1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

15 895 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã hội
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2005
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 94,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất - giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT

TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

I Tổng quan về vốn đầu tư

1 Khái niệm

Ở giác độ vĩ mô, vốn sản xuất luôn được biểu hiện dưới dạng hiện vật, phản ánh năng lực sản xuất của một nền kinh tế Trong nền kinh tế của một nước để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể, nhất thiết phải sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư Theo chức năng vốn đầu tư được chia làm hai loại: Vốn đầu tư sản xuất và vốn đầu tư phi sản xuất

Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn sản xuất - giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ bao gồm vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động Vốn đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất thông qua hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư (1): Là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, nói một cách khác đó là quá trình thực hiện tái sản xuất các loại tài sản sản xuất Hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết xuất phát từ 3

lý do:

Thứ nhất: Do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần vào

quá trình sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm Trái lại, đối với tài sản lưu động lại tham gia một lần vào quá trình sản xuất và chuyển toàn bộ giá trị vào trong giá trị sản phẩm Vì vậy, phải tiến hành đầu tư để bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn và duy trì dự trữ nguyên vất liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo Nói cách khác, đầu tư nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn tài sản sản xuất

Thứ hai: Nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày càng mở rộng đòi hỏi phải tiến

hành đầu tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm dự trữ tài sản lưu động tức là thực hiện tái sản xuất mở rộng tài sản sản xuất

Thứ ba: Trong thời đại của tiến bộ công nghệ diễn ra rất mạnh mẽ, nhiều máy

móc thiết bị…nhanh chóng rơi vào trạng thái lạc hậu công nghệ Do đó phải tiến hành đầu tư mới, nhằm thay thế các tài sản sản xuất đã bị hao mòn vô hình

Hoạt động đầu tư thường được thực hiện dưới hai hình thức: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

1( ) Giáo trình kinh tế phát triển, nhà xuất bản lao động - xã hội, 2005.

Trang 2

Đầu tư trực tiếp: Là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào

quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tư này có thể thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

Đầu tư gián tiếp: Là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại

hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như cho toàn xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư gián tiếp thường thực hiện dưới dạng: cổ phiếu, tín phiếu… hình thức này thường ít gặp rủi ro hơn so với đầu tư trực tiếp

2.Bản chất của vốn đầu tư

Về bản chất nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy

mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Khẳng định này đã được chứng minh ở hầu hết các trường phái kinh tế học như: kinh tế học cổ điển, kinh tế học chính trị Mác-Lênin và kinh tế học hiện đại

Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith đã khẳng định:

“Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”

Sang thế kỷ XIX, theo quan điểm của Mác, con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng, hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ

có thể đáp ứng được do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế

Quan điểm này tiếp tục được các nhà kinh tế học hiện đại chứng minh trong

tác phẩm nổi tiếng: “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The General

Theory of Employment, Interest, and Money) của nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh

John Maynard Keynes (1883 – 1946) Ông cho rằng đầu tư chính là phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng Điều này có nghĩa là:

Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư

Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng

Như vậy:

Đầu tư = Tiết kiệm

Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính chất song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và một bên là người tiêu dùng Thu nhập chính là chênh lệch giữa tổng doanh thu cung cấp dịch vụ, bán hàng với tổng chi phí Nhưng toàn bộ sản phẩm phải được bán ra cho người tiêu dùng hoặc các nhà

Trang 3

sản xuất khác Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất mà người

ta gọi là đầu tư

Tuy nhiên điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lãi

CA = S – I Trong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)

Trong nền kinh tế mở nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy của nền kinh tế dẫn đến tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài Khi

đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguốn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia có thể đầu tư ra nước ngoài hoặc cho các nước khác vay nhằm sử dụng vốn hiệu quả hơn

II Cơ cấu vốn đầu tư

Chia theo khu vực thể chế thì tiết kiệm hay còn gọi là vốn đầu tư được phân thành tiết kiệm của chính phủ (bao gồm vốn NSNN, ODA), tiết kiệm của doanh nghiệp (bao gồm cả tiết kiệm của doanh nghiệp nhà nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân) và tiết kiệm của hộ gia đình Trong tiết kiệm của chính phủ gồm có: Vốn ngân sách, vốn đầu tư phát triển và vốn của các doanh nghiệp nhà nước

1 Vốn ngân sách

Vốn ngân sách là vốn huy động từ ngân sách, nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật

1.1 Vốn ngân sách Nhà nước

1.1.1 Khái niệm

Ngân sách Nhà nước ( 2 ): Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một

bộ phận trong hệ thống tài chính Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về NSNN lại chưa

2( ) http://vi.wikipedia.org

Trang 4

thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu

thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia

Trong Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà

nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Thu ngân sách Nhà nước: Thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước

huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình

Chi ngân sách Nhà nước: Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ Thực chất của nó là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính phủ

1.1.2 Phạm vi thu và nhiệm vụ chi của Ngân sách Nhà nước ( 3 )

 Phạm vi thu của Ngân sách Nhà nước

Thu Ngân sách nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước (quỹ NSNN)

để đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu có thể chia thu ngân sách thành hai nhóm:

Nhóm 1, thu trong cân đối ngân sách: Gồm các khoản thu mang tính chất thuế (thuế, phí và lệ phí) và thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước

+ Khoản thu mang tính chất thuế (thuế, phí và lệ phí): Là các khoản thu mang tính chất bắt buộc do nhà nước quy định Trong đó thu từ thuế chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN

+ Thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước: Nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần Khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lại lợi nhuận thì lợi tức thu được phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà nước, cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp

3( ) Luật NSNN số 01/2002/QH11, http://www.chinhphu.vn

Trang 5

Nhóm 2, thu bù đắp thâm hụt của ngân sách: Gồm các khoản thu do Nhà nước vay và nhận viện trợ để bù đắp bội chi NSNN

+ Thu từ vay nợ trong và ngoài nước: Nhà nước vay nợ trong nước bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ dưới các hình thức: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc và trái phiếu công trình Vay nợ nước ngoài theo điều kiện thương mại và lãi suất thị trường

+ Thu từ nhận viện trợ nước nước ngoài: Viện trợ nước ngoài bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trường quốc tế

Trong điều kiện nguồn vốn NSNN có hạn, Nhà nước chỉ chi vào những mục nhằm giải quyết các vấn đề xã hội như: Nghèo đói, thất nghiệp, lạm phát…Và các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, không có khả năng đầu tư hoặc không được phép đầu tư Do đó chi NSNN tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực, dự

án sau:

+ Chi đầu tư phát triển: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội do địa phương quản lý; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước; Chi bổ sung dự trữ nhà nước và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;

+ Chi thường xuyên: Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y

tế xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý; Quốc phòng,

an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương); Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội – nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật; Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý; Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

1.2 Vốn ngân sách địa phương ( 4 )

Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tức là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện

và ngân sách cấp xã

Thu ngân sách địa phương bao gồm: Các khoản thu ngân sách địa phương

được hưởng 100%; Các khoản thu phân theo tỷ lệ (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

4( ) Luật NSNN số 01/2002/QH11, http://www.chinhphu.vn

Trang 6

+ Các khoản thu ngân sách địa phương được hưởng 100% gồm có: Các khoản thu từ thuế (thuế nhà, đất; thuế tài nguyên; thuế môn bài; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế chuyển quyền sử dụng đất), Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt nộp vào ngân sách địa phương, các khoản tiền (tiền sử dụng đất, cho thuê đất, cho thuê và tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước), các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của Pháp luật

+ Các khoản thu chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương: Thu bổ sung từ ngân sách trung ương; Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng

Chi ngân sách địa phương gồm có: Chi đầu từ phát triển và chi thường xuyên

chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh và chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

+ Chi đầu tư phát triển:Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội do địa phương quản lý; Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

+ Chi thường xuyên: Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y

tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý; Quốc phòng,

an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương); Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương; Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật; Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý; Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý và trợ giá theo chính sách của Nhà nước;

2 Tiết kiệm của các doanh nghiệp

Tiết kiệm của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước

Doanh thu của doanh nghiệp (TR) là các khoản thu nhập của công ty do tiêu thụ hàng hóa hoặc các dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian trong quá trình sản xuất Tổng chi phí (TC) thường bao gồm các khoản: Trả tiền công, trả tiền thuê đất đai, trả lãi suất tiền vay và thuế kinh doanh

Khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí được gọi là lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp

Pr trước thuế = TR – TC

Trang 7

Lợi nhuận trước thuế sau khi đóng thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ còn lại lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

Pr sau thuế = Pr trước thuế - Tde

Pr để lại = Pr sau thuế - lãi cổ phần

Lợi nhuận để lại công ty cùng với quỹ khấu hao trở thành nguồn vốn đầu tư Pr của công ty

Se = Dp +Pr để lại

Dp: Khấu hao

Tde: Thuế thu nhập doanh nghiệp

3.Tiết kiệm của hộ gia đình

Tiết kiệm của hộ gia đình phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình Thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập có thể sử dụng và các khoản thu nhập khác Các khoản thu nhập khác có thể từ rất nhiều nguồn như được viện trợ, thừa kế, bán tài sản, trúng vé xổ số, thậm chí là các khoản đi vay…

Trong đó, chi tiêu của hộ gia đình gồm:

+ Các khoản chi mua hàng hóa dịch vụ: chi mua lương thực, thực phẩm, quần

áo, phương tiện đi lại và các hàng hóa tiêu dùng lâu bền khác ; chi cho hoạt động dịch

vụ là chi cho dulịch, chi cho các hoạt động văn hóa, thểdục, thể thao

+Chi trả lãi suất các khoản tiền vay

Khác với các khoản chi từ ngân sách, tất cả các khoản chi tiêu của hộ gia đình đều được coi là yếu tố cấu thành GDP

III Vai trò của vốn đầu tư với phát triển kinh tế - xã hội

Vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất Ngoài ra, việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội thông qua sử dụng hệ thống thuế hiệu quả; tạo công ăn, việc làm cho người lao động qua hoạt động đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, xóa đói giảm nghèo nâng cao mức sống của người dân góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng

1 Tăng trưởng kinh tế ( 5 )

1.1 Khái niệm

5( ) Kinh tế phát triển (sách chuyên khảo), nhà xuất bản lao động xã hội

Trang 8

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

1.2 Tính chất hai mặt của tăng trưởng kinh tế

1.2.1 Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế

Mặt lượng của tăng trưởng kinh tế là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng,

nó thể hiện ở ngay trong khái niệm về tăng trưởng và được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đánh giá quy mô và tốc độ tăng trưởng thu nhập Đứng trên góc độ toàn nền kinh

tế, thu nhập thường được thể hiện dưới dạng giá trị có thể là tổng giá trị thu nhập, thu nhập bình quân đầu người Các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia gồm có: Tổng giá trị sản xuất (GO); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng thu nhập quốc dân (GNI); Thu nhập quốc dân (NI); Thu nhập được quyền chi (GDI)

1.2.2 Mặt chất của tăng trưởng kinh tế

Theo nghĩa hẹp, chất lượng tăng trưởng là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế (còn số lượng tăng trưởng là biểu hiện bên ngoài của sự tăng trưởng), thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đạt được mặt số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn

Theo nghĩa rộng, chất lượng tăng trưởng thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất sự vận động của các chỉ tiêu tăng trưởng và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội – môi trường

Chất lượng tăng trưởng theo nghĩa hẹp chính là nội dung chủ yếu nhất trong tăng trưởng kinh tế Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng nhanh thì cần phải quan tâm đến chất lượng tăng trưởng và đặt mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

2 Vai trò của vốn với tăng trưởng kinh tế

2.1 Mô hình Harrod – Domar ( 6 )

Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 với sự nghiên cứu một cách độc lập, hai nhà kinh tế học là Roy Harrod ở Anh và Evsay Domar ở Mỹ đã cùng đưa ra

mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển Mô hình này được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn Nội dung của mô hình đề cập đến đầu

ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành hay toàn bộ nên kinh tế

sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho đơn vị đó

6( ) Giáo trình kinh tế phát triển, nhà xuất bản lao động – xã hội, 2005

Trang 9

Nếu gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghía là:

Y

Y

g = ∆ Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong GDP sẽ là:

Yt

St

s =

Vì tiết kiệm là nguồn của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết

kiệm (S t = I t), do đó cũng có thể viết:

Yt

It

s=

Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên I t=∆Kt

Nếu gọi k là tỷ số gia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR), ta có:

Yt

Kt k

=

It k

=

It Yt

It Yt It

Y It Yt

Y

÷

=

×

×

=

Do đó chúng ta có:

k

s

g =

Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng nhà máy, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiết kiệm của dân cư và các công ty chính là nguồn gốc cơ bản của vốn đầu tư

2.2 Tác động của vốn với tăng trưởng kinh tế ( 7 )

Tuy hai nhà kinh tế học Roy Harrod và Evsay Domar cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và các nhu cầu về vốn nhưng cách giải thích tác động của vốn tới tăng trưởng lại khác nhau Theo quan điểm của Harrod thì đầu tư tác động đến tăng trưởng ở khía cạnh tổng cầu còn Domar cho rằng đầu tư tác động đến tổng cung

2.2.1 Vốn tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cầu làm dịch chuyển đường tổng cầu.

7( ) Giáo trình kinh tế phát triển, nhà xuất bản lao động – xã hội, 2005

Trang 10

1

AS

0

1

Y

P

0 1

1

0

Tổng cầu của nền kinh tế (AD) gồm:

AD = C + I + G + NX Theo quan điểm của Roy Harrod, đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu

Do đó những thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản lượng và công ăn, việc làm Khi đầu tư tăng lên, có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng… tăng lên

Sự thay đổi này làm cho đường tổng cầu chuyển dịch chuyển từ AD0 đến AD1 và mức sản lượng tăng từ Y0 đến Y

1

, mức giá cũng biến động từ P0 đến P

1

Hình 1.1: Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế

Nếu như nền kinh tế, với đường tổng cầu AD0đang cân bằng tại điểm E0thì dưới

tác động của tăng đầu tư sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải, vào vị trí AD1, thiết lập điểm cân bằng mới tại E Điều đó cũng đồng nghĩa với việc làm cho mức sản lượng tăng từ Y0đến Y

1

và mức giá tăng từ P0đến P

1

2.2.2 Vốn tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cung làm đường tổng cung dịch chuyển.

Ngày đăng: 18/10/2013, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
Hình 1.1 Tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế (Trang 10)
Hình 1.2: Tác động của vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
Hình 1.2 Tác động của vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế (Trang 12)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w