CH ƯƠNG 1: 1.1.Khái niệm và đặc điểm trái phiếu 1.1.1 Khái ni ệm trái phiếu Trái phiếu Bond là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu, là một loại chứng
Trang 2
]]]]] ^^^^^
PHÁT HÀNH
ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SƠ SỞ HẠ TẦNG
Chuyên Ngành: Kinh tế tài chính - Ngân Hàng
Mã số: 60.31.12
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
ĐỊA PHƯƠNG ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI TIỀN GIANG” là công trình nghiên cứu của bản thân, được đúc kết từ quá trình học tập
và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của Thầy PGS TS Nguyễn Ngọc Định
Trang 4
Lời cam đoan
M ục lục
Danh m ục chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu
Danh m ục hình vẽ, đồ thị
Mở đầu
1.1.Khái niệm và đặc điểm trái phiếu……….…1
1.1.1 Khái niệm trái phiếu……….… 1
1.1.2 Đặc trưng trái phiếu………1
1.1.2.1 Mệnh giá……….……….1
1.1.2.2 Ngày đáo hạn……… 1
1.1.2.3 Lãi suất trái phiếu………1
1.1.2.4 Giá mua trái phiếu……… …………2
1.1.3 Đặc điểm trái phiếu……….2
1.1.4 Phân loại trái phiếu……… ……… 3
1.1.4.1 Phân loại theo tiêu thức người phát hành……… 3
1.1.4.2 Phân loại theo tính chất chuyển nhượng……… 4
1.1.4.3 Theo lãi suất……… …… 5
1.2 Trái phiếu chính quyền địa phương và sự cần thiết phát hành trái phiếu chính quyền địa phương trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng……… ….5
1.2.1 Trái phiếu chính quyền địa phương……….… 5
1.2.1.1 Khái niệm……….…… 5
Trang 5
1.2.2 Sự cần thiết của trái phiếu chính quyền địa phương trong đầu tư phát
1.2.2.2 Đối với chính quyền Trung ương……….…….11 1.3 Kinh nghiệm huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng của thành phố Hồ Chí Minh và một số nước
1.3.1 Bài học kinh nghiệm về phát hành của thành phố Hồ Chí Minh… 11 1.3.2 Bài học kinh nghiệm về phát hành của một số nước………… … 14
CHƯƠNG 2:
2.1.1 Thực trạng của thị trường trái phiếu Chính phủ……….…17 2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu Chính
2.1.1.2 Những kết quả, hạn chế và nguyên nhân gây nên hạn chế trong sự
2.1.3 Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương ………26 2.1.3.1 Khái lược về sự hình thành thị trường trái phiếu chính quyền địa
2.1.3.2 Thực trạng phát hành trái phiếu chính quyền địa phương ở VN……….27
Trang 6
tại Tiền Giang……… 32
2.2.1 Vị trí địa lý kinh tế - chính trị của tỉnh……… …… 32
2.2.2 Thực trạng đầu tư cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang ……….32
2.2.3 Thu chi ngân sách của Tiền Giang 39
2.2.3.1 Tình hình thu ngân sách 39
2.2.3.2 Tình hình chi ngân sách 41
2.3 Các nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng 44
2.4 Những hạn chế trong thu hút vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang 46
Kết luận chương 2 47
CHƯƠNG 3: GI ẢI PHÁP PHÁT HÀNH TRÁI PHI ẾU CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ĐỂ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN C Ơ SỞ HẠ TẦNG TẠI TIỀN GIANG 3.1 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho TG đến năm 2020 49
3.1.1 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng tại TG 49
3.1.2 Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại TG 50
3.1.3 Sự cần thiết phải phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang 51
3.2 Giải pháp phát hành trái phiếu chính quyền địa phương……….…54
3.2.1 Giải pháp về pháp lý ……….54
3.2.1.1 Hoàn thiện các văn bản liên quan thị trường TP……….…55
3.2.1.2 Tăng cường nguồn thu cho địa phương……….….56
3.2.1.3 Phân cấp về vay nợ cho chính quyền địa phương……… 58
Trang 7
3.2.2 Giải pháp kỹ thuật phát hành TPCQĐP ……….… ……59
3.2.2.1 Phương pháp phát hành……… ……60
3.2.2.2 Đặc điểm phát hành………63
3.2.2.3 Quy định phát hành……… … …64
3.2.2.4 Phương án phát hành TPCQĐP tại Tiền Giang……… … 66
3.2.3 Giải pháp hỗ trợ 68
3.2.3.1 Xếp hạng tín nhiệm 68
3.2.3.2 Tạo tính thanh khoản cho TPCQDP……… 69
3.2.3.3 Tăng cường kiểm soát tài chính công……… 73
3.2.3.4 Đảm bảo nguồn hoàn trả……….………… 74
Kết luận chương 3……….75
K ết luận
Tài li ệu tham khảo
Ph ụ lục
Trang 8
ASEAN (Association of South East Asian
ODA (Official Development Assistance) Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 9
BI ỂU
Biểu 2.1 Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương tại TPHCM
Biểu 2.2 Số lượng công trình đã được xây dựng trong các vùng dự án
Biểu 2.3 Cơ cấu một số nguồn thu chính Biểu 2.4 Cơ cấu các khoản chi ngân sách chính
Biểu 2.5 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thời kỳ 1996-2008
Biểu 3.1 Dự báo các nguồn vốn đầu tư
Biểu 3.2 Quy mô GDP các ngành giai đoạn 1995-2008 (theo giá hiện hành)
Biểu 3.3 Quy mô GDP các ngành giai đoạn 1995-2008 (theo giá so sánh)
Biểu 3.4 Nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1995-2008
Biểu 3.5 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995 -2008
HÌNH
Hình 2.1 Phát hành TPCP 2001-2008 Hình 2.2 Giá trị giao dịch và giá trị niêm yết TPCP Hình 2.3 Phát hành TPCQĐP tại Việt Nam
Hình 2.4 Cơ cấu nguồn thu chính của Tiền Giang giai đoạn 1996-2000, giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2008
Hình 2.5 Tổng chi, chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của Tiền Giang giai đoạn 1996-2000, giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2008
Hình 2.6 Cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên của Tiền Giang giai đoạn 1996-2000, giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006-2008
Trang 10
I Tính cấp thiết của đề tài
TG là tỉnh vừa thuộc vùng ĐBSCL, vừa nằm trong vùng KTTĐPN; nằm trải dài trên bờ Bắc Sông Tiền Tiền Giang có vị trí địa lý kinh tế - chính trị khá thuận
lợi, nằm trên các trục giao thông- kinh tế quan trọng như quốc lộ IA, quốc lộ 50,
quốc lộ 60, quốc lộ 30, đường cao tốc TPHCM -Trung Lương (Mỹ Tho)-Cần
Thơ nối TPHCM, vùng Đông Nam Bộ với các tỉnh ĐBSCL, tạo cho TG vị thế của một cửa ngõ của các tỉnh miền Tây về TPHCM và vùng KTTĐPN Trong năm
2005 TG đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý đưa vào Vùng KTTĐPN và thành
phố Mỹ Tho được công nhận là đô thị loại II với nhiều cơ hội phát triển mới sẽ mở
ra cho tỉnh
Tuy có nhiều tiềm năng kinh tế nhưng hoạt động thu chi ngân sách của TG còn mất cân đối và chưa bền vững Thu ngân sách ngày càng tăng nhưng trong đó
nguồn thu chiếm tỷ trọng cao nhất hiện nay của ngân sách tỉnh là thu từ hoạt động
xổ số kiến thiết chiếm trên 31% tổng thu từ kinh tế địa phương Bên cạnh đó, tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách còn nhiều biến động, thể hiện sự phát triển của nền kinh tế hiệu quả chưa cao và chưa ổn định, còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp Chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên có tăng, nhưng do xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, nên về qui mô giá trị chưa cao và còn mất cân đối lớn so với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, làm hạn chế việc thúc đẩy và thu hút các nguồn
vốn đầu tư khác
Do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, qui mô nền kinh tế còn nhỏ bé, cơ
cấu kinh tế chưa tiên tiến, chất lượng và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế còn
thấp, năng suất lao động và trình độ công nghệ chưa cao, sức cạnh tranh kém, khả
năng thu hút nguồn vốn kể cả trong nước và ngoài nước của TG còn nhiều hạn chế,
tốc độ tăng trưởng khá nhưng chưa ổn định, còn nhiều yếu tố chưa đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài Quá trình đô thị hoá chậm, tỷ lệ dân số đô thị thấp làm
hạn chế sự phát triển công - thương - dịch vụ, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ
cấu lao động chung của tỉnh Kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội tuy đã được quan tâm đầu tư và có bước phát triển đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ,
Trang 11
Bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cả nước, của vùng ĐBSCL
và vùng KTTĐPN; triệt để khai thác nội lực và tạo môi trường thuận lợi tối đa để thu hút đầu tư từ bên ngoài, phấn đấu xây dựng TG trở thành tỉnh phát triển trọng điểm của vùng ĐBSCL theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phù hợp với
xu thế phát triển chung của cả nước và hội nhập kinh tế quốc tế Để đạt được mục tiêu này, ngoài việc duy trì các nguồn vốn đầu tư truyền thống, TG cần mạnh dạn khai thác các nguồn vốn mới cho đầu tư phát triển – “Trái phiếu chính quyền địa phương” là một nguồn vốn khả thi đầy tiềm năng mà TG cần quan tâm trong thời gian tới
Với áp lực nhu cầu vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng ngày càng lớn, đòi hỏi TG
phải xây dựng một chiến lược huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả, cần mạnh
dạn triển khai giải pháp huy động vốn thông qua phát hành TPCQĐP Với mục đích tìm ra và khai thác nguồn vốn mới cho đầu tư phát triển tại TG, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh chính trị và trật tư an toàn xã
hội, tác giả chọn đề tài “Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để đầu tư
cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang”
II M ục đích nghiên cứu
Vấn đề trọng tâm mà đề tài muốn giải quyết là trên cơ sở xem xét thực trạng, phân tích những mặt thuận lợi, khó khăn trên thị trường trái phiếu nói chung và thị
trường TPCQĐP nói riêng, những bài học kinh nghiệm về phát hành TPCQĐP để tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phù hợp để thúc đẩy phát triển thị
trường trái phiếu Việt Nam, đặc biệt là tạo ra thị trường TPCQĐP tại TG Thông qua đó, giúp cho nền kinh tế của TG huy động được nguồn vốn mới, hiệu quả, góp
phần vào công cuộc phát triển của tỉnh nhà
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề liên quan đến thực trạng hoạt động của thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPCQĐP nói riêng, những
giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCQĐP ở VN và TG
Về không gian: luận văn nghiên cứu trên địa bàn cả nước
Trang 12
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở pháp lý cho sự hình thành, phát triển; tình hình hoạt động của thị trường trái phiếu và thị trường TPCQĐP ở
VN trong thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp phát triển thị
trường TPCQĐP trong thời gian tới
IV Ph ương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê lịch sử và phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để phân tích, đánh giá thực trạng về tình hình
hoạt động của thị trường trái phiếu Việt Nam, thị trường TPCQĐP; vận dụng kinh nghiệm của các tỉnh, thành trong nước làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp,
nhằm thúc đẩy thị trường TPCQĐP vận hành và phát triển tại TG
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành ba chương:
Ch ương 1: Lý luận tổng quan về Trái phiếu chính quyền địa phương
Ch ương 2: Thực trạng thị trường trái phiếu và thu hút vốn đầu tư cho phát
triển cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang
Ch ương 3: Giải pháp phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy
động vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tại Tiền Giang
Trang 13CH ƯƠNG 1:
1.1.Khái niệm và đặc điểm trái phiếu
1.1.1 Khái ni ệm trái phiếu
Trái phiếu (Bond) là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu, là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ gốc và lãi
của trái chủ đối với người phát hành, nó có thể dưới hình thức giấy tờ hay được ghi trên hệ thống điện tử do các công ty, tổ chức hay Chính phủ trung ương, địa
1.1.2 Đặc trưng trái phiếu
Trái phiếu có những đặc trưng cơ bản sau:
1.1.2.1 Mệnh giá
Trên bề mặt của trái phiếu, thường công bố số tiền mà người phát hành cam kết trả cho người có trái phiếu Số tiền này gọi là mệnh giá của trái phiếu Mệnh giá của trái phiếu còn được xem là giá trị danh nghĩa của khoản
1.1.2.3 Lãi suất trái phiếu
Trang 14
Lãi suất được công bố theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá trái phiếu Mặc
dù lãi suất được tính theo hàng năm nhưng nó có thể được thanh toán nửa năm một lần hoặc một năm một lần
Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố: + Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức
độ thâm hụt ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó
+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành Cấu trúc
rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu Rủi ro càng lớn, lãi
suất càng cao
+ Thời gian đáo hạn của trái phiếu Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao
1.1.2.4 Giá mua trái phi ếu
Là khoản tiền thực tế mà người mua bỏ ra để có được quyền sở hữu trái phiếu Giá mua có thể bằng mệnh giá, có thể cao hơn mệnh giá hoặc thấp hơn
mệnh giá; tuy nhiên dù giá mua như thế nào thì tiền lãi luôn được xác định theo
mệnh giá trái phiếu và đến ngày đáo hạn người nắm giữ trái phiếu sẽ được trả
lại vốn gốc bằng với mệnh giá trái phiếu
1.1.3 Đặc điểm trái phiếu
- Trái phiếu là một loại giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn còn gọi là chứng khoán nợ, có kỳ hạn nhất định,
cuối kỳ đáo hạn phải trả lại vốn gốc cho trái chủ
Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ, giữa người phát hành và
người đầu tư Phát hành trái phiếu là đi vay vốn, mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành Là chủ
nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành
Trang 15
-Tỷ suất lãi trái phiếu được xác định trước và tính lãi trên mệnh giá Tỷ
suất này là lãi coupon hay lãi cuống phiếu có ý nghĩa là lợi suất danh nghĩa của trái phiếu mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm Tùy theo loại trái phiếu mà tỷ
suất này là cố định hay thả nổi hoặc có thể bằng không ( trái phiếu zero – coupon)
-Khi công ty bị giải thể thanh lý tài sản, người chủ sở hữu trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông
1.1.4 Phân loại trái phiếu
Có nhiều tiêu thức phân loại trái phiếu khác nhau Có thể xem xét một số tiêu thức phân loại sau:
1.1.4.1 Phân loại theo tiêu thức người phát hành
Bao gồm trái phiếu công ty, trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa
đó có một bản cáo bạch bao gồm các thông tin về công ty và những vấn đề liên quan đến việc phát hành trái phiếu
Trang 16
b) Trái phiếu Chính phủ: Là trái phiếu do Chính phủ phát hành để tài trợ cho chi tiêu ngân sách, quản lý lạm phát hoặc tài trợ cho các công trình, dự án của Nhà nước Trái phiếu Chính phủ có thể là ngắn hạn, trung và dài hạn
Trái phiếu ngắn hạn được phát hành với thời gian đáo hạn từ 1 đến 5
năm Trái phiếu trung hạn được phát hành với thời gian đáo hạn từ 5 đến 10
năm Trái phiếu dài hạn được phát hành với thời gian đáo hạn trên 10 năm Các trái phiếu có mức lãi suất cố định và được trả lãi trên cơ sở nửa năm
c) Trái phiếu chính quyền địa phương: Là trái phiếu do chính quyền địa
phương phát hành để đầu tư cho các công trình, dự án của địa phương
TPCQĐP thường có một số loại sau:
• Trái phiếu trách nhiệm chung được bảo đảm bằng những nguồn lực thu thuế của chính quyền địa phương
• Trái phiếu bảo đảm bằng thuế cụ thể được bảo đảm bằng một loại thuế
nhất định của địa phương
• Trái phiếu thu nhập được bảo đảm bằng thu nhập từ dự án xây dựng
bằng tiền bán trái phiếu
TPCQĐP được sử dụng khá phổ biến trên thế giới Trái phiếu được các bang, thành phố, hay một số cơ quan của chính quyền địa phương (như cơ quan giáo dục) phát hành Đặc điểm quan trọng của trái phiếu này là lãi suất mà người cầm giữ trái phiếu được nhận không phải chịu thuế thu nhập liên bang Ngoài ra, lãi suất này cũng được miễn trừ thuế bang và địa phương nếu người
cầm giữ trái phiếu sống tại cùng khu vực với người phát hành Một đặc điểm quan trọng khác của trái phiếu địa phương là trái phiếu địa phương được miễn
trừ việc đăng ký với Uỷ ban chứng khoán
1.1.4.2 Phân lo ại theo tính chất chuyển nhượng
Bao gồm các loại:
Trái phiếu vô danh Tên trái chủ của trái phiếu vô danh không được đăng ký tại công ty phát hành Trái phiếu này được thanh toán cho những ai mang nó, tức là người chủ
Trang 17
sở hữu trái phiếu đó Trái phiếu vô danh có gắn các cuống phiếu trả lãi, trái chủ
xé một cuống phiếu vào ngày trả lãi và gửi cho đại lý của công ty để thanh toán
Trái phiếu ghi danh Tên của trái chủ được đăng ký tại công ty phát hành Người có trái phiếu này không phải gửi các cuống phiếu cho đại lý thanh toán để nhận phần lãi của mình Mà thay vào đó, vào ngày đến hạn, người đại lý sẽ tự động gửi cho trái
chủ một tờ séc trả cho khoản lãi đó
1.1.4.3 Theo lãi suất
Trái phiếu có lãi trả trước và lãi trả sau: lãi trái phiếu có thể được trả vào cuối mỗi kỳ hoặc trả ngay khi phát hành trái phiếu
Trái phiếu có lãi suất cố định và trái phiếu có lãi suất thả nổi
1.2 Trái phi ếu chính quyền địa phương và sự cần thiết phát hành trái phiếu chính quyền địa phương trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
1.2.1 Trái phi ếu chính quyền địa phương
Đây là một loại trái phiếu có những đặc tính gần như TPCP, tuy nhiên
nó vẫn có những điểm khác biệt
1.2.1.1 Khái ni ệm
Trái phiếu chính quyền địa phương là một loại chứng khoán nợ, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành, có thời hạn, có mệnh giá, có lãi, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với người sở hữu trái phiếu
1.2.1.2 Các loại trái phiếu chính quyền địa phương
Trái phiếu công ích (General obligation bonds – Gos):
Là loại trái phiếu chính quyền địa phương được bảo đảm cả tiền gốc và tiền lãi bằng toàn bộ các nguồn thu tài chính và quyền lực thu thuế của chủ thể phát hành chính quyền địa phương Sự đảm bảo này làm cho trái phiếu công ích
có chất lượng cao hơn những loại có một đảm bảo đặc thù hoặc giới hạn hơn Tuy nhiên, theo lẽ thường thì thu nhập của người mua trái phiếu lợi suất dạng này sẽ ở mức thấp Do đặc tính bảo đảm cao dựa vào năng lực thanh toán của
Trang 18
chính quyền địa phương, ở Mỹ loại trái phiếu GOs được xếp loại cao nhất, gọi
là "full- faith- and- credit bond"
Trái phiếu thu nhập (Revenue bonds):
Là loại trái phiếu chính quyền địa phương có lãi và gốc được trả dựa theo thu nhập cho bởi công trình mà đợt trái phiếu đó tài trợ Đây là loại trái phiếu tập trung chủ yếu để phát triển hạ tầng, giúp các chính phủ nhẹ gánh ngân sách
Trái phiếu thu nhập thường được xem là có chất lượng thấp hơn trái phiếu công ích Điều cần biết là mỗi công trình có thể có những rủi ro rất khác nhau, và tuỳ thuộc vào việc khai thác có hiệu quả hay không công trình đó Thu
nhập thu được dùng để trả nợ từ các công trình tuỳ theo loại và gồm có: thu tiền
người sử dụng các tiện ích công cộng, phí cầu đường, tiền nhượng quyền khai thác và phí sử dụng phi cảng, chỗ neo tàu thuyền, đậu xe,… Các chương trình nhà ở thì có tiền bán hoặc cho thuê nhà Cũng có trường hợp cơ quan phát hành trái phiếu thu nhập thu xếp với chính quyền và các tổ chức khác thu nguyên công trình dài hạn
Các trái phiếu thu nhập thường có lợi suất rất hấp dẫn nhưng có thể bị rủi
ro, vì chúng thường không được bảo kê bằng bất cứ nguồn nào khác ngoài chính thu nhập từng công trình mà chúng góp phần làm ra một cách độc lập
Một số loại trái phiếu thu nhập đặc biệt:
Trái phiếu thu nhập phát triển công nghiệp (Industrial development revenue bonds), viết tắt là IDRs hay IDBs: Gồm các trái phiếu phát triển hạ tầng công nghiệp địa phương và trái phiếu kiểm soát ô nhiễm Các chính quyền địa
phương phát hành các loại trái phiếu này nhằm xây dựng các công trình tiện ích, mua thiết bị, sau đó cho một công ty thuê lại để khai thác Trách nhiệm trả
vốn và lãi cho người mua trái phiếu được chuyển lại cho công ty nhận thuê này Công ty khai thác quản lý và điều hành tài sản được chính quyền chọn thường
là một công ty tư hoạt động tiện ích Những công trình mà loại trái phiếu này tài
Trang 19
trợ là những loại không khẩn thiết lắm, chẳng hạn hệ thống phân phối điện
nước, khí đốt, hệ thống vận tải công cộng, xử lý chất thải,
Trái phiếu bảo đảm bằng thuế đặc biệt, người thụ hưởng đặc biệt:
Những công trình đặc biệt nào đó cần có trong một cộng đồng dân cư,
nhưng không thuộc loại khẩn thiết, có thể được huy động vốn bằng trái phiếu
loại thu nhập để xây dựng Khác với các GOs, loại này sẽ được khoanh lại một
số nguồn thu để trả, chủ yếu là nguồn thu từ các đối tượng trực tiếp sử dụng các
tiện ích này Ví dụ chính quyền sẽ xây một trung tâm sinh hoạt cộng đồng từ nguồn vốn huy động bằng trái phiếu Nguồn trả vốn và lãi cho các trái phiếu đó
sẽ được bảo đảm từ tiền thuế thu trên hoạt động của các phương tiện lưu trú, đậu xe, nhà hàng, làm dịch vụ trực tiếp cho trung tâm đó, cùng với tiền cho thuê phục vụ nếu có
Trái phiếu phát triển nhà ở:
Loại trái phiếu này có thể được các nhà nước bảo đảm hoàn toàn Tiền huy động từ trái phiếu này sẽ cung cấp ngân quỹ để các định chế tài chính cho các đối tượng có nhu cầu vay, với lãi suất tương đối thấp, nhằm mục đích mua nhà ở mới Tiền gốc và lãi của trái phiếu được bảo đảm nhờ vào tài sản thế chấp theo thủ tục của các món nợ cho vay kia
Trái phiếu đảm bảo hai lần (double- barreled bonds or combination bonds):
Đây là loại trái phiếu huy động tài trợ các công trình trọng điểm, theo đó lãi và vốn được trả từ thu nhập thông qua khai thác công trình Tuy nhiên các trái phiếu đó đồng thời cũng được bảo trợ bởi năng lực hành thu thuế của một địa phương
Trái phiếu nhà nước bảo nhận nghĩa vụ tinh thần - moral obligation bonds:
Loại này có thể là của chính quyền trung ương bảo nhận hoặc là của địa
phương bảo nhận Những sự bảo nhận hàm ý như là một lời cam kết nhưng không rõ ràng như được bảo kê hoàn toàn theo phương thức "full- faith- and-
Trang 20
credit" có chỉ định nguồn bảo đảm chi trả của nhà nước Các món nợ được bảo
nhận bằng đạo lý này được phát hành nhằm để lách các hạn chế về mặt luật trong huy động nợ Trong thực tế, nếu các khoản thu công trình không đủ trả
nợ, địa phương có đủ thế mạnh sử dụng các nguồn hợp pháp để bảo trợ
Về kỹ thuật, một TPCQĐP có thể là loại dài hạn, ngắn hạn, chiết khấu, lãi suất định kỳ hoặc kết hợp Ta khảo sát thêm hai loại sau đây để rõ vấn đề
hơn:
¾ TPCQĐP chuyển đổi (municipal convertible) Đây là một TPCQĐP dài hạn và có kỹ thuật phát hành và duy trì rất độc đáo Đầu tiên nó được phát hành với thể thức cho người mua trái phiếu hưởng
một mức chiết khấu khá hậu hĩ trên mệnh giá, và sẽ không được tính lãi cho tới
một thời điểm quy định Tại thời điểm quy định này việc trả các lãi suất định kỳ
sẽ bắt đầu và duy trì tiếp tục cho đến thời gian đáo hạn
¾ TPCQĐP ngắn hạn Các tỉnh, thành phố, đặc khu là các địa phương trực thuộc trung ương có
thể cần những khoản chi tiêu ngắn hạn Việc huy động các khoản vay ngắn hạn này có thể theo thủ tục riêng và được thực hiện thông qua hình thức TPCQĐP
ngắn hạn municipal note Các TPCQĐP ngắn hạn thường được phát hành với
thời gian đáo hạn là 12 tháng
Việc điều hành TPCQĐP cần có một khung pháp lý tối thiểu quy định các nội dung liên quan đến chủ thể phát hành, phương thức phát hành, chủng
loại trái phiếu đô thị, phương thức mua bán thứ cấp, yêu cầu thông tin đầy đủ và
vấn đề bảo vệ người đầu tư
TPCQĐP dù là hình thức huy động nợ của chính quyền địa phương, nó luôn mang hình ảnh và uy tín của nhà nước, do đó các quy định liên quan đến
thẩm quyền phát hành, nguồn trả nợ, trách nhiệm trả nợ, các cơ chế kiểm tra giám sát, là những yếu tố cực kỳ quan trọng, cần được chế định càng chi tiết càng tốt Việc phát hành và điều hành trái phiếu cần tuân thủ những quy trình
và theo các thủ tục rất chặt chẽ Chẳng hạn ở Mỹ, các trái phiếu địa phương
Trang 21
được phân loại và định mức được "bảo hộ" tới đâu Có loại được xếp hạng thấp
và người đầu tư phải chịu rủi ro gần giống như trái phiếu công ty, nghĩa là cũng
có thể bị mất vốn Việc phát hành có khi phải "ra dân" để nhận được sự chấp thuận trường hợp các GOs, cấp nào được đứng phát hành, phát hành bao nhiêu
và loại nào đều được quy định rõ
Thông thường hầu như tất cả trái phiếu thu nhập revenue bond được phát hành thông qua thương lượng và được phân phối đại chúng hoặc bán riêng từng
khối lớn cho khách hàng đặc biệt Các trái phiếu công ích GOs lại được thực
hiện việc đấu giá cạnh tranh bởi các ngân hàng đầu tư, họ lập thành những nhóm bao tiêu và đấu với nhau bằng cách đưa ra mức chi phí bán cạnh tranh để
chủ thể phát hành chọn lựa Chủ thể phát hành lúc nào chằng muốn thu về cao, nên họ sẽ chọn bán cho ai đưa ra mức phí thấp nhất Sau khi thắng thầu, các nhà bao tiêu sẽ bán lại cho công chúng theo giá mới đã có lời, gọi là giá tái phát hành reoffering price
1.2.1.3 Nh ững đặc điểm chủ yếu của trái phiếu chính quyền địa
ph ương
Điều khoản hoàn trái và lãi suất biến đổi Các điều khoản hoàn trái giúp các nhà phát hành có thể thu hồi trái phiếu
trước khi chúng đến hạn Trong điều kiện hiện nay có thể được xếp thành 2 loại:
• Điều khoản bắt buộc: Nhà phát hành phải hoàn trái theo kế hoạch trong
bản cáo bạch chính thức trước khi phát hành
• Điều khoản lựa chọn: Nhà phát hành có thể mua lại trái phiếu tại bất kỳ
thời điểm nào
Khi phát hành trái phiếu chính quyền địa phương cần cân nhắc xem có nên đưa điều khoản hoàn trái vào trái phiếu khi phát hành hay không Nhà phát hành thông thường muốn giữ cho mình quyền mua lại trái phiếu trước khi đáo
hạn và tất nhiên phải trả mức lãi suất cao, lúc đó nhà phát hành phải trả cho
người nắm giữ trái phiếu cả gốc, lãi tích lũy và thường thì họ phải mua lại trái phiếu với giá cao hơn lúc phát hành
Trang 22
Ngoài ra, một số trái phiếu địa phương có lãi suất biến đổi, cho phép lãi
suất được điều chỉnh trong một khoảng thời gian nhất định Lợi ích của trái phiếu có lãi suất biến đổi là chi phí trả lãi ban đầu sẽ thấp hơn vì nhà đầu tư biết
rằng họ sẽ không phải gặp rủi ro như trái phiếu có lãi suất cố định, vì các điều
kiện kinh tế thay đổi nên sẽ sẵng lòng nhận mức lãi suất thấp Tuy nhiên, trong
trường hợp này mức lãi suất trong tương lai tăng cao thì chi phí trả nợ cũng tăng
rất lớn
Ưu điểm nổi bật của TPCQĐP là được miễn thuế thu nhập đối với các khoản lợi tức mang lại nhưng vốn thặng dư từ TPCQĐP thì không được miễn thuế Tuy nhiên, nếu chứng khoán địa phương được phát hành thấp hơn mệnh giá thì bất cứ sự tăng giá gần bằng mệnh giá được xem như phần lãi trái phiếu
và được miễn thuế Nếu chứng khoán tiếp tục tăng giá thì phần thặng dư tăng thêm không được miễn thuế
Có nhiều loại kỳ hạn TPCQĐP có tính linh hoạt, tính thương mại cao và thông thường chúng được kinh doanh rộng rãi trên thị trường phi tập trung (OTC) Phần lớn những trái phiếu này là trái phiếu có nhiều ngày đáo hạn khác nhau và được niêm yết theo lợi tức chứ không theo đơn vị tiền Tuy nhiên, nhiều ngày đáo hạn khác nhau cũng có những nhược điểm, chia nhỏ sẽ làm giảm tính thanh khoản và tính
thị trường của TPCQĐP Mặc khác, những quỹ đầu tư thường muốn mua những
lô trái phiếu lớn và thích đầu tư vào những trái phiếu có kỳ hạn dài, cố định
1.2.2 Sự cần thiết của trái phiếu địa phương trong đầu tư phát triển
c ơ sở hạ tầng
1.2.2.1 Đối với chính quyền địa phương
Nguồn vốn đầu tư dành cho phát triển cơ sở hạ tầng luôn là một sức ép đối với chính quyền địa phương Để giải tỏa sức ép này, phát hành trái phiếu địa phương là công cụ hiệu quả để chính quyền địa phương thu hút vốn rải rác
Trang 23
trong dân cư tập hợp lại thành khối lượng vốn lớn phục vụ phát triển cơ sở hạ
tầng, hoặc các công trình phúc lợi công cộng
Ngoài ra, thực hiện việc vay nợ trên thị trường vốn thông qua việc phát hành trái phiếu còn đòi hỏi chính quyền địa phương phải minh bạch, công khai,
có trách nhiệm trong việc phân bổ, sử dụng nguồn vốn và còn phải chịu sự giám sát chặt chẽ từ công chúng và nhà đầu tư Thông qua hoạt động của thị trường TPCQĐP, công chúng sẽ có được thông tin nhiều hơn về tình hình tài chính địa
phương Tạo điều kiện để chính quyền địa phương hoạt động hiệu quả, tự chủ trong việc phân bổ nguồn vốn hợp lý và không còn phụ thuộc quá nhiều vào ngân sách Trung ương
1.2.2.2 Đối với chính quyền Trung ương
Khi chính quyền địa phương đã tự chủ được nguồn vốn ngân sách, thì ngân sách Trung ương sẽ giảm được áp lực chi tiêu hỗ trợ cho chính quyền địa
phương Từ đó sẽ cải thiện được cán cân thu, chi ngân sách Trung ương, giảm
bội chi ngân sách hằng năm do phải bù đắp những khoản chi ngoài dự kiến Ngoài ra, một khi chính quyền địa phương tự chủ được nguồn vốn ngân sách hằng năm thì Trung ương cũng sẽ hạn chế được nguồn vay nợ từ nước ngoài, cơ
chế xin - cho sẽ được xóa đi; việc giảm bớt được vay nợ và viện trợ từ nước ngoài sẽ góp phần nâng cao hệ số tín nhiệm của VN, đây là cơ sở quan trọng để
VN tiếp cận thị trường vốn quốc tế khi cần thiết
1.3 Kinh nghi ệm huy động vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng của TPHCM
và một số nước
1.3.1 Bài h ọc kinh nghiệm về phát hành của thành phố Hồ Chí Minh
Phát hành TPCQĐP đang được xem là một giải pháp mới để huy động vốn đầu tư , có khả năng giải quyết những khó khăn về vốn của TPHCM TPHCM là địa phương đầu tiên được phát hành thí điểm trái phiếu đô thị với
việc huy động 30 tỷ đồng đầu tư xây dựng đường Nguyễn Tất Thành, công trình này đã sớm phát huy tác dụng và sớm hoàn vốn Từ đó Chính phủ tiếp tục cho phép TPHCM huy động vốn với quy mô lớn Trong 2 năm từ 2003 – 2004 mỗi
Trang 24
năm thành phố phát hành 2.000 tỷ đồng, riêng năm 2005, TPHCM đã phát hành
hơn 2.000 tỷ đồng để đầu tư phát triển đô thị ở huyện Củ Chi Theo kế hoạch, TPHCM có nhu cầu vốn đầu tư cho giai đoạn 2005 - 2010, bình quân khoảng 54.000tỷ đồng/năm Phát hành trái phiếu đô thị (hay trái phiếu công trình) là
một trong những ưu tiên hàng đầu, trong việc huy động nguồn vốn trung và dài
hạn cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng của TPHCM, ngân sách chỉ có khả
năng đáp ứng khoảng 10 - 15%, phần còn lại phụ thuộc vào việc huy động và khai thác từ các nguồn khác nhau, theo đó có việc huy động từ phát hành
TPĐT
TPĐT do chính quyền thành phố Hồ Chí Minh phát hành theo quy định
của Chính phủ Đặc điểm của loại trái phiếu này là để huy động vốn cho từng
dự án cụ thể và được chính quyền thành phố đảm bảo việc thanh toán lãi và vốn
gốc Để phát hành thành công cho từng dự án riêng lẻ trên địa bàn thành phố,
Ủy ban nhân dân Thành phố là chủ thể phát hành và giao cho Quỹ đầu tư đảm
nhận vai trò là đại diện phát hành với nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và phương
án phát hành; quản lý và sử dụng nguồn vốn từ việc phát hành trái phiếu đô thị; trực tiếp theo dõi công tác thu hồi vốn, đảm bảo nguồn thanh toán lãi, vốn gốc
và chi phí phát hành,… đúng hạn Trong trường hợp nguồn thu của dự án không
đủ thanh toán cho các trái phiếu đến hạn, thì Quỹ đầu tư có thể sử dụng nguồn
vốn của Quỹ để thanh toán tạm thời Hiện nay, các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nhân thọ, được coi là đối tác
tiềm năng cho mỗi đợt phát hành TPĐT tại TPHCM
Từ năm 2003 đến tháng 8/2005 đã phát hành 10 đợt TPĐT và huy động được nguồn vốn 4.181 tỷ đồng từ công chúng Kết quả phát hành TPĐT 8 đợt trong 2 năm đầu rất khả quan với số vốn huy động được là 4.000 tỷ đồng
Hai đợt phát hành trong 8 tháng đầu năm 2005, có phần sụt giảm do lãi
suất TPĐT bị khống chế nên không còn hấp dẫn đối với nguồn vốn huy động
chủ yếu từ các ngân hàng TPHCM đã kiến nghị Bộ Tài chính nới rộng biên độ
Trang 25
lãi suất TPĐT sao cho các nhà đầu tư thấy có lợi hơn lãi suất của ngân hàng để huy động đủ 2.000 tỷ đồng cho cả năm 2005
Ngoài ra, TPHCM cũng chú ý đến việc gia tăng mạnh mẽ tính thanh khoản của TPĐT để thu hút rộng rãi giới đầu tư tham gia và cùng có lợi TPĐT được đấu thầu bán công khai tại TTGDCK TPHCM và do Quỹ Đầu tư - Phát triển đô thị TPHCM nhận trách nhiệm phát hành
Đặc biệt là kỳ hạn của TPĐT TPHCM mở rộng từ 5 năm lên 10 năm và
15 năm, bán đúng theo mệnh giá, phát hành dưới hình thức bút toán ghi sổ, được niêm yết giao dịch trên thị trường chứng khoán và trả lãi định kỳ mỗi năm
một lần không tính nhập gốc Tuy nhiên, sở dĩ thị trường TPĐT hiện tại trở nên thiếu sôi động để có thể dễ dàng thu hút được nguồn vốn lớn đáp ứng nhu cầu đầu tư và góp phần phát triển TTCK, do có nhiều vấn đề cần phải quan tâm
TPĐT TPHCM phát hành nhằm huy động vốn cho các dự án đầu tư phát triển có thể có hoặc không có nguồn thu của NSĐP, với việc hoàn trả lãi và gốc trái phiếu duy nhất cũng từ nguồn ngân sách đó Trên thực tế, TPĐT TPHCM
cũng là một loại trái phiếu nghĩa vụ chung, do vậy khung pháp lý cho việc phát hành nên tập trung vào khả năng chi trả của chính quyền thành phố
Chính phủ có quy định một số cơ chế tài chính đặc thù đối với TPHCM,
giới hạn khối lượng phát hành TPĐT phải bảo đảm nguyên tắc tổng dư nợ các nguồn vốn huy động của NSĐP không vượt quá 100% tổng mức vốn đầu tư xây
dựng cơ bản Song, trong tình hình và điều kiện phát triển thực tế của TPHCM, quy định này hạn chế đáng kể việc huy động vốn cho đầu tư phát triển, trong khi nhu cầu đang rất lớn và cấp thiết Đối với TPCP huy động vốn cho NSTƯ, khoản thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập phát sinh từ trái phiếu này được chuyển trở lại vào NSTƯ Trong khi đó, TPĐT huy động vốn cho
NSĐP, theo quy định hiện hành chỉ có một phần khoản thu thuế TNDN đối với thu nhập phát sinh từ trái phiếu này được phân bổ cho NSĐP, phần còn lại được chuyển tăng thu cho NSTƯ Đây là vấn đề cần xem xét để hỗ trợ tích cực cho
Trang 26
địa phương trong việc tự huy động vốn thông qua phát hành TPĐT để đầu tư phát triển và giảm bớt gánh nặng cho NSTƯ
TPĐT của địa phương có mức độ tín nhiệm thấp hơn so với TPCP, do đó lãi suất TPĐT có thể cao hơn lãi suất TPCP Nếu được miễn giảm thuế thu nhập
sẽ tạo điều kiện giảm bớt lãi suất huy động vốn đối với TPĐT, qua đó giảm được chi phí đầu tư cho các dự án phát triển của thành phố có sử dụng nguồn
vốn này, giúp cho giá thành các dự án của địa phương tương đương với các dự
án đầu tư của trung ương Hơn nữa, mức lãi suất giữa các loại TPCP và TPĐT trên thị trường không có nhiều chênh lệch
Việc tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng và tính hữu ích của việc đầu tư vào TPĐT cũng cần được chú ý, nhất
là tạo niềm tin nơi công chúng về một loại chứng khoán “vừa ích nước, vừa lợi nhà” Mục tiêu đẩy mạnh các đợt phát hành TPĐT một mặt đáp ứng nhu cầu về
vốn đầu tư vô cùng lớn của TPHCM trong quá trình phát triển và hội nhập, mặt khác tạo thêm chủng loại hàng hóa phong phú và đa dạng về kỳ hạn lãi suất, với
phương thức trả lãi hấp dẫn các nhà đầu tư và góp phần phát triển TTCK non trẻ của VN
1.3.2 Bài h ọc kinh nghiệm về phát hành của một số nước
Mỹ là quốc gia có thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPCQĐP nói riêng phát triển nhất thế giới, với lịch sử hình thành từ những năm
1812, được thiết lập nhiều cơ chế quản lý, vận hành phù hợp và luôn được cập
nhật, cải tiến Lượng trái phiếu phát hành trên thị trường nước Mỹ theo thống
kê năm 2006 là: 468 tỷ đô la Việc xếp hạng tín nhiệm ở Mỹ trở thành một ngành công nghiệp lớn, các yêu cầu về công khai tài chính của địa phương cũng được cải thiện rất nhiều, giúp cho chất lượng thông tin để đánh giá rủi ro được chính xác hơn Vấn đề bảo hiểm TPCQĐP ở Mỹ cũng là môt vấn đề đáng quan tâm với hơn ½ các trái phiếu được phát hành hiện nay đều do các công ty tư nhân bảo hiểm
Trang 27
Vấn đề đang còn nhiều tranh cãi là chính sách miễn thuế thu nhập trên khoản lãi thu được từ trái phiếu, thực sự việc miễn thuế đã trở thành một công
cụ hết sức quan trọng ở các bang và các địa phương trong việc huy động vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng; công cụ miễn thuế đôi khi được coi là một
yếu tố quyết định cho việc thành công thị trường trái phiếu hay không Một số
quốc gia như: Ấn Độ, Thụy Sĩ, Thái Lan,… cũng là những quốc gia có thị
trường TPCQĐP phát triển rất mạnh và việc phát hành TPCQĐP đã được chính quyền địa phương mở rộng với nhiều phương thức đa dạng, nhưng vẫn đặt trong tầm kiểm soát rất chặt chẽ của chính quyền Trung ương
Ở Trung Quốc, thị trường TPCQĐP chưa thật sự phát triển, mặc dù chính quyền nhiều địa phương nhận thấy rất cần thiết để tìm nguồn vốn phát triển cơ sở hạ tầng bằng cách phát hành TPCQĐP, nhưng Trung ương vẫn còn e
ngại về việc quản lý nợ địa phương và vẫn chưa giao quyền cho các địa
phương; vì thế, hầu như thị trường TPCQĐP của Trung Quốc chưa thật sự phát triển Ba Lan cũng như những thành phố khác ở các nước Đông Âu, các thành
phố ở Ba Lan bị ảnh hưởng bởi chiến tranh nên hệ thống hạ tầng đô thị bị hủy hoại nghiêm trọng và kém hiệu quả Từ những năm 1990, chính quyền thành
phố đã nhận ra rằng, những trợ cấp từ Trung ương chi cho việc phát triển cơ sở
hạ tầng chỉ đủ để duy tu, sửa chữa,… không thể đáp ứng được nhu cầu thực tế
để phát triển cơ sở hạ tầng; bên cạnh đó nguồn tài chính của địa phương cũng cho thấy nguồn tích lũy hiện tại cũng không thể trang trải những khoản đầu tư cho xây dựng, mua sắm, thay thế,… và những nhu cầu phát sinh khác Nhằm
tăng nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại đô thị, chính phủ Ba Lan đã sử
dụng chiến lược nợ dài hạn huy động từ nhân dân, thông qua phát hành trái phiếu đô thị
Yếu tố đầu tiên quyết định thành công của thị trường TPCQĐP tại các
nước phát triển là do hệ thống pháp luật đã được hoàn chỉnh, phù hợp để đảm
bảo quyền lợi của chính quyền địa phương và quyền lợi nhà đầu tư, qua đó tạo
cơ sở cho thị trường TPCQĐP phát triển lành mạnh Theo kinh nghiệm của các
Trang 28
nước để thành công và thị trường trái phiếu phát triển bền vững cần: ban hành khuôn khổ pháp lý tổng quát cho thị trường trường TPCQĐP rõ ràng, ổn định
và khả năng thực thi cao; phân cấp quản lý cũng như những chiến lược dài hạn cho địa phương được hoạch định cụ thể; quy định việc nắm giữ danh mục đầu
tư của các quỹ đầu tư hay các tổ chức đầu tư; không ngừng nâng cao hạn mức tín nhiệm đối với TPCQĐP và cuối cùng là chính sách thuế đối với TPCQĐP
Các quốc gia phát triển trên thế giới đã rất thành công trong việc phát hành TPCQĐP, nhưng kinh nghiệm cũng cho thấy, phát hành TPCQĐP không
phải là giải pháp huy động vốn hữu hiệu nhất cho các địa phương, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, vì các nước này thông thường chưa có thị
trường tín dụng địa phương phát triển, kỹ năng quản lý còn hạn chế, và đặc
biệt là khung pháp lý cho thị trường trái phiếu chưa được xây dựng hoàn chỉnh
kể cho nền kinh tế, phát triển thị trường TPCQĐP là yêu cầu phù hợp với xu
hướng phát triển của nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPCQĐP ở nước ta hiện nay kém phát triển, thực tế hoạt động của thị trường trái phiếu Việt Nam sẽ được phân tích trong Chương 2
Trang 29
CH ƯƠNG 2:
2.1 Th ị trường trái phiếu tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng của thị trường trái phiếu Chính phủ 2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát tri ển của thị trường trái phiếu Chính phủ
Từ năm 1991, hoạt động phát hành TPCP qua hệ thống KBNN đã được
thực hiện Vào thời gian này, KBNN đóng vai trò là kênh phát hành TPCP duy
nhất để huy động vốn từ ngắn hạn để bù đắp thâm hụt tạm thời NSNN thông qua việc phát hành tín phiếu KBNN đến việc huy động vốn dài hạn thông qua phát hành công trái
TPCP được Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng phát triển Việt Nam phát hành hàng năm với khối lượng chủ yếu thông qua các kênh bảo lãnh phát hành
và đấu thầu qua TTCK TPCP niêm yết tại các TTGDCK chiếm khoảng 82% thị trường trái phiếu Việt Nam
Hình 2.1: Phát hành trái phiếu Chính phủ 2001-2008
0 20000 40000 60000 80000 100000 120000 140000 160000
Đvt:tỷ đồng
N ăm 2001
N ăm 2002
N ăm 2003
N ăm 2004
N ăm 2005
N ăm 2006
N ăm 2007
N ăm 2008
N ăm
Trang 30
Nguồn: Tập hợp từ SGDCK.TPHCM và TT.GDCK Hà Nội
Tình hình đấu thầu TPCP qua TTGDCK
- TPCP do KBNN phát hành từ 2000-30/06/2008:
+ Từ 2000-30/06/2006, tại SGDCK.TPHCM (HOSE), KBNN đã thực
hiện 91 đợt đấu thầu TPCP với tổng khối lượng gọi thầu là 19.800 tỷ đồng Kết
quả có 74 đợt thành công với khối lượng TPCP trúng thầu là 10.578,7 tỷ đồng, đạt 53,43% so với khối lượng gọi thầu
+ Từ 2005-30/06/2008, tại TTGDCK Hà Nội (HASTC), KBNN đã
thực hiện 59 đợt đầu thầu TPCP (trong đó có 10 phiên đấu thầu lô lớn) với tổng
khối lượng gọi thầu là 40.150 tỷ đồng (trong đó 8.000 tỷ đồng là của TPCP lô
lớn), khối lượng trúng thầu 24.360 tỷ đồng (trong đó 2.570 tỷ đồng là của TPCP
lô lớn), bằng 60,67% khối lượng gọi thầu
- TPCP do Quỹ Hỗ trợ phát triển nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành từ năm 2002 - 30/06/2008:
+ Từ 2002-30/06/06, tại SGDCK.TPHCM, Quỹ Hỗ trợ phát triển đã
thực hiện 60 đợt đấu thầu TPCP với tổng khối lượng gọi thầu là 9.100 tỷ đồng Kết quả chỉ có 18 đợt thành công với khối lượng TPCP trúng thầu là 1.199 tỷ đồng, đạt 13,18% so với khối lượng gọi thầu
+ Từ 2005-30/06/2008, tại TTGDCK Hà Nội, Quỹ Hỗ trợ phát triển đã
thực hiện 15 đợt đấu thầu TPCP với khối lượng gọi thầu là 7.394 tỷ đồng và
khối lượng trúng thầu là 1.730 tỷ đồng, bằng 23,4% khối lượng gọi thầu
Giai đoạn 2000-2005 được xem là giai đoạn hình thành và khởi động TTCK Việt Nam Do thị trường mới đi vào hoạt động, việc phát hành trái phiếu
cũng như tham gia đấu thầu còn mang tính nghiên cứu, thăm dò
Năm 2006, cùng với sự bùng nổ của TTCK và thực hiện Quyết định 2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 của Bộ Tài chính về tập trung đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, hoạt động đấu thầu đã có những thành công đột biến Giá trị TPCP trúng thầu năm 2006 khoảng 7.885 tỷ gấp 3,3 lần so với năm 2005 Hơn nữa, đã có nhiều phiên đấu
Trang 31
thầu TPCP trong năm 2006 có kết quả mời thầu từ 200 tỷ đồng trở lên và dành cho TPCP có cùng kỳ hạn nhưng ngày đáo hạn khác nhau Phiên đấu thầu ngày 09/06/2006 có giá trị mời thầu 700 tỷ đồng, giá trị trúng thầu là 650 tỷ Các phiên đấu thầu từ tháng 9/06 đến tháng 12/2006 chỉ có một phiên đạt tỷ lệ 90% còn lại tất cả đều đạt 100% Những kết quả thành công trong năm 2006, tạo tiền
đề cho việc phát hành TPCP theo lô lớn
Ðầu năm 2007, KBNN đã phát hành thành công TPCP theo lô lớn đầu tiên có tổng khối lượng tính theo mệnh giá là 1.000 tỷ đồng, được phát hành thành ba đợt vào các ngày 19/03/2007, 27/04/2007 và 17/05/2007, có cùng ngày đến hạn thanh toán là 19/03/2012, lãi suất thanh toán hằng năm (7,8%/năm) Đến lô thứ hai năm 2007, có tổng khối lượng gọi thầu là 2.000 tỷ, khối lượng trúng thầu 1.570 tỷ, đạt 78,5%, lô này cũng được phát hành thành ba đợt
Hoạt động đầu thầu TPCP tiếp tục tạo ấn tượng mạnh đến sáu tháng đầu năm 2007 Tuy nhiên, theo thống kê của TTGDCK Hà Nội dấu hiệu của
những phiên đấu thầu thất bại đã xuất hiện Cụ thể, quý I/2007 tỉ lệ thành công đạt 99%; quý II/2007 giảm xuống 82,46%, quý III/2007 giảm còn 58,39%, quý IV/2007 67,3% Điển hình là tại phiên đấu thầu TPCP ngày 05/09/2007, tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt 100 tỷ đồng trên tổng khối lượng gọi thầu 700 tỷ đồng, tỷ lệ thành công ở mức khiêm tốn là 14,2% Phiên đầu thầu 200 tỷ đồng TPCP kỳ
hạn 15 năm, phát hành ngày 27/09/2007 do Ngân hàng phát triển VN phát hành
với khối lượng trúng thầu bằng 0 Đỉnh điểm của sự chú ý là phiên đầu thầu TPCP đợt 16/2007, ngày 4/10/2007 có khối lượng trúng thầu bằng 0, toàn bộ
500 tỷ đồng trái phiếu không phát hành được Một nghịch lý là số lượng thành viên tham gia đấu thầu ngày một tăng, khối lượng đăng ký đấu thầu cũng vượt quá khối lượng gọi thầu, bình quân gấp 3,65 lần khối lượng gọi thầu, điều này cho thấy nhu cầu đầu tư vào TTTP ngày một tăng thì khối lượng trúng thầu ngày một giảm
Đầu năm 2008, tình hình đấu thầu TPCP vẫn ế ẩm Cụ thể, ngày 07/03/2008, 500 tỷ đồng TPCP, kỳ hạn 15 năm, do Ngân hàng phát triển VN
Trang 32
phát hành tại TTGDCK Hà Nội, chỉ có duy nhất 1 thành viên tham gia đấu thầu
với tổng số tiền đăng ký là 25 tỷ đồng Kết thúc đợt đấu thầu, lãi suất đăng ký thấp nhất 9,3%/năm, trong khi lãi suất trần do Bộ Tài chính đưa ra là 8.8%/năm Ngày 14/03/2008, TTGDCK Hà Nội tổ chức đấu thầu TPCP theo lô
lớn, đợt 1, lô 1 do KBNN phát hành, với tổng giá trị gọi thầu là 1.000 tỷ đồng,
kỳ hạn 5 năm Tham gia đấu thầu cũng chỉ có 1 thành viên, với tổng số tiền đăng ký đấu thầu hợp lệ là 400 tỷ đồng Lãi suất đăng ký thấp nhất là 9%/năm, trong khi lãi suất trần mà Bộ Tài chính đưa ra là 8,5%/năm Đợt đấu thầu này
cũng không thành công Đợt đấu thầu TPCP chịu chung số phận thất bại được
tổ chức ngày 28/03/2008 do KBNN phát hành Khối lượng trái phiếu phát hành
lần này là 1.500 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, có 3 thành viên tham gia đấu thầu, với
tổng số tiền đăng ký đấu thầu hợp lệ là 120 tỷ đồng Nhưng lãi suất đăng ký
thấp nhất là 8,9%/năm (cao nhất là 9,5%/năm), so với mức lãi suất trần là 8,5%/năm thì khối lượng trúng thầu bằng 0
Việc đấu thầu không thành công đã làm cho các đợt phát hành TPCP không phát hành được Nguyên nhân chủ yếu do việc đưa ra mức lãi suất trần thấp, chỉ 7,05 - 7,8%/năm (có đợt chỉ là 6,5%/năm) đối với trái phiếu kỳ hạn 5
năm; 7,95% - 8,6%/năm đối với trái phiếu kỳ hạn 10 năm; 8 - 8,8%/năm đối với trái phiếu kỳ hạn 15 năm, trong khi kỳ vọng về lãi suất của nhà đầu tư ngày một cao, xuất phát từ việc tăng dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10% làm tăng chi phí huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại
Năm 2009, tổng số vốn phát hành TPCP theo kế hoạch là 36.000 tỉ đồng,
số vốn TPCP chuyển nguồn từ năm 2008 sang 2009 là hơn 7.700 tỉ đồng và theo dự kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể phát hành bổ sung TPCP
năm 2009 thêm 20.000 tỉ đồng Như vậy, tổng số vốn TPCP 2009 sẽ lên đến
hơn 64.000 tỉ đồng
Tính đến ngày 9/9/2009, đã có 40 đợt phát hành trái phiếu bằng tiền đồng và 2 đợt phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ do Chính phủ bảo lãnh phát
Trang 33
hành trong năm 2009 Tuy nhiên, mới chỉ có 2.310 tỷ đồng và 230 triệu USD được huy động
Có 36 đợt phát hành trái phiếu tiền đồng hoàn toàn thất bại khi không thu được một đồng nào Lần phát hành gần đây nhất nối dài chuỗi phiên phát hành không thành công là ngày 9/9, do Công ty Đầu tư Phát triển Đường cao tốc Việt Nam phát hành 1.000 tỷ đồng nhu cầu trái phiếu chia đều cho hai kỳ hạn 3 năm
và 5 năm hoàn toàn không được bán ra phần nào
Phần lớn số tiền phát hành (2.000 tỷ đồng) được tập trung ở kỳ hạn 2
năm (kỳ hạn ngắn nhất) thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, phát hành trong tháng 6 với lãi suất bình quân là 8,93%/năm
Nguyên nhân trực tiếp dễ nhận thấy của sự thất bại trong huy động vốn
bằng trái phiếu của Chính phủ là lãi suất không hấp dẫn Trong hầu hết các đợt phát hành, lãi suất trần mà tổ chức phát hành đưa ra đều thấp hơn lãi suất thấp
nhất mà các nhà thầu đăng ký Tính trung bình qua các đợt phát hành, mức chênh lệch này là 0,88%/năm
Qua thống kê của Kho bạc Nhà nước cho thấy, từ năm 2003-2008, nguồn vốn huy động được qua phát hành trái phiếu đạt hơn 300 nghìn tỉ đồng Nhưng
vốn giải ngân chỉ đạt được 65 nghìn tỉ đồng trong khoảng thời gian này (tương đương con số 21,6%) Năm 2009, vốn giải ngân TPCP dự kiến đạt khoảng 36 nghìn tỷ đồng Theo báo cáo của Chính phủ, trong 6 tháng đầu năm nguồn vốn TPCP ước đạt 9.826,5 tỉ đồng - bằng 27,3% kế hoạch Như vậy, nếu cộng dồn nguồn vốn này, thì đến giữa năm nay là còn khoảng trên 231 nghìn tỷ đồng
Nhu cầu chi tiêu của Chính phủ trong cả năm 2009 được nhìn nhận là ở
mức khá cao do chương trình kích thích kinh tế và an sinh xã hội, trong khi tăng trưởng cả năm được Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố hôm 22.9 ước đạt 5-5,2% Bên cạnh đó, các nguồn vốn hỗ trợ, nguồn FDI hay kiều hối đều giảm
Tình hình bảo lãnh phát hành:
Trang 34
Cùng với việc triển khai phương thức đấu thấu TPCP qua TTGDCK,
Bộ Tài chính đã thực hiện việc phát hành TPCP theo phương thức bảo lãnh phát hành kể từ tháng 09/2000
Tính đến 30/04/2008, TPCP do KBNN phát hành theo phương thức
bảo lãnh phát hành đạt giá trị khoảng 52.816 tỷ và TPCP do NHPT Việt Nam phát hành qua bảo lãnh đạt giá trị khoảng 61.019 tỷ Về thành viên tham gia, có
46 thành viên bảo lãnh phát hành TPCP, trong đó có 24 thành viên là NHTM
Với lợi thế về đặc trưng của phương thức bảo lãnh phát hành, lãi suất trái phiếu được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức phát hành và tổ
chức bảo lãnh phát hành, thành viên bảo lãnh chủ động trong việc quyết định đầu tư Vì vậy kết quả phát hành thường đạt 100% và thu hút các nhà đầu tư lớn tham gia bảo lãnh phát hành
Tình hình giao dịch TPCP:
Trong giai đoạn từ năm 2000-2002, hoạt động giao dịch trái phiếu nói chung và TPCP nói riêng diễn ra rất thưa thớt Trong giai đoạn này, số lượng trái phiếu được niêm yết trên SGDCK TPHCM rất ít mà chủ đạo là TPCP chỉ
có khoảng 40 loại, các chủ sở hữu trái phiếu có khuynh hướng nắm giữ trái phiếu cho đến khi đáo hạn hơn là giao dịch trên thị trường Vì vậy, trong giai đoạn này khối lượng và giá trị TPCP giao dịch trên thị trường không đáng kể, tỷ
trọng giá trị giao dịch TPCP so với giá trị TPCP niêm yết rất nhỏ
Hình 2.2 Giá trị giao dịch và giá trị niêm yết TPCP 2003-2007
Trang 35
So sánh giá trị giao dịch TPCP với giá trị TPCP niêm yết
20000 40000 60000 80000 100000 120000 140000
tăng lên rất nhiều
Đối tượng tham gia giao dịch TPCP trước năm 2002, chủ yếu là các ngân hang thương mại và công ty chứng khoán Đến nay, các quỹ đầu tư, công ty bảo
hiểm, công ty tài chính và các đối tượng khác đã tham gia giao dịch TPCP tích
cực hơn Đặc biệt là các tổ chức đầu tư trái phiếu nước ngoài Từ năm
2005-2007, thị trường trái phiếu Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của các quỹ đầu tư trái phiếu quốc tế, các quỹ này đã mua 5 tỷ USD TPCP
Giá trị giao dịch TPCP ngày càng tăng, đặc biệt đối với giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài Trong tháng 3/2008, có những phiên nhà đầu tư nước ngoài mua đến hơn 10 triệu TPCP, chiếm 80-90% tổng khối lượng TPCP giao dịch trên thị trường với tổng giá trị giao dịch lên đến vài ngàn tỷ đồng mỗi phiên
Trang 36
2.1.1.2 Nh ững kết quả, hạn chế và nguyên nhân gây nên hạn chế trong s ự phát triển của thị trường TPCP phủ tại Việt Nam
a) Những kết quả:
Nhìn chung, thị trường TPCP đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, tuy nhiên việc phát hành TPCP đã trở thành kênh huy động vốn hiệu quả Giá trị TPCP huy động được đã tăng qua các năm, số lượng, kỳ hạn TPCP đã được đa
dạng hơn; đặc biệt là năm 2007, Chính phủ đã tổ chức phát hành trái phiếu theo
lô lớn để tăng tính thanh khoản làm cho tình hình giao dịch TPCP tăng lên đáng
kể Qua thực tế phát hành TPCP lô lớn sẽ giảm số lượng các loại TPCP lưu hành trên thị trường, giúp các nhà đầu tư cũng như các tổ chức trung gian dễ theo dõi, nắm bắt diễn biến về giá của các loại TPCP Ðây là cơ sở cho việc đặt giá mua, bán Mặt khác, với khối lượng phát hành lớn đã tạo điều kiện cho nhiều nhà đầu tư cùng sở hữu một loại trái phiếu, làm cho tính thanh khoản của trái phiếu tăng lên, từ đó thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và Chính phủ
có thể huy động một khối lượng vốn lớn cho ngân sách nhà nước Phương thức đấu thầu trái phiếu qua TTCK đã được áp dụng theo thông lệ quốc tế và cũng đã gặt hái kết quả đáng khích lệ Đối tượng tham gia thị trường cũng ngày càng đa
dạng hơn Bên cạnh đó áp dụng phương thức giao dịch thỏa thuận đã làm cho nhà đầu tư hoàn toàn chủ động trong giao dịch, đã tác động tích cực đến hoạt động giao dịch trái phiếu
b) Hạn chế
- Hiệu quả của các đợt phát hành TPCP bằng phương thức đấu thầu qua TTCK chưa cao do áp dụng cơ chế lãi suất trần, dẫn đến tỷ lệ trúng thầu thấp
thậm chí có những đợt đầu thầu khối lượng trúng thầu bằng không Bên cạnh
đó, thông tin về các đợt đấu thầu chưa đầy đủ, các thông tin như tình hình tài chính hiện nay của Chính Phủ, kế hoạch vay trả nợ trong tương lai, tình hình sử
dụng vốn huy động bằng TPCP… chưa được công bố cụ thể
- Trong bối cảnh lãi suất thị trường diễn biến tăng dần nhưng lãi suất đấu
thầu TPCP áp dụng lãi suất trần, hoạt động đấu thầu và giao dịch thứ cấp thiếu
Trang 37
tính cạnh tranh, không hấp dẫn, cũng làm cho TPCP có tính thanh khoản thấp Điều này có thể thấy được qua tình hình thực tế khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suất thị trường liên tục tăng trong năm 2008 đã ảnh hưởng đến giá và tình hình giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp
- Thị trường TPCP vẫn chưa hình thành được đường cong lãi suất chuẩn
Việc phát hành TPCP theo nhiều kỳ hạn với ngày thanh toán khác nhau và lãi
suất danh nghĩa khác nhau nên tính thanh khoản của trái phiếu rất thấp, dẫn đến
khối lượng TPCP giao dịch trên thị trường là không đáng kể, thậm chí có nhiều
loại bị đóng băng Thêm vào đó, hiện nay số lượng thành viên đủ điều kiện tham gia đấu thầu đã tăng, tuy nhiên các thành viên này không tham gia đấu
thầu thường xuyên mà mỗi đợt đấu thầu TPCP chỉ có vài thành viên tham gia, điều này đã làm giảm tính cạnh tranh của các đợt đấu thầu TPCP và thành viên tham gia này mua trái phiếu chủ yếu phục vụ cho mục đích nắm giữ lâu dài nên
việc giao dịch TPCP chỉ dừng lại ở đây
- Giao dịch trái phiếu đòi hỏi một số lượng vốn lớn, chỉ thích hợp với các nhà đầu tư có tổ chức tham gia, nhưng trên thực tế thị trường Việt Nam các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính để tham gia còn rất ít Bên cạnh đó các nhà đầu
tư nước ngoài đặc biệt là nhà đầu tư có tổ chức có năng lực tài chính để tham gia thì chưa quan tâm nhiều đến trái phiếu
2.1.2 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp
Khi một doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư, huy động vốn để triển khai các
dự án hoặc thậm chí, để trả các khoản nợ, lúc đó họ có thể phát hành trái phiếu công ty Thị trường trái phiếu VN đang trong giai đoạn sơ khai, cơ cấu trái phiếu công ty trong thị trường trái phiếu VN còn rất khiêm tốn Các nhà đầu tư chủ yếu mua và giữ trái phiếu tới khi đáo hạn, các dịch vụ liên quan hầu như
chưa có
Mặc dù từ năm 2006, thị trường đã có bước phát triển mới với Nghị định
số 52/2006/NĐ-CP mở rộng chủ thể phát hành (bên cạnh các doanh nghiệp nhà
nước còn có các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp
Trang 38
có vốn đầu tư nước ngoài) nhưng dư nợ trái phiếu công ty/GDP mới chiếm khoảng 2%
So với các nước trong khu vực và trên thế giới, dư nợ TPDN/tổng dư nợ trái phiếu của VN mới đạt 11% trong khi con số tương ứng của Thái Lan là 33%, Malaysia 50%, Hàn Quốc là 51% Vì vậy cần xác định một số định hướng phát triển cho TPDN như: khuyến khích doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp trên thị trường, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào việc cấp vốn qua kênh tín
dụng; tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, khuyến khích việc đưa ra các sản
phẩm mới; nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu công ty Ngoài ra, cần hình thành và phát triển các tổ chức cung cấp dịch
vụ cho thị trường trái phiếu như tổ chức định mức tín nhiệm, định giá trái phiếu; đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế…
2.1.3 Th ị trường trái phiếu chính quyền địa phương 2.1.3.1 Khái lược về sự hình thành thị trường trái phiếu chính quyền địa phương
TPCQĐP có vị trí quan trọng trong hệ thống các công cụ tài sản tài chính của đất nước Để TPCQĐP phát huy hết tác dụng, người phát hành và người đầu tư cần hiểu rõ các đặc tính của nó
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là một quá trình thay đổi tất yếu khi xã
hội ngày càng phát triển, với các nước đang phát triển và có nền kinh tế thị
trường mới nổi như Việt Nam chúng ta thì tốc độ đầu tư cơ sở hạ tầng diễn ra
với tốc độ càng nhanh chóng Tại các địa phương lớn như TPHCM và Hà Nội ngày càng khẳng định được tầm quan trọng về tốc độ tăng trưởng kinh tế, xã
hội
Hiện nay, thế giới thường sử dụng hai mô hình để xây dựng thị trường tín dụng đầu tư Trước hết là mô hình tín dụng địa phương để tài trợ cho các dự
án đầu tư, dạng này các nước Tây Âu đã và đang áp dụng Mô hình thứ hai là sử
dụng trái phiếu địa phương, hình thức này phổ biến ở khu vực Bắc Mỹ
Trang 39
Đối với mô hình tín dụng địa phương thì dựa vào các ngân hàng, các ngân hàng được xây dựng chuyên doanh để cung cấp tín dụng và các dịch vụ liên quan cho chính quyền địa phương Ngân hàng đô thị lớn và lâu đời lớn nhất trên thế giới là Quỹ tín dụng địa phương Pháp (Credit Local dè France) Tương
tự như các ngân hàng đô thị là mô hình các quỹ chuyên cho vay và các hình
thức này được gọi chung là quỹ phát triển đô thị cũng được triển khai tại nhiều
nước trên thế giới như: Đức, Bỉ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kì
Đối với mô hình sử dụng trái phiếu địa phương (local bond), chính quyền địa phương không vay tiền từ ngân hàng để tài trợ cho các dự án của mình mà phát hành các công cụ nợ khác nhau trên thị trường nhằm thu hút vốn đầu tư Theo một số chuyên gia kinh tế, việc sử dụng công cụ nợ thay thế thay cho việc vay tiền từ các ngân hàng thương mại có ưu điểm như: Thời hạn vay dài hơn, điều này giúp làm giảm các rủi ro trong ngân sách và góp phần vào sự
ổn định tài chính ở địa phương, thu hút được vốn từ nhiều nguồn quỹ khác nhau
từ quỹ lương hưu, quỹ hỗ trợ,… vào việc phát triển cơ sở hạ tầng Nguồn vốn này thường có giá rẻ hơn so với nguồn vay từ các ngân hàng Đặc biệt khi trái phiếu phát hành có độ tin cậy cao, sẽ tạo sức ép và động lực lên chính quyền địa
phương để chính quyền cải tiến công tác quản lý ngân sách, kiểm toán, công khai thông tin,… Tuy nhiên, một thị trường tín dụng địa phương dựa trên trái phiếu cũng có những hạn chế nhất định, nếu được sử dụng tại một số quốc gia
có hệ thống tài chính chưa phát triển, hạ tầng công nghệ còn kém thì việc phát hành trái phiếu có thể rất khó khăn cho các địa phương nhỏ, hệ số tín nhiệm
Trang 40Cơ chế phân cấp của ngân sách trong giai đoạn này còn mang nạng tính
tập trung, phần lớn nguồn thu các dự án đầu tư đều do NSTƯ thực hiện Vì vậy, chỉ có một số địa phương vận dụng nội dung các văn bản pháp lý về phát hành TPCP, trái phiếu công trình để đầu tư cho các công trình địa phương Những trái phiếu này được đảm bảo thanh toán bằng nguồn ngân sách địa phương
Năm 1995, triển khai Nghị định 72/CP của Chính phủ, Bộ Tài chính
hướng dẫn Ủy ban Nhân dân các tỉnh xây dựng đề án huy động vốn cho các dự
án đầu tư trọng điểm của địa phương về phát triển kinh tế xã hội Vận dụng nội dung của Luật NSNN, nhằm khuyến khích các địa phương đẩy mạnh đầu tư cơ
sở hạ tầng, thông qua quỹ đầu tư phát triển đô thị, các địa phương như TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Tháp, … như: khu đô thị Linh Đàm
42 tỷ đồng; khu đô thị mới Định Công 50 tỷ đồng; khu đô thị mới Chí Linh 71
tỷ đồng; nhà máy xi măng Bút Sơn 12,2 tỷ đồng; nhà máy xi măng Anh Sơn 7,6
tỷ đồng; đường Nguyễn Tất Thành-liên tỉnh lộ 15 là 25,2 tỷ đồng…
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay Đẩy mạnh đầu tư phát triển kinh tế, nhằm hoàn thành chỉ tiêu kinh tế xã
hội trong kế hoạch 5 năm (2000-2005) cùng với tiến trình đô thị hóa, đã làm cho nhu nhu cầu vốn đầu tư của tỉnh, thành phố tăng lên rất lớn, đặc biệt là các
dự án phát triển hạ tầng cơ sở Vận dụng nội dung ở khoản 3 điều 8 Luật ngân sách nhà nước về cho phép các tỉnh, thành chủ động huy động vốn để thực hiện các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng, và các nghị định của Chính phủ về việc áp dụng quy chế tài chính đặc biệt cho một số địa phương như Nghị định 123/2004/NĐ-CP và Nghị định 124/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2004, cùng với việc thực hiện hiện cơ chế phi tập trung hóa trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, một số tỉnh, thành phố có điều kiện về tiềm lực kinh tế đã vận dụng
phương thức phát hành TPCQĐP để huy động vốn tài trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng
Từ năm 2003-2007, thông qua Quỹ đầu tư phát triển các địa phương như TPHCM, Hà Nội đã huy động được một lượng vốn lớn cho ngân sách Tổng