1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát sang thị trường trung quốc của các doanh nghiệp việt nam

110 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng 272.1.2 Sản lượng và giá trị sắn lát xuất khẩu của Việt Nam 312.3 Phân tích thực trạng xuất khẩu sắn lát Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2012

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

SẮN LÁT SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh Doanh Thương Mại

Mã số : 60340121

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ kinh tế này là do chính tôi nghiên cứu và thực

hi ện Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô trường Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh, khoa Thương Mại - Du Lịch - Marketing đã trang bị cho tôi những kiến thức hữu ích trong công việc và cuộc sống

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Tấn Bửu – Giảng viên trường Đại học Kinh Tế

Thành phố Hồ Chí Minh - đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện

Trang 5

M ỤC LỤC TrangDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.1.2 Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 6 1.1.3 Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 7

1.2 Vai trò và sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc

1.2.1 Giới thiệu khát quát về cây sắn và sản phẩm sắn lát 10 1.2.2 Vai trò của sắn lát trong phát triển nền kinh tế Việt Nam 12

1.3 Tiềm năng và đối thủ cạnh tranh về sắn lát

1.3.1 Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sắn lát của Trung Quốc 15 1.3.2 Những quốc gia xuất khẩu sắn lát chính vào thị trường Trung Quốc 16 1.3.3 Những quy định cần thiết mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt khi

1.4 Kinh nghiệm của Thái Lan trong việc xuất khẩu sắn lát vào thị trường

2.1 Thực trạng phát triển và xuất khẩu sắn của Việt Nam 27

Trang 6

2.1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng 272.1.2 Sản lượng và giá trị sắn lát xuất khẩu của Việt Nam 31

2.3 Phân tích thực trạng xuất khẩu sắn lát Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong thời gian qua

2.3.1 Thực trạng xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sang Trung Quốc trong thời gian

2.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc sản xuất và xuất khẩu sắn lát Việt

2.4 Kết quả khảo sát thực tế về xuất khẩu sắn lát của các doanh nghiệp tại

2.5 Phân tích ma trận SWOT của ngành sắn lát của Việt Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

2020

Trang 7

3.1.1 Định hướng nghiên cứu, phát triển và sản xuất sắn Việt Nam đến 2020 64

3.2 M ục tiêu và cơ sở để xây dựng các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc giai đoạn 2012-2020

3.3 M ột số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng

th ị trường xuất khẩu sắn lát của Việt Nam thời kỳ 2012-2020

3.3.3 Nhóm giải pháp mở rộng thị trường, đa dạng hóa hình thức xuất khẩu 74

3.3.5 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu 77

3.4 Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm hỗ trợ xuất khẩu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.3 Sản lượng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2001- 2011 15 Biểu đồ 1.4 Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc từ các nước năm 2005 - 2011 16 Biểu đồ 1.5 Diện tích và sản lượng sắn Thái Lan 2000 - 2011 19 Biểu đồ 1.6 Sản lượng sắn xuất khẩu thế giới và Thái Lan năm 2006 - 2011 21 Biểu đồ 1.7 Sản lượng và tỷ lệ xuất khẩu sắn lát của Thái Lan 2005 - 2011 22 Biểu đồ 1.8 Sản lượng xuất khẩu sắn lát sang các nước của Thái Lan 2005 - 2011 23 Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ trồng sắn ở các vùng năm 2011 của Việt Nam 27 Biểu đồ 2.2 Diện tích và sản lượng sắn của cả nước từ 2000- 2011 28 Biểu đồ 2.3 Năng suất sắn của Thái Lan và Việt Nam so với năng suất trung bình

của thế giới năm 2001-2011

29

Biểu đồ 2.4 Năng suất sắn trung bình của các vùng năm 1996-2011 30 Biểu đồ 2.5 Sản lượng và giá trị xuất khẩu sắn lát của Việt Nam 2005 - 2011 31 Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam năm 2011 32 Biểu đồ 2.7 Các thị trường xuất khẩu sắn chính của Việt Nam 2011 33 Biểu đồ 2.8 Giá sắn lát xuất khẩu thế giới 2005 - 2011 35 Biểu đồ 2.9 Giá xuất khẩu sắn lát của Thái Lan qua các tháng năm 2008 - 2012 36 Biểu đồ 2.10 Kim ngạch XNK giữa Việt Nam và Trung Quốc 2000 - 2011 40 Biểu đồ 2.11 Sản lượng và giá trị sắn lát xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc

năm 2002 - 2011

42

Biểu đồ 2.12 Tỷ lệ xuất khẩu sắn lát sang thị trường Trung Quốc 2002 - 2011 43 Biểu đồ 2.13 Tỷ lệ nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc từ các nước 2002 - 2011 43 Biểu đồ 2.14 Sản lượng sắn xuất sang Trung Quốc theo tháng năm 2009 - 2012 44

Trang 10

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

FAO : Food and Agriculture Organization

FOB : Free on Board

GDP : Gross domestic product

WTO : World Trade Organization

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa của đề tài:

Ở Việt Nam, sắn được xem là một trong bốn cây trồng chính, có diện tích đứng thứ 3 sau lúa và ngô, được trồng nhiều ở các vùng trung du miền núi, là nguồn thu nhập chính của người nghèo, các hộ nông dân ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa

Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu sắn lát của Việt Nam ngày càng có xu hướng tăng và trở thành nước xuất khẩu sắn lát đứng hàng thứ hai trên

thế giới, chỉ sau Thái Lan Việc xuất khẩu sắn lát đã đem lại nguồn thu nhập đáng

kể giúp ổn định và cải thiện đời sống của người dân vùng nông thôn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế đất nước

Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu sắn hàng đầu thế giới và cũng là đối tác

nhập khẩu sắn lát chính của Việt Nam Năm 2010 tỷ lệ xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sang Trung Quốc chiếm gần 91,5% trên tổng sản lượng sắn lát xuất khẩu và

năm 2011 là 89,6% Mặt khác, là nước sản xuất sản lượng ethanol đứng thứ ba trên thế giới, Trung Quốc luôn là thị trường tiềm năng cho ngành sắn lát Việt Nam

Tuy có nhiều tiềm năng để phát triển, song trên thực tế, tình hình sản xuất và

xuất khẩu sắn lát còn nhiều khó khăn, bất cập, hiệu quả khai thác chưa tương xứng Cây sắn ở Việt Nam hiện được trồng thiếu quy hoạch, nông dân ở nhiều nơi tự ý phá

bỏ nhiều loại cây trồng khác, thậm chí còn phá rừng trái phép để trồng sắn, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, không đồng bộ, chưa được đầu tư thâm canh một cách thích đáng, năng suất sắn còn thấp Tình trạng phát triển tự phát trên không chỉ phá vỡ quy hoạch các loại cây trồng khác, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái mà còn tăng nguy cơ cung vượt quá cầu, dẫn đến những rủi ro về giá cả và thị trường tiêu thụ cho người xuất khẩu Ngoài ra, thị trường Trung Quốc có nhiều biến động, giá cả lên xuống thất thường, cạnh tranh gay gắt, đặc biệt trong tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay đã ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu nói chung và sang Trung Quốc nói riêng Xuất phát từ tình hình trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài

“GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẮN LÁT SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM” để làm luận văn tốt

nghiệp cao học

Trang 12

2 Mục đích của đề tài

- Nghiên cứu các học thuyết kinh tế làm cơ sở để khẳng định sự cần thiết

phải đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát sang thị trường Trung Quốc

- Nghiên cứu kinh nghiệm xuất khẩu sắn của một số quốc gia như: Thái Lan, Indonesia Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm giúp các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát sang Trung Quốc

- Phân tích, đánh giá một cách tổng quát thực trạng sản xuất và tình hình xuất khẩu sản phẩm sắn lát của Việt Nam thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu sắn lát của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu sắn lát của Việt Nam san thị trường Trung Quốc

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng sản xuất, xuất khẩu sắn lát của Việt Nam, không nghiêu cứu chi tiết tình hình sản xuất, xuất khẩu tại một doanh nghiệp cụ thể nào Về thị trường, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về thị trường Trung Quốc đối với sản phẩm sắn lát và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này

+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng sản xuất, xuất khẩu của sắn lát Việt Nam, tình hình xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2006 -2011 và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cho đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê và phân tích với các số liệu được thu thập từ Cục Hải Quan, Tổng Cục Thống Kê, Bộ Công Thương, Bộ Nông Nghiệp và Phát

Trang 13

Triển Nông Thôn, Cục trồng trọt, FAOSAT, … và các trang web có liên quan đến ngành sắn trên internet

Phương pháp khảo sát điều tra thực tế tình hình sản xuất kinh doanh từ

47 doanh nghiệp xuất khẩu sắn lát của Việt Nam

5 Tính mới của đề tài

Để hoàn chỉnh đề tài này tác giả đã nghiên cứu một số đề tài, báo cáo của các tác giả dưới đây:

- TS Nguyễn Thanh Phương - 2012 - Viện KHKT Nông Nghiệp Duyên Hải Nam

Trung Bộ (ASISOV) - Nghiên cứu kỹ thuật canh tác tổng hợp đối với cây sắn theo hướng hiệu quả và bền vững trên đất cát biển và đất đồi gò ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

- TS Hồ Cao Việt - 2011- Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị sắn vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

- Phạm Thị Nhạn, Đinh Văn Cương, Nguyễn Hửu Hỷ - 2011- Một số kết quả nghiên cứu sắn giai đoạn 2007 – 2012

- TS Hoàng Minh Tâm; Ths Hồ Huy Cường; TS Nguyễn Thanh Phương; Ths

Đỗ Thị Ngọc và ctv -Viện KHKT Nông Nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ -2011-

Một số kết quả nghiên cứu chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về cây sắn thời gian qua – Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững cây sắn cho vùng duyên hải Nam trung bộ và Tây nguyên trong thời gian tới

- Nguyễn Văn Quang -2010 - Hiệu quả của thị trường sắn Việt Nam

Rất nhiều bài báo, tham luận được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng như internet, tạp chí chuyên ngành, tờ báo địa phương, tờ báo trung ương…

Các đề tài trên đã nghiên cứu và đưa ra nhiều kết quả cho việc phát triển ngành sắn Việt Nam, tuy nhiên không đề cập đến việc đẩy mạnh xuất khẩu sắn của Việt Nam mặc dù kim ngạch xuất khẩu cho mặt hàng này đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung và ngành nông nghiệp nói

Trang 14

riêng Vì thế, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa

học, kết hợp với tình hình thực tế, tác giả của luận văn xin được tiếp tục nghiên

cứu và đưa ra một số đề xuất để làm phong phú hơn nữa về mặt khoa học và thực

tiễn nhằm đẩy mạnh việc xuất khẩu sắn lát của Việt Nam Có thể tóm tắt một số đóng góp mới của luận văn như sau:

- Đề tài nghiên cứu cụ thể về hoạt động xuất khẩu của sắn lát Việt Nam trong giai đoạn 2006-2011

- Đề tài cũng nghiên cứu thực tế tình hình xuất khẩu sắn lát Việt Nam sang thị trường Trung Quốc của các doanh nghiệp Việt Nam

- Với tình hình sản lượng sắn lát ngày càng tăng ở Việt Nam, đề tài sẽ đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Trung Quốc đến năm 2020

6 Bố cục của đề tài: Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,

phụ lục, phần nội dụng của l văn bao gồm làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn về việc cần thiết đẩy mạnh xuất

khẩu sắn lát sang thị trường Trung Quốc

Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu sắn lát của các doanh nghiệp Việt

Nam sang thị trường Trung Quốc trong thời gian qua

Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát vào thị trường Trung

Quốc cho các doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020

Trang 15

Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVII, là

hệ tư tưởng đầu tiên của giai cấp tư sản, xuất hiện ở Anh và Pháp sau đó lan

rộng ra cả châu Âu trong bối cảnh trình độ sản xuất đã được nâng cao nhất định, công nghiệp phát triển, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa…tạo điều kiện cho hoạt động thương mại phát triển Lúc bấy giờ giới thương nhân được đề cao và

chính họ đã đề xướng ra lý thuyết căn bản của trường phái kinh tế này

Nội dung cơ bản của thuyết trọng thương là coi trọng xuất khẩu, cho rằng

xuất khẩu là con đường mang lại phồn vinh cho đất nước, đánh giá cao vai trò

của tiền tệ, xem tiền là tiêu chuẩn, là thước đo căn bản của sự giàu có Do đó, mục đích chính trong chính sách kinh tế của mỗi nước là phải làm gia tăng khối lượng tiền tệ Một quốc gia càng có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu có, còn hàng hóa chỉ

là phương tiện để tăng thêm khối lượng tiền tệ Chỉ có ngoại thương mới là một phương tiện căn bản bền vững để tăng thêm của cải, tiền tệ Khối lượng tiền tệ

chỉ có thể tăng lên bằng con đường ngoại thương và ngoại thương phải thực hiện

xuất siêu Vì vậy, chính sách chung của mọi khuynh hướng trọng thương là phải xuất siêu, nhưng tùy vào từng giai đoạn và điều kiện mục tiêu, chính sách xuất siêu

phải luôn xuất siêu để đảm bảo lợi ích quốc gia Mặt khác, họ chủ trương thực

hiện mọi biện pháp có thể được để đạt thặng dư trong cán cân thương mại quốc

Trang 16

tế, như: kêu gọi chính phủ bảo vệ mậu dịch, bảo hộ sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan và cấm ngặt việc xuất khẩu nguyên liệu; đảm bảo độc quyền kinh doanh để dành ưu thế cạnh tranh với nước ngoài Nhưng chủ nghĩa trọng

thương cũng đã nêu lên được quan điểm rất tiến bộ thời bấy giờ là biết coi trọng

thương mại quốc tế và cho rằng chính phủ có vai trò can thiệp nhất định vào

hoạt động kinh tế, nhất là hoạt động ngoại thương, mở đường cho các học thuyết về thương mại quốc tế sau này

V ận dụng một số tư tưởng tiến bộ của học thuyết trọng thương tác giả nhận thấy rằng: Muốn phát triển kinh tế đất nước nói chung, phát triển ngành sắn nói riêng, thì phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài Đồng thời, trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh sự nỗ lực vươn lên không ngừng của các doanh nghiệp, của người trồng sắn thì Chính quyền (Nhà nước và chính quy ền địa phương) đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quy hoạch và phát tri ển ngành sắn Việt Nam

1.1.2 Học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Adam Smith (1723 -1790) là nhà lý luận kinh tế chính trị học nổi tiếng

người Anh, ông được coi là cha đẻ của các lý thuyết kinh tế thị trường Adam Smith

là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc thương mại

quốc tế khi đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích

của thương mại quốc tế

Học thuyết lợi thế tuyệt đối còn được gọi là học thuyết về phân công lao động, nó nghiên cứu cơ sở của phân công lao động và trao đổi hàng hoá trong

một nước và giữa các nước Phân công lao động là một tất yếu tự nhiên hay một thiên hướng tự nhiên Động lực của phân công lao động là lợi ích kinh tế của mỗi

cá nhân và sự phân công lao động đầu tiên cũng là sự phân công lao động giữa các

cá nhân

Quan điểm của A.Smith đề cao vai trò cá nhân, ông cho rằng mọi người khi làm gì cũng nghĩ đến tư lợi của mình, nhưng điều đó cũng có lợi cho tập

Trang 17

thể và quốc gia Do vậy, trong một quốc gia chính quyền không cần can thiệp vào

hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp, cứ để họ phát triển sẽ có lợi cho nền kinh

tế A.Smith cho rằng hai quốc gia giao thương nên hợp tác trên cơ sở tự nguyện, hai bên cùng có lợi và dựa trên các sản phẩm có lợi thế tuyệt đối của mỗi quốc gia Lợi thế tuyệt đối là sự khác biệt tuyệt đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng loại sản phẩm Mỗi quốc gia chỉ

xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu những sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối

Theo lý thuyết này, sự chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà

mình có lợi thế tuyệt đối sẽ giúp các quốc gia khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên kinh tế của đất nước Thông qua mậu dịch quốc tế, tổng khối lượng sản

phẩm tiêu dùng sẽ tăng cao hơn và chi phí rẻ hơn so với trường hợp phải tự sản

xuất hoàn toàn trong nước

Ưu điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối chỉ rõ, mỗi quốc gia phải chuyên môn hóa sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối Đồng thời thông qua trao đổi sản phẩm có lợi thế của nước khác để nâng cao hiệu quả nền kinh tế Điều cốt lõi của khái niệm này cho rằng: các quốc gia giao thương đều có lợi trong các hoạt động thương mại quốc tế

V ận dụng học thuyết của A Smith, tác giả nhận thấy sắn Việt Nam có

n hiều lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu như điều kiện tự nhiên phù hợp, chi phí lao động thấp, năng suất cao,… Đó là những yếu tố quyết định để ngành sắn Việt Nam có thể phát triển bền vững, bảo đảm nhu cầu tiêu thụ nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu

1.1.3 Học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt

về số lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau, thì lợi thế

so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối

David Ricardo (1772-1823) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh Ông

Trang 18

được coi là nhà cổ điển cuối cùng, là tiền bối trực tiếp của Mác Lý thuyết lợi thế

so sánh (còn gọi là học thuyết lợi thế tương đối) của ông là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ cao hơn học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Học thuyết này là một đóng góp hết sức quan trọng, nó đặt cơ sở lý luận cho việc mở

rộng phân công lao động và buôn bán giữa các nước

Nội dung của học thuyết lợi thế so sánh được phát biểu như sau: một

quốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu trở lại những sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh Khác với lợi thế tuyệt đối của A.Smith, lợi thế so sánh được hiểu là sự khác

biệt tương đối về năng suất lao động (cao hơn) hay chi phí lao động (thấp hơn) để làm ra cùng loại sản phẩm David Ricardo đã đưa ra những luận chứng thuyết

phục Trước hết, xuất phát từ sự phân công lao động giữa những người sản xuất

hàng hóa Sau đó, ông mở rộng ra trong quan hệ giữa các nước để chứng minh rằng nếu như một nước hoàn toàn có lợi thế tuyệt đối và nước kia hoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm, trong trường hợp đó vẫn có thể quan hệ trao đổi với nhau và quá trình trao đổi ngoại thương đó vẫn có lợi cho mọi nước

Như vậy, nếu mỗi nước chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nước đó có

lợi thế so sánh thì thương mại sẽ có lợi cho cả hai bên Với một năng lực sản xuất không đổi, tiền lương và thu nhập thực tế sẽ tăng ở cả hai Dù cho một trong hai nước hay khu vực có hiệu quả tuyệt đối cao hơn Lý thuyết về lợi thế so sánh chỉ ra

rằng: một quốc gia dù không có lợi thế tuyệt đối, nhưng có lợi thế so sánh (tương đối) về một loại sản phẩm nhất định và biết cách khai thác tốt các lợi thế này thông qua việc chuyên môn hóa sản xuất và thương mại quốc tế thì vẫn có thể nâng cao được hiệu quả của nền kinh tế của mình Điều này đã khắc phục được nhược điểm cơ bản về lợi thế tuyệt đối của A.Smith và được coi là một trong những quy

luật quan trọng nhất của kinh tế học phát triển

V ận dụng học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo tác giả nhận

th ấy để đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát bên cạnh việc khai thác hiệu quả lợi thế

về điều kiện tự nhiên, phát huy tính cần cù sáng tạo của người nông dân Việt

Trang 19

Nam c òn phải tăng cường nghiên cứu, áp dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình lai chọn giống và không ngừng cải thiện tất cả các khâu từ sản xuất đến thu mua, chế biến, bảo quản… để nâng cao chất lượng sắn xuất khẩu, đảm

b ảo an toàn vệ sinh thực phẩm để có thể giữ vững và mở rộng thị trường hiện

có Đồng thời, thâm nhập các thị trường mới và tiềm năng như thị trường Hàn Quốc, Nhật bản, Nga…

1.1.4 Học thuyết yếu tố thâm dụng

Lý thuyết yếu tố thâm dụng còn gọi là lý thuyết Heckscher - Ohlin Lý thuyết này cho rằng các quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm sử dụng phần lớn những yếu tố sản xuất mà họ có nhiều và họ sẽ nhập khẩu những sản phẩm đòi hỏi nhiều yếu tố sản xuất khan hiếm ở quốc gia họ, chính mức độ sẵn

có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và hàm lượng các yếu tố sản

xuất sử dụng để làm ra các mặt hàng khác nhau mới là những nhân tố quan

trọng quy định thương mại Học thuyết này giải thích lý do các quốc gia có nguồn lao động lớn như Trung Quốc sẽ tập trung vào việc sản xuất những hàng hoá cần cường độ lao động và những quốc gia như Hà Lan có nhiều vốn hơn lao động sẽ chuyên vào những hàng hoá cần đầu tư nhiều vốn

Tuy nhiên có vài hạn chế của học thuyết này Một là một vài quốc gia có

luật lương tối thiểu sẽ dẫn đến giá cao cho nguồn lao động phong phú Kết quả là

quốc gia có thể tìm những nơi ít chi phí hơn để nhập khẩu hàng hóa hơn là sản xuất chúng trong nước Một hạn chế khác của học thuyết này là những quốc gia như

Mỹ đã xuất khẩu những hàng hóa có cường độ lao động cao và nhập khẩu những

hàng hoá cần đầu tư nhiều vốn, là một kết quả gây nhiều ngạc nhiên Kết quả này được Wassily Leontief, một nhà kinh tế học được giải Nobel khám phá và được gọi

là nghịch lý Leontief, đã giải thích vấn đề là cần chất lượng lao động đầu vào hơn

là số giờ lao động của con người Mỹ sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm có

tính kỹ thuật cao đòi hỏi lao động có trình độ giáo dục cao

Trang 20

V ận dụng lý thuyết tác giả nhận thấy: Phát triển ngành sắn là hướng đi đúng trong đường lối phát triển kinh tế của nước ta hiện nay Với việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu sắn, chúng ta sẽ tận dụng các vùng đất nghèo dinh dưỡng, đất đồi cũng như nguồn lao động thủ công dồi dào Hơn nữa, việc sản xuất và xuất

k hẩu sắn lát không đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ,

hộ gia đình

1.2 VAI TRÒ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU SẮN LÁT CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

1.2.1 Giới thiệu khát quát về cây sắn và sản phẩm sắn lát

Cây sắn (Manihot esculenta Crantz) có rất nhiều tên gọi khác nhau: khoai

mì, cassava, tapioca, yuca, mandioca, manioc, maniok, singkong, ubi kayu, aipim, macaxeir, kappa, maracheeni, là cây lương thực ăn củ hàng năm, có thể sống lâu năm, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae Cây sắn cao 2 - 3 m, đường kính tán 50 -

100 cm Lá khía thành nhiều thùy, có thể dùng để làm thức ăn chăn nuôi gia súc Rễ

ngang phát triển thành củ và tích luỹ tinh bột Củ sắn dài 20 - 50 cm, hàm lượng tinh bột cao Sắn có thời gian sinh trưởng thay đổi từ 6 đến 12 tháng, có nơi tới 18 tháng, tùy thuộc giống, vụ trồng, địa bàn trồng và mục đích sử dụng

Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz, 1976)

và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993) Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng đông bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại (De Candolle 1886; Rogers, 1965) Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico ở Trung Mỹ và vùng ven biển phía bắc của Nam Mỹ Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở cùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóa thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi

từ năm 900 đến năm 200 trước Công nguyên (Rogers 1963, 1965)

Trang 21

Hiện tại, sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, tập trung nhiều ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, là nguồn thực phẩm của hơn 500 triệu người (CIAT, 1993) Sắn được trồng bởi những hộ nông dân sản xuất nhỏ để làm lương thực - thực phẩm, thức ăn gia súc và để bán Sắn chủ yếu được trồng trên đất nghèo và dùng kỹ thuật canh tác truyền thống

Biểu đồ 1.1: Sản lượng sắn thế giới 2006- 2011

Nguồn: Fao.org/Food outlook 2012

Sắn là cây trồng có nhiều ưu điểm: là cây sử dụng tốt đất đã kiệt, nghèo dinh dưỡng, cây chống đói, sử dụng lao động tối thiểu, sản lượng ổn định và đặc biệt hơn là sản phẩm của nó rất đa dụng Thân cây sắn, lá sắn, sắn lát, tinh bột sắn đều có những công dụng nhất định, được nghiên cứu và sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi Từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc Thân sắn dùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm Lá sắn dùng trực tiếp để nuôi tằm, nuôi cá Bột lá sắn

Trang 22

hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,… Hiện nay, sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổi thương mại quốc tế (P.Silvestre, M.Arraudeau, 1991) Tuy nhiên cây sắn cũng có nhược điểm là loại cây trồng làm kiệt đất, chứa độc tố HCN (axít xianhyđric) và sau khi thu hoạch, sản phẩm từ cây sắn rất dễ bị hư hỏng và cần được xử lý trong vòng 48 giờ.

Sắn lát là loại sản phẩm thô, có được bằng cách làm sạch (bỏ vỏ), cắt lát và phơi, sấy khô, là một trong những thành phần chính trong sản xuất thức ăn chăn nuôi (trâu, bò, heo), sản xuất cồn công nghiệp (ethanol) và xăng sinh học E5, sản xuất acid citric…

1.2.2 Vai trò và sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát

Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991) Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía bắc, vùng ven biển nam Trung Bộ và vùng ven biển bắc Trung Bộ

Cây sắn dễ trồng, thích hợp nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, hợp khả năng kinh tế với nhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động, thời gian thu hoạch dài nên thuận rải vụ, tận dụng đất để lấy ngắn nuôi dài; Sắn đạt năng suất cao và lợi nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và trồng đúng quy trình canh tác sắn bền vững

Vì vậy sắn được nông dân ưu trồng và nhiều nơi xem đây là nguồn thu nhập chính trong năm của mình

Trước đây sắn chủ yếu để làm lương thực cho người, làm thức ăn chăn nuôi, thủy sản, nhưng với nhiều công dụng (đã được đề cập ở phần trên), nhu cầu về các sản phẩm sắn trên thế giới tăng nhanh Và trong tình trạng dầu mỏ, những năng lượng hóa thạch khác ngày một cạn kiệt, khan hiếm thì loài người càng kỳ vọng vào Biodiezen và cây sắn được lựa chọn số 1 đã khiến cho cây sắn, vốn là cây lương thực chống đói một thời của người dân, trở nên có giá thể hiện qua việc thương mại

Trang 23

toàn cầu trong ngành sắn tăng cao, đem lại nguồn thu nhập lớn cho các quốc gia xuất khẩu mặt hàng này

Biểu đồ 1 2 Tiêu thụ sắn thế giới 2006-2011

Đơn vị tính: Triệu tấn

Nguồn: Fao.org/Food outlook 2008, 2009, 2010,2011

Trong những năm qua, ngành sắn Việt Nam ngoài việc góp phần nâng cao kim ngạch xuất nhập khẩu và tăng trưởng GDP, còn có những vai trò to lớn trong việc phát triển nền kinh tế cả nước nói chung và vùng nông thôn nói riêng, điều này được thể hiện:

+ Sản xuất và xuất khẩu sắn góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công

ăn việc làm và cải thiện đời sống người lao động

Trong những năm gần đây, giá trị kinh tế của cây sắn càng được khẳng định Việc phát triển sản xuất và xuất khẩu sắn còn tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Từ đó cuộc

sống nông thôn được cải thiện, giặc đói nghèo được diệt tận gốc, thanh niên nam nữ không còn kéo về thành thị tìm công ăn việc làm gây xáo trộn trật tự

xã hội nữa, đồi trọc đất trống được phủ xanh, môi trường sinh thái được bảo

vệ, người nông dân được làm chủ, tự tay chăm sóc, tự bảo vệ lấy tài sản của

Trang 24

mình, không còn tình trạng phá rừng vì sự sống nữa, nếp sống của dân cư

do sự tàn phá của thiên nhiên cùng sự hủy hoại do chính bàn tay con người

+ S ản xuất và xuất khẩu sắn góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế

qu ốc tế của đất nước

Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan đang lôi cuốn hầu hết các quốc gia trên thế giới Đối với Việt Nam, các ngành, các cấp hơn bao giờ hết đang tích cực, chủ động tham gia vào tiến trình này và ngành sắn không nằm ngoài xu thế đó Trên cơ sở lộ trình hội

nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới của cả nước, một lộ trình hội nhập kinh tế cho bản thân ngành sắn nói chung và các doanh nghiệp ngành sắn nói riêng đã được xây dựng và đưa vào triển khai Một trong những

mốc quan trọng trong tiến trình này là cắt giảm thuế trong AFTA Và một điều quan trọng cần ghi nhận đó là cây sắn ở Việt Nam, từ một loại cây trồng nông nghiệp tự phát đã trở thành cây công nghiệp mang tính chất hàng hóa đảm bảo cho người sản xuất có cuộc sống ổn định, ấm no hơn và đem

lại nguồn thu lớn cho đất nước

Với những công dụng của cây sắn và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, cộng với những cơ sở lý luận khoa học chứng minh sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu như đã trình bày ở phần trên Chúng ta có thể khẳng định sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát Việt Nam sang thị trường Trung Quốc

Trang 25

1.3 TIỀM NĂNG VÀ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH VỀ SẮN LÁT

1.3 1 Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sắn lát của Trung Quốc

Bi ểu đồ 1.3: Sản lượng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc năm 2001-2011

Nguồn: Faostat/Trade/imports/ countries by commodity

Trước năm 2001, nhu cầu tiêu thụ sắn lát của Trung Quốc không đáng kể,

năm 2000 sản lượng nhập khẩu chỉ có 256,67 ngàn tấn Tuy nhiên đến 2001, nhập

khẩu sắn lát của Trung Quốc tăng lên đáng kể, gấp gần 7 lần so với năm 2000, đạt

1.977,58 ngàn tấn, vượt qua khỏi EU trở thành thị trường nhập khẩu sắn lát lớn nhất

thế giới

Là nước sản xuất ethanol lớn thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Bra-xin, nhiều

địa phương của Trung Quốc đã bắt buộc sử dụng ethanol-blended xăng trong xe

hơi Trung Quốc đã xây dựng nhiều nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học trên cả

nước, đặc biệt là khu vực Quảng Tây, nơi chiếm 70% tổng nhu cầu về sản lượng

sắn của cả nước, đạt 7 triệu tấn/năm, nên nhu cầu nhập khẩu sắn lát luôn tăng qua

các năm 2001-2007, tăng từ 1,98 triệu tấn lên 4,67 triệu tấn Năm 2008, do ảnh

hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên nhu cầu về sản lượng sắn lát của

Trung Quốc cũng giảm đột ngột, giảm hơn 50% so với năm 2007, sản lượng nhập

khẩu của Trung Quốc chỉ còn hơn 2 triệu tấn

Trang 26

Năm 2009 mặc dù nền kinh tế toàn cầu vẫn còn khủng khoảng, tình trạng phục hồi mong manh nhưng do yêu cầu tất yếu về nguồn năng lượng sạch nên sản lượng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc lại tăng trưởng vượt bậc, vượt qua cả thời

kỳ trước khủng hoảng, năm 2007, đạt 6,12 triệu tấn Và sản lượng tiệu thụ trong năm 2010 tuy có biến động nhưng không lớn, đạt 5.78 triệu tấn

Ngoài nhu cầu tiêu thụ sắn lát trong ngành công nghiệp chế biến ethanol, Trung Quốc còn sử dụng sắn lát trong ngành công nghiệp chế biến rượu và thực phẩm nên hiện nay Trung Quốc là nước tiêu thụ sắn lớn nhất trên thế giới, chiếm 65% lượng sắn nhập khẩu toàn cầu, lượng giao dịch đạt 6,2 triệu tấn sắn lát trong năm 2011 Theo dự đoán của Tổ chức nông lương thế giới, nhu cầu về sắn nguyên liệu trong ngành ethanol của nước này có thể đạt 10 triệu tấn

1.3.2 N hững quốc gia xuất khẩu sắn lát chính vào thị trường Trung Quốc

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, Trung Quốc vẫn là một nền kinh

tế có mức độ tăng trưởng dẫn đầu thế giới Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

có sức thu hút lớn đối với doanh nghiệp nhiều nước

Biểu đồ 1.4: Nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc từ các nước năm 2005-2011

Nguồn: Faostat/trade/trade/detailed trade mix và tổng hợp của tác giả

Trang 27

Tuy nhiên, do sản phẩm sắn lát yêu cầu về đóng gói cồng kềnh cũng như cần được bảo quản trong quá trình vận chuyển Mặt khác, Trung Quốc nằm trong khu vực có nhiều quốc gia có sản lượng sắn lớn nên Trung Quốc nhập khẩu sắn lát chủ yếu từ 3 nước láng giềng: Thái Lan, Indoenesia và Việt Nam, chiếm tỷ lệ hơn 98% tổng sản lượng nhằm giảm thiểu chi phí vận chuyển, cắt giảm được giá thành các sản phẩm được tạo thành từ nguồn nguyên liệu sắn

Là nước có nhu cầu đối với mặt hàng sắn rất lớn nhưng sản lượng sắn của Trung Quốc lại rất thấp Dự kiến mỗi năm nước này phải nhập khẩu từ 6 - 6,5 triệu

tấn sắn/năm mới đáp ứng đủ nhu cầu Vì vậy, trong những năm gần đây, Trung Quốc đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu sắn tại Campuchia, Lào và kể cả ở Việt Nam

1.3.3 Những quy dịnh cần thiết mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm bắt khi xuất khẩu sắn lát vào Trung Quốc

Các ngành công nghiệp sử dụng, chế biến sắn khác nhau đưa ra các yêu cầu

về tiêu chuẩn, chất lượng nguyên vật liệu sắn khác nhau Tại EU, sắn lát được sử

dụng trong ngành chế biến thức ăn nên yêu cầu cao về hình dạng, kích thước đồng đều và tiêu chuẩn cao về vệ sinh thực phẩm Tại Trung Quốc, do sử dụng sắn khô làm nguyên liệu sản xuất ethanol, nên hình dạng và kích cỡ không đồng đều không còn là một mối quan tâm, nhưng tinh bột là chỉ số chất lượng quan trọng nhất vì nó quyết định số lượng ethanol có thể được sản xuất từ một số lượng nguyên vật liệu,

vì vậy thị trường Trung Quốc đòi hỏi hàm lượng tinh bột của sắn cao hơn 67% chứ không phải là số 65% theo yêu cầu của thị trường EU

Ngoài yêu cầu về hàm lượng tinh bột cao hơn thị trường EU, Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam phải cung cấp cho Trung Quốc danh sách các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, chế biến sắn lát và tinh bột sắn dùng cho thực phẩm và công nghiệp xuất khẩu sang thị trường này Kể từ tháng 03.2009, các doanh nghiệp Việt

Nam xuất khẩu tinh bột sắn, sắn lát vào Trung Quốc phải đăng ký với cơ quan chức năng của nước này, phải thực hiện theo các quy định GB 2715-2005 về tiêu chuẩn

Trang 28

lương thực và GB 2760-2007 về tiêu chuẩn vệ sinh đối với việc sử dụng phụ gia thực phẩm và phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Bao bì bên ngoài của sản phẩm được khuyến cáo là phải ghi rõ xuất

xứ, phẩm cấp, doanh nghiệp chế biến, ngày sản xuất, mục đích sử dụng (dùng cho thực phẩm hay dùng cho công nghiệp), cấm đóng gói và vận chuyển lẫn lộn

- Sắn lát và tinh bột sắn dùng làm thực phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc phải được cơ quan thẩm quyền của Việt Nam kiểm dịch theo yêu cầu của Trung Quốc

- Các sản phẩm sắn lát và tinh bột sắn phải đảm bảo các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định của Trung Quốc Cụ thể:

+ Về cảm quan: Phải có màu sắc hương vị thông thường của sản phẩm, vệ sinh sạch sẽ

+ Dư lượng Sulfur dioxide (SO2): ≤ 0.03 g/kg; + Dư lượng kim loại nặng: Chì (Pb) ≤ 0.2 mg/kg; cadmi (Cd) ≤ 0,1 mg/kg; thủy ngân (Hg) ≤ 0,02 mg/kg; asen (As) ≤ 0.2 mg/kg

+ Dư lượng độc tố: Aflatoxin B1 ≤ 5µg/kg, deoxynivalenol (DON) ≤ 1000 µg/kg

1.4 KINH NGHI ỆM CỦA THÁI LAN TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT

KH ẨU SẮN LÁT VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Thực tế cho thấy nước đứng đầu về xuất khẩu sắn trên thế giới là Thái Lan, là nước cùng nằm trong khu vực Châu Á, có điều kiện tương đồng với nước ta Quốc gia này đã có những chiến lược lâu dài và đạt những thành tựu to lớn về sản xuất và xuất khẩu sắn lát sang thị trường Trung Quốc Việc nghiên cứu kinh nghiệm sản

xuất và xuất khẩu sắn lát của các quốc gia này là việc làm cần thiết cho ngành sắn lát Việt Nam

Cốt lõi của chương trình phát triển cây sắn bền vững ở Thái Lan là bốn chiến lược bao gồm: giữ nguyên diện tích hiện có; tăng cường nghiên cứu và

Trang 29

chuyển giao khoa học công nghệ để nâng cao năng suất củ tươi; tăng giá trị các sản

phẩm từ cây sắn, đa dạng hóa sản phẩm; thúc đẩy xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường và hỗ trợ việc nghiên cứu và phát triển ngành công nghiệp sắn

Ở Thái Lan, cây sắn được xem là một trong những cây hàng hoá quan trọng nhất Diện tích trồng trọt và sản lượng đạt được đã chứng minh tầm quan trọng của cây sắn, là một cây công nghiệp chứ không chỉ đơn thuần là một cây lương thực

Bi ểu 1.5: Diện tích và sản lượng sắn Thái Lan 2000-2011

Nguồn: Thai Tapioca Trade Association/Cassava Crop Surveys

Từ trước những năm 1990, Thái Lan đã có diện tích trồng sắn ổn định, hơn

1 triệu ha Tuy nhiên, do năng suất còn thấp (từ 14,45 tấn/ ha đến 17,41 tấn/ha) nên tổng sản lượng hàng năm của nước này không cao, chỉ khoảng từ 15 đến 20 triệu tấn

Thái Lan đã tích cực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong việc tạo

và nhân giống sắn nên năng suất sắn đã được cải thiện Đến năm 2009, diện tích sắn của Thái Lan đạt 1,28 triệu ha, tăng 8% diện tích trồng so với năm 2008 nhưng sản lượng đạt kỷ lục với 30,9 triệu tấn, tăng gần 20% so với năm trước do năng suất

Trang 30

tăng cao đạt 22,75 tấn/ha, và đây cũng là mức năng suất mà Thái Lan đạt được cao nhất từ trước đến nay Năm 2010, diện tích trồng và sản lượng giảm, còn tương ứng 1,2 triệu ha và 22,95 triệu tấn, do hạn hán và dịch bệnh đã ảnh hưởng năng suất cây trồng, giá sắn cũng giảm do khủng hoảng kinh tế, nguồn cung kém ổn định Năm

2011, diện tích trồng sắn không thay đổi nhiều vẫn giữ ở mức 7 triệu rai (khoảng 1,18 triệu ha), sản lượng thu hoạch được 25,11 triệu tấn, tăng hơn 3 triệu tấn so với năm 2010, năng suất đạt 3,41 tấn/rai (21,3 tấn/ha) tăng 0,4 tấn/rai so với năm 2010

Và ước tính trong năm 2012 sản lượng sắn Thái Lan sẽ đạt 26,6 triệu tấn

Ngành sắn Thái Lan đạt được thành tựu trên là do được chính phủ bảo hộ

và các hiệp hội, tổ chức phối hợp thực hiện việc đầu tư sản xuất và hỗ trợ phát triển bền vững:

+ Hỗ trợ người dân đầu tư mạnh về công nghệ chế biến cũng như cải tạo bộ giống tốt cho năng suất cao, tạo động lực và niềm tin cho nông dân trong nước phát triển loại cây trồng này

+ Chính phủ Thái Lan có chính sách khuyến khích và hỗ trợ người trồng sắn về vốn như sẵn sàng bỏ vốn để thu mua lượng sắn dư thừa vào thời điểm thu hoạch tốt nhất trong năm (tháng 3 hàng năm), nhằm khuyến khích người dân không trì hoãn việc thu hoạch vì độ bột trong củ sắn thời điểm này sẽ đạt cao nhất và để ổn định giá cả trong trường hợp cần thiết Trong mùa vụ 2011-2012 Chính phủ đã thu mua tạm trữ 9,73 triệu tấn sắn với tổng chi phí 27 tỷ Bath, và dự kiến sẽ chi 44 tỷ Bath vào kế hoạch tạm trữ 15 triệu tấn sắn trong mùa vụ 2012 – 2013

+ Phòng Kinh tế Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Hợp tác, chịu trách nhiệm xây dựng các chính sách quốc gia về cây sắn với sự hợp tác của các

tổ chức khác nhằm tăng lợi ích cho người trồng sắn

+ Chính phủ đã tăng đầu tư cho nông dân thông qua chính sách công nghệ - kỹ thuật canh tác, tưới tiêu, cải tạo bộ giống tốt kháng sâu bệnh, tăng năng suất đạt từ 6 đến 7 tấn/rai

Trang 31

Biểu đồ 1.6: Sản lượng sắn xuất khẩu thế giới và Thái Lan năm 2006-2011

Nguồn: Faostat/Food outlook 2008,2009,2010,2011

Sắn là sản phẩm xuất khẩu lớn thứ 3 của Thái Lan và từ lâu đã thống trị vị trí hàng đầu thế giới Sản lượng xuất khẩu của Thái Lan luôn chiếm tỷ trọng cao trong nhiều thập niên qua

Trong năm 2006, Thái Lan xuất khẩu là 8,964 triệu tấn, chiếm 85,5% lượng xuất khẩu sắn toàn cầu Sự thay đổi thị trường xuất khẩu chính từ EU sang Trung Quốc không làm thay đổi vị thế của Thái Lan trong ngành nông sản này Tuy nhiên sự thay đổi hình thức sản phẩm xuất khẩu từ sắn viên sang sắn lát đã giảm dần lợi thế, ảnh hưởng khả năng cạnh tranh của Thái Lan khi các nước khác đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này, trong đó phải kể đến đó là Việt Nam

Giai đoạn từ 2007 đến nay, tỷ lệ sản phẩm sắn xuất khẩu của Thái Lan so với tổng sản lượng xuất khẩu toàn cầu có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao, trên 70% Trong năm 2011, tổng sản lượng Thái Lan xuất khẩu khoảng 9,08

triệu tấn (quy ra sản lượng sắn lát tương đương), chiếm 72% sản lượng xuất khẩu toàn thế giới và theo dự đoán trong năm 2012 Thái Lan sẽ xuất khẩu khoảng 11,6 triệu tấn, chiếm tỷ lệ 70%

Trang 32

Biểu đồ 1.7: Sản lượng và tỷ lệ xuất khẩu sắn lát của Thái Lan 2005 -2011

Nguồn: Faostat/Food outlook 2008,2009,2010,2011 và tính toán của tác giả

Ở Thái Lan, định hướng xuất khẩu sắn rất cao, vì vậy sản lượng sắn dành cho

xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao trên tổng sản lượng thu hoạch hàng năm Từ năm

1959, các sản phẩm từ cây sắn đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu chính của Thái Lan cùng với khả năng tiếp cận tương đối dễ dàng với thị trường châu Âu và gần đây là Trung Quốc

Giữa những năm 1968 và 1980, Thái Lan xuất khẩu sắn sang thị trường EU tăng gấp đôi mỗi bốn năm Tuy nhiên, hiện tượng tăng trưởng xuất khẩu nhanh chóng được theo sau bởi một sự suy giảm nhanh chóng không kém, sau khi một loạt các hạn chế thương mại và cải cách chính sách của EU được đưa ra từ những năm

1980 và đầu những năm 1990 (Siriprachai, 1998) CAP cải cách năm 1992 là cú đánh lớn nhất và dẫn đến sự sụp đổ gần của ngành công nghiệp sắn của Thái Lan Đến năm 2005, Thái Lan xuất khẩu sắn sang EU đã giảm xuống dưới 250.000 tấn,

giảm từ mức đỉnh 9 triệu tấn trong năm 1989 (TTTA, 2009)

Trang 33

Biểu 1.8: Sản lượng xuất khẩu sắn lát sang các nước của Thái Lan 2005-2011

Đơn vị tính: Ngàn tấn

Nguồn: Faostat/trade/trade/detailed trade mix

Trong khi đó, Trung Quốc đã nhập khẩu sắn lát của Thái Lan từ cuối năm

1990 mặc dù chỉ với sản lượng nhỏ Nhập khẩu của Trung Quốc tăng đáng kể trong năm 2001 do không thu hoạch lúa mì, khiến ngành công nghiệp ethanol thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào (OAE, 2006) Và chỉ trong vòng một năm, Trung Quốc

đã vượt EU, trở thành thị trường xuất khẩu sắn lát lớn nhất của Thái Lan

Trung Quốc đã xoá bỏ thuế nhập khẩu sắn lát khô từ Thái Lan theo hiệp định tự do mậu dịch với Thái Lan và các nước Asean khác Do vậy, nhập khẩu sắn vào Trung quốc đạt 3,9 triệu tấn trong năm 2006 và 3,2 triệu tấn trong 2007 Việc

sản xuất sang Trung Quốc một sản lượng lớn đã làm thiếu hụt nguồn cung nên năm 2005,2006 Thái Lan đã nhập khẩu từ các nước khác hơn 200 ngàn tấn Năm 2008,

do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên nhu cầu về sắn lát của Trung Quốc giảm mạnh và sản lượng nhập khẩu sắn của Trung Quốc từ Thái Lan

giảm 62% so với năm 2007, chỉ còn 1,2 triệu tấn Năm 2009 và 2010, mặc dù kinh

tế thế giới chưa phục hồi và tình trạng sâu bệnh đã làm giảm sản lượng, nhưng Thái Lan đã đẩy mạnh xuất khẩu sắn vào Trung Quốc với sản lượng đạt kỷ lục, vượt 4

Trang 34

triệu tấn Sản lượng xuất khẩu của Thái Lan năm 2011 giảm 14% so với năm 2010

do cạnh tranh của sắn Việt Nam, đạt 3,69 triệu tấn

Thái Lan và Trung Quốc cũng đầu tư rất lớn để cải tạo sông Mêkông thành

một đường thủy vận chuyển rất an toàn, chi phí rất rẻ cho những mặt hàng cồng

kềnh, đòi hỏi cao về bảo quản như nông và thủy sản, rau quả trong đó có mặt hàng

sắn

Thái Lan cũng đã hành động chủ động đa dạng hóa thị trường của họ, thị trường xuất khẩu sắn lát chủ yếu của Thái Lan kể từ năm 2002 là Trung Quốc, chiếm trên 95%, kế đến là Hàn Quốc, Indonesia và EU

1.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và phát triển ngành sắn cũng như thành tựu xuất khẩu sắn lát của Thái Lan sang thị trường Trung Quốc, chúng ta có thể rút ra một số bài học sau:

Trong chiến lược phát triển ngành sắn, Thái Lan đã có những chiến lược phát triển sớm, phù hợp và đã đem lại thành công nhất định Chính vì vậy, chúng ta cần học tập những kinh nghiệm của Thái Lan để có những chiến lược phát triển ngành phù hợp và tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sắn một cách có hiệu quả:

- Về tổ chức sản xuất: xây dựng chiến lược ngành, quy hoạch trồng trọt theo từng vùng, tránh tình trạng mạnh ai nấy trồng gây thiệt hại cho nông dân; sử dụng các giống sắn có năng suất cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu nội địa và xuất khẩu

- Nâng cao khả năng cạnh tranh: Các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư vốn để cải tiến công nghệ sản xuất chế biến nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, đồng thời nâng cao và

ổn định chất lượng sắn lát, hướng đến việc xuất khẩu các sản phẩm theo tiêu chuẩn của các quốc gia nhập khẩu

- Thành lập các Hợp tác xã ngành hàng hoạt động hiệu quả,

Trang 35

thay đổi nhận thức của người nông dân trong sản xuất và chế biến sắn lát Các doanh nghiệp phải liên kết với các nông hộ, hợp tác xã

hoặc bao tiêu sản phẩm để có được nguồn cung cấp ổn định, lâu dài

với số lượng lớn, đảm bảo chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu

của nhà nhập khẩu

- Xây dựng được thị trường ổn định, liên kết các nước khác nhau

để bình ổn giá trên thị trường

- Hỗ trợ của chính phủ: Chính phủ và các Hiệp hội quan tâm thỏa đáng, đúng mức việc phát triển ngành sắn; Liên kết với các tổ chức tài chính, ngân hàng thực hiện các chương trình khuyến nông, hỗ trợ tạm trữ sắn lát; Thành lập các viện nghiên cứu và phát triển giống sắn có năng suất cao…tạo động lực và niềm tin cho nông dân

Trang 36

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 cung cấp cho người đọc sơ lược các học thuyết thương mại quốc tế: học thuyết trọng thương, học thuyết lợi thế tuyệt đối, học thuyết lợi thế so sánh, lý thuyết yếu tố thâm dụng, là cơ sở khoa học và vận dụng vào thực tiễn để khẳng định:

+ Phát triển xuất khẩu là con đường để Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới

+Với những vai trò và tác dụng của sắn như đã nêu trên thì chúng ta

thấy được rằng sắn là một loại cây lương thực rất quan trọng không những

với những nước đang phát triển mà ngay trong nước ta thì sắn cũng đã và đang được chính phủ chú trọng tới

+ Muốn phát triển ngành sắn, cần đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các lợi thế hơn so với các nước khác

Chương 1 cũng đã nêu ra thị trường tiềm năng lớn nhất thế giới về sắn lát là Trung Quốc, quốc gia láng giềng Việt Nam và xác định đối thủ cạnh tranh của Việt Nam trong việc xuất khẩu sắn lát là Thái Lan, Indonesia, là những nước trong cùng khu vực Đông Nam á, có những điều kiện tương đồng cũng như những quy định

cần nắm bắt khi xuất khẩu mặt hànng sắn lát vào thị trường Trung Quốc

Ngoài ra, chương 1 còn cung cấp cho người đọc những bài học kinh nghiệm

từ Thái Lan, là nước có truyền thống lâu đời và nhiều kinh nghiệm trong việc quản

lý phát triển và xuất khẩu ngành sắn

Trên cơ sở của chương 1, ở chương 2, tác giả sẽ đi vào phân tích thực trạng

xuất khẩu sắn lát của Việt Nam giai đoạn 2006-20011 Từ đó đề xuất một số giải

pháp đẩy mạnh xuất khẩu sắn lát sang Trung Quốc trong chương 3

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẮN LÁT CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 TH ỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ XUẤT KHẨU SẮN CỦA VIỆT NAM 2.1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng

Ở Việt Nam, sắn được trồng ở hầu hết các tỉnh của tám vùng sinh thái nông nghiệp, nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía Bắc, Đông Nam bộ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Năm 2011, các vùng này chiếm tỷ lệ lần lượt là 31,20%, 28,44%, 20,16%, 17,82%, 1,21% và 1,15% trong tổng diện tích trồng sắn của cả nước

ta có khoảng 554 ngàn ha Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, diện tích trồng sắn

có xu hướng thu hẹp trong hai năm 2009 (508,8 ngàn ha) và 2010 (496,2 ngàn ha) Đến năm 2011, diện tích sắn của cả nước đã đạt đỉnh cao mới với 559,8 nghìn ha Theo Bộ NN và PTNT, diện tích trồng sắn của cả nước năm 2012 ước tính đạt 500

Trang 38

nghìn ha, giảm gần 60 nghìn ha (tương đương giảm 10,7%) so với năm 2011 Sang năm 2013, theo kế hoạch của Bộ này, diện tích trồng sắn cả nước đạt 510 nghìn ha nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu

Biểu đồ 2.2: Diện tích và sản lượng sắn của cả nước từ 2000 – 2011

Nguồn: Tổng cục thống kê/ S ố liệu thống kê / Nông nghiệp, Lâm nghiệp và

Th ủy sản/ Di ện tích sắn phân theo địa phương & Sản lượng sắn phân theo địa phương và tính toán của tác giả

Sản lượng sắn cũng tăng tương ứng với diện tích trồng, từ 1.986,3 ngàn tấn năm 2000 tăng lên 6.716,2 ngàn tấn trong năm 2005 Với tốc độ tăng trung bình hàng năm 23%/ năm về sản lượng, năm 2008, sản lượng sắn cả nước đạt 9.309,9 ngàn tấn Với mức sản lượng năm 2008, Việt Nam vẫn là nước đứng thứ 8 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông nam á, sau Thái Lan và Indonesia Năm 2009, mặc dù tổng sản lượng sắn toàn cầu tăng nhưng do không thu được lợi nhuận trong

2008, nên nông hộ đã chủ động thu hẹp diện tích trồng dẫn đến việc giảm sản lượng

cả nước xuống còn 8.556,9 ngàn tấn và đứng thứ 11 trên thế giới Sản lượng năm

Trang 39

Biểu đồ 2.3: Năng suất sắn của Thái Lan và Việt Nam so với năng suất trung bình của thế giới năm 2001-2011

Nguồn: Cục trồng trọt/Số liệu trồng trọt theo các thời kì 1996/00; 2001/05 và

2006/10 …;Thai Tapioca Trade Association/Cassava Crop Surveys

Theo số liệu thống kê thể hiện trên biểu đồ 2.3, năng suất sắn Việt Nam cao hơn năng suất trung bình của thế giới và tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên mức mức tăng không cao Mặc dù Việt Nam hiện đứng thứ 10 trong số các quốc gia có năng suất sắn cao, nhưng vẫn còn ở mức thấp so với các nước như Ấn Độ (34,5 tấn/ha), Thái Lan (21,3 tấn/ha) và thấp hơn so với bình quân của khu vực Chấu Á (20,2 tấn/ha) Năng suất sắn năm 2011 của Việt Nam chỉ đạt 17,6 tấn /ha

Năng suất sắn khác nhau giữa các vùng, cao nhất là vùng Đông nam bộ với năng suất trung bình của vùng là 25,66 tấn/ha và thấp nhất là vùng trung du và miền núi phía bắc với năng suất trung bình là 12,66 tấn/ha Giữa các địa phương trong vùng năng suất cũng chênh lệch nhau khá lớn Năng suất đứng đầu vùng Đông nam

bộ là Tây Ninh đạt 29,01 tấn/ha, thấp nhất là Thành phố Hồ Chí Minh với 6 tấn/ha Năng suất đứng đầu vùng trung du và miền núi phía Bắc là Yên Bái đạt 18,50 tấn/ha, thấp nhất là Lai Châu với 7,7 tấn/ha

Trang 40

Bi ểu đồ 2.4: Năng suất sắn trung bình của các vùng năm 1996-2011

Đơn vị tính: tạ/ha

Nguồn:Cục trồng trọt/Số liệu trồng trọt theo các thời kì 1996/00; 2001/05 và

2006/10 …

Sở dĩ có sự chênh lệch cao năng suất trung bình giữa các vùng trong nước

chủ yếu là do loại đất được sử dụng ở từng vùng, mô hình canh tác Tây Ninh trồng

sắn chủ yếu trên đất bằng và được xem là địa phương có những mô hình trồng sắn thành công nhất Điều khác biệt của sắn nơi đây với các nơi khác là đều sử dụng nước tưới, do đó năng suất lên tới 60-70 tấn/ha, thậm chí có gia đình còn đạt 80 tấn/ha và trở thành nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây Vùng trung du và miền núi phía Bắc, sắn được trồng trên đất đồi, có độ dốc lớn nên xảy ra tình trạng xói mòn, làm kiệt đất, đồng thời mật độ trồng trên loại đất này không cao nên sản lượng đạt được chưa đúng với tiềm năng của ngành

Bên cạnh đó, do sản xuất sắn ở nhiều nơi mang nặng tính tự phát, không theo quy hoạch, trồng sắn trên các vùng đất có độ dốc cao, lấn sang đất quy hoạch các cây trồng khác như mía, điều, cây lâm nghiệp…Trừ một số tỉnh vùng Đông Nam bộ đã chú trọng đầu tư thâm canh, còn lại phần lớn diện tích sắn ở các địa phương chưa chú trọng thâm canh hợp lý, chủ yếu trồng quảng canh theo kiểu “bóc màu”, không thực hiện đúng kỹ thuật canh tác đất dốc làm cho đất đai bị xói mòn, rửa trôi mạnh Vì vậy, độ chênh lệch năng suất giữa các vùng và và giữa các hộ trong cùng 1 tiểu vùng còn khá lớn

Ngày đăng: 17/09/2020, 07:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w