Vì vậy, giữa tiếtkiệm và đầu tư khó ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bịthừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp,thất nghiệp gia tă
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 07 NĂM 2011
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “ Huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020” là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Tác giả
LA NGỌC GIÀU
Trang 4o0o Trang Trang phụ bìa Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 4
TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ ĐẦU TƯ 4
PHÁT TRIỂN KINH TẾ 4
1.1 Khái niệm và vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế 4
1.1.1 Khái niệm về vốn 4
1.1.2 Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế : 5
1.2 Các hình thức huy động vốn để phát triển kinh tế 8
1.2.1 Huy động vốn từ NSNN 9
1.2.2 Huy động vốn từ tín dụng trung và dài hạn : 12
1.2.3 Huy động vốn nước ngoài: 13
1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế 15
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư phát triển kinh tế : 18
1.4.1 Lãi suất : 18
1.4.2 Chính sách thuế Nhà nước : 19
1.4.3 Sự phát triển của các định chế tài chính: 19
1.4.4 Sự phát triển thị trường tài chính : 20
1.4.5 Yếu tố môi trường đầu tư : 20
Trang 51.5.1 Kinh nghiệm huy động vốn tại TP.Hồ Chí Minh 21
1.5.2 Kinh nghiệm huy động vốn tại Đồng Nai 23
1.5.3.Kinh nghiệm huy động vốn tại Hậu Giang 25
1.5.4.Kinh nghiệm huy động vốn tại Vĩnh Long 26
-1.6 Một số bài học kinh nghiệm thiết thực cho quá trình huy động vốn cho đầu tư và phát triển 28
Chương 2 31
THỰC TRANG HUY ĐỘNG VỐN 31
ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở TỈNH ĐỒNG THÁP 31
2.1 Vị trí địa lý kinh tế và đặc điểm về tài nguyên tự nhiên 31
-2.1.1 Vị trí tỉnh Đồng Tháp trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và quan hệ với các tỉnh thành trên cả nước 31
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2.1 Khí hậu, thời tiết 33
2.1.2.2 Thủy văn 33
2.1.2.3 Địa hình 34
2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 34
2.1.3.1 Khoáng sản 34
2.1.3.2 Thổ nhưỡng 35
2.1.3.3 Tài nguyên sinh vật 35
2.1.3.4 Tài nguyên đất đai và sử dụng 36
2.1.4 Phân vùng tổng hợp kinh tế 37
2.1.4.1 Vùng Cao Lãnh ( khu vực 1) 37
2.1.4.2 Vùng Hồng Ngự ( khu vực 2) 37
2.1.4.3 Vùng Sa Đéc( khu vực 3) 37
Trang 6Tháp giai đoạn 2005 2010 38
2.2.1 Khái quát về tình hình huy động vốn đầu tư giai đoạn 20052010 38
2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển giai đoạn 20052010 42
2.2.3.Nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2005 – 2010 44
2.2.3.1 Huy động vốn từ ngân sách Nhà nước 44
2.2.3.2 Huy động từ tín dụng trung và dài hạn: 46
2.2.3.3 Huy động vốn nước ngoài 49
-2.3 Tác động của vốn đầu tư đối với quá trình phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp 50
2.3.1 về tăng trưởng kinh tế 50
-2.3.2 Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu thành phần kinh tế: 51
2.3.3 Về phát triển các ngành kinh tế 52
2.3.4 Về hoạt động xuất khẩu: 53
2.3.5 Về hạ tầng kinh tế 54
-2.4 Đánh giá những kết quả đạt được và tồn tại của việc huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Tháp 56
2.4.1 Huy động vốn từ ngân sách 56
2.4.2 Huy động từ tín dụng trung và dài hạn 57
2.4.3 Huy động từ nước ngoài 59
Chương 3 61
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 61
KINH TẾ TỈNH ĐỒNG THÁP ĐẾN NĂM 2020 61
3.1 Định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 61
3.1.1 Các mục tiêu chiến lược : 61
Trang 7-3.1.4 Thuận lợi, khĩ khăn, cơ hội và thách thức đối với phát triển kinh tế
tỉnh Đồng Tháp 68
3.2 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư và nguồn vốn 71
-3.3 Quan điểm huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế Tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới 72
-3.4 Một số giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế trong thời gian tới 73
3.4.1 Giải pháp về nguồn vốn 73
3.4.2 Giải pháp về các chính sách địn bẩy 80
3.4.2.1 Chính sách đất đai 80
3.4.2.2 Chính sách thu hút vốn đầu tư 81
3.4.2.3 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài 82
3.4.2.4 Chính sách trong lĩnh vực quốc phịng, an ninh 83
3.4.3 Giải pháp về nguồn nhân lực: 83
3.4.4 Giải pháp về khoa học cơng nghệ: 84
3.4.5 Giải pháp về an ninh quốc phịng: 85
-KẾ T LUẬ N 89 -Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 8STT TẮT NỘI DUNG CỦA TỪ VIẾT TẮT
1 APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(Asia-Pacific Economic Cooperation)
2 BOT Xây dựng Khai thác Chuyển giao (Build Operate
Transfer)
3 BT Xây dựng Chuyển giao (Build Transfer)
4 CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
5 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
8 ĐTNN Đầu tư nước ngoài
9 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment)
10 GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic product)
11 HĐND Hội đồng Nhân dân
12 ICOR Hệ số sử dụng vốn (Incremental Capital Output Rate)
13 IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế (Internation Monetary Fund)
15 KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
Trang 9Biểu đồ 1.1 : Tình hình huy động vốn đầu tư giai đoạn 2005-2010 24 Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn đầu tư giai đoạn 2005-2010 39 Biểu đồ 2.2: Giá trị sản phẩm theo giá thực tế phân theo khu vực 2005-
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2005-2010 43 Biểu đồ 2.4: Thu ngân sách giai đoạn năm 2005-2010 45 Biểu đồ 2.5: Huy động vốn trung và dài hạn 2005-2010 47
Biểu đồ 2.6: Huy động vốn phân theo khu vực 2005-2010 47
Biểu đồ 2.7: Huy động vốn nước ngoài 2005-2010 50
Bảng 2.5: Huy động vốn trung và dài hạn 2005-2010 46
Bảng 3.1 : Các chỉ tiêu cơ bản của tỉnh Đồng Tháp dự kiến đạt được đến
năm 2020
68
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đồng Tháp là một tỉnh thuộc ĐBSCL, là một vùng mạnh về nôngnghiệp, thủy sản và cũng là nơi có nhiều tiềm năng thu hút các nhà đầu tưnước ngoài trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp
Bước vào thời kỳ đẩy nhanh CNH – HĐH, nguồn vốn để đầu tư pháttriển kinh tế là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách Kinh nghiệm cho thấyphần lớn các quốc gia ở trong tình trạng thiếu vốn để đầu tư phát triển kinh
tế Tuy nhiên, tùy theo hoàn điều kiện kinh tế , mỗi quốc gia tự tìm ra giảipháp phù hợp để có thể huy động và sử dụng nguồn vốn để đầu tư phát triểnkinh tế một cách có hiệu quả, phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế nhằmtạo ra sự phát triển bền vững cho nên kinh tế
Để tạo tiền đề phát triển bền vững cho nền kinh tế, đòi hỏi Tỉnh ĐồngTháp phải nhanh chóng hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại nhằm phát triển nhanh kinh tế, pháttriển đô thị và nông thôn theo hướng CNH - HĐH Đồng Tháp cần phải đề ra
và thực hiện các giải pháp huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế một cáchhiệu quả từ các nguồn vốn trong và ngoài nước, khơi dậy nguồn lực to lớntrong mọi thành phần kinh tế
Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế của Đồng Tháp cho thấy, tốc độtăng trưởng kinh tế của tỉnh đang ở mức tương đối cao so với các tỉnh trongkhu vực, nhưng đời sống nhân dân chưa cao do nền kinh tế chủ yếu nhờ vàonông nghiệp, những tiềm năng thế mạnh của tỉnh chưa được khai thác triệt để.Trong điều kiện khi tích luỹ nội bộ chưa đáng kể do trình độ phát triển thấp,
để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế cần khơi dậy và huy động tối đa cácnguồn nội lực và ngoại lực Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nângcao khả năng huy động vốn và sử dụng vốn để đầu tư phát triển kinh tế đối
Trang 11với tỉnh Đồng Tháp đang là vấn đề đang đặt ra hiện nay Sự giải quyết có hiệuquả vấn đề này là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH trênđịa bàn tỉnh Xuất phát từ những luận cứ trên, tôi chọn đề tài “HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG THÁP ĐẾN NĂM 2020”làm luận văn bảo vệ nhận học vị thạc sĩ kinh tế.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan về huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế vàkinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố ở VN trong việc huy động vốn để đầu
tư phát triển kinh tế từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụngcho tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới
- Phân tích và đánh giá thực trạng huy động vốn để đầu tư phát triển kinh
tế ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2005 – 2010; Qua đó rút ra những kết quả đạtđược và tồn tại cần hoàn thiện
- Đề xuất các giải pháp đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnhĐồng Tháp nhằm huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế trong thời giantới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế củatỉnh Đồng Tháp
- Phạm vi nghiên cứu: tình hình huy động vốn đề đầu tư phát triển kinh
tế ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2005 – 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương luận của chủnghĩa duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp tổng hợp, thống kê, sosánh, phân tích, diễn dịch quy nạp để đánh giá nhận xét hiện thực khách quan,
dự báo về khả năng và đưa ra các giải pháp có tính khả thi, phù hợp với thựctiễn của tỉnh Đồng Tháp
Trang 125 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế Chương 2: Thực trạng huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế ở tỉnhĐồng Tháp giai đoạn 2005 – 2010
Chương 3: Một số giải pháp huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tếtỉnh Đồng Tháp đến năm 2020
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ1.1 Khái niệm và vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế
1.1.1 Khái niệm về vốn
Trong cuốn từ điển kinh tế hiện đại có giải thích:
"Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thốngkinh tế tạo ra Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng nhưyếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau Vì vậy, tư bản này có thể phân biệtđược với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thốngkinh tế tạo ra Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trởthành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế." (Từ điểnkinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr 129)
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá:
Gt = c + v + m (1.1)
Trong đó :
Gt : Giá trị của hàng hóa hay dịch vụ
c : Tư bản bất biến – Phần khấu hao giá trị của tư liệu sản xuất và vật
tư sản xuất chuyển sang hàng hóa hay dịch vụ
(v + m) : Tư bản khả biến – Phần giá trị mới do người công nhân điều hành
máy để tạo ra hàng hóa hay dịch vụ
v : Tiền mà nhà tư bản bỏ ra trả cho người công nhân
m : Thặng dư sức lao động của công nhân mà nhà tư bản chiếm hữu
Để tiến hành tái sản xuất nhà tư bản cần chi phí về vốn cho cả tư bản bấtbiến và tư bản khả biến Tư bản khả biến ở đây hoàn toàn không đồng nghĩavới người lao động Nói cách khác, lao động không phải là vốn đầu tư mà chỉ
có sức lao động đã chi ra mới là yếu tố hình thành vốn đầu tư
Trang 14Quan niệm thứ ba cho rằng vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất.Muốn tiến hành tái sản xuất cần chi phí về đất đai; tài chính (vốn) và laođộng Người ta thường nói: "Lao động là vốn quý".
Vốn để đầu tư phát triển kinh tế còn bao gồm cả những nguồn lực chokhoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nângcao trình độ nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu và triển khai, đào tạo cán
bộ trong xã hội hiện nay có mặt ở hầu hết các ngành, các cơ quan, đơn vị sảnxuất kinh doanh Bên cạnh những trung tâm, đơn vị lớn có ngân sách riêng,còn rất nhiều cơ quan đơn vị khác phần ngân sách này là một bộ phận của chiphí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động thường xuyên
Tóm lại vốn để đầu tư phát triển kinh tế đầu tư được xem xét ở đây chỉvới tư cách là nguồn lực vật chất, là sức lao động được sử dụng có ý thứcnhằm tạo dựng tài sản (hữu hình và vô hình) để nâng cao và mở rộng sảnxuất, thông qua việc xây dựng, mua sắm thiết bị, máy móc, nhà xưởng,nguyên vật liệu cho sản xuất, nghiên cứu, triển khai và tiếp thu công nghệ mới
và nâng cao đời sống người dân
1.1.2 Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế :
Để tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững thì một trongnhững điều kiện cực kỳ quan trọng đối với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu
tư Người ta hay nói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho kinh tếcủa 5 con rồng Châu Á tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do vốn
để đầu tư phát triển kinh tế tăng lên liên tục và thường chiếm khoảng 30%trong GDP Nếu xét trên giác độ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì
sự tăng thêm của GDP tỷ lệ thuận với đầu tư; tỷ lệ nghịch với ICOR Đầu tưchính là vốn đầu tư phát triển đã thực hiện trong năm
Đầu tư trong nămGDP tăng
Trang 15Trong kinh tế học người ta phân chia sự khác biệt giữa tăng trưởng vớiphát triển Tăng trưởng là sự tăng thêm về số lượng và gần đồng nghĩa với tốc
độ tăng trong thống kê Phát triển bằng tăng trưởng cộng thêm với sự thay đổi
về chất và cơ cấu của hiện tượng nghiên cứu Vì vậy, đầu tư để phát triển thìngoài việc đầu tư để tăng năng lực sản xuất còn phải đầu tư để nâng cao chấtlượng của sự tăng trưởng Điều đó có nghĩa là phải có một bộ phận của đầu
tư không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động như đầu tư chonghiên cứu, cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống, đầu tư cho giáo dục,cho xoá đói giảm nghèo, Đây là một loại đầu tư cần thiết nhưng không làmtăng TSCĐ hoặc TSLĐ song nó lại là yếu tố cực kỳ quan trọng để nâng caochất lượng cho sự tăng trưởng Với cách tiếp cận như vậy chúng tôi cho rằngcác khoản đầu tư trên thuộc về đầu tư phát triển của xã hội Những khoảnđầu tư này chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư hàng năm
Chính từ sự phát triển của các nước cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệtquan trọng, là chìa khóa của sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh
tế, thể hiện:
- Vốn là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất - kinh doanh:
Vốn là tiền đề cho ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế Làmột phạm trù tài chính, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được quan niệmnhư là khối lượng giá trị, được tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đíchsinh lợi Như vậy, vốn được biểu hiện bằng giá trị và đại diện cho một khốilượng tài sản nhất định Giữa vốn và tiền có quan hệ với nhau Muốn có vốnthì phải có tiền, song có tiền thậm chí những khoản tiền lớn cũng không phải
là vốn Một khối lượng tiền được coi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp khiđáp ứng các điều kiện như: tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản cóthực; tiền phải được tích tụ và tập trung đủ để đầu tư cho một dự án; tiền phảiđược vận động nhằm mục đích sinh lời Vốn vừa là yếu tố đầu vào, đồng thờivừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình sản xuất Chính trongquá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc lập, không thể thiếu
Trang 16được Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt động phải được thu về
để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau, không thể mất đi mà vốn phải đượcbảo toàn và phát triển
- Vốn là nhân tố quan trọng có tính quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh tế:
+ Tác động của vốn đầu tư đến cân bằng kinh tế vĩ mô:
Một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng vàphát triển là đòi hỏi phải đảm bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó giữatiết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tưphát triển, vừa tiêu hóa số tiền tiết kiệm một cách hiệu quả Vốn chính là hiệnthân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư Số tiền tiết kiệm được gọi là vốnkhi được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư Nềnkinh tế có tiết kiệm mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộngquy mô đầu tư Thế nhưng, trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tưđược thực hiện bởi các chủ thể khác nhau Công chúng quyết định tiết kiệmbao nhiêu trong thu nhập của mình và doanh nghiệp quyết định mở rộng quy
mô đầu tư ở mức độ nào, tất cả đều là những biến cố độc lập Vì vậy, giữa tiếtkiệm và đầu tư khó ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bịthừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp,thất nghiệp gia tăng … Vì vậy, để vực dậy nền kinh tế và thiết lập sự cân bằnggiữa tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước trong việckhuyến khích đầu tư nhằm tiêu hóa có hiệu quả số vốn từ tiết kiệm, đồng thờikích cầu bằng những chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý Ở những nền kinh tếđang phát triển, trong thời kỳ công nghiệp hóa, nhu cầu vốn đầu tư thườngvượt xa số tiền tiết kiệm có được, các nền kinh tế đó phải huy động một lượngvốn lớn từ bên ngoài để bổ sung vào sự thiếu hụt đó Vốn nước ngoài tăngnhanh, trước mắt góp phần đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế,nhưng lâu dài lại trở thành gánh nợ đè nặng lên ngân sách, cán cân thanh toán,
tỷ giá … Vì vậy, để ổn định kinh tế, Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ cácdòng vốn nước ngoài, đồng thời chấn chỉnh lại nền tài chính quốc gia, thực
Trang 17hành tiết kiệm để nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trong nước.
+ Tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Tính quan trọng đặt biệt của vốn thể hiện ở chỗ, thiếu nó những nguồn laođộng, tài nguyên chỉ nằm dưới dạng tiềm năng Muốn khai thác các nguồn lựcnày đòi hỏi các nền kinh tế luôn phải duy trì một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định.+ Tác động đến phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:Kinh tế học đã xác lập rằng, sự phát triển của nền kinh tế phải đặt trong
sự tương quan chặt chẽ với phát triển cơ sở hạ tầng Như Ngân hàng Thế giới
đã nhận định, đối với mọi quốc gia mức tăng tổng sản phẩm quốc gia thườngtương ứng với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng Vì vậy, muốn pháttriển kinh tế, nền kinh tế nhất thiết phải có vốn để tập trung đầu tư vào cơ sở
hạ tầng Khi nền kinh tế phát triển cao thì cơ sở hạ tầng cần phải phù hợp với
sự tiến triển của nhu cầu
Mặt khác, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏinền kinh tế phải tạo ra bộ khung kinh tế cân đối hài hòa cả về cơ cấu ngànhlẫn cơ cấu vùng và lãnh thổ Vốn chính là nhân tố đặc biệt quan trọng để khaithác hiệu quả các nguồn lực tiềm năng, tạo ra động lực đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu Vì vậy tùy theo điều kiện phát triển trong từng thời kỳ, mỗi nền kinh
tế xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý, thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước
để đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và phát triển
1.2 Các hình thức huy động vốn để phát triển kinh tế
Trong tổng thu nhập của mỗi nước, sau khi trừ đi phần tiêu dùng, còn lại
là phần để bù đắp và tích lũy Quỹ bù đắp và quỹ tích lũy chính là nguồn gốchình thành vốn đầu tư, trong đó quỹ tích lũy là bộ phận quan trọng nhất.Quỹ tích lũy được hình thành từ các khoản tiết kiệm Nền kinh tế càngphát triển thì tỷ lệ tích lũy càng cao Đối với các nước đang phát triển, đặcbiệt là những nước có thu nhập thấp thì quy mô và tỷ lệ tiết kiệm đều thấptrong khi yêu cầu phát triển kinh tế ngày càng tăng, đòi hỏi nguồn vốn đầu tưlớn Điều đó cần thiết phải huy động được nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài
Trang 18Mặt khác, trong xu hướng chu chuyển quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, ngay
cả các nước phát triển vẫn cần có sự kết hợp trong việc huy động vốn đầu tưtrong và ngoài nước phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế
Nguồn vốn đầu tư trong nước được huy động chủ yếu từ các hình thứcsau:
1.2.1 Huy động vốn từ NSNN
Vốn ngân sách có ý nghĩa quyết định cho đầu tư công ích; vốn của cácthành phần kinh tế khác và trong dân rất quan trọng trong đầu tư kinh doanh.Vốn đầu tư trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia, có ưuđiểm là ổn định, bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và hậu quảxấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài
+ Huy động vốn từ nguồn thu thuế:
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sáchNhà nước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế,Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nênquỹ ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt rathông qua việc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm phápluật không chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền,nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế.Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế của Nhà nước Chính
vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế của thuế và có vaitrò quan trọng, cung cấp nguồn vốn chủ yếu cho nền kinh tế và đời sống xãhội
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trongnhững điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thịtrường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt độngkinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh
Trang 19tế Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
* Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đốivới các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiệnnghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chínhquan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước
Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng điềuchỉnh các quan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự điềuchỉnh quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhànước Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quyđịnh để thu ngân sách Nhà nước
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội vàthu nhập quốc dân Hiện nay nguồn thu từ nước ngoài có khuynh hướng giảmnhiều, kinh tế đối ngoại chuyển thành có vay có trả Do vậy, thuế là một công cụquan trọng để góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề choviệc phát triển lâu dài Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luậtthuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế đã điều chỉnhđược hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêudùng xã hội Ðây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước
* Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế.
Ðiều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên củaNhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy định củapháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất,miễn giảm thuế Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nềnkinh tế Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chỗ pháp luật thuế làcông cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinhdoanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụ
Trang 20thuế, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng.
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động canthiệp đến cung - cầu của nền kinh tế Sự tác động của Nhà nước để điều chỉnhcung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớn đến sự ổn định
và tăng trưởng kinh tế Bằng các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước tácđộng tích cực đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sảnxuất, lưu thông đến tiêu dùng
* Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế được áp dụng thống nhất chung cho cácngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sựbình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thểnhân và pháp nhân
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách độngviên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cónhững điều kiện hoạt động giống nhau
Vai trò điều tiết thu nhập của thuế thể hiện ở sự tác động của pháp luậtthuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạmpháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thốngthuế và thuế suất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung đó không làm triệttiêu vai trò của thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiệnnền kinh tế thị trường
+ Huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu:
Phát hành trái phiếu là một hình thức vay nợ được chính phủ các nước sửdụng khá phổ biến để huy động vốn xử lý thâm hụt ngân sách Trái phiếu dochính phủ phát hành là chứng chỉ nhận nợ của Nhà nước, là một loại chứngkhoán hay trái khoán do Nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh
Trang 21tế và ngân hàng Ở Việt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho Kho Bạc Nhànước phát hành trái phiếu chính phủ dưới các hình thức:
- Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dướimột năm, đươc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạmthời của ngân sách Nhà nước trong năm tài chính
- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạntrên một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngânsách Nhà nước xuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế
- Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thờihạn trên một năm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xácđịnh đã được ghi trong kế hoạch đầu tư của Nhà nước
Đối với Việt Nam, trái phiếu chính phủ là hình thức huy động vốn cóhiệu quả, qua các đợt phát hành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trảhợp lý đã huy động được nguồn vốn to lớn vào ngân sách Nhà nước đáp ứngkịp thời nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, góp phần chống lạm phát và ổn địnhnền kinh tế
1.2.2 Huy động vốn từ tín dụng trung và dài hạn :
Trong nền kinh tế thị trường, số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thểchuyển hóa thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức như: gởi tiếtkiệm vào các TCTD, mua chứng khoán trên thị trường tài chính, trực tiếp đầu
tư kinh doanh … Có thể nói, tiết kiệm khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọngtrong hệ thống tài chính Chẳng hạn, nếu huy động vốn từ NSNN không đápứng đủ nhu cầu chi đầu tư thì buộc Nhà nước phải tìm đến nguồn vốn ở khuvực này Tương tự, đối với khu vực tài chính doanh nghiệp cũng vậy, khi phátsinh nhu cầu vốn để mở rộng đầu tư kinh doanh, thông qua thị trường tàichính các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn tiết kiệm khu vực dân cưbằng nhiều hình thức phong phú như: phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn
từ các TCTD … Như vậy, trong một nền kinh tế, nếu môi trường kinh tế vĩ
mô không ổn định, thị trường tài chính và các công cụ tài chính yếu kém, thì
Trang 22khó mà phối hợp và chuyển tải nhanh chóng nguồn vốn tiết kiệm của khu vựcdân cư cho NSNN và doanh nghiệp.
Nguồn vốn này được dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổimới kỹ thuật và công nghệ các dự án sản xuất kinh doanh,dịch vụ có hiệu quả;
có khả năng thu hồi vốn và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành.Vốn tín dụng thương mại được áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả, thực hiệnđầy đủ các thủ tục đầu tư và điều kiện vay - trả vốn
1.2.3 Huy động vốn nước ngoài:
Nguồn vốn nước ngoài có ưu thế mang lại ngoại tệ cho nền kinh tế Tuyvậy, trong nó luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế,
đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăngtiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước … Như vậy, vấn đề huy động vốn nướcngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách huy động vốn của cácnền kinh tế đang chuyển đổi, đó là: một mặt, phải ra sức huy động vốn nướcngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công nghiệp hóa; mặt khác, phải kiểmsoát chặt chẽ sự động vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng
Nguồn vốn nước ngoài được huy động thông qua các hình thức chủ yếu sau:
+ Viện trợ phát triển chính thức (ODA):
Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hỗ trợ phát triển do chính phủ cácnước ngoài hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ
và các tổ chức phi chính phủ cho các nước tiếp nhận Nguồn vốn ODA baogồm viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi
về lãi suất, khối lượng vay vốn và thời gian thanh toán nhằm vào hỗ trợ cáncân thanh toán, hỗ trợ các chương trình, dự án …
Nguồn vốn ODA tuy có ưu điểm về chi phí sử dụng, nhưng các nướctiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt với những thử thách rất lớn,
đó là: gánh nặng quốc gia trong tương lai; chấp nhận những điều kiện vàràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn; đôi khi còn gắn cả nhữngđiều kiện chính trị Mỗi tổ chức, mỗi chính phủ đều có những phương cách
Trang 23và thông lệ riêng trong việc cung cấp ODA nhằm để đạt được những mụctiêu chính sách riêng của họ Với những ràng buộc về chính trị không phảinước nào cũng có thể nhận được viện trợ hoặc sử dụng có hiệu quả caotrong hoàn cảnh riêng của mình Còn đối với điều kiện về kinh tế, điểnhình nhất là IMF và WB đều đưa ra cung cách áp đặt nước nhận tài trợ phảitiến hành những chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo những khuônkhổ rất cứng nhắc Thực tế, cung cách đó đã mang lại những hệ quả tốt lẫnxấu trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn này.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
Đây là nguồn vốn do các nhà ĐTNN đem vốn vào một nước để đầu tưtrực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp FDI đã và đang trở thành hìnhthức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi
mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ởnước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so sánh
Khác với nguồn vốn ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa vốn ngoại tệ vàocác nước sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiêntiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới … Tiếp nhận FDI là lợi thế hiểnnhiên, mà thời đại tạo ra cho các nước đang phát triển Song, điều quan trọngđặt ra cho các nước tiếp nhận là phải biết khai thác triệt để các lợi thế có đượccủa nguồn vốn này nhằm đạt được tổng thể cao về kinh tế Tuy nhiên FDI cũng
có mặt trái của nó, vì nguồn vốn FDI thực chất cũng là những khoản nợ, trướcsau nó vẫn không thuộc quyền sở hữu và chi phối của các nước sở tại, chủ đầu
tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận tối đa Ngày hôm nay nhà ĐTNN đưa vốnvào đầu tư và khi hết hạn họ lại rút vốn ra giống như các khoản nợ - có vay cótrả Hơn nữa, trong các khoản vay nợ, thông thường mức lãi suất do hai bênthỏa thuận trước, còn trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư bao giờ cũng mưu cầulợi nhuận tối đa Mặt khác, các nước tiếp nhận còn có thể phải gánh chịu nhiềuthiệt thòi do phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu tư hay bị các nhàĐTNN tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các nhân tố đầu vào, cũng như cóthể bị chuyển giao công nghệ và kỹ thuật lạc hậu
Trang 24+ Phát hành chứng khoán trên thị trường tài chính quốc tế: Ưu điểm
của phương thức này là huy động vốn trực tiếp, không phải thông qua các tổchức tài chính trung gian nên chi phí sử dụng vốn thấp hơn các khoản vay tíndụng Người đi vay có thể là doanh nghiệp và chính phủ Tuy vậy, việc tìmkiếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn còn nhiều khó khăn thử thách,đặc biệt là các tiêu chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giaodịch tại các thị trường tài chính quốc tế, phổ biến là trái phiếu chính phủ Việcphát hành trái phiếu quốc tế cũng có hạn chế nhất định
+ Ngoài ra, việc huy động vốn nước ngoài còn được thực hiện thông qua các hoạt động thuê tài chính, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng.
Tóm lại, vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế được huy động từ nguồnvốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Trên cơ sở đó, đòi hỏi cần phải biếtthực hiện huy động và sử dụng các nguồn vốn một cách thích hợp, đảm bảocho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững
1.3 Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế
Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế cả hai mặt: tổng cung và tổngcầu Trong hàm tổng cầu thì đầu tư là một thành phần của tổng cầu Hàm tổngcầu có dạng như sau:
Y = C + I + G + X – M (1.3) Trong đó:
Y là sản lượng hay thu nhập quốc dân
C là tiêu dùng dân cư
Trang 25Theo lý thuyết Kenyes: khi đầu tư tăng lên một đơn vị thì làm cho Y tănghơn một đơn vị Thật vậy, khi thay thế C = a+bY và M = u + vY làm hàm tiêudùng và hàm nhập khẩu biểu diễn theo Y thì đẳng thức (1.3) có dạng:
Y = (a + I + G + X - u)/(1- b + v) (1.4)
Vì b là hệ số biến thiên hướng tiêu dùng biên (marginal presensity toconsume), bao gồm tiêu dùng trong nước và tiêu dùng nhập khẩu (marginalpresensity to import) Do đó, (b - v) sẽ lớn hơn 0 và (1- b + v) sẽ nhỏ hơn 1,tức là 1/(1- b + v) sẽ lớn hơn 1
Từ đẳng thức (1.4) cho thấy: với các điều kiện khác không đổi thì khiđầu tư I gia tăng 1 đơn vị thì thu nhập Y sẽ gia tăng hơn 1 đơn vị Ảnh hưởngtrên gọi là ảnh hưởng hệ số nhân (Multiplier effect)
Trong thực tế thì mức độ của ảnh hưởng trên còn tùy thuộc vào năng lựccung của nền kinh tế Nếu năng lực cung mà hạn chế thì việc gia tăng tổngcầu, dù với bất cứ lý do nào, chủ yếu chỉ làm tăng giá cả mà thôi, còn sảnlượng thực tế thì không tăng lên bao nhiêu
Ngược lại, nếu năng lực cung mà dồi dào thì việc gia tăng tổng cầu thật
sự làm tăng sản lượng như lý thuyết Keynes đã đưa ra ở trên Năng lực cungcủa nền kinh tế biểu hiện ở độ dốc của đường cung
Ảnh hưởng khác của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế thông qua tổng cungthể hiện ở chỗ: vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất; vốn đượckết hợp với lao động và tài nguyên, thông qua quá trình sản xuất, sẽ tạo ra củacải vật chất trong xã hội Nhiều nghiên cứu đi đến kết luận, vốn là nhân tốquan trọng nhất tạo ra tăng trưởng kinh tế Vốn không chỉ đóng góp trực tiếpvào tăng trưởng kinh tế với tư cách là đầu vào của sản xuất (đóng góp về mặtlượng) mà còn đóng góp một cách gián tiếp thông qua việc thúc đẩy tiến bộ
kỹ thuật do các đầu tư mới mang lại, do lợi ích kinh tế nhờ quy mô lớn (tức làvới một ngành, việc đầu tư mở rộng quy mô sẽ làm giảm chi phí sản xuất – dochuyên môn hóa…) Đây là những đóng góp về “chất” của đầu tư, tức là hiệuquả của nền kinh tế đã được nâng cao
Trang 26Mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar: Dựa vào tư tưởng của Keynesvào những năm 40 hai ông Harrod và Domar đã đưa ra phạm trù hệ số ICOR(Incremental Capital – Output Ratio) để giải thích tương quan giữa vốn vớiđầu ra, được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển nhằm xem xét quan
hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu về vốn đầu tư
Hệ số ICOR là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của một quốc gia haymột ngành, cho thấy cần thêm bao nhiêu đồng cho đầu tư để tăng thêm mộtđơn vị sản lượng Theo phương trình Harrod – Domar (1.5):
Công thức trên cho thấy mối tương quan tỷ lệ nghịch giữa hệ số ICOR vàtốc độ tăng trưởng kinh tế Với tỷ lệ đầu tư/GDP giống nhau, nước nào có hệ
số ICOR thấp hơn thì sẽ tạo ra một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn Thực
tế từ các nước cho thấy sự khác biệt trong hệ số ICOR giữa các nước đóng vaitrò lớn trong việc giải thích sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nước.Như vậy hệ số ICOR càng thấp thì chứng tỏ là đầu tư càng hiệu quả Hệ
số ICOR thấp hơn có nghĩa là cần một tỷ lệ đầu tư GDP thấp hơn để duy trìcùng một tốc độ tăng trưởng Tuy nhiên, theo quy luật về lợi tức biên giảmdần (diminishing marginal return of capital) nên khi nền kinh tế càng pháttriển (GDP/đầu người tăng lên) thì hệ số ICOR sẽ gia tăng, lúc này tiền lương
sẽ tăng cao Nền kinh tế cần một tỷ lệ đầu tư/GDP cao hơn để duy trì cùngmột tốc độ tăng trưởng Trong nội bộ nền kinh tế, việc so sánh hệ số ICORgiữa các ngành sẽ thấy được ngành nào có hiệu quả đầu tư cao hơn
Mô hình Harrod – Domar cho thấy sự tăng trưởng là kết quả tương tácgiữa tiết kiệm và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế Đầu tưsinh ra lợi nhuận và gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế
Suy ra:
ICOR = ∆ Vốn đầu tư
∆ GDP
∆ Vốn đầu tư Mức tăng GDP =
ICOR
Trang 27Đối với các nước đang phát triển khi ứng dụng mô hình này gặp trở ngạiđầu tư là vấn đề vốn, vấn đề tiết kiệm và đầu tư Để có vốn để đầu tư pháttriển kinh tế các nước đang phát triển phải hy sinh việc tiêu dùng, phải tăngthuế Song do hầu hết các nước đang phát triển là những quốc gia nghèo nêngiải pháp này không mang lại kết quả cao Cho nên phải huy động tổng lựcmọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư phát triển kinh tế:
Nền kinh tế là một hệ thống nhất, trong đó các biến kinh tế vĩ mô như :lãi suất thị trường, thu nhập quốc dân, chính sách tài chính - tiền tệ, tài khoá,xuất nhập khẩu … có mối quan hệ, tác động lẫn nhau Những biến số này cótác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các dòng VĐT, đến cầu cũng như nguồncung VĐT của các chủ thể kinh tế, ảnh hưởng của các nhân tố này được thểhiện như sau :
1.4.1 Lãi suất :
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô quan trọng nhất trongnền kinh tế Nó tác động trực tiếp tới những quyết định như : chi tiêu, tiếtkiệm, mua tài sản hay đầu tư vào các tài sản tài chính … Lãi suất có thể cónhững tác động tích cực đến tiết kiệm, đầu tư và ngược lại Tiết kiệm tăng,nguồn vốn đầu tư có cơ hội tăng lên và ngược lại Xét tổng thể nền kinh tế,với giả định là tất cả các khoản tiết kiệm sẽ được chuyển thành vốn đầu tưthông qua các kênh tài chính và mỗi cá nhân trong nền kinh tế hoạt độngnhằm mục đích tối đa lợi ích kinh tế Khi đó, tiết kiệm có quan hệ thuận vớilãi suất, đầu tư lại có quan hệ nghịch với lãi suất Lãi suất cao có mặt tích cựcvới đầu tư là có thể loại bỏ được những dự án không thực sự mang lại tỷ suấtsinh lợi cao Nhưng lãi suất quá cao so với lãi suất cân bằng trong nền kinh tế
sẽ đẩy các nhà đầu tư vào các hoạt động quá mạo hiểm với mức độ rủi ro caocủa các khoản tín dụng và phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán,phá sản Lãi suất thấp không chỉ có tác động tích cực khuyến khích đầu tư
mà cũng có thể dẫn đến những tác động tiêu cực như : đầu tư tràn lan, khôngtính đến hiệu quả vốn đầu tư và có thể dẫn đến nguy cơ thiếu vốn Như vậy,
Trang 28Ngân hàng Nhà nước cần có chính sách điều hành lãi suất một cách linh hoạttheo nhu cầu của thị trường, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nềnkinh tế Lãi suất không quá cao đẩy các nhà đầu tư vào các hoạt động mạohiểm, nhưng cũng không quá thấp dẫn đến giảm tiết kiệm, trong khi lại đầu tưtràn lan, kém hiệu quả.
1.4.2 Chính sách thuế Nhà nước :
Chính sách thuế của Chính phủ có tác động đến tiết kiệm và đầu tư củacác khu vực, từ Chính phủ, DN, đến những người dân Thuế cao có thể sẽ tácđộng làm tăng giá cả hàng hoá dịch vụ, người ta phải chi phí nhiều hơn trongkhi thu nhập chưa thay đổi, điều đó làm cho tiết kiệm giảm xuống Mặt khác,thuế tăng, đặc biệt là thuế thu nhập DN sẽ làm cho khả năng tiết kiệm, tích luỹvốn của DN giảm, hiệu quả đầu tư giảm và làm nản lòng các nhà đầu tư, làmcho cả cung và cầu đầu tư giảm Ngược lại, thuế suất thấp hơn cũng có thể cótác động làm tăng tiết kiệm, khuyến khích đầu tư, kích thích nền kinh tế pháttriển Đối với Chính phủ, thuế suất cao có thể đảm bảo nguồn thu, đáp ứng tốtnhu cầu chi tiêu của Chính phủ, nhưng nếu thuế quá cao sẽ không khuyếnkhích tiết kiệm và đầu tư, không khuyến khích nền kinh tế phát triển Ngượclại, giảm thuế thì nguồn thu ngân sách có thể sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu chitiêu của Chính phủ Như vậy, chính sách thuế phải phù hợp, một mặt đảm bảonguồn thu cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, mặt khác phải đảm bảo khuyếnkhích tiết kiệm và đầu tư trong các khu vực còn lại của nền kinh tế
1.4.3 Sự phát triển của các định chế tài chính:
Sự phát triển của các định chế tài chính với những sản phẩm dịch vụ đadạng, linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cho những người tiết kiệm có thể dễ dàngtiếp cận và sử dụng những sản phẩm này thì sẽ góp phần gia tăng tiết kiệm.Đồng thời, cũng tập trung được nguồn lực tài chính to lớn sẵn sàng tài trợ chonhững dự án đầu tư và do đó có tác động làm tăng cả nguồn cung và cầu về đầu
tư Ngược lại, sẽ rất khó huy động vốn từ nguồn tiết kiệm của người dân, làmcho nguồn vốn giảm xuống, hơn nữa nhà đầu tư cũng khó tiếp cận được cáckhoản vay Như vậy, các định chế tài chính kém phát triển một mặt không kíchthích tiết kiệm, mặt khác làm giảm khả năng tiếp cận vốn của những người có
Trang 29nhu cầu đầu tư Do đó, cả nguồn cung và cầu VĐT đều giảm sẽ có tác động tiêucực đối với sự phát triển của nền kinh tế Như vậy, để khuyến khích tiết kiệm,tăng nguồn VĐT cũng như khả năng tiếp cận nguồn VĐT, đòi hỏi hệ thống địnhchế tài chính phát triển, vận hành linh hoạt, hiệu quả.
1.4.4 Sự phát triển thị trường tài chính :
Sự phát triển của thị trường tài chính, trong đó thị trường chứng khoánđóng vai trò quan trọng tạo ra tính thanh khoản cao cho các chứng khoán, tráiphiếu, các tài sản tài chính nói chung Điều này có ý nghĩa quan trọng có tácđộng tích cực đến thu hút tiết kiệm cũng như hoạt động đầu tư của các nhà đầu
tư Sự phát triển của TTCK cũng tác động làm tăng mức tiết kiệm quốc gia vàcác nhà đầu tư cũng dễ dàng tiếp cận được những nguồn vốn lớn phục vụ chonhu cầu đầu tư của mình bằng việc phát hành chứng khoán, trái phiếu …
Ngược lại, thị trường tài chính kém phát triển sẽ tạo lên rào cản tronghuy động nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế cũng như hạn chế khả năng tiếpcận vốn của các nhà đầu tư cho nhu cầu đầu tư của mình
1.4.5 Yếu tố môi trường đầu tư :
Đầu tư nói chung thường được hiểu là sự hi sinh, đánh đổi những nguồnlực hiện tại (có thể là tiền, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ …) nhằm thu vềnhững kết quả lớn hơn trong tương lai Các nhà đầu tư đặt cược một số tiền lớntrong hiện tại, chấp nhận những chi phí cơ hội và hy vọng sẽ thu được số tiềnlớn hơn trong tương lai Do đó, những kết quả của đầu tư ở tương lai bị tácđộng mạnh mẽ bởi môi trường, đặc biệt trong trong nền kinh tế toàn cầu cạnhtranh ngày càng gay gắt Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố tác động trựctiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư Đó là, cơ sở hạ tầng; tìnhhình chính trị – xã hội; môi trường pháp lý, thủ tục hành chính … Nếu nhữngyếu tố này thuận lợi sẽ kích thích các nhà đầu tư, thu hút được nhiều nguồn lựctài chính tài trợ cho đầu tư phát triển Ngược lại nó là những rào cản làm giảmniềm tin, động lực đầu tư
Về môi trường chính trị xã hội : Sự ổn định chính trị – xã hội sẽ tạo ra môitrường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh Một Nhà nước thực thi
Trang 30hữu hiệu các chính sách phát triển KTXH, đáp ứng nhu cầu của người dân sẽmang lại niềm tin và sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.Thể chế ổn định, hệ thống pháp luật ổn đinh và hiệu lực, các vấn đề xã hộiđược giải quyết theo hướng nhân văn như xóa đói, giảm nghèo, giải quyết tệnạn xã hội, đạo đức kinh doanh, y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, giáo dục,văn hoá, đảm bảo an toàn đầu tư, quyền sở hữu tài sản … Tất cả những yếu tố
đó sẽ tạo thêm động lực để các nhà đầu tư yên tâm thực hiện dự án đầu tư lớn
Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường ổn định: Chính phủ các nước đều
sử dụng chính sách kinh tế, tiền tệ, tài khoá của mình nhằm duy trì sự ổn địnhkinh tế vĩ mô Sự ổn định tiền tệ, tỷ giá, kiềm chế lạm phát … là những yếu tốlàm giảm tính bất ổn, rủi ro trong hoạt động đầu tư và có tác động tích cực làmtăng cả nguồn cung và cầu đầu tư của nền kinh tế Ổn định kinh tế vĩ mô làđiều kiện tiên quyết để các nhà đầu tư có thể tính toán và đưa ra các quyết địnhđầu tư, đồng thời, giúp tránh những cuộc khủng hoảng, do đó tạo ra niềm tincho các nhà đầu tư vào tương lai và tạo cơ hội thu hút được nhiều VĐT hơn
Cơ sở hạ tầng: Là tổng thể các cơ sở vật chất kỹ thuật, các công trình, cácphương tiện tồn tại trên một lãnh thổ nhất định, được dùng làm điều kiện sảnxuất và sinh hoạt nói chung, đảm bảo sự vận hành liên tục, thông suốt cácluồng của cải vật chất, thông tin và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu có tính phổbiến của sản xuất và đời sống Cơ sở hạ tầng kém sẽ tạo ra những rào cản gâykhó khăn trong việc thu hút những dòng VĐT, nhất là những dự án có hàmlượng công nghệ cao từ nước ngoài Ngược lại, sự phát triển của hệ thống cơ sở
hạ tầng sẽ là điều kiện thuận lợi thu hút các nguồn VĐT trong và ngoài nước
1.5 Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư của các Tỉnh, thành phố ở Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm huy động vốn tại TP.Hồ Chí Minh
+ Thành lập Công ty Tài chính Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 02/02/2010, trên cơ sở được sự đồng ý về nguyên tắc và ủyquyền Thủ tướng Chính phủ; Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã
Trang 31ban hành Quyết định số 576/QĐ-UBND về việc thành lập Công ty Đầu tưTài chính Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh (HFIC) trên cơ sở tổ chức lạiQuỹ Đầu tư Phát triển Đô thị thành phố Đây là mô hình riêng có củaThành phố nhằm tiếp tục kế thừa và phát huy những thành quả đạt được.
Từ đó tạo sự chuyển biến tích cực và hiệu quả hơn trong lĩnh vực huy độngvốn và đầu tư; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - không chỉ tại của thànhphố Hồ Chí Minh và còn vươn ra cả địa bàn khu vực kinh tế trọng điểmphía nam
+ Phát hành trái phiếu địa phương để huy động vốn:
Việc phát hành thành công trái phiếu đô thị TP.HCM không những mở
ra một kênh huy động vốn mới, có những ưu điểm là có thể có thời hạn dài
và ổn định, mức chi phí vốn hợp lý, góp phần đáng kể trong việc huy độngvốn cho đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, đồng thời khắc phục một số hạnchế trong việc huy động tín dụng từ các ngân hàng của chính quyền địaphương mà còn có ý nghĩa lớn về mặt thực hiện chủ trương thí điểm pháthành trái phiếu của chính quyền địa phương theo cơ chế "tự vay, tự trả" ởnước ta, mở ra triển vọng nâng cao tính tự chủ trong quản lý ngân sách đầu
tư của chính quyền địa phương
+ Xã hội hóa đầu tư các lĩnh vực dịch vụ công và dịch vụ hạ tầng kinh tế.
Xây dựng quy chế xã hội hóa đầu tư trong các ngành y tế, giáo dục,văn hóa, thể thao và các dịch vụ kết cấu hạ tầng xã hội khác, với chế độ ưuđãi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế; xây dựng mô hình bệnh viện cổphần với sự tham gia rộng rãi của xã hội Đẩy mạnh hình thức khoán hoặcNhà nước thuê dịch vụ từ mọi thành phần kinh tế đối với lĩnh vực cung cấpdịch vụ hạ tầng đô thị (công viên cây xanh, cấp thoát nước, duy tu bảodưỡng cầu đường và các dịch vụ công cộng khác), vừa tạo cơ hội kinhdoanh cho mọi thành phần kinh tế, vừa nâng hiệu quả sử dụng ngân sách
Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào
Trang 32các lĩnh vực giáo dục - đào tạo; y tế; thể dục thể thao; các công trình vănhóa.
Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai tốt chủ trương này Cụ thể nhưcác dự án lớn đã được triển khai như:
- Dự án BOT cầu Phú Mỹ kết nối tuyến đường vành đai số 2 củaTP.HCM, hình thành trục giao thông kết nối các tuyến đường cao tốcTP.HCM - Trung Lương, TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, đồng thờigóp phần giảm áp lực giao thông ở khu vực nội ô TP.HCM Dự án nàyđược UBND TP.HCM ký hợp đồng tín dụng vay vốn nước ngoài cho dự
án BOT cầu Phú Mỹ TP.HCM đã ủy nhiệm cho Quĩ đầu tư phát triển đôthị TP đứng ra vay của Ngân hàng Societe Generale và Ngân hàng Calyonvới sự bảo lãnh của Bộ Tài chính để cho Công ty BOT cầu Phú Mỹ vay lại
93 triệu USD, thời hạn vay là 10 năm và ba năm ân hạn
- TP HCM công khai hóa, minh bạch hóa công tác xã hội hóa đầu tưxây dựng việc xử lý rác thải và các loại chất thải khác phát sinh trong hoạtđộng công nghiệp Đã có nhiều nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện như: TổngGiám đốc Công ty Xử lý chất thải rắn Việt Nam bỏ ra 90 triệu USD đầu tưxây dựng toàn bộ bãi rác Đa Phước do ông David Dương (một Việt kiềuMỹ)…
1.5.2 Kinh nghiệm huy động vốn tại Đồng Nai.
Bảng 1.1 :Tình hình huy động vốn đầu tư giai đoạn 2005-2010 của tỉnh Đồng Nai
Trang 33Biểu đồ 1.1 :Tình hình huy động vốn đầu tư giai đoạn 2005-2010 của tỉnh Đồng Nai
010.000
GDP theo giá thực tế Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
( nguồn niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2005-2010)
Trong giai đoạn từ năm 2005 – 2010, Đồng Nai luôn giữ mức tăng trưởngcao, bình quân cả giai đoạn là 13,56%, với tổng vốn đầu tư được huy động đạt135.441,68 tỷ đồng tính theo giá hiện hành Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội hàngnăm so với GDP ở mức cao và tăng khá, năm 2005 tỷ lệ nói trên là 41,92% đếnnăm 2008 tăng lên 49,64% bình quân cả giai đoạn 2005-2010 là 44,74% Tốc
độ tăng trung bình mỗi năm cho cả giai đoạn 2005 -2010 là 19,75%
Trong những năm qua tỉnh Đồng Nai đạt được những thành tựu như vậy
là do tỉnh đã thực hiện tốt một số công tác cơ bản như sau :
- Tập trung thu hút, đãi ngộ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chấtlượng cao, hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi đầu ngành đáp ứng yêu cầuphát triển Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn Nâng cao tiềmlực khoa học và công nghệ gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng vào thực tiễn
- Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là các tuyến giao thông kết
Trang 34nối vào các khu vực tập trung đô thị và khu công nghiệp trong tỉnh, các tuyếngiao thông kết nối các tuyến đường cao tốc.
- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ chất lượng cao (tài chính, ngânhàng, vận tải – kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn, nhà hàng)
- Thu hút đầu tư các ngành công nghiệp kỹ thuật cao, các ngành côngnghiệp tạo ra sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao và có giá trị gia tăngcao Xây dựng thương hiệu sản phẩm công nghiệp
- Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn và nâng cao chất lượng, pháttriển thương hiệu nông sản hàng hóa
- Khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các nhân tố của nền kinh tế trithức, ưu tiên các lĩnh vực tạo sản phẩm có hàm lượng chất xám cao
1.5.3.Kinh nghiệm huy động vốn tại Hậu Giang.
- Hoạt động thu hút đầu tư của tỉnh cần có những bước đi phù hợp, đặcbiệt phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, không nên thấy các địaphương khác có các chính sách gọi là “trải thảm hoa” để mời gọi đầu tư thìđịa phương mình cũng “trải thảm hoa” tương tự để kêu gọi đầu tư, như vậythường không có tác dụng lớn, mà cần phải có những cách làm riêng, nhữngcách làm mang tính đột phá, mà có thể hiểu đơn giản là các biện pháp mangtính độc quyền
- Không nên quá vội vã trong việc kêu gọi đầu tư mà có thể có nhữngsai lầm không lường trước được sau khi cấp giấy phép đầu tư, chẳng hạnnhư: Nhà đầu tư không đủ năng lực tài chính triển khai dự án, áp dụng côngnghệ lạc hậu không đúngtheo như quy định ban đầu gây ô nhiễm môitrường, Sau một thời gian hoạt động lại xảy ra các “trục trặc” rồi lại rútgiấy phép hay các dự án được cấp giấy phép nhưng không triển khai được.Như vậy, việc kêu gọi đầu tư là cần thiết, là cấp bách nhưng phải trên cơ sởkhoa học, hợp lý, bền vững và tránh chấp vá như chuyển sang hình thức đầu
tư khác: từ liên doanh chuyển sang 100% nước ngoài hay từ liên doanh
Trang 35chuyển sang 100% vốn trong nước.
- Việc chào mời, thu hút đầu tư, các địa phương thường cho rằng mình cónguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại;
có nguồn lao động dồi dào; giá nhân công rẻ, cộng thêm chính sách giảm giácho thuê lại đất và các ưu đãi khác cho phép doanh nghiệp sản xuất ra sảnphẩm có giá thành thấp, có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế, điều
đó sẽ tạo thế mạnh trong thu hút đầu tư
- Sự ổn định tương đối về kinh tế - chính trị, tính nhất quán trong đườnglối phát triển kinh tế của cả nước nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng đãtạo sự yên âm cho các nhà đầu tư Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân củatỉnh giai đoạn 2005-2010 là khoảng 11-13%/năm
- Sự quyết tâm của UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lýKCN-CCN và các ngành có liên quan của tỉnh về việc cải thiện môi trườngđầu tư
- Tỉnh đã ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư đối vớicác dự án trong và ngoài các KCN-CCN như: về miễn, giảm giá cho thuê đất,thuế,tín dụng, với mức ưu đãi nhất để thu hút nhà đầu tư, tạo mọi điều kiệnthuận lợi cho các nhà đầu tư khi triển khai dự án trên địa bàn tỉnh
- Về thủ tục hành chính: Quy trình và thủ tục thu hút vốn đầu tư của các
dự án trong và ngoài nước vào địa bàn tỉnh được thực hiện theo cơ chế “mộtcửa, tại chỗ” thông qua cơ quan đầu mối là Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh vàBan Quản lý KCN-CCN bằng việc rút ngắn một nửa thời gian cấp phép (Cấpmới Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong 5 ngày do sở Kế hoạch vàĐầu tư cấp phép, cấp giấy chứng nhận đầu tư trong 10 ngày làm việc do BanQuản lý KCN-CCN cấp phép kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ) so với thời gianquy định chung của Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp và các vănbản có liênquan nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư
1.5.4.Kinh nghiệm huy động vốn tại Vĩnh Long.
Trang 36Ngày 19/8/2003 Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long ban hành quyết định số2642/2003/QĐ - UB về việc ban hành chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu
tư của tỉnh Vĩnh Long Hiện tại Vĩnh Long đã xây dựng được 02 khu côngnghiệp là Hòa Phú và Bình Minh
Chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài có những nội dung cơbản sau:
- Về thủ tục hành chính:
Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long sẽđược hỗ trợ toàn bộ chi phí lập thủ tục đến khi được cấp giấy phép đầu tư.Đầu mối giải quyết các thủ tục cho dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp là SởKH&ĐT, trong khu công nghiệp là Ban Quản lý dự án các khu công nghiệp
- Về ưu đãi tiền thuê đất
+ Đối với các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp:
Ngoài việc được miễn tiền thuê đất theo quy định của Nhà nước, các
dự án trên địa bàn Vĩnh Long được miễn thời gian thuê đất thêm từ 3 - 5năm và miễn tiền thuê đất trong suốt thời gian xây dựng cơ bản nhưng tối
đa không quá 24 tháng
+ Đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp:
Vĩnh Long có chính sách ưu đãi riêng cho từng khu công nghiệp, nhưng
cơ bản có các nội dung sau:
Ngoài các chính sách ưu đãi đầu tư của chính phủ, còn được hưởng chínhsách ưu đãi của tỉnh như sau:
Miễn 100% tiền thuê đất trong 5 năm đầu cho 5 nhà đầu tư đầu tiên.Giảm tiền thuê đất trong các trường hợp sau:
* Giảm 15% tiền thuê đất cho dự án đầu tư từ 1 triệu đến 5 triệu USD
* Giảm 20% tiền thuê đất cho dự án đầu tư trên 5 triệu USD
Miễn tiền thuê đất trong suốt thời gian xây dựng cơ bản, tối đa khôngquá 24 tháng
Ổn định giá cho thuê đất thô trong suốt thời gian nhà đầu tư thuê đất kinh
Trang 37doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp và miễn tiền thuê đất trong thời gianxây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp nhưng không quá 3 năm.
- Về thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Các dự án đầu tư nước ngoài vào Vĩnh Long được áp dụng mức thuếsuất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10%
+ Mức thuế suất TNDN 10% áp dụng trong suốt thời gian thực hiện dự
án Mức thuế suất này không áp dụng cho các dự án nước ngoài đầu tư trênlĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thương mại; cung ứng dịch vụ (trừcác dự án nước ngoài trong các khu công nghiệp)
+ Tất cả các dự án nước ngoài đầu tư vào Vĩnh Long được miễn thuế thunhập doanh nghiệp trong 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50%trong 4 năm tiếp theo
+ Các dự án nước ngoài theo hình thức BOT, BT và các dự án đầu tưnước ngoài vào công nghiệp kỹ thuật cao, các dự án xây dựng – kinh doanhcông trình kết cấu hạ tầng, các dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn và cótác động lớn đối với kinh tế thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khíchđầu tư được miễn thuế TNDN trong 8 năm kể từ khi kinh doanh có lãi
1.6 Một số bài học kinh nghiệm thiết thực cho quá trình huy động vốn cho đầu tư và phát triển.
- Huy động tối đa các nguồn lực của Nhà nước và nhân dân, đặc biệt là
từ quỹ đất công làm nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vốn của cácdoanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, vốn trong dân cư cho đầu
tư trên địa bàn theo mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tếnhanh, hiệu quả và bền vững
- Thực hiện đồng bộ các giải pháp, cơ chế thu hút các thành phần kinh tế,đặc biệt là đầu tư nước ngoài, đầu tư vào những hoạt động kinh tế mà Tỉnh cólợi thế, tiềm năng phát triển như nông ngư nghiệp, vận tải, công nghiệp chếbiến nông thủy sản, thương mại dịch vụ, du lịch, kinh tế biên giới… Trong
đó, gắn với việc thực hiện tốt chính sách cung ứng và đào tạo lao động, xây
Trang 38nhà ở cho công nhân, đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chính sách tháo gỡ khókhăn cho các nhà đầu tư, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp giảiquyết vốn cho nông dân bằng hình thức ứng vốn sản xuất trước thu hồi sảnphẩm sau, chính sách xúc tiến đầu tư… trên cơ sở phù hợp với các quy địnhluật pháp và trong thẩm quyền của Tỉnh, theo tinh thần đổi mới của Chínhphủ và tương thích với vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Thu hút nguồn lực tập trung xây dựng nhanh các khu, cụm côngnghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, trung tâm thương mại, siêu thị, khu du lịch làmtiền đề phát triển nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng, khu vựcthương mại-dịch vụ, sử dụng lao động phi nông nghiệp ngày càng nhiều.Khuyến khích nhân dân xây dựng nhà ở mới theo tiêu chuẩn đô thị
- Thực hiện chính sách 7 sẵn sàng cho mọi trường hợp huy động vốntrong và ngoài nước: sẵn sàng về thông tin, về đất, về lao động, về viễn thông,
về giao thông-điện-nước, về nhà ở cho công nhân và về hỗ trợ vốn-thuế
- Kiến nghị Trung ương có cơ chế chính sách cụ thể riêng cho các tỉnhtrong diện còn khó khăn như Đồng Tháp để đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nhưchính sách về đất đai, về thu hút vốn, bố trí vốn ODA Thành lập Quỹ đầu tưphát triển đô thị
- Bên cạnh nguồn vốn chủ yếu trong nước, cần phải tranh thủ nguồn vốnbên ngoài bằng cách cải thiện môi trường đầu tư và có chính sách thu hútnguồn vốn này cho phù hợp Sử dụng vốn bên ngoài có hiệu quả sẽ là đòn bẩy
để phát triển kinh tế và tạo thêm vốn trong nước Đặc biệt là đầu tư tư nhântrên cơ sở qui hoạch định hướng của Nhà nước Đầu tư tư nhân sẽ đượckhuyến khích và phát triển khi môi trường kinh tế thuận lợi và có đầu tư Nhànước đi trước trong công tác đầu tư cơ sở hạ tầng
- Tạo môi trường đầu tư thông thoáng, ổn định và thân thiện; thực hiện các
ưu đãi về đầu tư nhằm tạo tính hấp dẫn để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài Giải quyết nhanh gọn, kịp thời vướng mắc của các nhà đầu tư
- Xây dựng quy chế xã hội hóa đầu tư trong các ngành y tế, giáo dục, văn
Trang 39hóa, thể thao và các dịch vụ kết cấu hạ tầng xã hội khác, với chế độ ưu đãibình đẳng cho mọi thành phần kinh tế; xây dựng mô hình bệnh viện cổ phầnvới sự tham gia rộng rãi của xã hội Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ để thu hútcác thành phần kinh tế đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục - đào tạo; y tế; thểdục thể thao; các công trình văn hóa.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, tác giả đã trình bày tổng quan về huy động vốn, kháiniệm vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế , các hình thức huy động vốn
để phát triển kinh tế Tác giả cũng tìm hiểu và chỉ ra mối quan hệ giữa đầu
tư và tăng trưởng kinh tế cũng như tổng hợp các nhân tố có ảnh hưởng đếndòng vốn đầu tư phát triển kinh tế Ngoài ra tác giả còn tìm hiểu một số kinhnghiệm về huy động vốn ở một số tỉnh thành phố như thành phố Hồ ChíMinh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Hậu Giang trên cơ sở đó rút ramột số bài học kinh nghiệm thiết thực có thể áp dụng cho tỉnh Đồng Tháptrong quá trình huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế ở Tỉnh
Trang 40Chương 2 THỰC TRANG HUY ĐỘNG VỐN
ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở TỈNH ĐỒNG THÁP 2.1 Vị trí địa lý kinh tế và đặc điểm về tài nguyên tự nhiên
2.1.1 Vị trí tỉnh Đồng Tháp trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long
và quan hệ với các tỉnh thành trên cả nước
Đồng Tháp là 1 trong 13 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nơi đầunguồn sông Tiền chảy qua biên giới vào Việt Nam, địa giới của tỉnh nằm trên 2vùng của ĐBSCL là vùng Đồng Tháp Mười và vùng giữa sông Tiền - sông Hậuvới đoạn sông Tiền chảy qua tỉnh dài trên 114 km và đoạn sông Hậu dài khoảng
30 km Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.374,08 km2, chiếm 8,17% diện tích vùngĐBSCL
Về ranh giới địa lý, tỉnh Đồng Tháp:
Phía Bắc giáp Campuchia trên chiều dài biên giới 48,7 km
Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và TP Cần Thơ
Phía Tây giáp tỉnh An Giang
Phía Đông giáp Long An và Tiền Giang
Toàn Tỉnh được chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồmthành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc và 9 huyện Tân Hồng, Hồng Ngự, TamNông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành,với 9 thị trấn, 14 phường và 119 xã Năm 2009, huyện hồng Ngự được táchlập thành 2 đơn vị hành chánh là thị xã Hồng Ngự và huyện Hồng Ngự
Về vị trí kinh tế, với các đặc điểm (i) nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam và vùng kinh tế động lực Cần Thơ-An Giang-Cà Mau-Kiên Giang,chịu sự tác động về 2 phía của 2 trung tâm lớn là TP Hồ Chí Minh và TP CầnThơ; (ii) vị trí lệch khỏi trục QL.1A từ TP Hồ Chí Minh đi các tỉnh vùng đồngbằng sông Cửu Long và (iii) địa giới của tỉnh bị chia cắt bởi sông Tiền, có thể
nói mức độ giao lưu kinh tế và thu hút đầu tư vào lĩnh vực công thương nghiệp của tỉnh Đồng Tháp tương đối thấp so với các tỉnh thuộc vùng Bắc sông Tiền
Tuy nhiên nhờ vào vị trí nằm sát thượng lưu sông Tiền với các tuyến giao