Kết quả mô hình chỉ ra các biến lạm phát, lãi suất có tác động nghịch biến đến chỉ số VN30, tức là khi các biến này tăng lên thì sẽ gây hiệu ứng tiêu cực đến chỉ số VN30; biến cung tiền,
Trang 1NGUYỄN NGỌC NHI
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trang 2NGUYỄN NGỌC NHI
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ
Trang 3cung tiền, lãi suất, sản lượng công nghiệp, đầu tư nước ngoài, chỉ số chứng khoán
Mỹ, giá dầu thế giới đến chỉ số giá chứng khoán VN30 trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 02/2012 đến 02/2019
Thông qua việc tổng hợp cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đã lựa chọn ra mô hình nghiên cứu phù hợp cho thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích dữ liệu chuỗi thời gian thông qua mô hình hồi quy VECM và FMOLS kết hợp với kiểm định đồng liên kết Johansen
Kết quả mô hình chỉ ra các biến lạm phát, lãi suất có tác động nghịch biến đến chỉ số VN30, tức là khi các biến này tăng lên thì sẽ gây hiệu ứng tiêu cực đến chỉ số VN30; biến cung tiền, giá dầu và chỉ số sản xuất công nghiệp tác động cùng chiều đến chỉ số VN30, tức là sự tăng lên của các biến này tạo hiệu ứng tích cực lên thị trường; biến tỷ giá, đầu tư nước ngoài và chỉ số chứng khoán Mỹ không có mối liên
vệ với VN30, tức là sự biến động của các biến này không gây ra hiệu ứng gì trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn nghiên cứu
Cuối cùng, dựa vào kết quả phân tích từ mô hình trên cùng với định hướng phát triển TTCK của Chính phủ, bài luận án đã gợi ý các giải pháp trong việc xây dựng, quản lý và hoàn thiện các chính sách vĩ mô liên quan đến các yếu tố lạm phát, cung tiền, lãi suất và chỉ số sản xuất công nghiệp với mục đích thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán và nền kinh tế Việt Nam
Trang 4VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ VN30-INDEX - SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH” chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại
bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác
giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công
bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
TP.HCM, ngày tháng năm 2019
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Ngọc Nhi
Trang 5CH Ỉ SỐ VN30-INDEX - SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”, tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Ngân Hàng TP.HCM và TS
Lê Minh Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học đáng quý trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Dù đã rất cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót trong quá trình làm luận văn, tôi mong nhận được những lời đóng góp, phê bình tích cực của TS Lê Minh Sơn và quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6M ỤC LỤC
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 5
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 5
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 5
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 6
1.8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 6
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 8
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 8
1.2 KINH TẾ VĨ MÔ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ LÊN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 9
1.2.1 Lạm phát và sự tác động của yếu tố lạm phát đến Chỉ số giá chứng khoán 9 1.2.2 Lãi suất và sự tác động của yếu tố lãi suất lên Chỉ số giá chứng khoán 10
1.2.3 Tỷ giá và sự tác động của yếu tố tỷ giá lên Chỉ số giá chứng khoán 12
1.2.4 Cung tiền và sự tác động của yếu tố cung tiền lên Chỉ số giá chứng khoán 13 1.2.5 Sản lượng công nghiệp và sự tác động của yếu tố sản lượng công nghiệp lên Chỉ số giá chứng khoán 14
1.2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tác động của yếu tố đầu tư trực tiếp nước ngoài lên Chỉ số giá chứng khoán 15
1.2.7 Sự tác động của yếu tố giá dầu lên Chỉ số giá chứng khoán 16 1.2.8 Sự tác động của yếu tố chỉ số giá chứng khoán Mỹ lên Chỉ số giá chứng khoán 17
18
Trang 71.3.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 19
1.3.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam 21
1.3.3 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN 24
2.1 LÝ THUYẾT SƠ LƯỢC VỀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Mô hình Vector tự hồi quy VAR 24
2.1.2 Mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM 25
2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 26
2.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU 27
2.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 27
2.5 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT 29
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 30
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN 31
3.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN30 31
3.1.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 31
3.1.1.1 Giới thiệu 31
3.1.1.2 Vai trò của Thị trường chứng khoán Việt Nam đối với nền kinh tế 31 3.1.1.3 Diễn biến của thị trường chứng khoán qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu 32
3.1.2 CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN30 35
3.1.2.1 Giới thiệu 35
3.1.2.2 Tiêu chuẩn chọn cổ phiếu vào chỉ số VN30 35
3.1.2.3 Phương pháp tính chỉ số và tỷ trọng cổ phiếu VN30 37
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VN30 38
3.2.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu 38
3.2.1.1 Thống kê mô tả các biến 38
3.2.1.2 Kết quả tương quan các biến 39
3.2.2 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 39
Trang 83.2.3 Lựa chọn độ trễ tối ưu 41
3.2.4 Kiểm định đồng liên kết Johansen 41
3.2.5 Kết quả phân tích mô hình Vector hiệu chỉnh sai số (VECM) 43
3.2.6 Kiểm tra phương sai sai số thay đổi 44
3.2.7 Kiểm tra tự tương quan chuỗi mô hình VECM 45
3.2.8 Các kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy 45
3.2.8.1 Phản ứng của CSGCK VN30 với CPI 45
3.2.8.2 Phản ứng của CSGCK VN30 với IR 46
3.2.8.3 Phản ứng của CSGCK VN30 với EX 47
3.2.8.4 Phản ứng của CSGCK VN30 với IP 48
3.2.8.5 Phản ứng của CSGCK VN30 với M2 49
3.2.8.6 Phản ứng của CSGCK VN30 với FDI 49
3.2.8.7 Phản ứng của CSGCK VN30 với CRUDE 50
3.2.8.8 Phản ứng của CSGCK VN30 với SP500 51
3.2.9 Kết quả phân rã phương sai của VN30-Index 51
3.2.10 Phương trình hồi quy đồng liên kết bằng mô hình FMOLS 53
3.3 PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN VN30-INDEX TỪ KẾT QUẢ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 53
3.3.1 Kết quả tác động của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đến VN30 53
3.3.2 Kết quả tác động của lãi suất (IR) đến VN30 54
3.3.3 Kết quả tác động của tỷ giá (EX) đến VN30 54
3.3.4 Kết quả tác động của biến cung tiền (M2) đến VN30 55
3.3.5 Kết quả tác động của biến sản lượng công nghiệp (IP) đến VN30 56
3.3.6 Kết quả tác động của đầu tư nước ngoài (FDI) đến VN30 56
3.3.7 Kết quả tác động của biến giá dầu thế giới (CRUDE) đến VN30 56
3.3.8 Kết quả tác động của biến chỉ số giá chứng khoán Mỹ (SP500) đến VN30 57 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 57
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 59
4.1 KẾT LUẬN 59
4.2 GỢI Ý VỀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 59
4.3 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 63
Trang 94.4 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI 64 PHẦN KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Theory
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt tên các biến và nguồn thu thập dữ liệu 28
Bảng 2.2: Kỳ vọng chiều tác động của các biến vĩ mô đến chỉ số VN30 28
Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến trong giai đoạn 02/2012 – 02/2019 38
Bảng 3.2: Kiểm tra tương quan các biến 39
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định tính dừng ADF 40
Bảng 3.4: Kết quả xác định độ trễ tối ưu cho mô hình 41
Bảng 3.5: Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Trace 42
Bảng 3.6: Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Maximum Eigenvalue 42
Bảng 3.7: Kết quả hồi quy mô hình VECM 43
Bảng 3.8: Hệ số hiệu chỉnh sai số ECT 44
Bảng 3.9: Kiểm định phương sai số thay đổi 45
Bảng 3.10: Kết quả tự tương quan chuỗi mô hình VECM 45
Bảng 3.11: Phân rã phương sai 52
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Tăng trưởng chỉ số VNINDEX và VN30 từ 02/2012 đến 02/2019 32
Hình 3.2: Tỷ trọng ngành trong rổ VN30 quý 1 2019 35
Hình 3.3: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với CPI 46
Hình 3.4: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với IR 47
Hình 3.5: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với EX 47
Hình 3.6: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với IP 48
Hình 3.7: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với M2 49
Hình 3.8: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với FDI 49
Hình 3.9: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với CRUDE 50
Hình 3.10: Phản ứng của Chỉ số giá chứng khoán VN30 với SP500 51
Trang 12PH ẦN 1: GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế hiện đại và không ngừng đổi mới như hiện nay, sự phát triển của Thị trường chứng khoán (TTCK) có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển kinh
tế của một đất nước Tại Việt Nam, để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy phát triển vững mạnh nền kinh tế quốc gia và dịch chuyển
cơ cấu nền kinh tế một cách hiệu quả thì nền kinh tế cần có đủ vốn cho việc hỗ trợ và thúc đẩy đầu tư, vì thế việc xây dựng và phát triển TTCK là điều hoàn toàn tất yếu trong thời kỳ phát triển hội nhập kinh tế Năm 2000, TTCK Việt Nam được chính thức đưa vào vận hành, ở thời điểm đó, thị trường chỉ có vỏn vẹn 2 doanh nghiệp niêm yết với giá trị vốn hóa ở con số 986 tỷ đồng, tương đương 0.28% GDP Theo thông tin công bố từ Ủy ban Chứng khoán nhà nước, tổng giá trị vốn hóa của cả hai thị trường cổ phiếu và trái phiếu năm 2018 đã đạt tương đương 110% GDP Hiện tại, TTCK không những được cải thiện và hoàn thiện về thể chế chính sách, khung pháp
lý, đa dạng hàng hóa, tăng trưởng về quy mô, số lượng công ty niêm yết mà còn ngày càng tăng trưởng về lượng nhà đầu tư tham gia, giá trị giao dịch, được nâng cao chất lượng về tổ chức, quản lý, giám sát thị trường Trải qua nhiều năm hoạt động, TTCK thực sự đã trở thành kênh huy động nguồn vốn trung, dài hạn chủ lực của nền kinh tế
và là một bộ phận quan trọng trong Thị trường tài chính, nơi giúp rút ngắn khoản cách giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư (NĐT), qua đó doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để thúc đẩy, mở rộng kinh doanh, sản xuất
Thị trường chứng khoán được xem là cực kỳ nhạy cảm trước các thông tin kinh
tế vĩ mô và tâm lý của các NĐT, một ảnh hưởng tiêu cực nhỏ cũng có thể tạo tổn thất dây truyền lên thị trường tài chính chứng khoán, gây ra những phản ứng tiêu cực lên
cả nền kinh tế Sự nhạy cảm này lý giải vì sao việc duy trì và phát triển ổn định TTCK vẫn luôn là mối quan tâm chính trong chiến lược phát triển và ổn định kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia Tuy nhiên, trong hoạt động kinh tế, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững, ổn định thì trong từng giai đoạn vận hành và phát triển, chính phủ phải thường xuyên điều chỉnh các chính sách vĩ mô một cách linh hoạt, sao cho phù
Trang 13hợp với bối cảnh và nội lực của nền kinh tế Trong khi đó, việc thay đổi chính sách điều hành lại dẫn đến sự biến động của các chỉ số vĩ mô, qua đó sẽ gây tác động đến hoạt động của TTCK và nền kinh tế Vậy nên, việc nghiên cứu tác động của các yếu
tố vĩ mô đến hiệu quả hoạt động của TTCK là một điều hoàn toàn hữu ích và cần thiết Hoạt động phân tích, nghiên cứu sẽ góp phần gợi ý những phương án khắc phục
sự tác động tiêu cực của các yếu tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán, đồng thời giúp phát triển TTCK một cách hiệu quả và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế quốc gia
1.2 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thị trường tài chính nói chung và Thị trường chứng khoán nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia và đặc biệt Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm trước các thông tin biến đổi kinh tế vĩ mô Trên thực tế, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng qua lại giữa TTCK và các biến số vĩ mô nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách và các học giả trên thế giới như Chen, Roll và Ross (1986), Kyereboah-Coleman Anthony (2008), Karam Pal Ruhee Mittal (2011), Adam, Anokye, and George Tweneboah (2008) Hiện nay, ở thị trường Việt Nam cũng có nhiều học giả đã nghiên cứu về các tác động của biến số kinh tế lên tỷ suất sinh lợi của TTCK như nghiên cứu của Nguyệt & Thảo (2003), Huỳnh Thị Cẩm Hà (2014), Nguyễn Huỳnh Đoàn Trang (2016) Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào việc đo lường tác động của các biến số tiêu biểu như cung tiền, lạm phát, tỷ giá, giá dầu, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) … đến chỉ số giá VNI –Index (chỉ số được xem là đại diện cho hiệu quả hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam) Đây cũng là điểm gợi mở để bài luận văn này có hướng phát triển hoàn thiện một phần khoảng trống tri thức trong lĩnh vực nghiên cứu, cụ thể quan điểm của tác giả như sau:
Thứ nhất, yếu tố tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng là một trong những chỉ số quan trọng có thể gây biến động cho TTCK FDI đóng vai trò là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, theo thông tin thống kê của Bộ kế hoạch và Đầu tư, mức đóng góp của khu vực FDI trong GDP của
Trang 14cả nước ngày càng tăng trưởng, từ 9,3% năm 1995 lên 19,6% năm 2017 Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xúc tiến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo nên các ngành công nghiệp chủ lực cho nền kinh tế như công nghệ thông tin, điện tử, công nghiệp chế biến chế tạo…là những ngành nghề quan trọng giúp tăng trưởng kinh tế đất nước trong dài hạn Đối với TTCK, vốn FDI đóng vai trò là vốn đầu tư tham gia vào thị trường thông qua các quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy thị trường mua bán, sáp nhập doanh nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ, làm tăng tính thanh khoản và quy mô cho thị trường chứng khoán Có thể thấy, sự ảnh hưởng của nền kinh tế lên TTCK và từ FDI đến sự phát triển của nền kinh tế đã được kiểm tra rộng rãi trong nhiều tài liệu nghiên cứu như của Carp L (2013), Meyer, K E., & Nguyen, H V (2005), Anwar, S., & Nguyen, L P (2010) Tuy nhiên, việc phân tích ảnh hưởng của FDI đến TTCK một cách trực tiếp có vẻ còn hạn chế ở Việt Nam, vì thế, nghiên cứu tác động của chỉ số FDI đến TTCK sẽ giúp nhà hoạch định và NĐT có cái nhìn rộng hơn về tầm quan trọng của tăng trưởng FDI đối với hiệu quả hoạt động của TTCK
Thứ hai, Mỹ được xem là nền kinh tế lớn nhất thế giới và có tính chi phối, ảnh hưởng cao đến kinh tế của nhiều quốc gia, mọi sự biến động của kinh tế Mỹ và TTCK
Mỹ đều gây ra hiệu ứng đến các thị trường tài chính khác, đặc biệt là các thị trường
có mối quan hệ thương mại với Mỹ Do đó, Việt Nam có thể cũng dễ bị chi phối bởi nền kinh tế này khi Mỹ luôn là đối tác kinh tế thương mại lớn nhất của Việt Nam trong những năm gần đây, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chiếm tỷ trọng cao nhất với mức 14% trong bốn tháng đầu của năm 2018 Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, sự căng thẳng của chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang ngày càng leo thang
và có khả năng tạo ra những biến động lớn đến kinh tế và TTCK Mỹ Vì thế, việc nghiên cứu sự tác động của TTCK Mỹ đến TTCK Việt Nam sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách cũng như nhà đầu tư có những nhận định kỹ hơn về tầm quan trọng của kinh tế Mỹ đối với sự tăng trưởng TTCK trong nước
Trang 15Thứ ba, đa số các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu xem xét về sự ảnh hưởng của các biến số kinh tế lên Chỉ số giá chứng khoán (CSGCK) VNI – Index, trong khi TTCK Việt Nam còn có các chỉ số quan trọng khác cũng góp phần tạo nên thị trường như VN30-Index, HNX-Index, HNX30-Index, UPCoM-Index và mức độ phản ứng với sự biến đổi về chính sách vĩ mô có thể sẽ khác nhau ở từng chỉ số Trong đó, chỉ
số VN30 được xem là chỉ số đầu tư hiệu quả nhất trên Thị trường chứng khoán với các công ty niêm yết dẫn đầu thị trường về vốn hóa, thanh khoản, là cơ sở để phát triển các quỹ đầu tư chỉ số, quỹ ETF Đặc biệt từ năm 2017, VN30 được chọn là chỉ
số cơ sở duy nhất cho sản phẩm Hợp đồng tương lai ở TTCK Việt Nam, điều này càng góp phần tăng lên tầm quan trọng của VN30 trong rổ các chỉ số cũng như trong việc hỗ trợ các NĐT nhận định diễn biến thị trường, vì thế, chỉ số VN30 đã và đang nhận được nhiều quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Nhận định được vai trò của VN30 trên TTCK cũng như mối quan tâm từ các nhà đầu tư, phân tích tác động của các biến vĩ mô lên VN30 sẽ là một đề tài hấp dẫn giúp cung cấp thêm thông tin cho các nhà đầu tư trong việc dự đoán xu hướng giá các cổ phiếu thuộc VN30-Index khi có biến đổi của biến số vĩ mô trên thị trường
Cuối cùng, ở mỗi giai đoạn với tình hình kinh tế khác nhau thì mức độ và chiều hướng tác động từ các yếu tố vĩ mô lên TTCK sẽ không giống nhau Đặc biệt đối với thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn hiện nay, bên cạnh những tín hiệu tích cực từ yếu tố vĩ mô, thì những thách thức, khó khăn từ nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn đang là nỗi lo của thị trường nói chung
và NĐT nói riêng Do đó, sự tác động của yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ có thể khác với
những giai đoạn trước đây
Dựa trên những tiêu chí đã nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn và thực hiện
VN30-INDEX - S Ở GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
trên cơ sở bổ sung nghiên cứu thêm sự tác động của FDI, chứng khoán Mỹ đến TTCK Việt Nam và sử dụng VN30 – Index làm bằng chứng thực nghiệm để góp phần giúp các nhà đầu tư, nhà chính sách có cái nhìn rõ hơn về sự phản ứng của chỉ số VN30
Trang 16nói riêng và TTCK nói chung đối với các biến động thuộc yếu tố vĩ mô Tác giả nhận
định rằng, việc thực hiện đề tài nghiên cứu trên là thực sự cần thiết và hữu ích
1.3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích tác động của yếu tố kinh tế vĩ mô lên TTCK Việt Nam thông qua chỉ
số VN30-Index Từ kết quả phân tích, đưa ra gợi ý giúp các nhà điều hành chính sách quản lý và phát triển thị trường chứng khoán một cách bền vững và ổn định và hỗ trợ thông tin cho việc ra quyết định đầu tư trên thị trường đối với nhà đầu tư
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định chiều hướng tác động của 8 yếu tố vĩ mô gồm lạm phát, lãi suất, cung tiền, sản lượng công nghiệp, tỷ giá, đầu tư nước ngoài, chỉ số chứng khoán Mỹ, giá dầu thế giới lên VN30- Index
Xác định mức độ tác động của biến vĩ mô lên VN30-Index
Đề xuất các gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển thị trường và hỗ trợ thông tin cho các nhà đầu tư khi ra quyết định đầu tư trên chỉ số VN30 nói riêng và TTCK nói chung
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi tổng quát: Các yếu tố vĩ mô có tác động như thế nào đến chỉ
- VN30 – Index sẽ phản ứng như thế nào trước những biến đổi của các
yếu tố kinh tế vĩ mô?
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán VN30- Index
Trang 17Phạm vi nghiên cứu: Do chỉ số VN30 được thành lập từ tháng 6/2/2012, nên để
có thể quan sát được trọn vẹn diễn biến của chỉ số qua các năm, đề tài nghiên cứu trong phạm vi thời gian của chỉ số giá VN30 trong giai đoạn 2/2012 – 2/2019
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với tính đặc thù của nền kinh tế Việt Nam (VN), tác giả áp dụng 8 yếu tố vĩ mô thuộc ba nhóm gồm có nhóm yếu tố tiền tệ là lãi suất, lạm phát, cung tiền, nhóm yếu
tố kinh tế thực là sản lượng công nghiệp, đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhóm yếu tố ngoại vi gồm tỷ giá, chỉ số chứng khoán Mỹ, giá dầu thế giới làm đại diện cho các yếu tố vĩ mô trong nền kinh tế Bài luận văn sẽ thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích hồi quy các dữ liệu chuỗi thời gian đã thu thập từ nguồn số liệu thứ cấp bằng mô hình VECM và FMOLS, kết hợp với kiểm định đồng liên kết Johansen để xem xét sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trên đến thị trường chứng khoán thông qua nghiên cứu sự tác động của các yếu tố này đến VN30- Index
1.7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Thông qua phân tích kiểm định, bài luận văn đưa ra được chiều hướng và mức
độ tác động của các biến kinh tế lên chỉ số tiêu biểu của TTCK Từ đó, đề xuất các gợi ý về điều hành chính sách kinh tế vĩ mô với mục đích phát triền TTCK Việt Nam
ổn định và bền vững, đồng thời cung cấp thông tin giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nước có cái nhìn rõ hơn về chỉ số VN30 nói riêng và TTCK nói chung để giảm thiểu được rủi ro khi đầu tư vào thị trường
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu sâu thêm về sự tác động của yếu tố FDI và Chứng khoán Mỹ đến chỉ số VN30 của TTCK Việt Nam cũng góp phần giúp các nhà hoạch định và nhà đầu tư có cái nhìn bao quát hơn về tầm quan trọng của hai yếu tố này, để
từ đó có các chính sách vĩ mô giúp phát triển TTCK cũng như có các chiến lược đầu
tư hợp lý khi xuất hiện sự biến động của hai yếu tố này trên thị trường
1.8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN
Trang 18CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ
MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 19PH ẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU
T Ố KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ
VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
Vai trò của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong việc phản ánh tỷ suất sinh lời của TTCK đã được khẳng định trong Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (tên tiếng Anh là Arbitrage Pricing Theory – APT) bởi nhà kinh tế học Stephen Ross vào năm
1976, lý thuyết có nội dung chính là nói về mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và rủi
ro trong đầu tư Lý thuyết APT cho rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của một tài sản tài
chính nào đó có thể đo lường được thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô hoặc vi mô khác nhau, mọi sự biến đổi về các yếu tố vĩ mô như cung tiền, tỷ giá, lạm phát, lãi suất… đều có thể tác động đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán qua việc tác động đến tỷ lệ chiết khấu, cổ tức kỳ vọng của cổ phiếu, hoặc tác động lên cả hai Lý thuyết này xác định tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán theo công thức với k nhân tố:
(1.1)
Trong đó:
E (R): là lợi nhuận kỳ vọng của tài sản rủi ro
Fk: là yếu tố vĩ mô
bk: là độ nhạy của tài sản với yếu tố k
ε: là cú sốc ngẫu nhiên của tài sản rủi ro
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh được sự tác động của các yếu
tố vĩ mô như lạm phát, GDP, lãi suất, cung tiền, giá dầu, tỷ giá, FDI… đến lợi suất của cổ phiếu Nhìn chung, đa số các biến vĩ mô thể hiện sự ảnh hưởng rõ rệt đến lợi suất của TTCK Tuy nhiên, sự ảnh hưởng lại không theo một xu hướng chung nhất cho tất cả các nền kinh tế, sự khác biệt được tìm thấy nhiều nhất giữa nhóm các quốc gia phát triển với nhóm các quốc gia mới nổi Có thể nói, ở nền kinh tế thực, không
Trang 20phải biến vĩ mô nào cũng có ảnh hưởng lên TTCK như các khẳng định trên lý thuyết,
nó có thể có tầm ảnh hưởng lớn ở thị trường này nhưng lại không tác động đến thị trường khác và thậm chí một số yếu tố vĩ mô lại có tác động đến TTCK một cách ngược chiều với các lý thuyết kinh tế đề ra
Dựa vào khung lý thuyết của Stephen Ross, luận văn sẽ phân tích các tác động của các biến vĩ mô quan trọng đến CSGCK Những biến số được chọn là biến đã được nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu và khẳng định vai trò trong việc dự báo suất sinh lời và biến động của TTCK
1.2 KINH TẾ VĨ MÔ VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ
VĨ MÔ LÊN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN
Kinh tế học vĩ mô (Macroeconomic) là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung Kinh
tế vĩ mô nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế) và nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững
Các phân tích kinh tế vĩ mô thường tập trung nghiên hoạt động của toàn nền kinh tế như tổng sản phẩm quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lượng cung tiền trong nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá,
1.2.1 Lạm phát và sự tác động của yếu tố lạm phát đến Chỉ số giá chứng khoán
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa, dịch vụ theo thời gianvà sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó (N Gregory Mankiw, 2012) Hiện nay, chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index) là một chỉ số thông dụng
có thể để làm thước đo cho lạm phát, đây là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ, bao gồm lương thực, thực phẩm, các dịch vụ giáo dục, y tế…được mua bởi người tiêu dùng
Giả thuyết trung gian (Proxy hypothesis) của Fama (1981) cho rằng mối quan
hệ giữa suất lợi nhuận cổ phiếu và lạm phát là ngược chiều Sự tương quan âm là kết quả của hai mối quan hệ song song giữa lạm phát với hoạt động kinh tế và giữa các
Trang 21hoạt động kinh tế với lợi suất cổ phiếu Lạm phát có mối quan hệ nghịch chiều với các hoạt động kinh tế, việc tăng lạm phát dẫn đến các chi phí nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng lên, làm vốn đầu tư của nhiều dự án cũng tăng, làm giảm lợi nhuận hoặc gây thua lỗ trong kinh doanh, kiềm hãm kinh tế phát triển Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế lại có tương quan đồng biến với TTCK, lạm phát cao sẽ kéo theo lãi suất ngân hàng tăng cao, tín dụng thắt chặt, thu nhập giảm, kinh doanh kém hiệu quả khiến việc đầu tư chứng khoán bị lỗ hoặc không hấp dẫn bằng lãi suất ngân hàng, điều này làm giảm dòng tiền vào thị trường
Lý thuyết của Fama (1981) về mối tương quan âm giữa lạm phát với TTCK đã được nhiều nghiên cứu ủng hộ như của Geske và Roll (1983), Kaul (1987, 1990) Uwubanmwen & Eghosa (2015) cũng đã xác định sự nghịch biến này khi nghiên cứu thị trường Nigeria Tại thị trường Ấn Độ, Kyereboah-Coleman Anthony (2008), Karam Pal Ruhee Mittal (2011) xác định lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK Ở thị trường Việt Nam, các nghiên cứu cũng phát hiện mối quan hệ nghịch biến này như Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), Trương Đông Lộc (2014)
Tuy nhiên, cũng có các nghiên nghiên cứu khẳng định kết quả ngược lại với lý thuyết của Fama như nghiên cứu của Ibrahim & Yusoff (2001) tại TTCK Malaysia
và Nguyệt & Thảo (2013) nghiên cứu tại TTCK Việt Nam kết luận lạm phát có tác động tích cực và mang lại hiệu quả lâu dài đến TTCK
1.2.2 Lãi suất và sự tác động của yếu tố lãi suất lên Chỉ số giá chứng khoán
Theo từ điển Wikipedia, Lãi suất được hiểu là tỷ lệ mà ở đó tiền lãi được người
đi vay tiền trả cho việc sử dụng tiền đã vay từ một người cho vay nào đó
Sự tác động của biến số lãi suất lên TTCK hiện đã được nhiều tài liệu trên thế giới phân tích Lý thuyết giá trị (Theory of valuation) cho rằng mối quan hệ nhân quả giữa lãi suất và lợi suất chứng khoán là nghịch biến Hiệu ứng nghịch biến này được giải thích thông qua mô hình chiết khấu giá cổ tức:
Trang 22P = D1 / (k-g) (1.2)
Với;
P: giá cổ phiếu
D1: cổ tức kỳ đầu tiên
G: tốc độ tăng trưởng không đổi của cổ tức
K: tỷ lệ lợi nhuận yêu cầu trên cổ phiếu
Theo đó, sự thay đổi cả trong ngắn hạn và dài hạn của lãi suất sẽ tác động đến
tỷ lệ chiết khấu thông qua sự ảnh hưởng của nó lên lãi suất phi rủi ro danh nghĩa (Mukherjee và Naka, 1995)
Có thể thấy, TTCK rất nhạy cảm với biến động của lãi suất, khi lãi suất tăng, thị trường chứng khoán sẽ không hấp dẫn bằng gửi tiết kiệm ngân hàng, dòng tiền sẽ dịch chuyển từ TTCK sang hệ thống cách ngân hàng Ngoài ra, việc tăng lãi suất sẽ thu hút dòng ngoại tệ đổ vào, gián tiếp đẩy đồng tiền nội tệ tăng giá, từ đó dẫn đến giảm tỷ giá hối đoái và sẽ làm ảnh hưởng đến sức cạnh tranh về giá cả của các doanh nghiệp xuất khẩu, đồng thời, các doanh nghiệp cũng chịu thêm chi phí vốn vay do tăng lãi suất Kết quả doanh thu thiếu khả quan, kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai bị ảnh hưởng, dẫn đến sự giảm sút của giá cổ phiếu trên thị trường; biến động lãi suất cũng tác động đến tâm lý NĐT, người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ cắt giảm chi tiêu, giảm đầu tư làm cho CSGCK giảm sút
Nhiều nhà nghiên cứu cũng xác định rằng sự ảnh hưởng của lãi suất lên TTCK
là ngược chiều, điển hình như nghiên cứu của Banerjee và Adhikary (2009) đã cho rằng mối quan hệ giữa lãi suất và lợi nhuận thị trường chứng khoán có liên quan đến nhau một cách tiêu cực Mukherjee & Naka (1995) cũng kết luận rằng sự thay đổi dù
là trong ngắn hạn hay dài hạn của lãi suất trái phiếu chính phủ cũng đều tạo nên sự thay đổi của lãi suất phi rủi ro danh nghĩa và qua đó gây biến động cho lãi suất chiết khấu và TTCK Kyereboah-Coleman, Anthony và Kwame F Agyire-Tettey (2008) cho ra kết luận rằng lãi suất cao sẽ kiềm hãm đầu tư, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK, Rigobon & Sack (2004) cũng đưa ra kết luận tương tự
Trang 23Ở thị trường Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), Nguyệt & Thảo (2003), Huỳnh Thị Cẩm Hà (2014) cho rằng lãi suất và TTCK có mối quan hệ nghịch biến với nhau
1.2.3 Tỷ giá và sự tác động của yếu tố tỷ giá lên Chỉ số giá chứng khoán
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau hoặc người ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể
hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác (Arthur, S., & Sheffrin, S M , 2003)
Các lý thuyết kinh tế hiện đại cho rằng biến động tỷ giá sẽ làm dòng tiền và lợi nhuận kinh doanh biến đổi, gây tác động đến mức giá và mức sinh lời của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Trong thuyết Danh mục đầu tư hiệu quả của Markowitz, tác giả cho thấy sự cần thiết của việc xem xét lại danh mục đầu tư khi tỷ giá thay đổi
Ví dụ, khi đồng tiền trong nước sụt giá sẽ khiến thu nhập của các NĐT nước ngoài bị giảm nếu chuyển đổi sang đồng tiền của họ, vì thế sẽ có sự chuyển đổi từ tài sản nội địa như chứng khoán sang các tài sản bên ngoài trong cơ cấu danh mục đầu tư của
họ, điều này có khả năng làm giá chứng khoán giảm sút Ngược lại, đối với NĐT trong nước, khi nội tệ giảm giá làm chứng khoán nước ngoài trở nên đắt hơn, họ sẽ chuyển hướng qua đầu tư các tài sản trong nước, điều này tạo tín hiệu tốt đẩy giá chứng khoán tăng lên Mặt khác, cần xét đến đặc điểm kinh tế của từng quốc gia, xem
là nền kinh tế đó thiên về xuất khẩu hay nhập khẩu vì khi tỷ giá tăng sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu do hàng hóa có tính cạnh tranh về giá và ngược lại sẽ gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhập khẩu do giá nguyên vật liệu sản xuất bị nâng lên Đối với nền kinh tế mới mở và bị chi phối nhiều từ nguồn vốn nước ngoài và nguồn vật liệu nhập khẩu như Việt Nam, thì việc tăng tỷ giá có khả năng gây tác động xấu lên nền kinh tế và TTCK
Sự tương tác giữa biến động tỷ giá và giá chứng khoán đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả quốc tế và trong nước Tuy nhiên, các nghiên cứu lại cho ra nhiều kết quả khác nhau ở các thị trường, điển hình như Abdalla & Murinde (1997) đã xem xét
sự tương quan giữa tỷ giá và lợi suất chứng khoán của các quốc gia Châu Á và cho rằng tỷ giá hối đối thay đổi nghịch biến với TTCK ở Hàn Quốc Ấn Độ và Pakistan
Trang 24nhưng 2 biến này lại không có mối quan hệ với nhau tại TTCK Philippines
Bài nghiên cứu của Tabak (2006) khẳng định sự tương quan giữa tỷ giá với CSGCK ở thị trường Brazil là nghịch biến Ajay và Mougoue (1996) cũng kiểm tra mối quan hệ này và kết luận tỷ giá gây ảnh hưởng tiêu cực lên TTCK HongKong, Thái Lan, Malaysia và Singapore Nghiên cứu của Kyereboah-Coleman, Anthony, và Kwame F Agyire (2008) cho thấy giá cổ phiếu trên thị trường không bị ảnh hưởng bởi các khoản lỗ tỷ giá và các NĐT được hưởng lợi từ thị trường khi tỷ giá tăng
Ở thị trường Việt Nam, nghiên cứu của Nguyệt & Thảo (2013) cho rằng tỷ giá hối đối có tương quan nghịch biến với mức sinh lợi của cổ phiếu Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2014) lại cho thấy tỷ giá USD/VND có tương quan thuận với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu Ở một trường hợp khác, nghiên cứu của Kiều và Điệp (2013) lại cho kết quả rằng không có sự ảnh hưởng của tỷ giá lên chỉ số giá chứng khoán
Có thể thấy, giữa biến động tỷ giá và mức sinh lời chứng khoán có thể có các mối quan hệ đồng biến, nghịch biến hay có thể không có sự tương tác nào và mối quan hệ này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia hoặc có thể nói rằng các kết quả nghiên cứu đã cho thấy giữa hai biến này gần như không tồn tại mối tương quan chung nhất ở các thị trường trên thế giới
1.2.4 Cung tiền và sự tác động của yếu tố cung tiền lên Chỉ số giá chứng khoán
Cung tiền tệ là lượng tiền tệ được cung ứng ra nền kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh toán, dự trữ của các chủ thể tham gia trong nền kinh tế Mức cung tiền phải tương đương với mức cầu tiền, sự chênh lệch giữa cung và cầu tiền đều có thể gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế Hiện tại, để quản lý lượng cung tiền trong nền kinh tế và tuỳ thuộc quan niệm rộng hay hẹp về tiền tệ, các quốc gia sử dụng nhiều phép đo lượng tiền khác nhau, và chúng được ký hiệu là M0, M1, M2, M3, với quy tắc là các phép đo đi sau sẽ gồm phép đo đi trước cộng với các tài sản tài chính kém tính lỏng hơn
Trang 25Theo nghiên cứu của Fama (1981), TTCK với cung tiền có tồn tại mối quan hệ cùng chiều với nhau, mối quan hệ này thể hiện ở sự biến động lượng tiền tệ mà chủ yếu phát sinh từ hai chính sách tiền tệ gồm:
Chính sách tiền tệ mở rộng: Cung tiền mở rộng sẽ thúc đẩy tăng trưởng đầu tư
do doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễ dàng hơn, việc tăng trong tiêu dùng hàng hóa và các tài sản tài chính sẽ làm tăng thanh khoản TTCK Ngoài ra, nền kinh tế được mở rộng tiền tệ sẽ làm lãi suất giảm, giúp doanh nghiệp giảm được chi phí vay từ đó làm kỳ vọng về giá và thu nhập trên TTCK tăng lên
Chính sách tiền tệ thắt chặt: Khi giảm lượng cung tiền, sẽ làm lãi suất trong nền kinh tế cao hơn, kiềm hãm khả năng vay mượn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đầu tư cho chứng khoán của NĐT Bên cạnh đó, lãi suất cao còn khiến TTCK sẽ kém hấp dẫn hơn việc gửi tiền ngân hàng và cuối cùng, nó làm tăng chi phí vay của doanh nghiệp dẫn đến kỳ vọng lợi nhuận ảm đạm
Nghiên cứu thực nghiệm của Friedman & Schwartz (2008) giải thích rằng cung tiền gia tăng sẽ làm thanh khoản tăng theo và dẫn đến gia tăng giá cả trên thị trường chứng khoán Alshogeathri (2011) cũng tìm thấy một mối quan hệ đồng biến lâu dài giữa giá cổ phiếu Saudi với cung tiền M2 Còn theo Mjkherjee và Naka (1995), cung tiền sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến giá chứng khoán ở các thị trường và nền kinh tế khác nhau, sự tương quan này có khả năng là âm, dương hoặc không tồn tại sự tương quan giữa cung tiền và TTCK
Đối với TTCK Việt Nam thì các nghiên cứu Nguyệt & Thảo (2003), Kiều và Điệp (2013) cho rằng cung tiền M2 có mối quan hệ đồng biến với CSGCK Việt Nam
1.2.5 Sản lượng công nghiệp và sự tác động của yếu tố sản lượng công nghiệp lên Chỉ số giá chứng khoán
Sản lượng công nghiệp là một bộ phận phản ánh quy mô và sự tăng trưởng của nền kinh tế Tăng trưởng sản xuất công nghiệp sẽ tạo ra động lực và sức lan tỏa to lớn thúc đẩy phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, tăng trưởng nền kinh tế, từ đó tác động khả quan đến TTCK Sản xuất công nghiệp được xem xét đánh giá thông qua chỉ số sản xuất công nghiệp (IP), IP được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng
Trang 26sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại so với khối lượng sản xuất công nghiệp trong kỳ gốc, nó phản ánh toàn bộ các sản phẩm được tính trong chỉ số
Trong ngắn hạn, sự biến động sản lượng công nghiệp có thể không có tương quan cao với sự biến động của TTCK Tuy nhiên, hai yếu tố này nhìn chung có một mối quan hệ dài hạn thông qua hiệu quả hoạt động của nền kinh tế Sản lượng công nghiệp tăng cao sẽ sinh ra lợi nhuận, dòng tiền đầu tư trong tương lai, thúc đẩy nền kinh tế phát triển dẫn đến tăng mức sinh lợi chứng khoán và ngược lại Theo quan điểm của Tainer (1993), chỉ số sản xuất công nghiệp gắn liền với chu kỳ kinh tế, nó tăng khi kinh tế tăng trưởng và giảm khi kinh tế suy thoái và sự gia tăng của sản lượng công nghiệp là dự báo khả quan cho nền kinh tế Chen, Roll và Ross (1986) cũng cho rằng sản lượng công nghiệp là một phần quan trọng trong việc giải thích sự biến đổi trong tương lai của TTCK Theo Nguyệt và Thảo (2013), sản lượng công nghiệp tạo ảnh hưởng tích cực đến thị trường chứng khoán, sản lượng công nghiệp tăng nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh được lợi nhuận cao, nhu cầu huy động vốn để đầu tư
mở rộng quy mô thông qua TTCK cũng tăng Ngoài ra, do môi trường kinh doanh khả quan, lợi nhuận tăng trưởng tốt sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán
1.2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tác động của yếu tố đầu tư trực tiếp nước ngoài lên Chỉ số giá chứng khoán
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư vào nước khác của cá nhân hay
tổ chức bằng cách thiết lập hoạt động sản xuất, kinh doanh tại nước được đầu tư Vốn đầu
tư trực tiếp có thể thể hiện dưới hình thức bằng tiền hoặc bằng những tài sản khác
Trong nền kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố đóng vai trò quan trọng, FDI cung cấp nguồn vốn dồi dào cho hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, giúp nâng cao năng lực sản xuất trong nước và xuất khẩu, tạo thu nhập, công ăn việc làm cho lao động, giúp cải thiện trình độ nhân lực và là nguồn cung ngoại tệ hỗ trợ chính phủ trong việc cân đối các chính sách vĩ mô, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Mà TTCK lại phản ánh sức khỏe của nền kinh tế và mối tương quan cùng chiều giữa hoạt động kinh tế và TTCK
Trang 27cũng đã được xác định trong cả lý thuyết và nhiều nghiên cứu thực nghiệm Vì thế,
có thể nói rằng FDI có tác động gián tiếp đến tăng trưởng TTCK và hai biến này mang mối quan hệ đồng biến với nhau
Borensztein, E., De Gregorio, J., & Lee, J W (1998) cho rằng mức độ đóng góp của FDI cho nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận các công nghệ được chuyển giao tại nước sở tại, hoặc phụ thuộc vào đặc điểm về chế độ tự do thương mại hóa, quy mô của vốn FDI, tình hình nguồn nhân lực và sự ổn định kinh tế vĩ mô
ở mỗi quốc gia Nghiên cứu của Sarbapriya Ray (2013) đã tìm thấy một ảnh hưởng tích cực của FDI đến mức sinh lời chứng khoán ở thị trường Ấn Độ, tuy nhiên, mức độ lại không cao, do nguồn FĐI vào Ấn Độ vẫn còn tương đối hạn chế Issahaku, Ustarz & Domanban (2013) đã kết luận có tồn tại quan hệ nhân quả tích cực giữa FDI và cổ phiếu ở Ghana (giai đoạn 2005 đến 2010) Điều này tương đồng với nhận định của Adam và Tweneboah (2008) khi cho rằng yếu tố FDI có sự tác động tích cực đến TTCK
1.2.7 Sự tác động của yếu tố giá dầu lên Chỉ số giá chứng khoán
Dầu không những là yếu tố đầu vào thiết yếu cho hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay mà còn gây ảnh hưởng đến yếu tố chính trị và sự phát triển kinh
tế của nhiều quốc gia trên toàn cầu Trong khi đó, TTCK lại trực tiếp phản ánh sức khỏe của nền kinh tế, vì thế mối quan hệ giữa TTCK và giá dầu được nhiều nhà kinh
tế học quan tâm nghiên cứu
Theo Huang, Lee & Yang (2012), kỳ vọng về giá dầu gián tiếp ảnh hưởng đến chứng khoán thông qua kỳ vọng về lãi suất chiết khấu do khi giá dầu tăng sẽ làm lạm phát kỳ vọng tăng lên bởi chi phí đẩy, để kiểm soát lạm phát thì Ngân hàng nhà nước (NHNN) phải đẩy lãi suất lên cao, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và TTCK Tuy nhiên, đối với các quốc gia có nền kinh tế đa phần phụ thuộc vào dầu và lợi nhuận từ xuất khẩu dầu, giá dầu giảm sút sẽ khiến nền kinh tế có thể gặp khủng hoảng, gây hoang mang trong tâm lý NĐT khiến họ lập tức bán cổ phiếu, thoái lui khỏi TTCK
Trang 28Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy giá dầu là một trong các yếu tố có
sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến những chỉ số kinh tế vĩ mô khác và suất sinh lợi của TTCK, điển hình như trong nghiên cứu của Miller và Ratti (2009) cho thấy TTCK phản ứng tiêu cực với việc giá dầu tăng trong dài hạn ở sáu quốc gia OECD trong giai đoạn từ 1971- 2008 Nghiên cứu của Park và Ratti (2008) đã chứng minh rằng cú sốc của giá dầu ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK của các quốc gia nhập khẩu ròng dầu thuộc Liên minh Châu Âu Mối quan hệ nghịch biến này cũng được Papapetrou (2001) ủng
hộ khi phân tích sự biến động của giá dầu đến lợi nhuận TTCK Hy Lạp
Trái ngược với các kết quả trên, nghiên cứu của Kalyanaraman, L., & Tuwajri,
B (2014) lại kết luận mối quan hệ nhân quả đồng biến giữa giá dầu và giá cổ phiếu trong dài hạn, Alshogeathri (2011) cũng có kết quả nghiên cứu tương đồng
Ở thị trường Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), Nguyệt & Thảo (2003), Tôn Hoành Thanh Huệ và Nguyễn Văn Duy (2014) đều cho rằng giá dầu tạo ảnh hưởng tích cực lên TTCK Việt Nam Ngược lại, nghiên cứu của Trần Huy Hoàng (2017), trong giai đoạn 2003 -2015 cho rằng giá dầu có tương quan
âm với mức sinh lợi của TTCK Việt Nam, tuy nhiên sự tác động là rất nhỏ, TTCK hoạt động tương đối độc lập trước các biến động của giá dầu
1.2.8 Sự tác động của yếu tố chỉ số giá chứng khoán Mỹ lên Chỉ số giá chứng khoán
SP 500 là chỉ số bao gồm 500 cổ phiếu được lựa chọn từ 500 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất nước Mỹ, những doanh nghiệp này có vốn hóa chiếm hơn 70% tổng giá trị TTCK Mỹ Hiệu quả của chỉ số SP500 phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tập đoàn lớn đa quốc gia và phản ánh sự biến động của nền kinh tế Mỹ Trong khi nền kinh tế Mỹ mang tính chi phối cao và có ảnh hưởng đến kinh tế của nhiều quốc gia khác trên thế giới Vì thế, mọi sự biến động của kinh
tế Mỹ đều gây ra hiệu ứng đến các thị trường tài chính khác và có thể nói rằng chỉ số SP500 có tác động đến các TTCK của nhiều quốc gia
Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về sự tác động qua lại giữa các TTCK nhưng kết quả phân tích không thể hiện sự chung nhất về chiều và quy luật ảnh hưởng
Trang 29mà phụ thuộc vào quy mô kinh tế của mỗi thị trường, mức độ quan hệ thương mại giữa các thị trường và ở các thời kỳ khác nhau thì kết quả về mối quan hệ có thể không giống nhau Liu, Y Angela & Ming-Shiun Pan (1997) nghiên cứu sự ảnh hưởng lan tỏa của TTCK Mỹ và Nhật Bản lên các thị trường Châu Á như: Hồng Kong, Thailand, Singapore, Taiwan, trong giai đoạn 1984 đến 1991, kết quả khẳng định các thị trường này đều chịu sự ảnh hưởng lan tỏa và thị trường Mỹ dường như
có ảnh hưởng lớn hơn so với thị trường Nhật Bản
Nghiên cứu của Bwo-Nung Huang, Soong-Nark Sohng và Chin Wei Yang (1999) nhận định rằng có một sự lan tỏa từ sự thay đổi của TTCK Mỹ đến các thị trường chứng khoán mới nổi, bên cạnh đó, giá chứng khoán Nhật Bản, Hồng Kong
và Singapore cũng có tác động đến các TTCK của các nước Châu Á mới nổi Nghiên cứu của Kofman, P., & Martens, M (1997) về sự lan tỏa về lợi nhuận giữa TTCK London và New York đã cho rằng cả hai thị trường đều ảnh hưởng lẫn nhau và tác động của thị trường Hoa Kỳ lên Anh là mạnh hơn Tuy nhiên, nghiên cứu của Kalyanaraman, L., & Tuwajri, B (2014) phân tích sự ảnh hưởng lan tỏa của chỉ số
SP 500 đến TTCK Saudi lại nhận định không có mối quan hệ giữa hai thị trường này Tôn Hoành Thanh Huệ và Nguyễn Văn Duy (2014) nghiên cứu TTCK Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến 2013 cho thấy các giá trị chỉ số SP500 có tác động tích cực lên hiệu quả TTCK Việt Nam
1.3 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Theo lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory – APT) của nhà kinh tế học Stephen Ross ra đời vào năm 1976, tỷ suất sinh lời của TTCK là một hàm số tuyến tính của tập hợp tất cả các yếu tố tạo ra rủi ro cho tỷ suất sinh lời của thị trường chứng khoán Nghĩa là, suất sinh lợi của TTCK có thể đo lường được thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô hoặc vi mô khác nhau, mọi sự biến đổi về các yếu tố vĩ
mô như cung tiền, tỷ giá, lạm phát, lãi suất… đều có tác động đến hiệu quả hoạt động của TTCK Dựa trên lý thuyết APT và một số lý thuyết kinh tế khác, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tập trung xem xét tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến sự biến
Trang 30động của chỉ số chứng khoán, có thể đề cập các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như sau:
1.3.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Chen, Roll và Ross (1986) đã phân tích ảnh hưởng của các biến số vĩ mô gồm: sản lượng công nghiệp, phần bù rủi ro, chỉ số thị trường, mức chi tiêu thực tế, lạm phát và giá dầu lên TTCK Mỹ giai đoạn từ 1/1953 - 11/1984 bằng mô hình đa nhận
tố Kết quả cho thấy có một vài biến giải thích được sự biến động của tỷ suất sinh lợi
kỳ vọng của cổ phiếu, đặc biệt là biến đường cong lãi suất, biến động trong phần bù rủi ro và sản lượng công nghiệp; những biến còn lại có tác động yếu hơn
Nghiên cứu của Kyereboah-Coleman, Anthony và Kwame F Agyire-Tettey (2008) về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô lên thị trường chứng khoán Ghana – một thị trường mới nổi ở Tây Phi, nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để thực hiện phân tích tác động của tỷ giá, lạm phát và lãi suất đến TTCK giai đoạn 1995 -2005 Nghiên cứu cho rằng lãi suất gây ảnh hưởng đến dòng vốn và mức sinh lợi của TTCK một cách mạnh mẽ Lạm phát lại mang lại ảnh hưởng tiêu cực, tuy nhiên, nó không gây tác động đến hiệu suất sinh lời của thị trường ngay mà có một
độ trễ về thời gian để thị trường phản ứng với những biến động của lạm phát Giá cổ phiếu trên thị trường không bị ảnh hưởng bởi sự tăng của tỷ giá và các NĐT được hưởng lợi từ thị trường khi đồng Cedi mất giá
Với chuỗi dữ liệu từ 1995 đến 2008, nghiên cứu của Karam Pal Ruhee Mittal (2011) sử dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số VECM cùng với phương pháp kiểm tra đồng tích hợp trong phân tích tác động của lãi suất, tiết kiệm, tỷ giá, lạm phát lên
2 thị trường vốn của Ấn Độ là S&P CNX Nifty và BSE Sensex Kết quả của nghiên cứu cũng khẳng định có tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến vĩ mô và chỉ
số chứng khoán Ấn Độ Lạm phát có tác động đến cả 2 thị trường, thay đổi tiết kiệm lại không có mối liên hệ đến hiệu suất hoạt động của TTCK Bên cạnh đó, lãi suất chỉ tác động đến thị trường S&P CNX Nifty trong khi thị trường BSE Sensex hầu như chỉ chịu tác động của tỷ giá
Trang 31Adam, Anokye, and George Tweneboah (2008) nghiên cứu sự ảnh hưởng của lãi suất, tỷ giá, lạm phát, FDI lên TTCK Ghana trong gian đoạn 1991 – 2006 Với mô hình VECM và kiểm định đồng liên kết của Johansen, nghiên cứu cho rằng TTCK chịu sự tác động của tất cả các biến kinh tế trên Mặc dù vậy, sự tác động là không giống nhau, lãi suất gây tác động ít hơn FDI và lạm phát, và tỷ giá Nghiên cứu gợi ý các nhà đầu tư cần tập trung quan sát biến động của FDI, lạm phát trên thị thường Bên cạnh đó, Arnes, Sibel Karina (2015) cũng nghiên cứu tác động của các yếu tố này lên TTCK Istanbul, kết quả lại cho thấy, lãi suất tạo ảnh hưởng mạnh nhất đến hiệu quả hoạt động của thị trường, theo sau đó là tỷ giá và sản lượng công nghiệp Liu, Y Angela, and Ming-Shiun Pan (1997) phân tích sự ảnh hưởng lan tỏa của TTCK Mỹ và Nhật Bản lên các thị trường: Hồng Kong, Thailand, Singapore, Taiwan, trong giai đoạn 1984 - 1991 Kết quả nghiên cứu khẳng định các thị trường này chịu
sự ảnh hưởng lan tỏa và thị trường Mỹ lớn hơn so với thị trường Nhật Bản Theo nghiên cứu của Bwo-Nung Huang, Soong-Nark Sohng và Chin Wei Yang (1999) cho thấy sự thay đổi của thị trường Mỹ lan tỏa đến các thị trường đang phát triển và giá chứng khoán ở Nhật Bản, Hồng Kong và Singapore cũng thể hiện sự ảnh hưởng lan tỏa đến các thị trường các nước Châu Á mới nổi
Nghiên cứu của Kalyanaraman, L., & Tuwajri, B (2014) Sử dụng kiểm định đồng liên kết của Johansen để phân tích mối quan hệ của các biến gồm: tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số giá tiêu dùng, sản lượng công nghiệp, chỉ số SP 500 và giá dầu với giá chứng khoán Saudi đã tìm thấy sự tồn tại của mối quan hệ lâu dài giữa chúng với TTCK trong giai đoạn 1994 đến 2013 Tất cả các biến vĩ mô được kiểm định đều
có tác động đến sự thay đổi của cổ phiếu Saudi, riêng SP500 lại không ảnh hưởng
Mô hình VECM cho thấy có mối quan hệ nhân quả trong dài hạn giữa giá chứng khoán và giá dầu, CPI làm giá cổ phiếu giảm, sản xuất công nghiệp đẩy giá cổ phiếu tăng lên Alshogeathri (2011) cũng phân tích các mối quan hệ cả trong ngắn hạn và dài hạn giữa lợi nhuận chứng khoán Saudi và các biến kinh tế vĩ mô là cung tiền, lãi suất ngắn hạn, chỉ số giá tiêu dùng, tín dụng ngân hàng, giá dầu thô thế giới, tỷ giá và SP500 từ 1993 đến 2009 Bằng việc phân tích mô hình VECM, bài nghiên cứu khẳng
Trang 32định có tồn tại mối quan hệ tích cực lâu dài giữa chỉ số giá Saudi với lãi suất ngắn hạn, cung tiền M2, lạm phát và SP500
Issahaku, Ustarz và Domanban (2013) sử dụng mô hình VECM xem xét quan
hệ giữa các chỉ số vĩ mô và tăng trưởng chứng khoán ở Ghana từ 1995 - 2010 Nghiên cứu khẳng định trong ngắn hạn, tồn tại một mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán
và các chỉ số vĩ mô như lạm phát, lãi suất và cung tiền Trong dài hạn, sẽ có một mối quan hệ lâu dài giữa FDI, lạm phát, cung tiền với lợi suất chứng khoán Tác giả cũng khẳng định rằng cần phải mất khoảng 20 tháng để thị trường chứng khoán điều chỉnh hoàn toàn về trạng thái cân bằng khi có một cú sốc kinh tế xảy ra
1.3.2 Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), bằng phương pháp định lượng theo mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM), bài nghiên cứu kiểm định sự tác động của các yếu tố: lạm phát, lãi suất, tỷ giá, giá dầu, sản lượng công nghiệp, giá vàng lên TTCK Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 Từ kết quả mô hình VECM, nghiên cứu thể hiện sự ảnh hưởng của các biến chỉ số tỷ giá, CPI, lãi suất và chỉ số giá vàng lên VN-Index là ngược chiều; còn các biến giá trị công nghiệp và giá dầu bán lẻ thì
có tác động tích cực lên VNIndex
Nguyễn Huỳnh Đoàn Trang (2016) đã sử dụng các yếu tố cung tiền, lãi suất liên ngân hàng và dự trữ ngoại hối cho việc kiểm tra mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ (CSTT) và TTCK trong giai đoạn 2008 đến 2016 Sử dụng mô hình VECM cùng với kiểm định đồng liên kết, phân tích cho rằng trong giai đoạn kinh tế ổn định (2012-2016) thì chính sách tiền tệ có tác động mạnh mẽ đến CSGCK nhưng tác giả không tìm thấy mối quan hệ mạnh mẽ của chính sách tiền tệ và CSGCK trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2008 - 2011 Ngoài ra, kết quả hồi quy cũng cho thấy thị trường chứng khoán không có tác động mạnh đến CSTT trong mọi giai đoạn Trương Đông Lộc (2013) trong bài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến TTCK, kết quả phân tích hồi quy cho thấy tỷ giá USD/VND có tương quan tỷ lệ thuận với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu Ngược lại, biến động của giá vàng và tỷ lệ lạm phát có mối tương quan nghịch với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu niêm yết trên
Trang 33HOSE Nguyệt & Thảo (2003) kết luận rằng lạm phát, cung tiền, giá dầu thế giới, sản lượng công nghiệp và TTCK có mối tương quan đồng biến, còn các biến tỷ giá và biến lãi suất lại tương quan nghịch biến với TTCK
Nghiên cứu trong giai đoạn 2004 đến 2011 của Kiều và Điệp (2013), bằng việc phân tích mô hình VECM đã tìm được mối tương quan âm giữa lạm phát và CSGCK trong dài hạn, giá vàng, cung tiền lại có tác động dương đến CSGCK và tỷ giá không
có mối quan hệ với CSGCK Ngoài ra, CSGCK có quan hệ đồng biến với chính nó ở
kỳ trước và nghịch biến với tỷ giá trong ngắn hạn
Huỳnh Thị Cẩm Hà (2014) phân tích tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2001 – 2013 bằng mô hình VECM Phân tích cho thấy trong dài hạn sản lượng công nghiệp, cung tiền có quan hệ cùng chiều với VN-Index, trong khi lạm phát và lãi suất có mối quan hệ ngược chiều với VN-Index Trường hợp có các cú sốc xảy ra từ biến vĩ mô thì quá trình VN-Index điều chỉnh về mức cân bằng là khá chậm Nghiên cứu của Tôn Hoành Thanh Huệ và Nguyễn Văn Duy (2014) về các tác động của chỉ số giá thế giới lên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008-2013 cho thấy các giá trị chỉ số SP500, giá dầu thế giới đều có ảnh hưởng tích cực lên TTCK Việt Nam
1.3.3 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Nhìn chung, thông qua việc hệ thống tổng quan các công trình nghiên cứu nổi bật liên quan đến đề tài của các nhà nghiên cứu thế giới và trong nước đã cho thấy được tầm quan trọng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với sự phát triển của TTCK trong cả ngắn hạn và dài hạn Ngoài ra, các nghiên cứu cũng gợi ý những giải pháp thiết thực và có ý nghĩa cho việc phát triển TTCK giúp định hướng cho nghiên cứu của tác giả
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM kết hợp với phương pháp kiểm định đồng liên kết là hiệu quả trong việc đo lường mối quan hệ giữa các chỉ số vĩ mô và TTCK, điều này đã tạo nền tảng cho việc định hướng mô hình phân tích của luận văn này
Trang 34TÓM T ẮT CHƯƠNG 1
Ở chương 1, luận văn đã trình bày các lý thuyết, cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm về mức độ tác động của các biến kinh tế vĩ mô lên thị trường chứng khoán Qua đó, tác giả đã xác định được tám biến số kinh tế vĩ mô tiêu biểu, quan trọng và phù hợp đối với điều kiện kinh tế và điều kiện về khả năng tiếp cận dữ liệu
vĩ mô ở Việt Nam để làm biến độc lập trong nghiên cứu này Các lý thuyết trên là cơ
sở quan trọng để luận văn học hỏi, kế thừa và đưa ra mô hình nghiên cứu phù hợp nhất cho việc phân tích cũng như đưa ra dự đoán chiều hướng tác động của các yếu
tố vĩ mô đến TTCK trong bài luận văn của mình
Ở chương sau của luận văn, tác giả sẽ tập trung giới thiệu về dữ liệu thu thập để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
được áp dụng
Trang 35CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC Y ẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN
2.1 LÝ THUY ẾT SƠ LƯỢC VỀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mô hình Vector tự hồi quy VAR
Mô hình VAR (Vector autoregression – VAR) được đề xuất bởi nhà kinh tế học Christopher A Sims năm 1980, mô hình kinh tế vĩ mô này được dùng để phân tích
sự tác động của các biến chuỗi thời gian Mô hình VAR là mô hình hệ phương trình gồm mô hình tự hồi quy đơn chiều (Univariate autoregressive model) với hệ phương trình ngẫu nhiên (Simultanous equations -SEs) Do đó VAR là mô hình đa biến với mỗi biến trong mô hình sẽ có phương trình riêng giải thích xu hướng phát triển thông qua độ trễ của nó và độ trễ của các biến còn lại trong mô hình VAR không cần phân biệt biến ngoại sinh với nội sinh, với ưu điểm này, mô hình ngày càng được ứng dụng trong các nghiên cứu kinh tế vĩ mô một cách rộng rãi và phổ biến
Mô hình VAR tổng quát với độ trễ p như sau:
hệ giữa các biến đồng liên kết bằng cách lấy sai phân các chuỗi dữ liệu, tuy nhiên trong trường hợp này, VAR chỉ xác định được sự phản ứng giữa các biến trong ngắn
Trang 36hạn
2.1.2 Mô hình Vector hi ệu chỉnh sai số VECM
Trước những hạn chế của VAR, mô hình vector hiệu chỉnh sai số - Vector error correction model (VECM) là dạng mở rộng của VAR được phát triển nhằm giải quyết vấn đề hồi quy giả mạo VECM cũng yêu cầu các chuỗi phải dừng, tuy nhiên VECM lại ước lượng được mối quan hệ dài hạn giữa các chuỗi thời gian trong mô hình bằng cách bổ sung thêm vector hiệu chỉnh sai số có độ dài bằng số các quan hệ đồng liên kết của các biến Do đó, VECM được sử dụng phổ biến cho phân tích đánh giá tác động của các biến kinh tế vĩ mô với đặc tính là các chuỗi không dừng và có mối liên
hệ đồng liên kết
Mô hình VECM tổng quát:
∆Xt = ΠXt−1 + Γ1∆ Xt−1 + · · · + Γp−1 ∆X t−p+1 + Ut (2.2)
Trong đó: ∆Xt là vector của n biến khác nhau
Khi các chuỗi số liệu thời gian là những chuỗi dừng, mô hình VECM được ước lượng qua 3 bước sau:
Bước 1: Xây dựng các phương trình vector hồi quy cho từng biến để ước lượng VAR
Bước 2: Kiểm định tính đồng liên kết theo Jonhansen
Bước 3: Nếu các biến tồn tại ít nhất một đồng liên kết Xây dựng Vector hiệu chỉnh sai số dựa trên cơ sở của mô hình VAR đã xây dựng ở bước 1 để ước lượng mô hình VECM
Qua tham khảo nhiều nghiên cứu trên thế giới mà điển hình là của Coleman (2008), Karam Pal Ruhee Mittal (2011), Adam, Anokye, and George Tweneboah (2008)… đã cho thấy sự phù hợp của phương pháp hồi quy theo mô hình VECM khi phân tích chuỗi thời gian Đồng thời, các nghiên cứu trong nước như nghiên cứu của Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), Huỳnh Thị Cẩm Hà (2014), Nguyễn Minh Kiều (2013)… cũng áp dụng VECM trong phân tích quan hệ giữa TTCK và biến số kinh tế Vì thế, tác giả sẽ học hỏi và áp dụng mô hình trên trong bài luận văn của mình, VECM cho phép hồi quy chuỗi các biến không dừng và đồng liên
Trang 37Kyereboah-kết với nhau, do đó, VECM rất phù hợp với đặc tính của các chỉ số kinh tế được chọn trong bài luận văn này
2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN C ỨU
Trên cơ sở của dữ liệu chuỗi thời gian, luận văn thực hiện phân tích theo phương pháp nghiên cứu định lượng, phần mềm Eviews sẽ được sử dụng để xử lý dữ liệu theo quy trình:
Kiểm định tính dừng: để xem xét kết quả mô hình có hồi quy giả mạo hay
không, nhằm xác định độ chính xác và sự đáng tin cậy của mô hình chuỗi dữ liệu thời gian
Chọn độ trễ tối ưu: giúp xác định ở độ trễ thứ mấy trong mô hình thì các biến
vẫn còn mối quan hệ với nhau
Kiểm định tính đồng liên kết: Mô hình có quan hệ đồng liên kết thì sẽ không
bị hồi quy giả mạo và kết quả hồi quy các biến sẽ thể hiện mối quan hệ cân bằng dài hạn
Phân tích mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM: Khi chuỗi các dữ liệu là
không dừng và có đồng liên kết thì mô hình Vector hiệu chỉnh sai số sẽ được vận dụng để xác định độ lệch ngắn hạn, xu thế tác động và sự cân bằng dài hạn
Kiểm tra sự phù hợp của mô hình VECM thông qua kiểm tra tự tương quan và
phương sai sai số thay đổi
Dự báo thông qua:
- Hàm phản ứng đẩy: xác định phản ứng của VN30 trước các cú sốc tạo ra từ chính nó và các biến độc lập
- Phân rã phương sai: với mục đích xác định sự tác động của những cú sốc vĩ
mô đến phương sai sai số dự báo của VN30
Mô hình FMOLS: Sau khi xác định độ lệch ngắn hạn, xu thế tác động, sự cân
bằng trong dài hạn và quá trình hướng tới cân bằng dài hạn của TTCK Luận văn sẽ ứng dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất được hiệu chỉnh
các biến trong dài hạn
Trang 382.3 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP DỮ LIỆU
Dữ liệu nghiên cứu là các số liệu theo chuỗi thời gian, được thu thập qua từng tháng từ 02/2012 đến 02/2019 và sẽ được tổng hợp từ nguồn số liệu thứ cấp Có tổng cộng 85 quan sát Dữ liệu về CSGCK được thu thập từ Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh và Uỷ Ban Chứng Khoán nhà nước Dữ liệu về các biến số vĩ mô được thu thập từ Ngân Hàng Thế Giới - World Bank, Tổng cục Thống kê Việt Nam,
Bộ Công thương, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Quỹ tiền tệ thế giới, Cục Đầu tư nước ngoài,…
2.4 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Chỉ số VN30: Là giá đóng cửa của ngày làm việc cuối trong từng tháng của chỉ
số VN30-Index
Lạm phát: Sử dụng chỉ số giá tiêu dùng CPI làm đại diện cho lạm phát, là tỷ lệ
phần trăm thay đổi của CPI hằng tháng so với tháng đó của năm trước
Lãi suất: Là lãi suất bình quân liên ngân hàng có kỳ hạn một tháng của các
ngày làm việc trong tháng
Cung tiền: Lượng cung tiền M2 hằng tháng trong nền kinh tế
Giá trị sản lượng công nghiệp: Mức tăng trưởng của từng tháng so với tháng
đó của kỳ gốc được so sánh
Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Là giá trị vốn nước ngoài giải ngân mới ở từng
tháng
Tỷ giá hối đoái: Là tỷ giá hối đoái bình quân giữa USD/VND vào ngày làm
việc cuối cùng mỗi tháng
Chỉ số chứng khoán Mỹ: Là giá đóng cửa vào ngày làm việc cuối cùng của
tháng của chỉ số SP 500
Giá dầu thế giới: Là giá dầu trung bình theo tháng của Dubai, Brent và West
Trang 39B ảng 2.1: Tóm tắt tên các biến và nguồn thu thập dữ liệu
Website của Tổng cục Thống kê VN
so với tháng đó của kỳ gốc (theo gốc so sánh năm 2010)
Tỉ lệ phần trăm
Bộ Công thương VN & Tổng cục Thống kê
hàng có kỳ hạn một tháng của các ngày làm việc trong tháng
Tỉ lệ phần trăm
Website của Ngân hàng Nhà Nước – SBV
USD/VND vào ngày làm việc
Website của Ngân hàng Nhà Nước – SBV
trong nền kinh tế Triệu tỷ VND
Website của Ngân hàng Nhà Nước – SBV và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) SP500
Là giá đóng cửa vào ngày làm việc cuối cùng của tháng của chỉ
Nguồn số liệu
từ Standard & Poor’s website
ngân mới ở từng tháng USD Cục Đầu tư nước ngoài
Ngu ồn: tác giả tự thực hiện
Trang 40Do khoảng cách về số liệu giữa các chuỗi trong mô hình là khá lớn, nên khi hồi quy, kết quả có thể có sai số lớn và kém tin cậy Vì thế, sau khi thu thập dữ liệu, tác giả sẽ chuyển sang dữ liệu logarit để phân tích Việc lấy logarit có tác dụng làm giảm
khác biệt về con số của bộ dữ liệu và không ảnh hưởng đến tính chất của các biến
2.5 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT
Từ những nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước và các lý thuyết về chiều hướng và nguyên tắc tác động đến TTCK của các biến vĩ mô, tác giả xây dựng giả thuyết kỳ vọng đối với chiều tác động của các biến kinh tế đến biến VN30 như bảng dưới đây:
Bảng 2.2: Kỳ vọng chiều tác động của các biến vĩ mô đến chỉ số VN30
Nguồn: Tác giả tự thực hiện
Biến độc
lập
Chiều hướng tác động kỳ
Kyereboah-Coleman, Anthony, and Kwame F Tettey (2008), Karam Pal Ruhee Mittal (2011), Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), Trương Đông Lộc (2014)
Agyire-IR _ Banerjee và Adhikary (2009) , Kyereboah and Tettey (2008), Nguyễn Trần Phương Thảo (2015)
EX -/+ Kyereboah and Tettey (2008), Tabak (2006), Nguyệt &
Thảo (2013), Trương Đông Lộc (2014)
FDI + Sarbapriya Ray (2013) , Issahaku, Ustarz và Domanban (2013), Adam, Anokye, and George Tweneboah (2008)
SP500 + Liu, Y Angela, and Ming-Shiun Pan (1997), Bwo-Nung Huang, Soong-Nark Sohng và Chin Wei Yang (1999),
Tôn Hoành Thanh Huệ và Nguyễn Văn Duy (2014)
Miller và Ratti (2009), Papapetrou (2001), Kalyanaraman, L., & Tuwajri, B (2014), Nguyễn Trần Phương Thảo (2015), Nguyệt & Thảo (2003)