bài tiều luận môn kinh tế phát triển
Trang 1Mục lục
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 3
1.1 Khái niệm về nợ nước ngoài: 3
1.2 Nguồn gốc hình thành nợ nước ngoài: 4
1.3 Phân loại nợ nước ngoài: 4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 6 2.1 Thực trạng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển trên thế giới từ thập niên 1980 đến 2009: 7
2.1.1 Tình hình chung nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển 7
2.2 Nguyên nhân các cuộc khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển 11
2.2 Những giải pháp mà các nước đang phát triển đã sử dụng trong việc xử lý nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển trong thời kỳ này 12
2.4 Hậu quả từ cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài của các nước đang phát triển 15
2.4.3 Vấn đề đặt ra đối với Nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển hiện nay 17
2.5 Một số trường hợp tiêu biểu về các cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển 19
2.6 TÌNH HÌNH VAY NỢ VAY NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM 22
2.6.1 Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam 22
2.6.2 Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam 24
2.6.3 Tình hình quản lý nợ nước ngoài tại việt nam 25
2.6.3.1 Những thành tựu nổi bật của công tác quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam 25
2.6.3.2 Một số tồn tại trong quản lý nợ nước ngoài 27
2.7.1 Nguyên nhân của những tồn tại 29
2.7.1.1 Yếu tố lịch sử 29
2.7.1.2 Thiếu hụt kinh nghiệm quản lý nợ 29
2.7.1.3 Nhiều văn bản cùng điều chỉnh một đối tượng quản lý 30
2.7.1.4 Thiếu hụt đối ngũ cán bộ chuyên môn 30
2.7.1.5 Hệ thống và quy trình kiểm định các dự án đầu tư còn yếu kém 30
2.7.1.6 Ứng dụng công nghệ thông tin còn yếu kém 31
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 31
3.1 Một số biện pháp chung mà các nước đang phát triển đã sử dụng để khắc phục nợ nước ngoài hiện nay 31
Trang 23.2 Một số kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng nợ nước ngoài của các nướcđang
phát triển hiện nay 32
3.3 Các kiến nghị về giải pháp nhằm tăng cường giám sát và quản lý nợ nước ngoài tại Việt Nam 32
3.3.1 Kiến nghị các giải pháp đảm bảo khả năng tiếp nhận nợ vay nước ngoài 32
3.3.2 Kiến nghị các biện pháp sử dụng vốn vay hiệu quả 33
3.3.3 Kiến nghị các giải pháp làm giảm chi phí vay nợ 34
3.3.4 Kiến nghị các biện pháp quản lý nợ vay nước ngoài 35
3.3.5 Các biện pháp hỗ trợ 35
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống quản lý nợ hiện hành và phân tích thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển thông qua các chỉ số kinh
tế và chỉ số nợ nước ngoài trên giác độ vĩ mô
Mục đích nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài tập trung vào công tác quản lý nợ nước ngoài, các biến số và các chính sách có ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ nước ngoài giai đoạn thập niên 80 đến nay.
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
những kết luận cụ thể cho từng vấn đề ở mỗi thời kỳ
Trang 3Trong đó, phương pháp chính là thống kê: mô tả và phân tích phù hợp mục tiêu nghiên cứu
Chuong 1: cơ sở lý luận về nợ nước ngoài
Chương 2: thực trạng nợ nước ngoài của các nước đang phát triển Chương 3: một số giải pháp và kiến nghị khắc phục tình trạng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
NỢ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm về nợ nước ngoài:
Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng
do nhóm công tác liên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì khái
niệm nợ nước ngoài được hiểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ
thời điểm nào là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một (số) thời điểm trong tương lai, do đối tượng cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”
Tại Việt Nam, theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005
của Chính phủ) thì: “Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa
vụ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại
Trang 4một thời điểm của các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân” Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả
các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài
và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình).
1.2 Nguồn gốc hình thành nợ nước ngoài:
Đối với các nước cho vay (các nước phát triển): Có nguồn vốn tích tụ, tập trung lớn nhưng không sử dụng hết.
Đối với các nước đang phát triển: Luôn thiếu vốn trong nước, có nhu cầu vốn lớn để đẩy mạnh đầu tư sản xuất, nhằm tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Do vậy mà các nhóm nước hợp tác với nhau để thỏa mãn nhu cầu về vốn của hai bên, thông qua việc cho vay, thường là ODA
1.3 Phân loại nợ nước ngoài:
Việc phân loại nợ nước ngoài có một vai trò quan trọng trong việc công tác theo dõi, đánh giá vàquản lý nợ có hiệu quả.
1.3.1: Phân loại theo chủ thể đi vay:
Nợ công và nợ tư nhân
Nợ công: là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm nợ của khu
vực côngcùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh.
Nợ tư nhân: Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư
nhân không được khu vực công của nền kinh tếđó bảo lãnh theo hợp đồng Về bản chất đây là các khoản nợ do khu vực tư nhân tự vay, tự trả.
1.3.2: Phân loại theo thời hạn vay
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã gia hạn kéo dài trênmột năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối cùng
Trang 51.3.3: Phân loại theo loại hình vay
vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thương mại
Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại nợ cónhiều điều kiện ưu đãi,
ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn Lãi suất của vay
hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chínhthức dài (có thể từ 10, 15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài
Vay thương mại: Vay thương mại không có ưu đãi cả về lãi suất và thời
gianân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường
tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãisuất thị trường
1.3.4: Phân loại nợ theo chủ thể cho vay
: nợ đa phương và nợ song phương.
Nợ đa phương : đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng
Thế giới (WB), Quỹ Tiềntệ Quốc tế (IMF), các ngân
hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC1
và liênchính phủ
nợ song phương : đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ
chứcOECD2 và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh
1.3.5: Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài:
1.4
.Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
1.4.1: Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
Để đánh giá mức độ nợ của nước ngoài, các chỉ tiêu thường được các tổ chức quốc
tế thường dùng là:
Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài :Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu diễn tỷ lệ nợ nước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được Chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu
Trang 6hàng hoá và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả
nợ nước ngoài Những khó khăn khi sử dụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ biến động từ năm này sang năm khác, ngoài ra cũng có những phương án khác để nước con nợ có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu
Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia Nợ/GNI: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua thu nhập quốc dân được tạo ra Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài Thông thường các nước đang phát triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ Do vậy, tình trạng nợ có thể không được đánh giá đúng mức.
Tỷ lệ trả nợ : Tổng nợ phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi
là tỷ lệ dịch vụ nợ (nợ gốc và lãi phải thanh toán so với giá trị xuất khẩu) Đây là một tiêu chí quan trọng, phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả
so với năng lực xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của quốc gia đi vay.
Tỷ lệ trả lãi : Tổng lãi phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi
là tỷ lệ dịch vụ lãi hay tỷ lệ giữa tổng lãi phải trả so với kim ngạch xuất khẩu Một quốc gia phải thanh toán lãi với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thường lãi này được trích từ thu nhập xuất khẩu
1.4.2: Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nợ nước ngoài
Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ Thông thường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ thương mại và tỷ lệ
nợ song phương cao Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu gồm:
Nợ ngắn hạn/Tổng nợ: Phản ánh tỷ trọng các khoản nợ cần thanh toán trong thời gian nhỏ hơn một năm trong tổng nợ Tỷ lệ này càng cao, áp lực trả nợ càng lớn.
Nợ ưu đãi/Tổng nợ: Tỷ lệ này càng cao, gánh nặng nợ nước ngoài càng nhẹ
Nợ đa phương/Tổng nợ: Các khoản nợ đa phương thường nhằm mục đích hỗ trợ, ít ưu cầu về lợi nhuận, do đó việc tăng cường nợ đa phuơng trong tổng
nợ phản ánh tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỢ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Trang 72.1 Thực trạng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển trên thế giới từ thập niên
1980 đến 2009:
2.1.1 Tình hình chung nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển
Nợ nước ngoài đang là nhân tố chính gây mất ổn định tại nhiều quốc gia đang pháttriển hiện nay Nó là nhân tố không thể thiếu đối với các nước đang trong giai đoạn pháttriển kinh tế khi tiền tiết kiệm trong nước có ít, những thâm hụt tài khoản vãng lai cao, và
sự cần thiết của nhập khẩu vốn để tăng nội lực quốc gia Tình hình nợ nước ngoài ở cácquốc gia đang phát triển được chia làm 2 giai đoạn từ trước và sau năm 2000
2.1.1.1 Giai đoạn từ 1980 đến năm 2000
Quy mô cuộc khủng hoảng nợ của các nước chậm phát triển, 1970-1989 Chỉ tiêu 1970 1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 1987 1988 1989 Tổng số nợ
Nguồn: [1] Micheal Todaro, Kinh tế học cho thế giới thứ ba
Trong 10 năm, từ 1980 đến 1989, nợ nước ngoài của các nước đang phát triển tănggần 99% (từ 635,8 tỷ USD đến 1.262,8 tỷ USD) Các chỉ tiêu tỷ lệ Nợ/ Xuất khẩu, tỷ lệTrả nợ/ Xuất khẩu, và tỷ lệ Nợ/ GDP cũng tăng lên nhanh chóng qua các năm và đạt đỉnhđiểm vào giữa những năm 1980 Trong đó, đa phần nợ tập trung vào 4 nước thuộc khuvực Châu Mỹ La tinh gồm Brazil (114,5 tỷ USD), Mê-hi-cô (105 tỷ USD), Ac-hen-ti-na(49,4 tỷ USD) và Ve-ne-zue-la (33,9 tỷ USD) trong tổng số nợ là 485 tỷ USD của 17nước nợ nhiều nhất thế giới năm 19871, 4 nước này chiếm 62,43% tổng số nợ Cụ thể,những năm đầu thập kỷ 80, nợ nước ngoài của Brazil là 5 tỷ đô la, và đến năm 1989 thìnhảy vọt lên 121 tỷ Cũng trong thời gian nói trên, các quốc gia khác là Mê-hi-cô, Ac-hen-ti-na, Ve-ne-zue-la, Chi-lê hoặc Co-lom-bi-a cũng bị tình trạng tương tự í dụ, nợnước ngoài của Mê-hi-cô tăng từ 7 tỷ đô-la đầu thập kỷ 70 đến 38 tỷ vào cuối thập kỷ và
1 Micheal Todaro, Kinh tế học cho thế giới thứ ba
Trang 8Vđến năm 1989 thì con số này là 106 tỷ, tương đương với 76% tổng thu nhập kinh tế
quốc dân nước đó (Times, 08/01/1989), điều này có nghĩa là 80% thu nhập từ xuất khẩu
của Mê-hi-cô cũng chỉ đủ để trả số tiền lãi hàng năm của món nợ này, chưa nói đếnkhoản gốc phải trả2
Đến năm 2000, tổng số nợ nước ngoài từ vay mới và từ lãi mẹ đẻ lãi con của cácnước Mỹ La tinh đã lên đến 739 tỷ đô-la, tăng 650 tỷ so với 40 năm trước đó Chỉ riêng
số tiền các quốc gia con nợ này phải bỏ ra để trả lãi và khấu hao cơ bản của món nợkhổng lồ nói trên cũng đã tốn mất hơn một nửa ngân sách hàng năm Mê-hi-cô là nướcmắc nợ nhiều nhất, 161 tỷ đô-la, tăng 181% so với đầu thập kỷ 80, tiếp theo là Ac-hen-ti-
na là 139 tỷ, tăng 127% so với năm 19913
Tại khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng đang sống dở chết dở vì nợ nướcngoài Bước sang những năm đầu tiên của Thiên niên kỷ thứ 3, nợ nước ngoài củaIndonesia đã đạt con số 150 tỷ và nước này trở thành một trong bốn con nợ lớn nhất thếgiới, sau Mê-hi-cô, Brazil và Ac-hen-ti-na Năm 1999, Indonesia đã phải dùng đến hơn50% thu nhập từ xuất khẩu để trả lãi và khấu hao nợ hàng năm
năm 1985, nếu như Chính phủ Philipine chỉ phải dành ra 22 tỷ pê-sô (khoảng 900triệu USD theo thời giá) trong tổng số thu nhập 67 tỷ pê-sô để trả lãi và khấu hao tiền vayhàng năm thì đến năm 1999, con số này đã là 100 tỷ pê-sô (hơn 3 USD theo thời giá)trong tổng số thu nhập hàng năm 120
tỷ pê-sô
2.1.1.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến
2009 4
Các chỉ số nợ nước ngoài (gồm tỷ
lệ Nợ/ Xuất khẩu, Nợ/ GNI và Trả nợ/
Xuất khẩu) được cải thiện đáng kể từ
đầu thập kỷ đến năm 2008 Lợi nhuận
2 Alvin Y So, Nợ nước ngoài: Số phận của những con nghiện không biết điểm dừng, 2010
3 Phạm Quang Hòa, Nợ nước ngoài: Nhiều “con nghiện” sống dở chết dở, 2010
4 World, Global Development Finance, 2011, page 10
Trang 9từ xuất khẩu tăng nhanh chóng nhờ vào khối lượng xuất khẩu tăng và giá cả hàng hóathương mại quốc tế tăng cao cho tới cuối năm 2008 Từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ lệnợ/ xuất khẩu giảm hơn một nửa, từ 124,8% xuống còn 58,4%, và tỷ lệ nợ/ GNI giảm từ37,8% xuống 20,6% Tuy nhiên, xu hướng này bất ngờ thay đổi vào năm 2009 khi tốc độtăng trưởng giảm và thu nhập từ xuất khẩu giảm mạnh trong hầu hết các nước đang pháttriển do sự ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lúcnày Tỷ lệ trả nợ/ xuất khẩu cũng bị ảnh hưởng tương tự, tăng từ 9,2% năm 2008 lên11,3% năm 2009 Ít thấy có sự thay đổi trong tỷ lệ nợ/ GNI nhưng nó cũng tăng lên năm2009.
Các tỷ lệ nợ được cho bởi bảng số liệu bên dưới cũng trở nên xấu đi, tuy nhiên, sựtăng lên của các tỷ lệ này khác nhau giữa từng khu vực Khu vực Đông Á và Thái BìnhDương và Trung Đông và Bắc Á có tỷ lệ nợ nước ngoài thấp nhất ở cả hai chỉ tiêu là Nợ/GNI và Nợ/ Xuất khẩu Năm 2009, các nhóm nước này trải qua một sự tăng nhẹ trong haichỉ tiêu nợ Ngược lại, Châu Âu và Trung Á là khu vực tăng tỷ lệ Nợ/ GNI cao nhất, từ35,1% năm 2008 lên 44,7% năm 2009, gấp 3 lần tỷ lệ của khu vực Đông Á và Thái BìnhDương, và gấp 2 lần khu vực Mỹ La tinh và Caribean Tỷ lệ Nợ/ Xuất khẩu của khu vựcnày cũng cao nhất với 131,8% năm 2009 (so với 91,6% năm 2008)
Chỉ số nợ cho các nhóm nước (%), 2000-2009
2000 2008 2009 2000 2008 2009 Đông Á và Thái Bình Dương 29,6 12,9 13,2 78,1 30,9 39,0
Châu Âu và Trung Á 52,9 35,1 44,7 140,2 91,6 131,8
Trang 10Nguồn: World Bank
IMF
một nửa từ năm 2000 đến 2008, từ 20,9% xuống 9,2% đối với nhóm nước có thu nhậptrung bình, và từ 12,2% xuống 4,9% đối với nhóm nước có thu nhập thấp Như ta đã biết,năm 2009 có một sự giảm mạnh trong thu nhập từ xuất khẩu, làm giảm đáng kể tỷ lệ Nợ/Xuất khẩu, và điều này tác động mạnh hơn đối với nhóm nước có thu nhập trung bìnhhơn là nhóm nước có thu nhập thấp Thu nhập từ xuất khẩu giảm gần 20% trong năm
2009 Ngược lại, các nước có thu nhập thấp lại giảm không đáng kể (10% so với mứcnăm 2008) trong thu nhập từ xuất khẩu, và tỷ lệ Trả nợ/ xuất khẩu không bị ảnh hưởngkhi có sự tăng nhẹ từ 4,9% lên 5,1% năm 2009 Bên cạnh đó, các nước có thu nhập thấpcũng hưởng lợi từ việc cấu trúc lại và sự giảm nợ
2.2 Nguyên nhân các cuộc khủng hoảng nợ của các nước đang phát triển 5
Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng những năm 1980 xuất phát từ thời kỳ 1974-1979khi việc vay nợ quốc tế bùng nổ và được thúc đẩy bởi việc tăng vọt giá dầu của nhómOPEC Giai đoạn 1967-1973, các nước đang phát triển đóng vai trò lớn trong nền kinh tếkhi tốc độ tăng trưởng trung bình của các nước này là 6,6% Đặc biệt, các nước côngnghiệp mới gồm Mê-hi-cô, Brazil, Ve-ne-zue-la và Ac-hen-ti-na có tốc độ tăng trưởngvượt xa mức trung bình của các nước đang phát triển Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởngcủa mình, nhiều nước đã bắt đầu nhập khẩu nhiều, nhất là các mặt hàng tư liệu sản xuất,dầu lửa và lương thực Giá dầu tăng cao và cuộc khủng hoảng thế giới khiến tốc độ tăng
5 Micheal Todaro, Kinh tế học cho thế giới thứ ba
Trang 11trưởng của các nước công nghiệp mới này giảm mạnh Để duy trì được tốc độ tăngtrưởng, các nước đang phát triển tăng cường vay nợ Nhu cầu vốn của các nước này tăngmạnh, trong khi nguồn vốn vay song phương có giới hạn, và nguồn vốn rẻ từ tổ chứcIMF lại có nhiều điều kiện ràng buộc, khiến các nước này tìm đến các ngân hàng thươngmại và các chủ nợ tư nhân khác nhằm tài trợ cán cân thanh toán quốc gia Những ngânhàng thương mại lúc này nắm giữ phần lớn số dư của khối OPEC (đang kiếm được lượngtiền lớn từ việc tăng giá dầu thế giới) đã cạnh tranh nhau đưa ra các điều kiện ưu đãi và
dễ dàng cho các nước công nghiệp mới và các nước có thu nhập trung bình đang trongtình trạng đói vốn Do đó, số nợ nước ngoài của các nước đang phát triển này tăng lênnhanh chóng, từ 180 tỷ năm 1975 lên 406 tỷ năm 1987 Trong đó, nợ không được ưu đãi,
và kỳ hạn nợ ngắn và lãi suất theo thị trường chiếm tỷ lệ cao, lên tới 40% trong tổng số
nợ năm 1971, 68% năm 1975 và lên tới hơn 77% năm 1979 Tuy nhiên, sự gia tăng khốilượng nợ và lãi vay chưa là vấn đề đối với các nước đang phát triển giai đoạn này do giádầu thực tế lúc này giảm do lạm phát, lãi suất thực tế thấp và thu nhập xuất khẩu tăng chophép các nước này thu hẹp thâm hụt tài khoản vãng lai và duy trì tốc độ tăng trưởng nhấtđịnh
Đến năm 1979, giá dầu thế giới tăng đột ngột làm tăng chi phí cho việc nhập khẩudầu lửa, lãi suất cũng tăng mạnh do chính sách kinh tế của các nước đã công nghiệp hóa
và thu nhập từ xuất khẩu giảm do tăng trưởng chậm của các nước phát triển hơn Thựctrạng đó chưa phải là tất cả khi các nước này gánh một món nợ khổng lồ từ các năm trướccùng với lãi suất vay nợ cũ tăng theo thị trường trở thành một gánh nặng cho các nướcđang phát triển này
Bên cạnh đó, việc chuyển một số vốn tư nhân lớn ra nước ngoài để đầu tư của cưdân các nước mắc nợ vì những lý do chính trị, kinh tế làm tình hình nợ các quốc gia nàythêm khủng hoảng
2.2 Những giải pháp mà các nước đang phát triển đã sử dụng trong việc xử lý nợ
nước ngoài ở các nước đang phát triển trong thời kỳ này.
Trang 12Giải pháp 1:các quốc gia có 2 lựa chọn: cắt giảm nhập khẩu hoặc áp dụng các biện phápthắt chặt tài khóa và tiền tệ, do đó cản trở những mục tiêu tăng trưởng và phát triển Lựachọn cắt giảm tăng trưởng không thể thực hiện, vì vậy các nước này tiếp tục vay nợ nướcngoài Kết quả, giữa những năm 1980, một số nước như Brazil, Mê-hi-cô, Ac-hen-ti-na,Philipine và Chile phải đối mặt với những khó khăn trong việc lấy thu nhập từ xuất khẩuthanh toán cho những khoản lãi vay Trong khi các khoản vay mới bị hạn chế do nguồnvốn tư nhân của thế giới đã cạn, nợ đến hạn lại tăng khiến các nước này phải thanh toán
nợ cho các ngân hàng thương mại nhiều hơn số nợ mới họ nhận được
Giải pháp thứ hai: đàm phán với các quốc gia cho vay về các vấn đề:
+ Hạ mức lãi suất đối với những khoản vay cũ và những khoản nợ mới trongtương lai Các quốc gia Mỹ La-tinh đã vay nợ vào thời điểm (những năm đầu thập kỷ 70)lãi suất đạt mức kỷ lục 14-16%/năm Các quốc gia con nợ Mỹ La-tinh đã đề nghị cácngân hàng nước ngoài giảm mức lãi suất đánh vào các khoản nợ cũ của họ từ 2-4%
+ Thời hạn hoàn trả vốn cần được kéo dài thêm để giúp giảm bớt gánh nặng trả lãisuất hàng năm cho các quốc gia con nợ Mỹ La-tinh
+ Nới lỏng giới hạn tối đa cho việc phải sử dụng bao nhiêu phần trăm thu nhập từxuất khẩu để trả lãi nợ nước ngoài Các quốc gia con nợ không thể sử dụng đến 80% thunhập từ xuất khẩu để trả nợ vì nếu tiếp tục như vậy, họ sẽ không còn tiền để nhập khẩumáy móc và công nghệ cần thiết cho tiến trình công nghiệp hoá trong nước
Giải pháp thứ ba của các nước này là cầu cứu đến thiết chế tài chính như Ngân hàngThế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Hoa Kỳ và chấp nhận nhữngđiều kiện ràng buộc của nó Các quốc gia chủ nợ đã gởi một nhóm người gồm các chuyêngia kinh tế hàng đầu của các tổ chức trên tới các quốc gia con nợ để nghiên cứu và đề racác biện pháp giải quyết vấn đề Những đề xuất của các chuyên gia gồm:
+ Thứ nhất, hai quốc gia này được phép 'giãn nợ', tức là lùi thời hạn trả nợ thêmmột thời gian nữa Việc giãn nợ có thể tạm thời chặn đứng được nguy cơ xảy ra một cuộc
Trang 13khủng hoảng tài chính có khả năng là nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng kháctiếp theo trong trường hợp các quốc gia con nợ có ý định tuyên bố vỡ nợ.
+ Thứ hai, nhằm giúp đỡ các quốc gia Mỹ La-tinh trả được nợ, các tổ chức tàichính nói trên đã quyết định cho các quốc gia con nợ này vay thêm tiền để trả nợ kèmtheo những điều kiện cho vay mới Đó là những khoản vay khẩn cấp, ngắn hạn hơn vàvới lãi suất cao hơn mức thị trường lúc đó
Thực tế, những giải pháp cấp cứu nói trên trong thực tế đã đem lại lợi nhuận lớn hơncho các tổ chức tài chính quốc tế và Ngân hàng Hoa Kỳ và tạo điều kiện cho họ kiểm soátchặt chẽ hơn các quốc gia con nợ ở Mỹ La-tinh Cụ thể, các ngân hàng phương Tây đãthiết lập được sự giám sát chặt chẽ lên các báo cáo quyết toán tài chính của các quốc giacon nợ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) có thể thanh tra sổ sách của các quốc gia con nợ bất
kể lúc nào mà không gặp trở ngại gì Kế hoạch phân bổ ngân sách và các chương trìnhphát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia con nợ phải do IMF phê duyệt thì mới đượcthực hiện Ngoài ra IMF còn đòi hỏi các quốc gia con nợ Mỹ La-tinh phải thực hành mộtchính sách nghiêm ngặt thì mới được duyệt vay những khoản tiền mới Chính sách nàybao gồm:
1- Giảm đáng kể chi tiêu của Chính phủ như hoãn hoặc giảm bớt một số chươngtrình chi tiêu cho giáo dục, y tế và các phúc lợi xã hội,
2- Tăng thu cho ngân sách bằng cách tăng các loại thuế,
3- Giảm nhập khẩu để cân bằng cán cân thương mại, và
4- Tăng cường xuất khẩu thu ngoại tệ
Giải pháp thứ tư và cũng là giải pháp cuối cùng mà các nước đang phát triển có thể sửdụng, đó là tuyên bố vỡ nợ Các con nợ sau khi lâm vào tình thế nợ nần chồng chất, vàmột vài nước trong số đó đã tuyên bố vỡ nợ vì không thể tiếp tục trả lãi được nữa nhưtình huống của Mê-hi-cô, Brazil, Philipine và nhiều nước Châu Phi khác vào những năm
1980 Nếu tuyên bố vỡ nợ, những thiết tài chính phương Tây này hoàn toàn có thể phátđộng các cuộc chiến tranh kinh tế nhằm lật đổ chính phủ của các quốc gia con nợ như yêu
Trang 14cầu 'đóng băng' tài sản của các quốc gia con nợ tại Hoa Kỳ, cấm vận kinh tế, chấm dứtcho vay, thậm chí yêu cầu các công ty nước ngoài rút hoạt động đầu tư khỏi các quốc giacon nợ Do đã chìm sâu trong khủng hoảng kinh tế, bất kỳ một động thái nào nói trêncũng dễ dàng dẫn đến tình trạng hỗn loạn về kinh tế và bất ổn về chính trị trong các quốcgia con nợ này Vì vậy, đây là một giải pháp tiêu cực mà các nước đang phát triển có thểnghĩ đến Tuy nhiên, về phía các nước cho vay, nếu các quốc gia này không trả nợ, nhất
là với những món nợ khổng lồ lúc đó, một cuộc khủng hoảng tài chính thế giới sẽ nổ ra
do các quốc gia này đang nợ một món tiền rất lớn, khoảng vài trăm tỷ đô-la Nhiều ngânhàng Hoa Kỳ đã trót cho các quốc gia Mỹ La-tinh vay quá nhiều tiền Ví dụ, Bank ofAmerica, Chase Manhatan Bank đã bị đọng khoảng 30-40% tổng vốn của mình tại cácquốc gia Mỹ La-tinh Bởi vậy, nếu các quốc gia này tuyên bố vỡ nợ thì họ và một số thiếtchế tài chính khác cũng bị phá sản luôn
2.4 Hậu quả từ cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài của các nước đang phát triển
2.4.1 Lệ thuộc về kinh tế và chính trị ở các quốc gia chủ nợ
Từ những điều kiện ràng buộc từ các quốc gia chủ nợ, các quốc gia con nợ bị lệthuộc kinh tế vào chủ nợ, qua đó đã tiến dần đến chỗ bị lệ thuộc cả chính trị Ví dụ:
Để lấy lòng Hoa Kỳ, Mê-hi-cô đã cam kết trong NAFTA sẽ đối xử với các công ty
Mỹ đầu tư ở Mê-hi-cô như các công ty trong nước, thậm chí còn hơn Ví dụ, Chính phủMê-hi-cô cam kết sẽ bồi thường cho bất kỳ công ty Mỹ nào bị thiệt hại do thay đổi chínhsách ở nước này Điều đó dẫn đến một vụ việc là Chính phủ Mê-hi-cô đã đồng ý cho mộtcông ty Mỹ đầu tư vào bãi chứa chất thải độc hại ở Mê-hi-cô Nhưng khi chính quyềnthành phố nơi có bãi chứa từ chối bởi lo sợ hiểm hoạ môi trường, công ty Mỹ đã kiện vàChính phủ Mê-hi-cô đã phải bồi thường cho họ số tiền mà họ có thể kiếm được nếu đượcphép đầu tư
Tại Indonexia, cuối năm 1999, khi Chính phủ nước này định can thiệp vào quá trìnhĐông Ti-mo tách ra khỏi Indonesia, các quốc gia phương Tây chỉ mới đe dọa ngừng cho
Trang 15Indonesia vay tiền, Chính phủ đã phải ngay lập tức án binh bất động và chấp nhận cho Úcđưa quân đội đến Đông Ti-mo.
2.4.2 Nợ nước ngoài tác động một cách sâu sắc lên xã hội bên trong các quốc gia con nợ
Thứ nhất, nó làm cho đồng tiền bị phá giá Ví dụ ở Mê-hi-cô, năm 1982 với 25 pê-sôthì bạn có thể mua được 1 USD nhưng đến năm 1984, để mua được 1 USD Mỹ, bạn phải
bỏ ra 200 pê-sô Rất nhiều người dân Mê-hi-cô vì lo sợ nền kinh tế có thể sụp đổ bất cứlúc nào nên đã đổ xô đi mua USD, tạo ra một tâm lý bất ổn bao trùm lên toàn bộ xã hội
Thứ hai, do đồng tiền bị mất giá, nạn lạm phát cũng gia tăng Đầu năm 1980, mức lạmphát của Mê-hi-cô đã là 80% Tình trạng lạm phát của Brazil có phần tệ hại hơn, từ mức200% vào năm 1985 đã tăng lên 500% vào năm 1986 Nhưng có lẽ Pê-ru mới là nước cómức lạm phát cao nhất, khoảng 1700% vào năm 1989
Thứ ba, do phải cắt giảm nhiều khoản chi ngân sách, đặc biệt là hạn chế nhập khẩumáy móc thiết bị để phát triển công nghiệp, các kỳ vọng vào sự tăng truởng của nền kinh
tế Mỹ La-tinh đầu thập kỷ 70 đã tan như bong bóng xà phòng Thay vào đó, các quốc giacon nợ này đã chứng kiến một giai đoạn suy thoái kinh tế chưa từng có Mức tăng GNPcủa Mê-hi-cô từ +8% năm 1978 đã trở thành -5% năm 1983 Suy thoái kinh tế sinh ra thấtnghiệp hàng loạt Nhiều quốc gia con nợ Mỹ La-tinh có tỷ lệ thất nghiệp vượt quá 50%
Thứ tư, đồng tiền mất giá, nạn lạm phát, tình trạng thất nghiệp và suy thoái kinh tếđương nhiên sẽ dẫn đến những bất ổn chính trị trong lòng xã hội của các quốc gia con nợnày Biểu tình và đình công đã trở thành một hiện tượng quá bình thường tại Mỹ La-tinhtrong thập kỷ 80 Năm 1983 ở Brazil đã xảy ra một cuộc nổi loạn của các công dân thủ
đô Họ đập phá các cửa hàng, xông vào các siêu thị để cướp bóc lương thực, thực phẩm
Tờ thời báo (Times) tháng 3 năm 1986 có đăng bài phản ánh tình trạng bất ổn chính trịnày, thậm chí còn coi đó là cuộc đấu tranh “một mất một còn” do các đảng cánh hữu phátđộng nhằm tìm cách lật đổ các chính phủ đương thời
Trang 16 Thứ năm, tình cảm “chống Mỹ” trong các quốc gia con nợ Mỹ La-tinh tăng lên.Người dân Mỹ La-tinh coi Chính phủ và các Ngân hàng Hoa Kỳ là nguyên nhân làm chocuộc sống của họ ngày càng khốn khó Hàng năm, hàng chục tỷ USD bị chuyển từ cácquốc gia con nợ sang Hoa Kỳ chỉ để trả lãi những khoản nợ vay trước đó Nếu như sốtiền khổng lồ này được chi dùng cho các mục tiêu và chương trình xã hội trong nước thìphần lớn người dân lao động Mỹ La-tinh sẽ đỡ vất vả hơn nhiều.
2.4.3 Vấn đề đặt ra đối với Nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển hiện nay
Sự tồn tại của khoản nợ nước ngoài trên cán cân thanh toán của các nước đang pháttriển là một điều hiển nhiên, đặc biệt là những nước nghèo tài nguyên thiên nhiên Nguồntích lũy trong nước của những nước này dựa vào nguồn vốn nước ngoài để tài trợ, nângcao mức phát triển cũng như mức sống người dân Tuy nhiên, những nước này phải đốimặt với những khó khan lớn trong việc hoàn trả nợ và lãi của những khoản nợ nướcngoài
2.4.4 Mối quan hệ tỷ lệ giữa tệ tham nhũng và nợ nước ngoài
có hay không mối quan hệ nào giữa nợ nước ngoài và tỷ lệ tham nhũng cao ở cácquốc gia là con nợ làm thế nào để vốn nước ngoài được đầu tư vào các nước đang pháttriển có hiệu quả Nếu các quốc gia con nợ lớn, và họ lại là các quốc gia có nạn thamnhũng trầm trọng Nếu không sử dụng vốn tốt sẽ lại gây ra một cái vòng luẩn quẩn về
nợ và lãi nước ngoài mà không bao giờ trả hết được, và có khi chính nợ nước ngoài lại làmột trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ ở quốc gia mình như trường hợp ở
Hi Lạp Yêu cầu dặt ra là các quốc gia phải đưa ra giải pháp trong việc quản lý và xử lýnạn tham nhũng, cải cách bộ máy nhà nước, từ đó tiến tới xử lý vấn đề nợ nước ngoài
2.4.5 Sự lo ngại vỡ nợ của các con nợ lớn trên thế giới
Vấn đề đặt ra hiện nay là nền tài chính của thế giới sẽ sụp đổ nếu một, hoặc hainước con nợ lớn của thế giới, như Brazil, Mê-hi-cô, hay Ac-hen-ti-na bị vỡ nợ, hay nhómcác con nợ cùng nhau quịt nợ Ví dụ, số vốn vay lớn của một số ngân hàng lớn của Mỹ đã
bị ứ đọng vào các khoản cho vay ở các nước này, nếu các con nợ này không thể chi trả thì
Trang 17các ngân hàng lớn ở Mỹ có nguy cơ đỗ vỡ, kéo theo đó là một hệ thống ngân hàng khôngchỉ ở Mỹ mà trên thế giới sẽ dẫn đến sụp đổ Vì vậy,các nước phát triển đã tạo điều kiệncho các nước này trả nợ thông qua nhiều chương trình khác nhau như phân phối lại quyềnrút vốn đặc biệt (SDRs), sử dụng SDRs như là loại tiền tệ (do IMF phát hành), HIPC -Sáng kiến giảm nợ cho các nước nghèo và MDRI - sáng kiến xóa nợ đa phương, các ngânhàng chủ nợ có thể bán những khoản nợ ở các nước đang phát triển cho các nhà đầu tư tưnhân trên thị trường thứ cấp để các nhà đầu tư này thu nợ.
2.1.5.3 Công tác quản lý vốn ODA
các nước đang phát triển phải vay vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức thì mới có nguồnđầu tư cho tăng trưởng Do đó, việc sử dụng vốn vay sao cho hiệu quả là điều cần đượcquan tâm trước tiên Các nước đang phát triển cần thận trọng đến từng đồng vốn vay, kể
cả đó có là viện trợ phát triển chính thức (ODA)- loại cho vay nước ngoài được xem là ưuđãi nhất hiện nay Việc không quản lý tốt nguồn vốn vay và không nắm bắt được thôngtin nợ là những nguyên nhân chính dẫn đến vỡ nợ Vì vậy, để quản lý nợ tốt cần phảinắm bắt nhanh chóng và chính xác thông tin nợ nước ngoài để có những biện pháp xử lýkịp thời, đồng thời là biện pháp để ngăn chặn nạn tham nhũng gia tăng ở các quốc gia con
nợ
2.4.6 Cân đối mục tiêu tăng trưởng và tỷ lệ nợ nước ngoài an toàn
Vay nợ để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều bình thường.Tuy nhiên, không thể
vì mục tiêu phát triển trước mắt mà thiếu tính toán về dài hạn Sự sụp đổ của nền kinh tếAr-hen-ti-na - quốc gia từng được Quỹ Tiền tệ quốc tế ngợi ca là một hình mẫu tăngtrưởng- cảnh báo các nước đang phát triển về hiểm họa do phát triển “quá nóng”, đầu tưtràn lan, thiếu tính toán Chúng ta phải thấy rõ, mục tiêu phát triển là đem lại phồn vinhhạnh phúc cho người dân, không phải tốc độ tăng trưởng cao Tăng trưởng cao dẫn đến
nợ nần là hoàn toàn sai lầm và không nên đặt ra tăng trưởng cao với bất kỳ giá nào.Chúng ta không thể đánh đổi tăng trưởng cao với mất ổn định kinh tế vĩ mô