Nguyên nhân của tình hình trên là hạ tầng giao thông yếu kém, chưa được quan tâm đầu tư; chất lượng nguồn nhân lực kém; nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa đầu tư nhiều
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ng ười hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS.NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
Ng ười hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS.PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
Thành phố Hồ Chí Minh-Năm 2010
Trang 2Nhưng, hiện tại ĐBSCL vẫn còn là một vùng kinh tế còn nhiều khó khăn, sự phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào sự khai thác tài nguyên sẵn có, tốc độ tăng
trưởng kinh tế chậm hơn mức tăng trưởng bình quân của cả nước, chưa tương
xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng, sức cạnh tranh còn yếu
Nguyên nhân của tình hình trên là hạ tầng giao thông yếu kém, chưa được quan tâm đầu tư; chất lượng nguồn nhân lực kém; nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa đầu tư nhiều về khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng
sản phẩm và làm gia tăng giá trị của sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị
trường trong nước và quốc tế
Để tạo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thì yếu tố vật chất có tính tiền đề không thể thiếu được đó là vốn Do đó, vấn đề huy động vốn để đầu tư cơ sở hạ
tầng, để đầu tư phát triển kinh tế của vùng với nguồn vốn đầu tư chất lượng cao từ trong và ngoài nước là vấn đề rất bức xúc và cấp bách Cho nên, tác giả chọn đề tài
"Huy động và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông C ửu Long" làm đề tài nghiên cứu sinh
Kết quả nghiên cứu này là để đưa ra các giải pháp huy động vốn, với các kênh huy động vốn sẽ nói lên hiệu quả sử dụng vốn để góp phần thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế khu vực ĐBSCL
Trang 32
2 M ục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát triển và tỷ lệ tăng
trưởng GDP
Xác định nguyên nhân chủ yếu làm cho kinh tế ĐBSCL phát triển chậm so
với bình quân chung của cả nước và so với các khu vực kinh tế trong nước
Tìm giải pháp huy động vốn hiệu quả để phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế khu vực ĐBSCL
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của Luận án là quá trình đầu tư tại khu vực ĐBSCL
và các yếu tố khác tác động đến quá trình phát triển kinh tế của vùng, như: trình độ nguồn nhân lực, bản sắc văn hoá địa phương, cơ sở hạ tầng kinh tế, thực trạng huy động vốn và điều kiện của ĐBSCL để đề ra giải pháp huy động vốn đáp ứng nhu
cầu vốn đầu tư của vùng
- Phạm vi nghiên cứu của Luận án: quá trình phát triển kinh tế cuả khu vực ĐBSCL, tình hình huy động vốn ở một số địa phương của vùng trong khoảng thời gian từ 2005-2009
4 Ph ương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc trao đổi
với các cơ quan quản lý ngành trong và ngoài tỉnh, phiếu hỏi ý kiến, tổng hợp số
liệu từ các chi tiết, và sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc
thực hiện mô hình hồi quy về nhu cầu vốn đầu tư, các báo cáo thông kê của Bộ Tài chính, Tổng Cục Thống kê, Bộ Kế họach và Đầu tư, Cục Thống kê của các tỉnh ĐBSCL
5 Ngu ồn dữ liệu nghiên cứu:
Nguồn dữ liệu thứ cấp: được thu thập thông qua các số liệu thống kê của Bộ
Trang 43
Tài chính, Tổng Cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập số liệu cuả Phòng Tổng hợp (Sở Kế họach – đầu tư các tỉnh), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh ĐBSCL từ năm
2005 -2009
6 Nh ững điểm mới và đóng góp của Luận án:
Luận án đánh giá những thành công và hạn chế trong thu hút vốn cho ĐBSCL và những nguyên nhân của nó một cách có hệ thống
Căn cứ mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế, tác giả dùng
phương pháp định lượng để dự báo nhu cầu vốn của ĐBSCL đến năm 2020, trên
cơ sở đó đề xuất cơ cấu nguồn vốn nhằm khai thác nguồn vốn tiềm năng của vùng
Đề xuất mô hình huy động vốn từ khu vực tư nhân để đầu tư phát triển kinh
tế cho ĐBSCL, nhóm giải pháp hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy ĐBSCL phát triển nhanh và bền vững Đồng thời tác giả cũng đề xuất về thay đổi nhận thức một số
nội dung có liên quan để định hướng phát triển vùng đúng với thế mạnh hiện có
nhằm khai thác tốt tiềm năng để phát triển kinh tế và phát triển con người của vùng
Trang 54
VÀ PHÁT TRI ỂN KINH TẾ
1.1 Nh ững khái niệm về đầu tư
Có nhiều khái niệm về đầu tư, tuỳ theo phạm vi nghiên cứu mà hình thành
nên những khái niệm khác nhau về đầu tư và vốn đầu tư, với mỗi phạm vi đầu tư
lại có một loại vốn đầu tư tương ứng
Đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực
đã bỏ ra Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật
chất khác hoặc sức lao động Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư
Kết quả đạt được có thể là tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật
chất khác), tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật, của người dân), nguồn nhân lực tăng thêm,
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai
lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó
Nhà đầu tư có thể là một công ty, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân với các
mục đích đầu tư và quy mô đầu tư khác nhau, nên kết quả đầu tư có loại chỉ có
ý nghĩa trực tiếp ở phạm vi hẹp đối với bản thân người đầu tư, có loại lại có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với cá nhân người đầu tư mà còn quan trọng đối
với cả nền kinh tế của đất nước
Như vậy, nếu xem xét trên giác độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử
Trang 65
dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực
và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có Tương ứng với phạm vi đầu tư này có phạm trù
tổng vốn đầu tư mà chúng ta gọi là vốn đầu tư phát triển hoặc là vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
1.2 Các ngu ồn vốn đầu tư:
Hai nguồn vốn được huy động cho đầu tư phát triển nền kinh tế là nguồn
vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoài nước
1.2.1 Ngu ồn vốn đầu tư trong nước:
Luôn đóng vai trò quyết định trong việc tạo vốn cho đầu tư tăng trưởng kinh tế Nguồn vốn đầu tư trong nước được khai thác chủ yếu qua các kênh, như:
1.2.1.1 Ngu ồn vốn đầu tư từ ngân sách:
Tập trung cho những công trình trọng điểm, an ninh quốc phòng các dự án
hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn nhằm thực hiện vai trò
quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước Trong nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, nguồn
vốn tín dụng nhà nước đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư với khối lượng lớn, tạo điều
kiện cần thiết cho hoạt động của thị trường tài chính
Việc chi đầu tư từ NSNN Việt Nam là vấn đề cần được xem xét từ việc phân bổ NSNN để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư từ NSNN Chất
lượng phân bổ ngân sách hiện nay của trung ương và các địa phương còn hạn chế
do phân bổ ngân sách theo khoản mục đầu vào, không chú trọng đến các đầu ra và
kết quả trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược ưu tiên của quốc gia, làm cho nguồn tài trợ cho những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội không được quan tâm đúng mức, khiến những ưu tiên của Chính phủ không được tài trợ xứng đáng với
tầm quan trọng của chúng và dễ tách rời mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội được
Trang 76
lập 5 năm với số ngân sách được phân bổ hàng năm
Một phương thức phân bổ ngân sách theo xu hướng ở nhiều nước hiện nay
là phân bổ ngân sách theo đầu ra, tức là theo mục tiêu, sản phẩm là kết quả ngân sách; phương thức này có thể thực hiện được các thứ tự ưu tiên trong phân bổ ngân sách, gắn kế hoạch ngân sách với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nói chung và vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nói riêng
1.2.1.2 Ngu ồn vốn đầu tư của khu vực dân cư:
Trong dân cư ẩn chứa các nguồn tiền rất lớn từ kiều hối, tiền tiết kiệm
thường cất trữ bằng vàng, tiền ngoại tệ và tiền mặt Nguồn tiền này đã được huy động tham gia vào sản xuất, kinh doanh thông qua các hình thức như: gởi tiền tiết
kiệm, mua chứng khoán, trực tiếp đầu tư sản xuất kinh doanh,…đóng góp vào sự
tăng trưởng kinh tế khá lớn Chính phủ và chính quyền địa phương đã huy động nguồn vốn này để thực hiện các công trình trọng điểm, để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình…Đây là nguồn vốn khá quan trọng và tiềm năng còn dồi dào, khai thác tốt sẽ
tiết kiệm được ngân sách nhà nước
Các hình thức huy động vốn trong dân cư: thị trường chứng khoán, theo kênh phát hành trái phiếu chính phủ thông qua kho bạc nhà nước, qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, kênh huy động vốn dân cư qua bảo hiểm
Mười năm qua (2000-2009), thị trường chứng khoán Việt Nam đã trở thành kênh dẫn vốn dài hạn quan trọng, bổ sung cho kênh ngân hàng Đến tháng 5 năm
2010 có 525 công ty niêm yết, mức vốn hóa thị trường là 680.614 tỷ đồng
Có 4 loại trái phiếu chính phủ: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng Tổ quốc, trái phiếu đầu tư, trái phiếu công trình trung ương Về huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ, tính đến hết
Trang 87
ngày 24/12/2008, Kho bạc Nhà nước đã huy động được trên 39.627 tỷ đồng
Hệ thống ngân hàng đã đa dạng hoá các hình thức huy động vốn từ dân cư
tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm bậc thang, dịch vụ tiết kiệm tại nhà Đến tháng 11
năm 2009 tỷ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư của các ngân hàng thương mại chiếm đến 48% tổng nguồn tiền gửi
Bảo hiểm là một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế thông qua phí bảo hiểm Nguồn vốn trong dân cư thật sự là nguồn vốn quan trọng và đầy
tiềm năng, giữ vai trò đặc biệt quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung
của cả nước, thực tế đã có nhiều hình thức khai thác nguồn vốn trong dân, mang
lại thành tựu to lớn trong huy động và trong tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Ngu ồn vốn đầu tư từ nước ngoài:
Là nguồn vốn quan trọng, cần thiết để đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài được huy động thông qua các hình thức
cơ bản sau:
1.2.2.1 Ngu ồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI):
Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vào một nước để đầu
tư cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Đối với vốn FDI, nhà đầu tư và nước nhận đầu tư đều có những lợi ích, thể hiện ở một số mặt như sau:
Đối với nhà đầu tư: tận dụng được những lợi thế về chi phí sản xuất thấp của các nước nhận đầu tư để nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư; các công ty nước ngoài
có thể kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ ở thị trường trong nước vì thông qua FDI, các công ty của các nước phát triển chuyển được
một phần các sản phẩm công nghiệp ở giai đọan cuối của chu kỳ sống sản phẩm sang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng như những sản phẩm mới của các
nước này, tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư; nhà đầu tư tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên vật liệu dồi dào và ổn định với giá rẻ; chủ đầu tư có điều kiện
Trang 9dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức làm ô nhiễm môi trường
Hình thức chủ yếu của FDI là đầu tư mới và mua lại và sáp nhập qua biên
giới Tùy theo mức độ tham gia của nhà đầu tư doanh nghiệp nhà đầu tư nước ngòai góp vốn 100%, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh
1.2.2.2 Ngu ồn vốn đầu tư gián tiếp (FII):
Là hình thức đầu tư thông qua vịêc mua bán chứng khoán và những giấy tờ
có giá trị khác Theo Luật đầu tư Việt Nam ban hành năm 2005, đầu tư FII được xác định là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các
giấy tờ có giá trị khác, các quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian mà nhà đầu tư không tham gia hoạt động quản lý đầu tư Vốn đầu
tư gián tiếp của nước ngoài vào nước sở tại thường tồn tại theo các loại quỹ hoặc các công ty tài chính, chủ yếu là quỹ hổ tương, quỹ trợ cấp, quỹ lương hưu, đầu tư
của các tập đoàn tài chính và quỹ đầu tư mạo hiểm Vốn FII có tác động kích thích
thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ
Trang 109
dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng
quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế Tuy nhiên, vốn FII có những tác động tiêu cực như: nếu dòng FII vào nước tăng
mạnh, thì nền kinh tế dễ bị rơi vào trạng thái phát triển bong bóng; vốn FII có đặc điểm là di chuyển rất nhanh nên nó sẽ dễ làm cho nền tài chính bị khủng hoảng khi
gặp sự cố từ bên trong cũng như bên ngoài nền kinh tế và FII làm giảm tính độc
lập của chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái
Đầu tư FII vào Việt Nam gần đây đã tăng rất mạnh Hiện có khoảng 35 quỹ
nước ngoài quy mô lớn đang tham gia đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam Trong đó nguồn vốn đổ vào nhiều nhất là ở lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, tài chính,…
1.2.2.3 Ngu ồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Là nguồn vốn do các cơ quan chính thức của một nước hoặc một tổ chức
quốc tế hỗ trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của các nước này Sự hỗ trợ này thường thể hiện dưới dạng tiền tệ, hàng hoá, chuyển giao công nghệ, chuyển giao tri thức theo khuôn khổ Hiệp định, Thoả ước hoặc các văn bản ký kết chính thức trên cơ sở song phương hoặc đa phương
Nội dung viện trợ của ODA bao gồm: Viện trợ không hoàn lại: có quy mô nhỏ, chiếm khoảng 15-17% tổng nguồn vốn ODA và chỉ giới hạn trong các lĩnh vực nhân đạo, y tế, văn hoá, giáo dục, cải cách và nâng cao năng lực quản lý hành chính nhà nước; vốn vay: có quy mô lớn, chiếm khoảng 83-85% tổng nguồn vốn ODA, nhưng được vay với lãi suất thấp (lãi suất ưu đãi) và thời gian hoàn trả dài (thường là 20-30-40 năm) và có thời gian ân hạn (từ 10-12 năm) Chính phủ nước
tiếp nhận vốn ODA phải quản lý và sử dụng vốn ODA theo quy định của pháp luật
nước mình, vừa phải theo quy định của Nhà tài trợ theo điều ước quốc tế được ký
kết và chịu sự quản lý, giám sát của cả hai bên Trong không ít trường hợp phải tuân thủ một số điều kiện do nước cung cấp vốn quy định, như mục đích sử dụng,
Trang 1110
thủ tục giải ngân, phương thức cung ứng vật tư, thiết bị
Việt Nam có mối quan hệ ít nhất với 25 nhà tài trợ ODA song phương, trong
đó Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất chiếm khoảng 40% tổng số vốn ODA mà cộng đồng quốc tế cam kết đối với Việt Nam
1.2.2.4 Ngu ồn vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO):
Trên thế giới có rất nhiều tổ chức phi chính phủ hoạt động theo các mục đích và tôn chỉ khác nhau Nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ thường nhỏ,
chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc sự tài trợ của các Chính phủ Viện trợ NGO thường là viện trợ không hoàn lại và thường thông qua các chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia như: huấn luyện những người làm công tác bảo vệ sức khoẻ, thiết lập các dự án tín dụng, cung cấp nước sạch ở nông thôn,…Nhưng nguồn vốn này ngoài mục đích nhân đạo còn mang màu sắc tôn giáo, chính trị nên khó quản lý
1.3 Hiệu quả đầu tư:
Nói đến hiệu quả đầu tư, người ta thường đề cập hiệu quả kinh tế - xã hội và các chỉ tiêu tài chính đánh giá hiệu quả của đầu tư
1.3.1 Các ch ỉ tiêu tài chính đánh giá hiệu quả của đầu tư:
Hai chỉ tiêu tài chính quan trọng bậc nhất trong đánh giá hiệu quả đầu tư là
hiện giá thu nhập thuần và tỷ suất sinh lời nội bộ
1.3.1.1 Hiện giá thu nhập thuần (NPV):
Là chỉ tiêu về thu nhập ròng của dự án, là hiệu số giữa hiện giá thực thu
bằng tiền và hiện giá thực chi bằng tiền trong suốt thời gian thực hiện dự án
Có nghĩa là các khoản thu nhập đạt được trong tương lai kể cả vốn đầu tư đều phải quy về giá trị hiện tại theo một lãi suất nhất định Nếu hiện giá thu nhập thuần là
Trang 12NPV: Hiện giá thu nhập thuần của dự án
Bt : Thu nhập hàng năm của dự án
Ct: Chi phí hàng năm của dự án
at =
( )t - 1
1
1 r + : là hệ số chiết khấu của dự án
r : Lãi suất chiết khấu của dự án, đơn vị tính %
t : Thứ tự năm trong thời gian của dự án
t-1: được quy ước tính toán trong dự án, các giá trị đồng tiền phát sinh
trong năm t=1 được coi như giá trị hiện tại của đồng tiền đó
Hiện giá thu nhập thuần của dự án cho biết với một chi phí cơ hội mong
muốn nhất định của nhà đầu tư, hiện giá thu nhập có lớn hơn hiện giá chi phí hay không? Hiện giá thu nhập thuần càng cao thì hiệu quả kinh tế của dự án càng cao
1.3.1.2 T ỷ suất sinh lời nội bộ (IRR):
Là lãi suất riêng của dự án Với lãi suất này thì tổng hiện giá của các khoản thu nhập trong tương lai của dự án bằng tổng hiện giá của vốn đầu tư Điều đó
cũng có nghĩa là với lãi suất này thì hiện giá thuần bằng 0
Có một số phương pháp xác định tỷ suất sinh lời nội bộ như: Phương pháp
đồ thị, phương pháp thử dần để xác định tỷ suất chiết khấu giả định, phương pháp
nội suy
Trang 13IRR: Tỷ suất sinh lời nội bộ cuả dự án, đơn vị tính %
r1 : Lãi suất chiết khấu ban đầu để tính NPV1
r 2 : Lãi suất chiết khấu giá định để tính NPV2 sao cho NPV2 là một số âm
và gần bằng 0
Khi thấy IRR lớn hơn tỷ suất chiết khấu thì có thể kết luận dự án có hiệu
quả, IRR chính là tỷ suất lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra trong đầu tư
Bên cạnh đó, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu
tư thường được sử dụng Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư là tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế hàng năm và tổng vốn đầu tư để thực hiện dự án
ROIt : Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư hàng năm, đơn vị tính %
NPt : Lợi nhuận sau thuế hàng năm
I: Tổng vốn đầu tư để thực hiện dự án
Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư cho biết một đồng vốn đầu tư cho dự án có
khả năng thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời càng lớn thì
hiệu quả tài chính của dự án càng cao
1.3.2 Hi ệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư:
Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư là đánh giá trên quan điểm của toàn nền kinh tế, đánh giá tác động của dự án đầu tư đến sự phát triển kinh tế của
Trang 1413
cả nước; là sự so sánh giữa lợi ích do dự án tạo ra với cái giá mà xã hội phải trả để
sử dụng tài nguyên có hiệu quả Lợi ích từ dự án đầu tư mà nền kinh tế quốc dân
và xã hội thu được có những cái không định lượng được như: sự phù hợp của dự
án đối với mục tiêu phát triển kinh tế, những lĩnh vực được ưu tiên đầu tư, ảnh
hưởng dây chuyền đối với sự phát triển các ngành khác,…nhưng cũng có một số
nội dung định lượng được như: mức độ gia tăng sản phẩm, thu nhập quốc dân, sử
dụng lao động, tăng thu ngoại tệ, tăng thu cho Ngân sách nhà nước Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư, như sau:
1.3.2.1 Giá tr ị sản phẩm hàng hóa gia tăng:
Gồm giá trị gia tăng trực tiếp và giá trị gia tăng gián tiếp Giá trị gia tăng
trực tiếp là giá trị do chính dự án tạo ra
Giá trị gia tăng gián tiếp là giá trị gia tăng từ các dự án khác hoặc cáchoạt động kinh tế khác do phản ứng dây chuyền mà dự án đang xem xét mang lại
1.3.2.2 Vi ệc làm và thu nhập của người lao động:
Việc sử dụng vốn đầu tư sẽ tạo ra nhiều chương trình, dự án,…thu hút một
lượng lao động đáng kể, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo lao động có trình độ kỹ thuật, thu hút lao động có tay nghề từ nơi khác đến
Để đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư trong việc thu hút lao động, có thể sử
dụng chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này cao hay thấp tùy thuộc vào từng ngành kinh tế kỹ thuật; kỹ thuật càng hiện đại, chỉ tiêu này càng lớn Như vậy, với một dự án đầu tư nào được hình thành đều tạo ra công ăn việc làm cho người lao động và tạo ra thu nhập nâng cao
mức sống cho người lao động
Trang 151.3.2.4 T ăng thu hoặc tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước:
Khi các nước nhận vốn đầu tư từ nước ngoài đã làm tăng thu ngoại tệ cho
nước mình Mặt khác, nước nhận đầu tư tiết kiệm được ngoại tệ do không phải
nhập khẩu hàng tiêu dùng vì đã được các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất và cung
cấp, tiết kiệm ngoại tệ trong việc trang bị máy móc thiết bị tiên tiến
Khả năng tiết kiệm ngoại tệ do dự án đầu tư sản xuất sản phẩm thay thế sản
phẩm nhập khẩu, hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu
bằng chi phí ngoại tệ nếu nhập khẩu trừ đi cho chi phí ngoại tệ để sản xuất khối
lượng sản phẩm thay thế sản phẩm nhập khẩu, trừ đi nguyên vật liệu và khấu hao tài sản cố định mua bằng ngoại tệ, trừ lương tính bằng ngoại tệ và trả nợ vay
Mức tăng thu ngọai tệ của dự án đầu tư tính được bằng cách lấy thu ngoại tệ
do xuất khẩu trừ chi ngoại tệ nếu nhập khẩu Đây là những chỉ tiêu để từng bước
tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước
Hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư còn được tính đến các chỉ tiêu như: dự
án đầu tư tạo sự phát triển cho các ngành khác (ngành dệt phát triển có thể kéo theo ngành may mặc phát triển); làm tăng nhu cầu tiêu dùng cuả nhân dân; dự án đầu tư góp phần làm phát triển địa phương (tăng cường về cơ sở hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội cuả địa phương, tăng thu nhập cho người lao động ở địa
phương) Các chỉ tiêu này khó định lượng được nhưng có thể thấy được qua ảnh
Trang 1615
hưởng thực tế của dự án đầu tư nên cũng là những tiêu chí để đánh giá hiệu quả đầu tư
1.4 Nh ững lý luận cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế:
1.4.1 T ăng trưởng kinh tế:
Là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng này được thể hiện ở quy mô và tốc độ tăng
trưởng Quy mô phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít còn tốc độ tăng trưởng được dùng để so sánh sự gia tăng giữa các thời kỳ Người ta thường xác định tăng
trưởng kinh tế thông qua các chỉ tiêu GDP (tổng sản phẩm quốc nội), GNP (tổng
sản phẩm quốc dân) và GNI (thu nhập bình quân đầu người)
Đầu tư là một trong những yếu tố được tính đến trong tăng trưởng kinh tế,
dựa vào công thức tính GDP sau:
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc
Trang 17độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy
mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế
kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Công thức tính:
y = dY/Y × 100(%)
Trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ
tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo
bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP)
thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa
1.4.2 Phát tri ển kinh tế:
Là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tế là một khái niệm rộng hơn tăng trưởng Nếu tăng trưởng được xem là quá trình biến đổi về lượng thì phát triển là quá trình biến đổi cả về lượng và
chất của nền kinh tế Đó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện
của cả hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Phát triển kinh tế bao
gồm có tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tiến bộ (thường xét đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành: sự gia tăng tỉ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp), sự biến đổi ngày càng tốt
hơn trong các vấn đề xã hội (xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân, tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch của người dân, đảm bảo phúc lợi xã hội, giảm thiểu bất bình đẳng trong xã hội…)
1.4.3 Các lý thuy ết kinh tế về đầu tư:
16
Trang 1817
Đầu tư là một yếu tố nằm trong tổng cầu của nền kinh tế Trong khi đầu tư
nhỏ hơn rất nhiều so với tiêu dùng trong GDP, nhưng nó lại rất quan trọng bởi vì đây là thành tố trong GDP biến động mạnh nhất và phản ánh rõ nét nhất hình mẫu
biến động theo chu kỳ mà các nền kinh tế thị trường phải đối mặt Có rất nhiều lý thuyết kinh tế về đầu tư, mỗi lý thuyết nghiên cứu một khía cạnh khác nhau của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, sau đây là một số lý thuyết tiêu
biểu:
1.4.3.1 S ố nhân đầu tư:
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng Nó cho thấy
sản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị
Công thức tính:
k = ΔY/ ΔI (1)
Trong đó: ΔY là mức gia tăng sản lượng
ΔI là mức gia tăng đầu tư
k là số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta có :
ΔY= k ΔI
Như vậy việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuếch đại sản lượng tăng lên số nhân lần Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1 Nếu khuynh hướng tiêu dùng cận biên càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khếch đại của sản lượng càng
lớn Sản lượng càng tăng, công ăn việc làm càng gia tăng
Thực tế, gia tăng đầu tư dẫn đến gia tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và qui mô lao động Sự kết hợp hai
yếu tố này làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng của nền kinh
tế
1.4.3.2 Lý thuy ết về gia tốc đầu tư:
Trang 1918
Theo lý thuyết này, để sản xuất ra một đơn vị đầu ra cho trước phải có một
lượng vốn đầu tư nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư được biểu
diễn theo công thức:
x = K/Y K: Vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu
Y: Sản lượng tại thời kỳ nghiên cứu
x: Hệ số gia tốc đầu tư
Từ công thức trên, ta suy ra: K = x * Y
Như vậy, nếu x không đổi khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến vốn đầu tư tăng theo và ngược lại Theo công thức trên thì sản lượng phải tăng liên tục
mới làm cho vốn đầu tư tăng lên cùng tốcđộ hoặc là không thay đổi so với thời kỳ
trước đó
Lý thuyết gia tốc đầu tư phản ảnh mối quan hệ giữa sản lượng với vốn đầu
tư, phản ảnh sự tác động của tăng trưởng đến vốn đầu tư Khi kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh nhiều, dẫn đến tiết kiệm và đầu
tư tăng nhiều Tuy nhiên lý thuyết này còn một số hạn chế, đó là: sự giả định quan
hệ giữa sản lượng và đầu tư là ổn định, thực tế đại lượng x luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác; và thực chất lý thuyết này đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần chứ không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự thay đổi
của sản lượng
1.5 M ối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế:
Trong quá trình đầu tư để tạo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thì yếu tố
vật chất có tính tiền đề không thể thiếu được đó là vốn Vốn là nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khóa của sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Vốn phải được đầu tư và sử dụng có hiệu quả, nó sẽ đóng góp rất quan trọng đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Khi nói vốn phải được đầu tư và sử dụng
Trang 2019
có hiệu quả có nghĩa là đã bao hàm chính sách sử dụng vốn và đội ngũ nguồn nhân
lực để thực hiện
Việc tạo ra vốn cho phát triển kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn, nhưng khi
có vốn mà không có chính sách đầu tư sử dụng hiệu quả thì đất nước sẽ rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất, kinh tế không cải thiện
Sự phát triển của nền kinh tế phải đặt trong sự tương quan chặt chẽ với phát triển cơ sở hạ tầng Để gia tăng sự phát triển kinh tế, nền kinh tế nhất thiết phải có
vốn để tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng Khi nền kinh tế phát triển cao thì cơ sở
hạ tầng cần phải phù hợp với sự tiến triển của nhu cầu Vì vậy, nền kinh tế cần
phải tạo lập vốn với quy mô lớn để đáp ứng Vốn chính là nhân tố đặc biệt quan
trọng để khai thác các nguồn lực tiềm năng như nhân lực, vật lực,…Nên tùy theo điều kiện phát triển trong từng thời kỳ, mỗi nền kinh tế xác lập cơ cấu kinh tế hợp
lý, thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngòai nước để đẩy nhanh nhịp độ tăng
trưởng và phát triển kinh tế
Nhà nước huy động vốn thông qua các công cụ tài chính để đáp ứng yêu cầu đầu tư cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Các công cụ tài chính sử dụng gồm công cụ thuộc chính sách tài chính - tiền tệ (thuế, tín dụng nhà nước, các quỹ hỗ
trợ tài chính, công cụ lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái), công cụ thuộc thị trường tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu,…) Các công cụ tài chính này được sử dụng thích hợp với phạm vi, đặc điểm hoạt động và khuôn khổ luật pháp
Trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng kinh tế vào cuối những năm 30 đã xuất
hiện một học thuyết kinh tế mới, đó là học thuyết của J.Maynard Keynes Khác
với tư tưởng của nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, Keynes cho rằng: nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì sự cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy xu hướng phát triển của nền kinh tế là đưa mức sản
lượng thực tế càng gần đến mức sản lượng tiềm năng càng tốt Để có được sự chuyển dịch này thì đầu tư đóng vai trò quyết định
Trang 21bản đầu tư cho đơn vị đó Để tăng trưởng kinh tế cần đầu tư mới vào vốn dự trữ
Mô hình Harrod – Domar :
g = i s
k = k
Trong đó:
g: tốc độ tăng trưởng (g = ∆Y/Y, Y là tổng sản phẩm đầu ra)
i: tỷ lệ đầu tư (i = I/Y)
s: tỷ lệ tiết kiệm (s = S/Y)
I: đầu tư
S: tiết kiệm
k: hệ số ICOR – Hệ số gia tăng tư bản đầu ra ( k=I/ ∆Y = ∆K/ ∆Y, K là tổng
vốn đầu tư )
∆Y : gia tăng tổng sản phẩm đầu ra
∆K : gia tăng vốn đầu tư
Công thức này là công thức đơn giản của Harrod – Domar trong lý thuyết
tăng trưởng kinh tế
Hệ số ICOR nói lên rằng vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng nhà
Trang 2221
máy, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiết kiếm của dân
cư và các công ty chính là nguồn gốc của vốn đầu tư Hệ số này cũng phản ảnh trình độ kỹ thuật sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư
Ví dụ như nếu đầu tư 3 tỷ đồng dưới dạng xây dựng nhà máy mới và trang bị
mới làm cho xí nghiệp có khả năng gia tăng đầu ra thêm 1 tỷ đồng/năm trong vòng
một năm tới thì hệ số gia tăng vốn đầu ra trong trường hợp này là 3/1
Các nhà kinh tế sử dụng ICOR như một chỉ số cơ bản để xem xét hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư, liên quan chặt chẽ tới tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế
Mô hình tăng trưởng cuả Harrod - Domar chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quả tương tác giữa tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế
Nhưng trên thực tế, tăng trưởng kinh tế có thể xảy ra không phải vì lý do tăng đầu
tư, hoặc ngược lại, nếu đầu tư không có hiệu quả vẫn có thể dẫn đến không có sự
tăng trưởng Kể cả trong trường hợp đầu tư có hiệu quả thì sự gia tăng tỷ lệ tiết
kiệm cũng chỉ có thể tạo nên gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn
chứ không thể đạt được trong dài hạn
Từ những lập luận trên, năm 1956, Robert Solow đã xây dựng nên mô hình
tăng trưởng mang những ý tưởng mới, còn được gọi là mô hình tăng trưởng Solow
Nếu như mô hình Harrod - Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm nhân
tố lao động và tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng và ông cho rằng
tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quyết định đến tăng trưởng kể cả ngắn hạn và dài hạn
Mô hình này cho biết: tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng
như thế nào tới mức sản lượng và tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế theo thời gian
Riêng tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế, Solow đã lý giải như sau:
Nếu Y là sản lượng, K là vốn, L là lao động Ta xét một dạng hàm tổng sản
Trang 23Từ mô hình tăng trưởng cuả Harrod - Domar ta có I = s.Y
I là đầu tư cuả nền kinh tế và s là tỷ lệ tiết kiệm quốc gia Nếu chia cả 2 vế
phương trình này cho L, ta được mức đầu tư bình quân cho một công nhân i bằng:
i = s.y
Tại mỗi thời điểm, lượng vốn là yếu tố quyết định sản lượng của nền kinh
tế, nhưng lượng vốn có thể thay đổi theo thời gian, dẫn tới tăng trưởng kinh tế
Mô hình Solow xác định hai lực lượng tác động tới sự thay đổi của lượng
vốn là đầu tư (làm tăng luợng vốn) và khấu hao (làm giảm lượng vốn), cụ thể là: Thay đổi lượng vốn = Đầu tư – Khấu hao
Như vậy, theo mô hình Solow, nếu tỷ lệ tiết kiệm cao thì nền kinh tế sẽ có
mức sản lượng lớn hơn (GDP cao hơn) Tuy nhiên, việc tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ đưa đến tăng trưởng nhanh hơn trong một thời gian ngắn, trước khi nền kinh tế đạt đến trạng thái ổn định Nếu một nền kinh tế duy trì một tỷ lệ tiết kiệm cao nhất định, nó sẽ duy trì được mức sản lượng cao nhưng không duy trì được tốc độ tăng
trưởng cao Kết luận này hoàn toàn khác với kết luận của mô hình Harrod - Domar
Theo nhà kinh tế học người Mỹ - Paul Adam Samuelson: Tăng trưởng kinh
tế là sự mở rộng GDP hay sản lượng tiềm năng, và một khái niệm rất gần gũi với
nó là mức tăng sản lượng tính trên đầu người Về lâu dài, vận mệnh kinh tế của
Trang 24một quốc gia phụ thuộc vào tăng trưởng sản lượng tiềm năng Tăng sản lượng tiềm
năng là phải tăng năng suất Paul Krugman, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel đã viết:
"N ăng suất không phải là tất cả, nhưng về lâu dài thì nó gần như là tất cả" 1
Theo
mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển: Để tăng năng suất trên quy mô nền kinh tế thì cần thiết phải tăng cường vốn theo chiều sâu, là quá trình trong đó lượng vốn tính trên đầu người công nhân tăng lên theo thời gian, là quá trình tăng cường đầu
tư máy móc thiết bị
Những nền kinh tế thị trường tiên tiến tăng trưởng thông qua sự tăng lên cuả
vốn, lao động và thay đổi công nghệ Vậy, sự đóng góp tương đối cuả lao động,
vốn và thay đổi công nghệ đến tăng trưởng như thế nào? Robert Solow, John Hendrick và Edward Denison là những người tiên phong trong phân tích tăng
trưởng kinh tế bằng định lượng và đưa ra cách tiếp cận hữu ích là hạch toán tăng
trưởng Theo kỹ thuật này, các nhà kinh tế trên đã đưa ra phương trình thể hiện mối quan hệ giữa tăng cường vốn theo chiều sâu ảnh hưởng tới sản lượng trên đầu
người như thế nào nếu không thay đổi công nghệ
% tăng Q/L = % tăng Q - % tăng L = ¼ (% tăng K/L) +T.C
Với Q: sản lượng
L: lao động
K: Vốn
T.C: thay đổi công nghệ
Một ví dụ cụ thể của các nhà kinh tế cho thấy sự đóng góp của lao động, vốn
và các nhân tố khác trong mức tăng trưởng
Để tính mức tăng trưởng cuả Q/L, giả định L đã tăng 1,3% một năm, K tăng 2,5% một năm, còn Q tăng 3,1% một năm
1[Paul A samuelson, William D Nordhalls, Kinh tế học, tập 2, NXB Thống kê,
2002, tr 555]
23
Trang 2524
Chúng ta thấy:
% tăng Q/L = ¼ (%tăng K/L) +T.C
1,8 = ¼ (1,2) + T.C = 0,3 + 1,5
Như vậy, trong 1,8% tăng sản lượng cuả một năm trên một công nhân, do
tăng cường vốn theo chiều sâu khoảng 0,3%, do thay đổi công nghệ là 1,5%
Có 4 thành phần trong tăng trưởng kinh tế
Nguồn vốn (K): Chỉ có đầu tư ròng mới giúp tích luỹ thêm vốn cho nền kinh
tế Mà vốn đầu tư ròng lấy từ tiền tiết kiệm Cho nên muốn tăng vốn thì phải tăng
tiết kiệm Như vậy, khi sản lượng đạt đến mức tiềm năng, muốn thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bằng yếu tố vốn thì phải khuyến khích tiết kiệm và chuyển tiền tiết
kiệm đó sang đầu tư
- Nguồn nhân lực (L): Chất lượng cuả nguồn nhân lực thể hiện qua: trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng và kỷ luật lao động là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế
- Nguồn tài nguyên (R): Một quốc gia có các điều kiện tự nhiên thuận lợi và
có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào sẽ tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế dễ dàng hơn Nhưng trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay, việc sở hữu nguồn tài nguyên không quyết định một nước có thành công hay không
- Thay đổi và đổi mới công nghệ (T): Trong lịch sử, tăng trưởng rõ ràng không phải là một quá trình sao chép giản đơn, mà đó là một quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng đã đem lại một bước tiến xa về khả năng sản
xuất
Y = f(K,L,R,T)
Và thống nhất với kiểu phân tích của hàm sản xuất Cob-Douglas về sự tác động của các yếu tố đến tăng trưởng
Trang 2625
Y = T K L Rα β γ
g = t + αk + βl + γr
Trong đó:
g : tốc độ tăng trưởng của GDP
k, l, r : tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào
t : phần dư còn lại, phản ảnh tác động của khoa học, công nghệ
Samuelson gọi những yếu tố này là nguồn gốc của sự tăng trưởng Dựa vào
số liệu nghiên cứu ở Mỹ trong khoảng thời gian 1948-1981 ông đưa ra nhận xét:
"Khoảng 1/3 mức tăng sản lượng ở Mỹ là do tác động của ngồn nhân lực và vốn, 2/3 còn lại có thể quy cho giáo dục, đổi mới, hiệu quả kinh tế theo quy mô, tiến bộ khoa học và những yếu tố khác"
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cũng thống nhất với quan điểm tân cổ điển về mối quan hệ giữa các yếu tố Các nhà kinh doanh có thể lựa chọn kỹ thuật
sử dụng nhiều vốn hoặc kỹ thuật sử dụng nhiều lao động Và do đó, lý thuyết này
cũng thống nhất với mô hình Harrod - Domar về vai trò của vốn đầu tư với tăng
trưởng kinh tế Samuelson cho rằng một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là kỹ thuật công nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng
vốn lớn Do đó, vốn là cơ sở để phát huy tác dụng của các yếu tố khác, vốn là cơ
sở để tạo ra việc làm, để có công nghệ tiên tiến Vì vậy, trong tính toán ngày nay,
hệ số ICOR vẫn được coi là cơ sở để xác định tỷ lệ đầu tư cần thiết phù hợp với
tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trang 27Các lực lượng hướng dẫn tổng cầu bao gồm các nhân tố như mức giá, thu
nhập của nhân dân, dự kiến về tương lai cũng như các biến cố về chính sách như thuế khóa, chi tiêu của Chính phủ, lượng cung tiền,…
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế Sự tác động qua lại giữa tổng mức cung và
tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm - tỷ lệ thất nghiệp,
mức giá - tỷ lệ lạm phát, đó là cơ sở để giải quyết ba vấn đề cơ bản của nền kinh
tế
Mặt khác, một chiều hướng nổi bật trong lịch sử hiện đại là vai trò ngày càng
tăng của Chính phủ trong đời sống kinh tế Việc mở rộng nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước không chỉ vì thị trường có những khuyết tật của nó mà vì xã hội đặt ra mục tiêu mà thị trường dù có hoạt động tốt
cũng không thể nào đáp ứng được
Theo Samuelson, trong nền kinh tế hổn hợp hiện đại, Chính phủ có bốn chức
năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ pháp luật, xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ
mô, tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế, thiết lập các chương trình tác động tới việc phân phối thu nhập
Theo Samuelson, Chính phủ cần tạo ra môi trường ổn định để cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, một cách thuận
lợi Chính phủ cũng cần đưa ra những định hướng cơ bản về phát triển kinh tế và
Trang 2827
những hướng ưu tiên cần thiết cho từng thời kỳ và sử dụng các công cụ như thuế quan, chương trình tín dụng, trợ giá để hướng dẫn các ngành, các doanh nghiệp
hoạt động Chính phủ thường xuyên tìm cách duy trì công ăn việc làm ở mức cao
bằng cách đưa ra các chính sách thế, chi tiêu, và tiền tệ hợp lý
Đồng thời, Chính phủ khuyến khích một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế vũng chắc,
kiểm soát lạm phát và giảm ô nhiễm môi trường Chính phủ thực hiện phân phối
lại thu nhập của cải giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình thông qua thuế thu
nhập, thuế tài sản và những biện pháp khác Chính phủ cũng thực hiện các hoạt động phúc lợi công cộng như cung cấp phúc lợi cho người già, người tàn tật và
những người thất nghiệp
Vấn đề tăng trưởng kinh tế đối với các nuớc đang phát triển là yêu cầu cấp bách, nên các nước đều tìm các giải pháp để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nhưng được các nhà kinh tế cảnh báo là không thể để cho nền kinh tế tăng trưởng nóng
Tăng trưởng nóng là tăng trưởng tương đối cao so với tình trạng kinh tế của
một nước, tạo được sự bứt phá lớn về kinh tế, nhưng phải trả giá đắt về việc làm
cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường
Điều rất dễ nhận thấy và không thể bác bỏ là: hệ thống kinh tế và hệ thống môi trường sinh thái không dung hoà nhau mà bộc lộ những mâu thuẫn mang tính sinh tồn ngày càng trở nên rất rõ nét trong sự phát triển của xã hội hiện đại Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là để làm kinh tế và đạt bằng được các mục tiêu kinh tế, các mối liên quan về môi trường sinh thái đã bị bỏ qua, thiếu sự tôn trọng khi ứng dụng khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật Đối với các nước đang phát triển, nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò rất to lớn, đóng góp đáng kể vào tỉ lệ tăng trưởng kinh tế Song, nếu khai thác nguồn tài nguyên này một cách quá mức, dẫn đến hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường gia tăng Đó chính là hậu quả lớn nhất do tăng trưởng kinh tế mà không quan tâm bảo vệ môi trường Môi trường bị hủy diệt chính là mặt trái của
Trang 2928
tăng trưởng, hay nói cách khác tăng trưởng và cái giá cuả môi trường có quan hệ
với nhau Một cảnh báo về môi trường bị huỷ hoại:
đồng ý rằng đó là những mục tiêu mong muốn Nhưng chúng ta sẵn sàng trả bao
đe doạ phá hoại mạng lưới phức tạp cuả hệ sinh thái tự nhiên, các hậu quả vô tình
Chắc chắn tăng trưởng kinh tế phải trả giá cho môi trường nhưng đừng để trả giá quá đắt mà phải chú trọng và đi đến tăng trưởng xanh, tức duy trì sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo tính bền vững của môi trường
Một bài học cho chúng ta hiện nay là mặc dù yêu cầu tăng trưởng kinh tế cuả đất nước là cấp bách nhưng không vì thế mà chấp nhận đầu tư bằng mọi giá, mà
Trang 3029
có những đặc trưng cơ bản:
Nhật Bản đã thực hiện chính sách tài chính và tiền tệ nhằm mục đích duy
nhất là tăng trưởng kinh tế Thể hiện:
- V ề tài chính :
Chi tiêu ngân sách triệt để tiết kiệm, Chính phủ thực hiện nguyên tắc "chỉ được phép chi trong những khỏan thu" đã làm cho thu chi cân bằng và thậm chí ngân sách thặng dư Khi tăng trưởng kinh tế cao làm chi ngân sách thâm hụt, Chính phủ chọn phương pháp phát hành công trái nhằm vay nợ để tài trợ cho khu
vực sản xuất kinh doanh
Sử dụng công cụ thuế nhằm kích thích đầu tư và đẩy nhanh tích lũy Trong
thời gian này, thuế trực thu tăng nhanh và thuế gián thu giảm mạnh, qua đó Chính
phủ đã kích thích tiêu dùng, mở rộng thị trường và thúc đẩy sản xuất
Đầu tư tài chính và chương trình cho vay (FILP) được Chính phủ sử dụng
hết sức linh họat và mềm dẻo Thông qua FILP và các văn phòng, vốn ủy thác của
nó mà Chính phủ kiểm sóat một cách trực tiếp hơn đối với việc phân phối tín dụng trong hệ thống tài chính FILP được Chính phủ sử dụng như một ngân sách thứ hai
và thông qua đó mà Chính phủ điều hành vĩ mô một cách nhanh chóng, hiệu quả
và kịp thời
- V ề tiền tệ:
Nhật Bản đã tạo ra được một hệ thống tài chính gián tiếp dựa trên cơ sở tín
dụng, cơ chế của Chính phủ kiểm sóat việc phân phối tín dụng có lãi suất thấp
"dưới mức cân bằng" được các ngân hàng phân bổ cho các quỹ tín dụng trước hết thông qua sự hướng dẫn của Bộ Tài chính Do đó, Bộ Tài chính đã thực hiện được
việc phân phối các nguồn vốn cho các ngành công nghiệp ưu tiên
+ Nhật không phụ thuộc vào vốn bên ngòai, thực hiện việc kiểm sóat cũng
như quản lý rất chặt chẽ nguồn vốn đó Tìm kiếm công nghệ và bí quyết sản xuất
Trang 3130
thông qua các vụ đầu tư nước ngòai
Chính phủ Nhật Bản quản lý vốn nước ngòai chặt chẽ theo từng bước, quy định thống nhất thủ tục phê duyệt sử dụng vốn nước ngòai và xây dựng bộ máy
quản lý vốn nuớc ngoài vững mạnh Lâp hội đồng thẩm xét vốn nước ngoài, và quan tâm đến tính bảo hộ các doanh nghiệp trong nước
+ Đầu tư trong nước và cơ cấu ngành hiệu quả:
Nhật Bản là một trong những nước điều chỉnh và bố trí cơ cấu ngành kinh tế khá thành công Để kích thích việc chuyển đổi họat động kinh doanh cho đúng
hướng và kịp thời, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một lọat giải pháp giúp các doanh nghiệp thay đổi hướng kinh doanh như: hỗ trợ tài chính, giảm miễn thuế, giúp đào tạo lại,…Qua đó mà nhiều nhà kinh doanh đã tránh được sự phá sản, nền kinh tế tiếp tục ổn định và phát triển Trong suốt thời kỳ tăng trưởng nhanh, Nhật
Bản xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư
+ Lương thấp nhưng Nhật Bản lại có được tỷ lệ tiết kiệm cao là một trong
những đặc điểm nổi trội của nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn này
Tiền lương thấp đã tạo ra lợi thế cạnh tranh hết sức ghê gớm của các công ty
Nhật Bản trên thị trường thế giới và là nguồn tích lũy hết sức quan trọng
Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các gia đình Nhật thường chi tiêu trong các khỏan tiền lương và để dành tiền thưởng Thu nhập dần tăng lên làm cho ngân sách của các gia đình thặng dư, số tiền đó được chuyển cho các tổ chức tài chính trung gian dưới hình thức tiết kiệm Nhờ có tỷ lệ tiết kiệm thường xuyên
tăng lên đã tạo ra nguồn vốn hết sức quan trọng, tài trợ cho khu vực sản xuất kinh doanh
Những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những quốc gia đã phát triển
mạnh nhất hình thức huy động vốn đầu tư tư nhân thông qua mô hình hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân (Public Private Partnership - PPP) Tại Nhật Bản, một hiệp
Trang 3231
hội các nhà đầu tư theo mô hình này đã được thiết lập từ đầu năm 2006 với hơn 50 thành viên bao gồm các nhà đầu tư, ngân hàng và các nhà thầu hàng đầu của nước này Hiệp hội này tham gia vào việc tổ chức các cuộc trao đổi cấp Chính phủ giữa
Nhật Bản và các nước khác để tìm kiếm các cơ hội đầu tư Theo kinh nghiệm của
nước này, có ít nhất hai lĩnh vực mà mô hình PPP có thể phát huy hiệu quả, đó là các dự án không thể hoặc khó áp dụng phương pháp cổ phần hóa và các dự án mà nhà nước không thể tham gia trực tiếp Cụ thể như các dự án về sản xuất và phân
phối điện, đường cao tốc, giao thông đô thị, dịch vụ cảng, cấp nước và các dịch vụ công cộng Hiệu quả mà mô hình này đem lại là giảm chi phí, giảm rủi ro và tạo ra được môi trường cạnh tranh cao Và Nhật Bản cũng đã rất thành công trong phát triển ngành công nghiệp điện và sự hợp tác này đã đóng vai trò quan trọng trong
suốt giai đoạn tăng trưởng cao của nền kinh tế Nhật Nhật Bản thực hiện mô hình này ở các lĩnh vực xây dựng cơ bản và cơ sở hạ tầng
1.6.1.2 Ở Thái Lan:
Ngành nông nghiệp của Thái Lan chiếm vị trí rất quan trọng đối với đất
nước này kể cả về lao động hoạt động, đóng góp cho GDP và thu ngoại tệ từ xuất
khẩu Là một nước có khá nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, nhưng Thái Lan
đã sớm có những nhận thức đúng đắn về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và
đã tận dụng nó để phát triển đất nước Trong giai đoạn 1997 - 1998, nền kinh tế Thái Lan ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khung hoảng tài chính châu Á Sau đó, nền kinh tế Thái Lan đi vào giai đoạn hồi phục Ngành nông nghiệp Thái Lan đã có sự
tăng trưởng trở lại tuy không đạt như giai đoạn trước Cùng với quá trình khôi
phục và phát triển trở lại của nền kinh tế, thì nền kinh tế Thái Lan cũng đã phát triển hơn, và trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế
giới
Thái Lan rất có kinh nghiệm trong việc thu hút vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp, có những chính sách ưu đãi thiết thực như khuyến khích ưu đãi về thuế
Trang 3332
nhập khẩu đối với các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết
bị để thực hiện dự án mà được cơ quan quản lý đầu tư công nhận là thuộc loại thiết
bị được khuyến khích đầu tư Riêng đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc
biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu, được miến hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm Đối với các dự án đầu tư và các lĩnh vực như
trồng lúa, trồng trọt, làm vườn, chăn nuôi gia súc, các dự án về khai thác lâm sản,
hải sản, khai thác muối… trong lãnh thổ Thái Lan thì có biện pháp hạn chế chặt
chẽ, chỉ cho phép đầu tư đối với những dự án được hội đồng đầu tư cho phép, trong những dự án này cũng chỉ cho phép với hình thức liên doanh và các nhà đầu
tư nước ngoài không được nắm phần sở hữu đa số Nguyên nhân có đượcđiều đó
là do Thái Lan đã biết định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việc khai thác đặc sản của từng vùng thậm chí cả những vùng khó khăn nhất
Ngoài chính sách đầu tư nước ngoài cởi mở, còn có sự khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực tư nhân Một số dịch vụ nhất định như phát điện, giao thông vận tải thuộc sở hữu Nhà nước và do Nhà nước vận hành nhưng chính phủ đang xem xét
việc tư hữu hóa các lĩnh vực này ngay sau khi khủng hoảng tài chính
Thái Lan đã thu hút và sử dụng tốt nguồn vốn FDI để thúc đẩy phát triển nông nghiệp
1.6.1.3 Ở Hàn Quốc:
Trước năm 1960, Hàn Quốc gặp nhiều khó khăn như nạn nghèo đói, tỷ trọng nông nghiệp quá lớn trong toàn bộ nền kinh tế, năng suất rất thấp, mức chênh lệch
lớn giữa nông thôn và thành thị, dân số tăng nhanh, nạn thất nghiệp trầm trọng, sự
phụ thuộc nặng nề vào viện trợ nước ngoài và nhiều khó khăn khác nữa Nhưng từ
năm 1960, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia công nghiệp
mới trên thế giới
Bắt đầu tư những năm 1960, Hàn Quốc triển khai mạnh chiến lược công
Trang 3433
Có 6 yếu tố quan trọng mà các nhà kinh tế rút ra từ sự cất cánh thần kỳ của
nền kinh tế Hàn Quốc Trong 6 yếu tố đó, chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất
khẩu và chính sách tạo nguồn vốn được coi là hai yếu tố quyết định hàng đầu Trong chính sách tạo nguồn vốn, Hàn Quốc đã thực hiện các chính sách như:
Trước tình hình kinh tế trong nước kém phát triển, nguồn tích lũy từ nội bộ ít
ỏi, nguồn tài trợ từ bên ngoài giảm sút, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra chính sách đầu tư với 3 điểm chính:
+ Khuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong công nghiệp
+ Khuyến khích đầu tư nước ngoài
+ Khuyến khích du nhập kỹ thuật mới
Trong chính sách thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Hàn
Quốc đảm bảo cung cấp lao động giá rẻ, cho chuyển lợi nhuận về nước và chuyển
vốn tự do, không quốc hữu hóa tài sản, không hạn chế đầu tư vào bất kỳ ngành nào, tự do mậu dịch,…Việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính được xúc tiến
mạnh mẽ và có hiệu lực Chính vì vậy, mà Hàn Quốc là một quốc gia có môi
trường đầu tư hấp dẫn
Hàn Quốc sử dụng thuế như một công cụ kích thích đầu tư, mà cụ thể là đặt
ra các ưu đãi thuế đối với những ngành hàng xuất khẩu Thậm chí Chính phủ còn
trợ cấp cho những trường hợp kinh doanh gặp khó khăn
Trang 3534
Chính phủ đưa ra nhiều khoản thuế đánh vào tiêu dùng các hàng hóa xa xỉ và các dịch vụ giải trí, và thuế cao hơn từ thu nhập buôn bán bất động sản
Trong suốt thời kỳ 1953 đến 1976, lãi suất vay và lãi suất tiết kiệm luôn giữ
ở mức rất thấp so với lãi suất trên thị trường Nên luôn có rất nhiều nhu cầu cần vay vốn ngân hàng và việc ưu tiên tài trợ cho những ngành công nghiệp có ưu thế
đã trở thành một trong những công cụ mạnh mẽ để theo đuổi chiến lược tăng
trưởng và xuất khẩu Chính sách tiền tệ trong một hệ thống lãi suất thấp, nhất thiết
phải có hình thức quản lý trực tiếp với những chỉ số về số lượng hay giới hạn khá độc đoán
Các chính sách tài chính và tiền tệ của Hàn Quốc được xây dựng chủ yếu
dựa vào những mối quan tâm đến vấn đề lạm phát và tài trợ phát triển nên có tác
dụng kích thích công chúng gởi tiền tiết kiệm Kiểm soát việc cung cấp tiền tệ ít nhiều đều gắn với kiểm soát lạm phát, và tỷ lệ phân bổ tín dụng hợp lý cho các khu vực là công cụ quan trọng của việc tài trợ cho phát triển
Để đáp ứng yêu cầu về đầu tư ngày càng cao, Chính phủ đưa ra những đạo
luật mới để khuyến khích vốn cho vay và đầu tư của nước ngoài đưa vào Chính
phủ cũng đưa ra những điều kiện đảm bảo tái hoàn lại vốn và trả lãi cho các nhà đầu tư và cho vay nước ngòai Các cơ quan đảm bảo là Ngân hàng phát triển Hàn
quốc và Ngân hàng Hàn Quốc được Chính phủ cho phép giải quyết theo từng
trường hợp cụ thể Không có giới hạn đối với việc chuyển về nước những khoản lãi hay phần lợi nhuận cổ phần kinh doanh hợp pháp
Từ năm 1994, Hàn Quốc bắt đầu huy động vốn tư nhân theo mô hình PPP
với Luật Thúc đẩy vốn tư nhân đầu tư vốn cho toàn xã hội
Chương trình này nhằm xây dựng một chính sách nhất quán trong các lĩnh
Trang 36vực khác nhau Sau luật này, đã có khoảng 100 dự án hạ tầng được thực hiện theo hình thức PPP Tuy nhiên trong 4 năm đầu chỉ có 42 dự án được hoàn thành Do
sự thành công hạn chế, Chính phủ Hàn Quốc đã phải ban hành luật PPI (Private Participation in Infrastructure) mới vào tháng 2/1998 Luật này đã cải thiện hình
thức các hợp đồng, cách thức xử lý các dự án đơn lẻ, đồng thời quy định nghiên
cứu khả thi bắt buộc, hệ thống hỗ trợ rủi ro khác nhau và thiết lập hẳn một trung tâm PPP mang tên PICKO Ngoài ra, Hàn Quốc còn khuyến khích sự phát triển
của PPP bằng việc miễn giảm cả thuế VAT Trong nhiều hợp đồng, có thể đàm phán, Chính phủ có thể bảo lãnh doanh thu lên tới 90%, điều này khiến cho khu
vực tư nhân hầu như không có rủi ro doanh thu mà phần rủi ro này được chuyển sang phần lớn cho Chính phủ Chính vì vậy, tốc độ phát triển của các dự án PPP tăng lên nhanh chóng
1.6.2 Ở những vùng kinh tế trọng điểm trong nước
1.6.2.1 Vùng kinh t ế Đông Nam Bộ:
Vùng kinh tế Đông Nam bộ bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh,
Bình Dương
Vùng Đông Nam Bộ có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi cùng với những thành
quả phát triển đã đạt được tạo ra lợi thế so sánh ở mức hàng đầu của cả nước, vùng Đông Nam Bộ có điều kiện thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn hơn các vùng khác; nằm trên các trục giao thông quan trọng của quốc tế và khu vực, có nhiều
cửa ngõ ra vào, có nhiều khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để đạt
nhịp độ tăng trưởng cao Đông Nam Bộ là vùng đã đạt trình độ phát triển kinh tế
tương đối cao hơn và vượt trước nhiều mặt so vói các vùng khác trong cả nước Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm lớn về kinh tế, công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế lớn của cả
nước, có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề khá, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ đang đóng góp tích cực cho sự phát triển của cả
35
Trang 37khu vực phía Nam Đồng thời có hệ thống đô thị, các khu công nghiệp đang trong quá trình phát triển mạnh Vũng Tàu là thành phố cảng và dịch vụ nằm ở "mặt
tiền Duyên Hải" phía Nam, là cầu nối và "cửa ngõ" lớn giao thương với thế giới Thành phố Biên Hoà và khu vực dọc theo quốc lộ 51, Thị xã Thủ Dầu Một và khu vực Nam Sông Bé có điều kiện rất thuận lợi để phát triển công nghiệp Đông Nam Bộ lại có trục đường giao thông xuyên Á ra biển và tiếp giáp với khu vực các nước Đông Nam Á đang phát triển năng động
Thời gian qua, vùng Đông Nam Bộ đạt được thành tựu to lớn trong thu hút
vốn đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu trong cả nước về thu hút vốn, nhất
là vốn FDI Năm 2007, vốn đầu tư phát triển của Thành phố là 67.452 tỷ đồng, trong đó: vốn NSNN là 10.756, vốn ngoài nhà nước là 43.072 tỷ đồng, vốn đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài là 14.261 tỷ đồng; tổng vốn huy động ước thực hiện
năm 2008 là 561.500 tỷ đồng, trong đó tiền gởi dân cư là 292.150 tỷ đồng; cho
thấy Thành phố huy động vốn ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng cho đầu tư phát triển là rất lớn Trong vùng Đông Nam Bộ, các địa phương như
Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương cũng thu hút vốn đầu tư rất tốt Như
tỉnh Bình Dương, đến tháng 1/2009, với 23 KCN đã hoạt động, thu hút 1.450 doanh nghiệp mới với gần 50.000 tỉ VN đồng; tổng số dự án là 1.288 với tổng
vốn trên 10 tỉ USD, tỉnh đã giải quyết việc làm cho trên 46.000 lao động
Tuy trong vùng Đông Nam Bộ, nhưng mỗi tỉnh có những thuận lợi và khó
khăn riêng Thành phố Hồ Chí Minh với những ưu thế của mình đã có những giải pháp thu hút vốn đầu tư hiệu quả, có 6 nhóm giải pháp thu hút vốn đầu tư, như: Nhóm giải pháp về quy hoạch (hoàn thành quy hoạch về đất đai, hoàn chỉnh quy
hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch), nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách (ban hành các văn bản hướng dẫn các nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp về lộ trình cam kết mở cửa đầu tư nước ngoài, ban hành các giải pháp cụ
thể để thu hút đầu tư nước ngoài cho các lĩnh vực ưu tiên như giáo dục - đào tạo,
y tế, quy hoạch đô thị, phối hợp đồng bộ các chính sách đất đai - đầu tư - tài chính - tín dụng, có chính sách riêng đối với từng tập đoàn đa quốc gia), nhóm
36
Trang 38giải pháp về xúc tiến đầu tư (đổi mới công tác xúc tiến đầu tư, ban hành quy chế
phối hợp giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch, chủ động tiếp
cận và hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng), nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ
tầng (tranh thủ nguồn vốn ngoài ngân sách để đầu tư phát triển hạ tầng), nhóm
giải pháp về lao động, tiền lương (đầu tư hệ thống các trường đào tạo nghề, điều
chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải cách chính sách về lao động, tiền lương), nhóm giải pháp về cải cách hành chính (đơn
giản và công khai quy trình, thủ tục hành chính, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, triển khai thực hiện tốt Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, phối hợp quản lý đầu tư nước ngoài giữa trung ương
và địa phương và giữa các Bộ, Sở, Ngành, UBND các quận, huyện có liên quan)
Tỉnh Bình Dương là tỉnh thành công trong thu hút vốn đầu tư, nhất là thu
hút nguồn vốn FDI, ngoài những giải pháp mang tính cơ bản, Bình Dương có cách riêng phù hợp, như:
- Chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp Các khu công nghiệp được quy hoạch hiện đại, có hạ tầng công nghiệp đồng bộ và hoàn chỉnh, có hệ
thống giao thông thuận lợi và kết nối
- Chính quyền tỉnh thể hiện sự trọng thị đối với các doanh nghiệp đến tìm
hiểu môi trường đầu tư tại Bình Dương
- Bình Dương hiểu rõ cách đi của mình, thu hút các dự án vốn nhỏ và trung bình, các dự án vốn nhỏ đã được thẩm định chắc chắn nên tỉ lệ giải ngân vốn rất
hiệu quả
1.6.2.2 Vùng kinh t ế Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH):
Trang 3938
Gồm 11 tỉnh và thành phố, đó là Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương,
Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thái Bình và Vĩnh Phúc
Trong vùng có thủ đô Hà Nội – là trung tâm văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là đầu mối giao thương bằng cả đường biển, đường
sắt và đường hàng không; có các cụm cảng biển quan trọng như cảng Hải Phòng,
cảng Cái Lân, các tuyến quốc lộ, đường sắt, đường sông toả đi các vùng khác trong cả nước và quốc tế Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ nằm giữa hai bộ phận lãnh thổ đồng bằng châu thổ sông Hồng và sườn núi Đông Bắc Do hoạt động kiến
tạo địa chất, một phần lãnh thổ của địa bàn (gồm Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên
và Hải Phòng) tích tụ phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình, dải đồng bằng nam Quảng Ninh đến Hải Phòng tích tụ phù sa sông và phù sa biển Vùng có bờ
biển dài 500 km, một số điểm có vịnh sâu kín gió, thuận lợi cho xây dựng cảng
nước sâu, tạo ra cửa ngõ thông thương và giao lưu quốc tế cho vùng Bắc bộ và cả
nước
ĐBSH rộng 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc, số dân của vùng là 14,8 triệu người, chiếm 19,4% dân số cả nước Mật độ dân số gấp gần 3 lần ĐBSCL Diện tích đất nông nghiệp chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của vùng ĐBSH là vựa lúa thứ 2 của cả nước (sau ĐBSCL), việc nuôi trồng thuỷ sản nước
ngọt, nước lợ, nước mặn đã được quan tâm phát triển
ĐBSH có nhiều điểm giống với ĐBSCL về điều kiện tự nhiên và một số nguồn lực về kinh tế Trong thu hút vốn đầu tư, ĐBSH cũng đã rất thành công và
nhờ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng của vùng đất này
Thành phố Hà Nội có đầu tư toàn xã hội năm 2009 ước đạt 128.700 tỷ đồng,
tăng 18,2% so với năm 2008 Mười một tháng của năm 2009 Hà Nội đã thu hút
281 dự án cả cấp mới và tăng vốn với vốn đầu tư đăng ký là 439,17 triệu USD
Trang 40Đối với các dự án ODA, khối giải ngân đến nay đạt khoảng 62% so với kế hoạch đầu năm Ước giải ngân cả năm đạt 155,55% kế hoạch giao
Thành phố Hà Nội đã và tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính;
tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp
luật trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư do thành phố ban hành, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để phát huy có hiệu quả trong việc cung cấp thông tin, văn
bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn các thủ tục hành chính trên cổng giao tiếp điện tử thành phố, trên website của các Sở để nâng cao hơn nữa sự hấp dẫn và thuận lợi của môi trường đầu tư để thu hút nguồn lực trong và ngoài nước phát triển kinh tế - xã hội thành phố.
Tỉnh Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng ĐBSH, Bắc Ninh cũng là tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật để phát triển mạnh công nghiệp Cùng với các yếu tố nội tại như lao động, truyền thống, văn hoá, lịch sử… đã hợp thành nguồn lực quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp
Bắc Ninh đặc biệt coi trọng công tác xúc tiến, thu hút đầu tư; xác định là nhiệm vụ trọng tâm quyết định sự thành công của mỗi khu công nghiệp (KCN)
Do vậy, công tác xúc tiến, thu hút đầu tư không chỉ dừng lại ở việc mời gọi nhà đầu tư theo định hướng, quy hoạch phát triển KCN mà còn được hỗ trợ, thúc đẩy
hoạt động triển khai dự án và mở rộng dự án sau cấp phép đầu tư
Bắc Ninh đã chuyển hướng xúc tiến đầu tư theo chuỗi (các tập đoàn lớn và
cụm các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN) để kéo theo nhiều nhà đầu tư thứ
cấp khác tạo giá trị gia tăng cao, thay thế hình thức xúc tiến đơn lẻ trước đây Tính đến nay Bắc Ninh thu hút được 345 dự án sản xuất kinh doanh với
tổng vốn đăng ký 2,81 tỷ USD, đạt 3,11 triệu USD/ha và 8,15 triệu USD/dự án
Việc xắp xếp các nhà đầu tư cũng được coi trọng, mỗi KCN được bố trí một vài
tập đoàn đầu tư có quy mô đầu tư lớn, công nghệ kỹ thuật cao, thương hiệu khu
39