên đi yếu tố bảo hiểm tỷ giá nên trong kinh doanh ngoại tệ NH đóng vai trò chủ yếu là trung gian thanh toán hơn là nhà tạo lập thị trường Cũng chính vì tư tưởng trên nên NH rất yếu về phân tích tỷ giá mà đặc biệt là rất yếu về phân tích kỹ thuật Hầu như rất ít NH sử dụng phân tích kỹ thuật như một công cụ hỗ trợ thêm cho phân tích cơ bản trong phân tích tỷ giá Đó cũng là lý do vì sao mà ít NH mạnh về kinh doanh đầu cơ mà chủ yếu là các

NH chỉ kinh doanh cho khách hàng Thực sự thì cho dù NH kinh doanh với NH hay kinh doanh đầu cơ cho chính họ thì việc phân tích tốt sự biến động tỷ giá cũng như dự báo được sự biến đông tỷ giá sẽ giúp cho NH quản lý rủi ro tỷ giá một cách hiệu quả

- Các quy định pháp lý về cách xác định trạng thái ngoại hối chưa hoàn thiện gây ra rủi ro tỷ giá

Mặc dù NHNN đã thay đổi phương pháp xác định trạng thái ngoại tệ theo QĐ1081/2002/QĐ-NHNN cho phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam, tuy nhiên, việc tính toán trạng thái ngoại tệ cuối tháng được tính trên cơ sở số dư tại thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng chỉ xét đến trạng thái ngoại tệ được hình thành do các giao dịch mua bán ngoại tệ của NH mà chưa tính đến thu và chi phí này cộng dồn sẽ ảnh hưởng đến giá trị giữa trạng thái ngoại tệ thực tế và trạng thái ngoai tệ báo cáo gây rủi ro lớn

- Cơ chế tỷ giá hiện nay chưa phản ánh được quy luật cung cầu trên thị trường

Mặc dù thời gian qua NHNN đã xóa bỏ sự áp đạt chủ quan trong việc thiết lập tỷ giá, tỷ giá đã được xác định trên cơ sở tỷ giá bình quân của thị trường ngoại tệ liên NH, tuy nhiên NHNN vẫn chưa thực hiện triệt để nguyên tắc này

Trang 21

Cơ sở điều hành tỷ giá còn quy định biên độ mua bán làm cho viêc yết giá của các NHTM bị cứng nhắc, chưa phản ánh đúng cung cầu ngoại tệ trên thị trường

1.1.3.3 Rủi ro thanh khoản

Khái niệm

Theo Thomas P.Fitch “Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng thiếu

ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay”

Rủi ro thanh khoản phát sinh thông thường từ xu hướng của các NH là huy động ngắn hạn và cho vay trung dài hạn Trường hợp này xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt kỹ thuật sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền, đặc biệt như chúng ta đã thấy trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của mình ra nhanh hơn việc người đi vay sẵn sàng trả nợ Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ một NH nào là bảo đảm khả năng thanh khoản đầy đủ Điều này có nghĩa là NH có sẵn lượng vốn khả dụng trong tay, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng với các nguồn vốn vay mượn bên ngoài với chi phí hợp lý, hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản ở mức giá thoả đáng

Đánh giá rủi ro thanh khoản

NH phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả đối với từng loại đồng tiền, vàng như sau:

Tỷ lệ về khả năng chi trả = -

Căn cứ theo nghị định 457/2005/QĐ-NHNN hiện nay thì tỷ lệ về khả năng chi trả được quy định như sau:

Tài sản “Có” có thể thanh toán

Tài sản “nợ” sẽ đến hạn thanh toán

Trang 22

+ Tỷ lệ về khả năng chi trả tối thiểu phải bằng 1 giữa tài sản “có “ có thể

thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tài sản

“Nợ” phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo

+ Tỷ lệ về khả năng chi trả tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “Có “ có

thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo

Trạng thái thanh khoản thuần trong một giai đoạn:

o Tk = 0 tức nguồn thanh khoản của NH đủ để đáp ứng các nhu cầu về thanh khoản

o Tk < 0 tức là thiếu hụt thanh khoản, trong trường hợp này NH phải có biện pháp để tăng nguồn cung thanh khoản hoặc giảm bớt nhu cầu thanh khoản đối với các khoản mục không có tính chất cấp thiết nhằm tránh rủi ro thanh khoản xảy ra

o Tk > 0 tức là thặng dư thanh khoản, trong trường hợp này NH phải có hướng mở rộng tín dụng và đầu tư vào các tài sản sinh lời, hoặc hạ thấp lãi suất huy động

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thanh khoản.

- NH vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi, quỹ dự trữ từ các cá nhân, sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư có kỳ hạn Do đó, đã xảy ra tình trạng bất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản đã sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động

- Chiến lược và phương pháp quản trị thanh khoản Một NH có đủ vốn,

chất lượng tín dụng tốt, nhưng nếu không quan tâm đến quản trị thanh khoản hoặc xây dựng dự trữ ngân quỹ hoặc thanh khoản không hợp lý sẽ dẫn đến rủi ro Trạng thái thanh khoản ròng (Tk) = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản

Trang 23

thanh khoản Một lý do thường xảy ra nhóm nguyên nhân này là NH quá chú

trọng đến lợi nhuận, nên việc đầu tư vào tài sản sinh lời quá mức

- Xuất hiện các biến cố bất thường Các biến cố bất thường có thể tác

động rất lớn đến cầu thanh khoản của NH Nếu người gửi tiền mất niềm tin về khả năng chi trả của NH, hay những tin đồn thất thiệt, họ sẽ đến rút tiền ra khỏi

NH ngay lập tức Năm 2005, vì một tin dồn thất thiệt là tổng giám đốc ACB đã bỏ trốn khi ấy dân chúng ồ ạt đến rút tiền ra khỏi các chi nhánh và hội sở ACB tại TPHCM Trong trường hợp này nhu cầu thanh khoản tăng đột biến và bản thân ACB không thể đáp ứng ngay được, phải nhờ vào ứng cứu của NHNN, các NHTM khác

- Do sự nhạy cảm với sự thay đổi về lãi suất đầu tư, nhất là các khoản

tiền gửi Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi

NH để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng cả khách hàng vay tiền và gửi tiền, kế đó là hai tác động đến trạng thái thanh khoản của NH Hơn nữa, những xu hướng về sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà NH có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung cấp thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ

- Rủi ro thanh khoản do ảnh hưởng trực tiếp từ các loại rủi ro khác

Loại rủi ro ảnh hưởng lớn nhất đến rủi ro thanh khoản là rủi ro tín dụng Nợ quá hạn, tổn thất tín dụng nếu ở mức độ cao sẽ làm giảm nguồn thanh khoản của NH và tất nhiên việc đáp ứng nhu cầu rút tiền có thể không thực hiện được Ngoài rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối, rủi ro thị trường cũng có tác động đến rủi ro thanh khoản Như khi tỷ giá USD/VND xuống liên tục trong khi đó giá vàng đang có xu hướng tăng người gửi tiền đôla sẽ đến rút nhiều hơn là người gửi vào

Trang 24

Thu nhập lãi –Chi phí lãi

Hệ số chênh lệch thu nhập,chi phí = -

Tổng tài sản

NH để đem đi đầu tư vàng có lợi hơn Khi ấy NH cần phải dự trữ một lượng ngoại tệ đủ lớn nhằm đảm bảo nhu cầu thanh khoản của người dân

1.1.3.4 Rủi ro lãi suất

Khái niệm

Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của NH

Theo Thomas P.Fitch định nghĩa: “rủi ro lãi suất là rủi ro khi sự thay đổi

của lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị”

Đánh giá rủi ro lãi suất

 Đánh giá rủi ro lãi suất là nhằm hạn chế tối đa tổn thất về thu nhập do sự thay đổi của lãi suất thị trường, hay nói cách khác khi lãi suất thị trường thay đổi sẽ không ảnh hưởng đến mức chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi và giá trị vốn chủ sở hữu Chúng ta có thể sử dụng hệ số chênh lệch lãi ròng để đo lường và so sánh sự thay đổi của thu nhập khi có sự biến động của lãi suất thị trường

Hệ số chênh lệch lãi ròng là tỷ lệ thu nhập lãi ròng chia cho tài sản sinh lời hoặc tổng tài sản

Phịng ngừa rủi ro lãi suất là phải kiểm soát qui mô của hệ số thu nhập lãi ròng bằng cách tác động đến cấu trúc danh mục tài sản và nợ nhạy cảm lãi suất của NH Khi lãi suất thị trường thay đổi nếu hệ số chênh lệch lãi giảm xuống thì đó là biểu hiện của rủi ro lãi suất Trong trường hợp này đòi hỏi nhà quản trị phải có các giải pháp để duy trì hệ số này hoặc làm cho hệ số này tăng lên.

Trang 25

 Cách đo lường thường dùng nhất đối với tình trạng nhạy cảm lãi suất của một NH là việc phân tích độ lệch

Tài sản nhạy cảm với lãi suất bao gồm:

- Các khoản cho vay có lãi suất biến đổi

- Các khoản cho vay ngắn hạn

- Chứng khoán có thời hạn còn lại dưới một năm

- Tiền gửi trên thị trường liên NH, tiền gửi không kỳ hạn tại các NH khác, các khoản đầu tư tài chính có thời hạn còn lại dưới một năm…

Nợ nhạy cảm với lãi suất bao gồm :

- Tiền gửi thanh toán ( tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch) và tiền tiết

kiệm không kỳ hạn của khách hàng

- Tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn thời hạn còn lại dưới một năm

- Các khoản vay ngắn hạn trên thị trường tiền tệ với thời hạn dưới một năm

+ Độ lệch (GAP) = O, tức là tài sản nhạy cảm lãi suất bằng nợ nhạy cảm lãi suất, trong trường hợp này lãi suất thị trường tăng lên hoặc giảm xuống đều không ảnh hưởng đến hệ số chênh lệch lãi ròng, tức là không xuất hiện rủi ro lãi suất

+ Độ lệch (GAP) > O, tài sản nhạy cảm lãi suất lớn hơn nợ nhạy cảm lãi suất, trong trường hợp này rủi ro xảy ra khi lãi suất thị trường giảm

+ Độ lệch (GAP) < O, tài sản nhạy cảm lãi suất nhỏ hơn nợ nhạy cảm lãi suất thì rủi ro xảy ra khi lãi suất thị trường tăng

Độ lệch nhạy cảm Tài sản nhạy Nợ nhạy cảm

lãi suất (GAP) = cảm lãi suất - lãi suất

Trang 26

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất

- Rủi ro lãi suất gắn liền với cấu trúc thời hạn khác nhau giữa tài sản và nợ (Nguồn vốn huy động và sử dụng vốn) và sự biến động lãi suất thị trường Khi lãi suất thị trường thay đổi, NH thấy rằng nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư cũng như chi phí đối với tiền gửi và các nguồn đi vay đều bị tác động Ngoài ra sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản và nợ, làm thay đổi tác động đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của

NH Rủi ro lãi suất xảy ra như sau:

+ Rủi ro về giá phát sinh khi lãi suất thị trường tăng làm giảm giá trị của hầu hết trái phiếu và các khoản cho vay lãi suất cố định mà NH nắm giữ Nếu

NH muốn bán những công cụ tài chính này trong giai đoạn lãi suất tăng, nó sẽ phải chấp nhận tổn thất Khi NH cho vay các khoản vay với thời hạn dài hơn thời hạn nguồn vốn mà nó huy động được để tài trợ cho khoản vay, NH sẽ gặp rủi ro Khi này, NH phải huy động lại nguồn vốn để tiếp tục tài trợ khoản vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động ban đầu Vì vậy, NH có thể bị tổn thất thu nhập, thậm chí có thể bị lỗ

+ Rủi ro tái đầu tư xuất hiện khi lãi suất thị trường hạ thấp, khiến NH phải chấp nhận đầu tư các nguồn vốn của mình vào các tài sản có mức sinh lợi thấp hơn, hạ thấp thu nhập kỳ vọng trong tương lai của NH Tương tự như trên, nguồn vốn được huy động trong thời gian dài với lãi suất cao nhưng lại cho vay ra với lãi suất thị trường giảm thấp hơn, đã dẫn đến rủi ro lãi suất cho NH

Do sự khác biệt về hình thức lãi suất huy động vốn và đi vay đã làm cho NHTM bị rủi ro lãi suất, khi cho vay áp dụng lãi suất cố định và huy động tiền gửi theo lãi suất thị trường

Do có sự không phù hợp về khối lượng giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay

Trang 27

Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế, điều này làm cho vốn của NH không được bảo toàn sau khi cho vay

Trên đây là bốn loại rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh NH mà đề tài đi phân tích, bên cạnh bốn loại rủi ro chính nêu trên thì trong hoạt động kinh doanh của mình ngân hàng còn gặp phải một số loại rủi ro khác như: rủi ro uy tín, rủi ro hoạt động ngân hàng điện tử, rủi ro hoạt động Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian nên học viên chỉ xin đi sâu phân tích bốn loại rủi ro chính nêu trên

1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của NH và nền

kinh tế – xã hội

Rủi ro sẽ gây ra những tổn thất về tài sản cho NH như làm mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản; từ đó có thể khiến NH thua lỗ, phá sản, sẽ ảnh hưởng đến những khách hàng gửi tiền cũng như khách hàng vay tiền, làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống NH Từ đó có thể làm nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống NH trong nước, trong khu vực; ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay

1.2 KINH NGHIỆM PHÒNG NGỪA RỦI RO CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI

1.2.1 Kinh nghiệm của NH TMCP SMBC Nhật Bản trong việc phòng ngừa rủi ro thanh khoản

NH TMCP Sumitomo Mitsui (SMBC – Nhật Bản) thành lập năm 1919, không chỉ là một trong những NHTM hàng đầu của Nhật Bản, có uy tín, tiềm lực tài chính và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực NH tài chính tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương mà còn là một trong những NH hàng đầu trên thế giới về quy

Trang 28

mô và mức độ tín nhiệm SMBC đã thực hiện chiến lược tiêu biểu sau nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro thanh khoản:

Thứ nhất, NHTW Nhật Bản đã đưa ra những yêu cầu đối với cơ cấu TSC

như một tỷ lệ tối ưu nhất đảm bảo sự ổn định, khả năng thanh khoản và khả năng chi trả của NHTM Theo quy định đó, SMBC luôn duy trì một lượng vốn cấp 1 và cấp 2 bằng 30% tổng tiền gửi

Thứ hai, SMBC thực hiện theo mô hình CAMELS bằng cách phối hợp quản

trị giữa vốn tự có, chất lượng TSC, quản lý, thu nhập, thanh khoản và độ nhạy cảm

Thứ ba, SMBC còn chủ động thiết lập Hội đồng quản lý TSN và TSC

(ALCO) nhằm nâng cao công tác phòng ngừa rủi ro thanh khoản thông qua chiến lược quản trị TSC và TSN Một số biên pháp mà SMBC đã thực hiện như: Hợp nhất tài khoản: hợp nhất các tài khoản vào một NH sẽ giúp đơn giản hóa việc giám sát và quản lý các khoản phải thu và phải trả, đồng thời giúp kịp thời huy động vốn Tập trung tiền mặt tự động: tự động huy động tiền nhàn rỗi từ các tài khoản phụ vào một tài khoản chính Các giải pháp tối ưu hóa lãi suất: gửi tiền nhàn rỗi vào tài khoản tiền gửi kỳ hạn để tối đa hóa lợi nhuận

Thứ tư, SMBC còn thực hiện chiến lược quản trị phối hợp giữa TSC – TSN

một cách thống nhất và nhịp nhàng Với chiến lược quản trị TSC, SMBC đã luôn chủ động trong công tác phòng chống rủi ro thanh khoản ví dụ như luôn dự trữ một lượng thanh khoản dự phòng hợp lý, ký kết thực hiện các điều khoản với tổ chức bảo hiểm nhằm tài trợ cho rủi ro thanh khoản Bên cạnh đó, SMBC còn thực hiện chiến lược phát triển thị trường bán lẻ nhằm tăng thu nhập và phân tán rủi ro, mở rộng chi nhánh khắp Châu Á, tăng vốn điều lệ để mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, xâm nhập thị trường mới và đa dạng hóa các nguồn vốn huy động từ dân cư trong nước và ngoài nước từ thành thị đến địa phương

Trang 29

1.2.2 Rủi ro thanh khoản tại Northern Rock năm 2007

Rủi ro thanh khoản xảy ra tại NH Northern Rock năm 2007 vừa qua đã gây xôn xao lớn trong dư luận do đây là hiện tượng khách hàng ồ ạt rút tiền tại một

NH Anh trong vòng 100 năm qua

Northern Rock thành lập năm 1997 tại Gorsforth, Newcastle upon Tyne, Anh Trái với dự đoán ban đầu đây chỉ là một NH nhỏ và sẽ sớm bị các NH khác thôn tính, Northern Rock vẫn hoạt động khá hiệu quả cho đến khi xảy ra khủng hoảng nghiêm trọng và bị chính phủ Anh quốc hữu hóa vào tháng 2/2008 Northern Rock là một trong số 5 NH dẫn đầu ở Anh trong kinh doanh dịch vụ cho vay cầm có Các khoản cho vay cầm cố của Northern Rock trị giá 47 tỷ bảng Anh, chiếm 40% tài sản của NH này

Cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố dưới tiêu chuẩn trên thị trường Mỹ mùa hè năm 2007 có ảnh hưởng đến cung thanh khoản của Northern Rock do NH này có 150 triệu USD trong các khoản cho vay trên thị trường Mỹ Ngày 12/9/2007, Northern Rock đã đề nghị NHTW Anh cho vay 3 tỷ bảng Anh vốn ngắn hạn để chi trả các nghĩa vụ tài chính đến hạn của mình Trước tình hình lợi nhuận dự kiến giảm, việc thanh toán trong ngắn hạn bị ảnh hưởng đã khiến báo chí đưa nhiều tin giật gân: “ Northern Rock đang thiếu tiền mặt trầm trọng”, “Northern Rock đang gánh chịu hậu quả do cho vay cầm cố tràn lan”, hay “Northern Rock

bị ảnh hưởng nặng nề sau vụ khủng hoảng cho vay cầm cố dưới chuẩn của Mỹ” Ngày 14/9, ngày làm việc đầu tiên từ khi Northern Rock đề nghị NHTW Anh cho vay vốn, 1 tỷ bảng Anh đã bị rút ra từ các tài khoản tiền gửi tại Northern Rock, chiếm 5% tổng số dư tiền gửi tại Northern Rock, wedsite của Northern Rock cũng bị quá tải vì quá nhiều khách hàng truy cập vào tài khoản của mình Ngày 17/9, giá cổ phiếu của Northern Rock giảm 45,5% từ 483 pence xuống còn 263 pence Northern Rock sau đó đứng bên bờ vực phá sản và bộ tài chính Anh phải lên tiếng kêu gọi các tập đoàn hỗ trợ vực dậy, song không đại

Trang 30

gia nào dám mạo hiểm trong bối cảnh khủng hoảng tín dụng như hiện nay Không còn lựa chọn nào khác, chính phủ Anh đành quốc hữu hóa Northern Rock Đây là vụ quốc hữu hóa đầu tiên tại Anh trong vòng vài chục năm nay

Nguyên nhân đầu tiên và trực tiếp dẫn đến rui ro thanh khoản của Northern Rock chính là rủi ro tín dụng mà NH này phải đối mặt Theo tính toán thì Northern Rock không hề cho vay bừa bãi, tỷ lệ nợ xấu của NH này chỉ là 0,47%, bằng một nửa so với các TCTD khác Nhưng việc Northern Rock có tham gia vào thị trường cho vay cầm cố dưới chuẩn của Mỹ đã khiến Northern Rock gặp khó khăn khi thị trường này bị khủng hoảng Tuy nhiên, về mặt chủ quan, Northern Rock khá bị động và lúng túng trong việc đối phó với rủi ro Đây không phải là

NH duy nhất cho vay cầm cố ở Anh, và cũng không phải là NH duy nhất chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng trên thi trường Mỹ Một kế hoạch kiểm soát rủi

ro tốt hơn và hoạt động quảng bá tốt hơn, tránh sự thổi phồng của báo chí có thể sẽ khiến NH tránh được phá sản và quốc hữu hóa

1.2.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý rủi ro thanh khoản cho các NHTM Việt Nam

Trong thực tế đến nay chưa cĩ một mơ hình nào về quản lý rủi ro riêng cho

một chi nhánh trực thuộc NH mẹ Tuy nhiên, việc quản lý thanh khoản ở NH các nước khác nhau cĩ những nguyên tắc và cơ sở khoa học giống nhau Vì vậy, kinh nghiệm quản lý rủi ro thanh khoản nĩi chung cĩ thể nghiên cứu áp dụng cho việc

tổ chức và quản lý thanh khoản trong các đơn vị trực thuộc của hệ thống NH

Th ứ nhất, các NHTM cần đo lường, phân tích và tính tốn con số hợp lý về

d ự trữ thanh khoản để vừa khơng dư thừa một lượng tiền mặt trong ngân quỹ, lại

vừa cĩ thể đảm bảo được an tồn thanh khoản Điều kiện thanh khoản thường được đảm bảo khơng những bằng các khoản tín dụng ngắn hạn, cĩ chất lượng mà còn

bằng các khoản đầu tư vào giấy tờ cĩ giá dễ chuyển đổi ra tiền trên thị trường

Th ứ hai, các NHTM cần phải tỉnh táo và chủ động trong nhận dạng và phịng ng ừa rủi ro thanh khoản Ban quản trị rủi ro thanh khoản cần cĩ các biện

Trang 31

pháp nhằm phối hợp giữa quản lý thanh khoản TSN và quản lý thanh khoản TSC để

cĩ thể tận dụng được giá trị của tiền mặt trong ngân quỹ vừa cĩ thể đảm bảo huy động vốn trong trường hợp cầu thanh khoản tăng cao Trong đĩ, NHTM cần nhận

thức rõ rủi ro nào cũng cĩ thể ảnh hưởng đến an tồn thanh khoản của NH, đặc biệt

là rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản cĩ mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với tốc độ tăng trưởng tín dụng như mấy năm trở lại đây, các NHTM lại càng

phải lưu tâm đến quản trị rủi ro thanh khoản

Th ứ ba, áp dụng bài học kinh nghiệm quản trị của SMBC, các NHTM cần

th ực hiện chiến lược quản trị rủi ro theo mơ hình CAMELS, từ đĩ cĩ thể phối hợp

các yếu tố nhằm quản trị rủi ro thanh khoản một cách hiệu quả nhất

Th ứ tư, các NHTM luơn phải nâng cao cơng tác dự báo kinh tế vĩ mơ nhằm

chuẩn bị tinh thần cho những biến động thị trường tài chính tiền tệ, những biến động xảy ra một cách bất ngờ cĩ thể ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động kinh doanh

của NH

Th ứ năm, để giảm thiểu ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản nếu cĩ, các

NHTM cần cĩ các biện pháp tài trợ cho rủi ro thanh khoản ví dụ như ký kết các

hợp đồng bảo hiểm tiền gửi, nâng cao cơng tác quản trị rủi ro thanh khoản trong tồn hệ thống nhằm nhận diện, đo lường và phân tích chính xác mức độ rủi ro thanh khoản

Cu ối cùng, NHTM cần cĩ cơng tác quản trị thơng tin minh bạch , tránh

những tin đồn thất thiệt xảy ra gây ảnh hưởng đến uy tín của NH và khủng hoảng lịng tin trong cơng chúng

1.2.4 Kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro tín dụng từ Thái Lan

Mặc dù có bề dày hoạt động hàng trăm năm nhưng vào năm 1997-1998 hệ thống NH Thái Lan vẫn bị chao đảo trước cơn khủng hoảng tài chính – tiền tệ Trước tình hình đó, các NH Thái Lan đã có một loạt thay đổi trong hệ thống tín dụng nhằm ngăn chặn những rủi ro này có thể sẽ lại xảy ra trong tương lai

Trang 32

Thứ nhất, tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các

khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay Có thể thấy điều này ở các NH Bangkok bank và Siam Commercial bank Còn quy trình cho vay của Kasikorn bank lại được tổng kết như sau: tiếp xúc khách hàng/ phân tích tín dụng/ thẩm định tín dụng/ đánh giá rủi ro/ quyết định cho vay/ thủ tục giấy tờ hợp đồng/ đánh giá chất lượng/ xem lại khoản vay

Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng

Rất nhiều NH của Thái Lan trước đây chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp, không quan tâm đến ròng tiền của khách hàng vay Vì thế, hậu quả tín dụng là nợ xấu có lúc lên tới 40% (1997-1998) Sở dĩ có điều này là do một số NH đã không tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tín dụng trong quá trình cho vay Nhưng giờ đây, nhiều NH không chỉ triệt để chấp hành nguyên tắc tín dụng mà còn quan tâm rất nhiều đến thông tin của khách hàng như: tư cách/ hiệu quả kinh doanh/ mục đích vay/ dòng tiền và khả năng trả nợ/ khả năng kiểm soát vay/ năng lực quản trị và điều hành/ thực trạng tài chính…

Thứ ba, tiến hành cho điểm khách hàng để quyết định cho vay Điển hình cho

hình thức này là Siam City bank hay Kasikorn bank

Thứ tư, tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng Theo đó, họ quy định việc

quyết định tín dụng theo mức tăng dần: mức phán quyết của một người, một nhóm người hay hội đồng quản trị Ví dụ: trên 10 triệu baht: một người chịu trách nhiệm; 100 triệu baht: phải qua 2 người chịu trách nhiệm; 3 tỷ baht phải do HĐQT quyết định

Thứ năm, giám sát khoản vay Sau khi cho vay, NH rất coi trọng việc kiểm

tra, giám sát các khoản vay bằng cách tiếp tục thu nhập thông tin về khách hàng, thường xuyên giám sát và đánh giá xếp loại khách hàng đề có biện pháp xử lý kịp thời các tình huống rủi ro

Trang 33

Trên đây là bài học kinh nghiệm điển hình rút ra từ thực tế của một số NH trên thế giới trong công tác quản lý rủi ro thanh khoản, và rủi ro tín dụng Trong giai đoạn hiện nay các NHTM Việt Nam nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả an toàn trong hoạt động thì không thể xem nhẹ vấn đề phòng ngừa rủi ro Trong chương 2 khóa luận sẽ đề cập đến vấn đề rủi ro trong hoạt động kinh doanh của một NHTM tại Việt Nam và qua đó đưa ra một số giải pháp phòng ngừa những rủi ro này

Trang 34

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn trình bày khái quát những vấn đề chung về rủi ro và các loại rủi ro thường xảy ra trong hoạt động kinh doanh tại các NHTM Việt Nam Luận văn đã trình bày những nguyên nhân dẫn đễn rủi ro cũng như ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động của NH và nền kinh tế Luận văn đã giới thiệu một số phương pháp, chỉ số để đánh giá các rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Bên cạnh đó luận văn cũng trình bày một số rủi ro đã xảy ra tại một số ngân hàng trên thế giới như: ngân hàng Northern Rock với rủi ro thanh khoản, luận văn cũng giới thiệu kinh nghiệm phòng ngừa hai loại rủi ro điển hình là rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của các NH tại Nhật Bản và Thái nhằm tạo ra cơ sở lý luận cho những phân tích dựa trên thực tế hoạt động kinh doanh tại SCB trong những chương sau

Trang 35

CHƯƠNG 2 :

THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI

NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 2.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA SCB TRONG 5 NĂM GẦN ĐÂY

2.1.1 Sơ lược về NH TMCP Sài Gòn

Tiền thân là NH TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992, đến ngày 08/04/2003 chính thức đổi tên thành NH TMCP Sài Gòn (SCB)

Mạng lưới kinh doanh của SCB trải rộng toàn quốc với 1 Sở Giao dịch, 1 quỹ tiết kiệm và hơn 100 chi nhánh phòng giao dịch tại các khu vực: Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam, 118 máy rút tiền tự động (ATM) Có 01 Công ty hạch toán độc lập là công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản SCB

Các nghiệp vụ được thực hiện tại SCB:

- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn VNĐ và ngoại tệ từ nhiều thành phần kinh tế

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng tiền VNĐ và ngoại tệ đối với mọi thành phần kinh tế

- Thực hiện kinh doanh ngoại hối và các dịch vụ có liên quan đến ngoại hối

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong nước và quốc tế;

- Kinh doanh chứng khoán: cho vay thế chấp chứng khoán niêm yết và chưa niêm yết

- Thực hiện các dịch vụ NH khác: phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Visa card & Mastercard, dịch vụ thanh toán quốc tế, chuyển tiền ra nước ngoài với 25 loại ngoại tệ, repo chứng khoán, tư vấn nhà đất, kiều hối, thẻ ATM, thu hộ, chi lương hộ

Trang 36

Với định hướng phát triển đi kèm với bền vững, xây dựng SCB thành NHTM đa năng, tiện ích dịch vụ đạt tiêu chuẩn hiện đại, đa năng và chất lương dịch vụ được khách hàng đánh giá tốt, mở rộng các loại hình hoạt động kinh doanh, với mục tiêu đến năm 2012, NH TMCP Sài Gòn trở thành tập đoàn tài chính vững mạnh trên thị trường trong nước, từng bước vươn ra khu vực và thế giới

 SCB tham gia liên minh thẻ và ký kết hợp tác với VCB

 SCB tham gia ký kêt hợp tác với Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV)

 SCB tham gia ký kết hợp tác với Ngân Hàng Nơng Nghiệp và Phát Triển Nơng Thơn Việt Nam (Agribank)

 SCB tham gia hệ thống liên minh thẻ Smartlink

 SCB ký kết hợp tác với tập đồn Bảo Việt về hợp đồng hợp tác phát triển và phân phối các sản phẩm liên kết ngân hàng – bảo hiểm

 Ký kết hợp tác tồn diện với Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (EXIMBANK)

 Hợp tác với cơng ty kiểm tốn quốc tế Ernst & Young Việt Nam trong

việc hỗ trợ hồn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ

 Hợp tác với cơng ty tư vấn MSC về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000

Công nghệ: Hiện nay toàn bộ hệ thống SCB đang sử dụng phần mềm

Sbank một phần mềm được sử dụng khá phổ biến tại một số NH quy mô vừa như Đại Tín, Việt Nam Tín Nghĩa Ngân Hàng… đây là một chương trình quản lý bán

Trang 37

hàng do FPT viết bằng ngôn ngữ tiếng Việt khá thuận tiện trong quá trình thao tác sử dụng của cán bộ nhân viên Phần mềm Sbank được đưa vào sử dụng từ năm 2003 tới nay và đã trải qua nhiều lần nâng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng của SCB Tuy nhiên, bên cạnh một số thuận tiện do Sbank mang lại như dễ sử dụng thì hiện nay phần mềm này ngày càng thể hiện sự lạc hậu, hạn hẹp, không đáp ứng nhiều cho công tác quản lý cũng như phòng ngừa rủi ro, sau đây là một số hạn chế cụ thể của Sbank:

- Chỉ tạo được một số báo cáo phục vụ cho việc quản lý hàng ngày như bảng cân đối tài khoản nguyên tệ và quy đổi, không tạo được các báo cáo phục vụ công tác báo cáo của SCB với NHNN như T21 ( trước đây là 477), cân đối kế toán hay kết quả kinh doanh của mỗi đơn vị cũng như toàn hàng

- Không có chương trình quản lý trạng thái ngoại hối, hiện nay trạng thái ngoại hối được nhân viên tự quản lý theo phương pháp thủ công

- Không tự động nhập ngoại bảng đối với các món vay chuyển nợ quá hạn, không tự động trích lập dự phòng cũng như không trích khấu hao Hiện nay tất cả các công việc này đều được nhân viên thực hiện thủ công khi phát sinh hay định kỳ hàng tháng

Nhân sự: Đến cuối 2011 SCB có gần 2000 cán bộ nhân viên, phần lớn

được đào tạo từ các trường đại học trong nước như Kinh Tế, Ngân Hàng, với tỷ lệ 5% trên đại học, 70% trình độ đại học và 25% dưới đại học Với độ tuổi trung bình từ 26-30 nên tại SCB luôn tràn đầy sự năng động, hào hứng và sáng tạo của sức trẻ đối với công việc Tuy nhiên, có đội ngũ nhân sự trẻ nhưng SCB lại phải đối mặt với một số khó khăn khác đó là sự thiếu kinh nghiệm trong quản lý, thiếu kỹ năng làm việc cũng như việc dễ ràng rời bỏ SCB của các cán bộ nhân viên này

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của SCB giai đoạn 2007-2011

Trang 38

chủ sở hữu (ROE) 23,19% 22,75% 10,5% 10,54% 10,1%

Nguồn : Báo cáo thường niên của SCB qua các năm 2007-2011

Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản SCB qua các năm

Trang 39

L ợi nhuận sau thuế

Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận sau thuế của SCB năm 2007-2011

Huy động vốn: mặc dù thị trường vốn có nhiều biến động và cạnh tranh

ngày càng gay gắt của các NHTM trên địa bàn, đặc biệt là khoảng thời gian 2008

và 2009, nguồn vốn huy động tại SCB vẫn luôn giữ vững và liên tục tăng trưởng qua các năm 2007-2011 Nguồn vốn huy động từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế Năm 2007 là 22.756 tỷ đồng, năm 2011 là 58.963 tỷ đồng tăng gấp 3,59 lần so với năm 2007 Để đạt được kết quả trên là do SCB đã thực hiện việc điều hành lãi suất huy động linh hoạt theo diễn biến thị trường, đảm bảo tính cạnh tranh, áp dụng nhiều hình thức khuyến mãi đa dạng, phục vụ tận tình, công tác chăm sóc khách hàng được củng cố và có chất lượng nên giữ được mức tăng trưởng nguồn vốn huy động

Hoạt động tín dụng: tổng dư nợ cho vay nền kinh tế qua các năm 2007,

2008, 2009 tăng trưởng khá cao, riêng năm 2010 là âm 1,4% Nguyên nhân do từ

2010 trở về trước SCB thực hiện việc mở rộng tín dụng, nới lỏng điều kiện cho vay, dư nợ cho vay tập trung chủ yếu vào các ngành như xây dựng, bất động sản,

dịch vụ Đến năm 2008 cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra đã ảnh hưởng trực tiếp và

nặng nề đến các ngành kinh doanh mà SCB đang tập trung cho vay điều này làm

xảy ra tình trạng SCB khơng thể thu hồi được vốn và lãi vay đối với các doanh

Trang 40

nghiệp này Cụ thể năm 2010 tỷ lệ nợ quá hạn tăng cao ( trên 14% trên tổng dư nợ)

Trước tình hình đĩ thì năm 2010 ban điều hành SCB bắt đầu thực hiện chính sách kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng, nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu, cơ cấu lại danh mục cho vay, từng bước chọn lọc các khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, có tài sản đảm bảo, có phương án kinh doanh thật sự hiệu quả để đầu tư SCB kiên quyết giảm dần dư nợ đối với các doanh nghiệp không có tài sản đảm bảo, năng lực quản trị kém và quan hệ tín dụng tại nhiều Ngân hàng

Hoạt động dịch vụ thẻ: Với chủ trương đẩy mạnh nguồn thu từ các dịch

vụ sản phẩm mới SCB đã quan tâm đến việc tuyên truyền, quảng cáo, phát triển các sản phẩm, dịch vụ như phối hợp cùng các phòng ban, tiếp cận các đơn

vị có quan hệ tiền gửi, tiền vay để phát hành thẻ ATM và trả lương cho Cán bộ công nhiên viên của đơn vị qua tài khoản, tuyên truyền đến khách hàng những tiện ích, ứng dụng mới của thẻ ATM SCB Mặc dù đến thời điểm hiện nay SCB chỉ có 132 máy ATM nhưng thẻ SCB cĩ lợi thế là đã kết nối với các liên minh lớn

là Smartlink, Banknetvn và VNBC, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thẻ SCB qua đĩ, SCB cĩ thể tối đa hố hiệu quả sử dụng máy ATM khi chấp nhận thẻ

của nhiều ngân hàng, gĩp phần gia tăng nguồn thu phí giao dịch ngân hàng liên minh Cùng với ATM là dịch vụ POS, được triển khai từ đầu năm 2009, hiện tại SCB cĩ 211 đơn vị chấp nhận thẻ với 230 máy POS (ngồi ra cịn cĩ thêm 79 máy POS đặt tại các điểm giao dịch) Doanh số thanh tốn thẻ năm 2011 đạt 210 tỷ đồng, tăng 145% so với 2010 Bên cạnh đĩ doanh số chuyển khoản qua ibanking

2011 đạt 276 tỷ đồng, doanh số mở và tất tốn tài khoản tiền gửi cĩ kỳ hạn lần lượt

là 190 và 152 tỷ đồng

Ngày đăng: 17/09/2020, 07:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w