1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu việt nam đến năm 2020

122 49 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung và phạm vi nghiên cứu Sau khi sơ lược về khung lý thuyết trái phiếu, thị trường trái phiếu, định nghĩa các loại trái phiếu đang phát hành tại Việt Nam, các yếu tố có tác động đ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TP.H ồ Chí Minh – Năm 2010

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

]]]]] ^^^^^

Chuyên Ngành: Kinh tế tài chính - Ngân Hàng

Mã số: 60.31.12

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S HỒ ĐÔNG

TP.H ồ Chí Minh – Năm 2010

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ

TR ƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020” là công trình

nghiên cứu của bản thân, được tích lũy trong quá trình học và nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, cùng với sự gợi ý và hướng dẫn của Thầy TS Hồ Đông

Tác giả luận văn

Bùi Th ị Minh Hường

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh T ế TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên c ứu

Chân thành cảm ơn các Thầy Cô Khoa Sau đại học đã tham gia giảng dạy chương trình Cao học trong thời gian qua

Chân thành c ảm ơn Thầy T.S Hồ Đông đã tận tình hướng dẫn, những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân tr ọng cảm ơn

Bùi Th ị Minh Hường

Trang 5

DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam CSTT : Chính sách tiền tệ

CTCK : Công ty chứng khoán DNNN : Doanh nghiệp nhà nước DNVN : Doanh nghịêp Việt Nam GTGD : Giá trị giao dịch

GTNY : Giá trị niêm yết HASTC : Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội HOSE : Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh KBNN : Kho bạc Nhà nước

KLGD : Khối lượng giao dịch KLNY : Khối lượng niêm yết NĐTNN : Nhà đầu tư nước ngoài NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTM : Ngân hàng thương mại NHTW : Ngân hàng trung ương NSNN : Ngân sách nhà nước TMCP : Thương mại cổ phần TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TPCP : Trái phiếu Chính phủ TPCQĐP : Trái phiếu chính quyền địa phương TPDN : Trái phiếu doanh nghiệp

TPQT : Trái phiếu quốc tế TTCK : Thị trường chứng khoán TTTP : Thị trường trái phiếu VDB : Ngân hàng Phát triển Việt Nam UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước

Trang 6

DANH M ỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng bi ểu

Bảng 1.1 : Cơ cấu thị trường trái phiếu của Thái Lan từ năm 2005-2007

Bảng 1.2: Cơ cấu các loại trái phiếu lưu hành ở Hàn Quốc (nghìn tỷ KRW)

Bảng 1.3: Cơ cấu thị trường trái phiếu của Nhật Bản từ năm 2005-2007

Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn TPCP từ năm 2000 đến 2005

Bảng 2.2: Kết quả đấu thầu TPCP năm 2009 phân theo kỳ hạn tại HASTC

Bảng 2.3: Kết quả phát hành TPCP thông qua bảo lãnh từ 2006-2010

Bảng 2.4: Kết quả huy động vốn TPCP từ năm 2006 -2010

Bảng 2.5: Thống kê tình hình giao dịch TPCP từ năm 2005 đến năm 2009

Bảng 2.6: Cơ cấu thành viên giao dịch TPCP từ 2005 – 2010

Bảng 2.7 : Tình hình phát hành trái phiếu đô thị TPHCM từ 2003-2007

Bảng 2.8 : Tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp từ năm 2005-2010

Bảng 3.1: Xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức quốc tế dành cho Việt Nam

Hình vẽ

Hình 1.1 : Cấu trúc lãi suất dạng thông thường

Hình 1.2 : Cấu trúc lãi suất dạng dốc

Hình 1.3 : Cấu trúc lãi suất dạng đảo ngược

Hình 1.4 : Cấu trúc lãi suất dạng phẳng

Hình 2.1 : Lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn năm 2008 Hình 2.2:Cấu trúc kỳ hạn lãi suất của Việt Nam - trái phiếu kỳ hạn 2 năm và 10 năm Hình 2.3: Giá trị trái phiếu chính quyền địa phương phát hành từ 2003-2007

Hình 2.4: Cơ cấu thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2009

Trang 7

M ỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I

NH ỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 1

1.1 TRÁI PHIẾU 1

1.1.1 Khái niệm về trái phiếu 1

1.1.2 Phân loại trái phiếu 1

1.1.2.1 Theo đối tượng phát hành trái phiếu 1

1.1.2.2 Căn cứ vào việc có ghi danh hay không 4

1.1.2.3 Theo thời gian đáo hạn 5

1.1.2.4 Theo phạm vi lưu thông 5

1.1.2.5 Theo phương thức trả lãi 5

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu 6

1.2 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 7

1.2.1 Khái niệm thị trường trái phiếu 7

1.2.2 Đặc điểm thị trường trái phiếu 7

1.2.3 Phân loại thị trường trái phiếu 8

1.2.3.1 Thị trường sơ cấp 8

1.2.3.2 Thị trường thứ cấp 8

1.2.4 Vai trò của thị trường trái phiếu 9

1.2.5 Các nhân tố góp phần hình thành TTTP 11

1.2.5.1 Hành lang pháp lý 11

1.2.5.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin 12

1.2.5.3 Hàng hóa trên thị trường trái phiếu 12

1.2.5.4 Các chủ thể tham gia thị trường 13

1.2.5.5 Các công cụ điều hành chính sách vĩ mô của chính phủ 15

1.2.5.6 Tổ chức định mức tín nhiệm 16

1.3 CẤU TRÚC KỲ HẠN LÃI SUẤT 16

Trang 8

1.3.1 Dạng thông thường 17

1.3.2 Dạng dốc 17

1.3.3 Dạng đảo ngược 18

1.3.4 Dạng phẳng 18

1.4 RỦI RO CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 19

1.4.1 Rủi ro lãi suất 19

1.4.2 Rủi ro thanh toán 20

1.4.3 Rủi ro do lạm phát 20

1.4.4 Rủi ro tỷ giá hối đoái 21

1.4.5 Rủi ro tái đầu tư 21

1.4.6 Rủi ro thanh khoản 21

1.5 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 22

1.5.1 Khái quát thị trường trái phiếu một số nước trên thế giới 22

1.5.1.1 Thị trường trái phiếu Thái Lan 22

1.5.1.2 Thị trường trái phiếu Hàn Quốc 23

1.5.1.3 Thị trường trái phiếu Nhật Bản 24

1.5.1.4 Thị trường trái phiếu Mỹ 25

1.5.2 Một số bài học và kinh nghiệm cho sự phát triển TTTP Việt Nam 26

Kết luận chương 1 28

CH ƯƠNG II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 29

2.1 QUÁ TRÌNH VẬN HÀNH VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TTTP 29

2.2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 32

2.2.1 Thực trạng kinh tế vĩ mô 32

2.2.2 Khái quát về thị trường trái phiếu Việt Nam hiện nay 33

2.2.3 Thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam 35

2.2.3.1 Tình hình phát hành TPCP 35

2.2.3.2 Tình hình giao dịch TPCP 45

2.2.3.3 Lãi suất và cấu trúc kỳ hạn lãi suất 48

2.2.4 Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương 50

Trang 9

2.2.5 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp 54

2.2.6 Thị trường trái phiếu quốc tế 63

2.2.6.1 Trái phiếu quốc tế do chính phủ phát hành 63

2.2.6.2 Trái phiếu quốc tế do doanh nghiệp phát hành 64

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 66

2.3.1 Những kết quả đạt được 66

2.3.1.1 Đối với trái phiếu chính phủ 68

2.3.1.2 Đối với trái phiếu chính quyền địa phương 69

2.3.1.3 Đối với trái phiếu doanh nghiệp 70

2.3.1.4 Đối với trái phiếu quốc tế 70

2.3.2 Nguyên nhân khiến TTTP Việt Nam chưa phát triển 71

2.3.2.1 Hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh 71

2.3.2.2 Quy mô nhỏ, thanh khoản thấp 72

2.3.2.3 Hệ thống cung cấp thông tin chưa đầy đủ 73

2.3.2.4 Chưa có tổ chức định mức tín nhiệm chuyên nghiệp 73

2.3.2.5 Hàng hóa chưa thật sự chuẩn hóa 74

2.3.2.6 Thiếu đường cong lãi suất chuẩn 74

2.3.2.7 Nghiệp vụ Repo trái phiếu còn hạn chế 75

2.3.2.8 Chưa thiết lập được các nhà tạo lập thị trường 75

2.3.2.9 TPDN chưa thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư 75

Kết luận chương 2 77

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 78

3.1 Định hướng phát triển TTTP Việt Nam 78

3.2 Triển vọng TTTP Việt Nam trong thời gian tới 78

3.2.1 Sự cần thiết để tiếp tục huy động vốn qua phát hành trái phiếu 79

3.2.2 Cấu trúc kỳ hạn lãi suất của Việt Nam trong thời gian tới 80

3.2.3 Về tính thanh khoản của TTTP 80

3.2.4 Triển vọng xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam 82

Trang 10

3.2.5 Điều hành CSTT của NHNN trong thời gian tới 83

3.2.5 Điều hành CSTK của Chính phủ trong thời gian tới 84

3.3 Các giải pháp phát triển TTTP Việt Nam 85

3.3.1 Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ 87

3.3.2 Phát triển thị trường trái phiếu Chính quyền địa phương 91

3.3.3 Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp 94

3.3.4 Phát triển thị trường trái phiếu quốc tế 97

3.3.5 Một số giải pháp khác 99

Kết luận chương 3 101

KẾT LUẬN CHUNG 102

ĐỀ XUẤT CHO HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi mà việc vay vốn tại ngân hàng vẫn còn dễ dàng và thị trường cổ phiếu đang sôi động, thì người ta có vẻ ít quan tâm hơn đến việc phát triển một thị trường trái phiếu hiệu quả Kinh nghiệm từ các nước đã phát triển thị trường trái phiếu chỉ ra rằng,

thị trường trái phiếu là thị trường hỗ trợ vốn tốt nhất cho nền kinh tế cũng như tái cấu trúc nợ, đồng thời thị trường trái phiếu có thể “san sẻ” một phần rủi ro nếu thị trường tài chính có nguy cơ đổ vỡ

Thời gian qua, Việt Nam đã có những bước đi chuyển mình nhằm hòa nhập với

nền kinh tế khu vực và thế giới, bước đầu xây dựng được một thị trường trái phiếu chuyên biệt, hình thành và phát triển song song cùng với thị trường cổ phiếu Hàng

loạt chính sách tài chính của Việt Nam đã được bổ sung, sửa đổi kịp thời góp phần tích

cực đưa thị trường trái phiếu Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn nhất do di chứng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua để lại Hành lang pháp lý nhằm hỗ trợ hoạt động thị trường cũng dần được cải thiện, bước đầu đạt được nhiều kết quả khả quan Những chuyển biến tích cực từ thị trường này đã góp phần hình thành nên một thị

trường chứng khoán với hàng hóa đa dạng hơn

Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, thị trường trái phiếu đã chứng kiến nhiều bước “thăng trầm” và thị trường vốn này có chiều hướng suy giảm trong thời gian qua

thể hiện qua tỷ lệ huy động thành công thấp và tiếp tục suy giảm mạnh theo từng năm Qua tìm hiểu thực trạng, tác giả nhận thấy vẫn còn tồn đọng nhiều nguyên nhân khiến cho thị trường này chưa phát triển, chưa phát huy hết tính hiệu quả của nó trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế Thị trường trái phiếu là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng không những cho Chính phủ mà còn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, thị trường trái phiếu là thị trường hết sức tiềm năng, cần có cơ chế, chính sách để đẩy mạnh, phát triển bền vững thị trường này trong tương lai

Vì vậy, xuất phát từ thực tiễn trên tác giả đã chọn đề tài “Giải pháp phát triển

th ị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020”

2 M ục đích nghiên cứu

Vấn đề trọng tâm mà đề tài muốn giải quyết là trên cơ sở xem xét thực trạng, phân tích những mặt còn tồn tại, tìm hiểu nguyên nhân, xem xét và đưa ra các giải pháp phù

Trang 12

hợp để thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam Thông qua đó, giúp cho nền kinh tế huy động vốn hiệu quả hơn góp phần vào công cuộc phát triển nền kinh tế quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế

3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

Sau khi sơ lược về khung lý thuyết trái phiếu, thị trường trái phiếu, định nghĩa các

loại trái phiếu đang phát hành tại Việt Nam, các yếu tố có tác động đến giá trái phiếu, các nhân tố góp phần hình thành TTTP, cấu trúc kỳ hạn lãi suất, các loại rủi ro thường

gặp khi đầu tư vào trái phiếu, thị trường trái phiếu một số nước trên thế giới, từ đó rút

ra một số kinh nghiệm vận dụng tại Việt Nam Phần tiếp theo, tác giả tập trung vào nghiên cứu thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam bao gồm cơ sở pháp lý và thực

trạng vận hành của TTTP, thực trạng phát hành các loại trái phiếu, cấu trúc kỳ hạn lãi suất, nêu một số nguyên nhân khiến TTTP chưa phát triển Đồng thời, tác giả đã tiến hành đánh giá những mặt tích cực và những tồn tại của TTTP Việt Nam Phần sau cùng

là một số định hướng phát triển TTTP Việt Nam, triển vọng phát triển của TTTP VN

và đề xuất một số giải pháp phát triển trong thời gian tới

Về không gian, luận văn nghiên cứu trên địa bàn cả nước

Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của đề tài là hoạt động của thị trường trái phiếu

Việt Nam từ năm 2000 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các mục đích mà đề tài hướng đến, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê lịch sử và phương pháp tổng hợp số liệu để đánh giá, so sánh đối chiếu

từng năm về tình hình hoạt động của thị trường trái phiếu Việt Nam; vận dụng kinh nghiệm của các nước làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp, nhằm thúc đẩy TTTP Việt Nam vận động và phát triển

5 K ết cấu luận văn

Luận văn có 3 chương :

Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về trái phiếu và thị trường trái phiếu

Chương 2 : Thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam

Chương 3 : Các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

Trang 13

CH ƯƠNG 1 NHỮNG VẦN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRÁI PHIẾU

VÀ TH Ị TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 1.1 TRÁI PHIẾU

nó đáo hạn

1.1.2 PHÂN LOẠI TRÁI PHIẾU

Có nhiều cách để phân loại, nhưng cơ bản là theo các cách phân loại sau :

1.1.2.1 Phân loại theo đối tượng phát hành trái phiếu

™ Trái phi ếu chính phủ : hay còn gọi là trái phiếu phi rủi ro, là những trái phiếu

do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn

Trái phiếu chính phủ bao gồm các loại chủ yếu sau :

+ Tín phi ếu kho bạc : là loại giấy nợ do chính phủ phát hành có kỳ hạn dưới 1

năm để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN và là một trong những công cụ quan trọng để Ngân hàng Trung ương điều hành chính sách tiền tệ (Tại Việt Nam, tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính phát hành) Tín phiếu kho bạc thường có kỳ hạn dưới 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 9 tháng với một hay nhiều mức mệnh giá Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng (rủi ro phá sản)

+ Trái phi ếu Kho bạc : là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 01 năm trở

lên, do Kho bạc Nhà nước phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt của ngân

Trang 14

sách nhà nước theo dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định

+ Trái phi ếu công trình trung ương : là loại TPCP có kỳ hạn từ 01 năm trở

lên do Kho bạc Nhà nước phát hành, nhằm huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách trung ương,

đã ghi trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm

+ Trái phi ếu đầu tư : là loại TPCP, có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do các tổ

chức tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng được Thủ tướng Chính phủ

chỉ định phát hành nhằm huy động vốn để đầu tư theo chính sách của Chính phủ

+ Công trái xây d ựng Tổ quốc : do Chính phủ phát hành nhằm huy động

nguồn vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia

và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước

™ Trái phiếu Chính quyền địa phương : hay còn gọi là trái phiếu công trình, trái

phiếu đô thị, là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích

cụ thể, thường là để xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc

lợi công cộng Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành Tùy mục đích phát hành mà kỳ hạn trái phiếu có thể khác nhau nhưng phải lớn hơn 1 năm và có thể kéo dài đến 30 năm Ở Việt Nam, trái phiếu đô

thị do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh uỷ quyền cho Kho bạc Nhà nước hoặc tổ chức tài chính, tín dụng trên địa bàn phát hành, nhằm huy động vốn cho các dự án, công trình thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách địa phương Trái phiếu đô thị có thể

được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán

Trái phiếu đô thị rất đa dạng, thông thường có các loại như: trái phiếu doanh thu công nghiệp (Industrudial revenue bond), trái phiếu nghĩa vụ bắt buộc (Moral obligation bond), trái phiếu có thể hoàn trả (Refunding bond).Tuy nhiên, nhìn chung trái phiếu đô thị có thể chia làm 2 nhóm: trái phiếu nợ chung và trái phiếu doanh

thu

+ Trái phiếu nợ chung (General Obligation Bond – GO) là loại trái phiếu

Trang 15

được phát hành chủ yếu dựa trên “sự tin cậy” của nhà đầu tư đối với nhà phát hành Trái phiếu này thường được chính quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp nguồn tài chính cho việc cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng Do vậy, bên cạnh đảm bảo mức sinh lời hợp lý cho nhà đầu tư, trái phiếu loại này còn có ý nghĩa hỗ trợ Nhà nước thực hiện các dự án vì lợi ích công cộng Trái phiếu nợ chung được bảo đảm hoàn trả bằng ngân sách địa phương Lãi suất của trái phiếu này phụ thuộc vào kỳ hạn của trái phiếu và lãi suất ngân hàng nhưng thường thấp hơn so với các loại trái phiếu cùng kỳ hạn khác trên thị trường Bù lại, nhà đầu tư trái phiếu được miễn thuế thu nhập đối với khoản thu nhập từ trái phiếu

+ Trái phiếu doanh thu (Revenue Bond) là loại trái phiếu được phát hành để

thu hút vốn đầu tư cho các dự án có sinh lời như các dự án về cầu đường có thu phí, các chương trình phát triển nhà ở, mở rộng bến cảng, sân bay…Mức lãi suất của trái phiếu doanh thu thường không cố định mà tùy thuộc vào hiệu quả đạt được từ các

dự án, công trình Để hấp dẫn nhà đầu tư, loại trái phiếu này thường có lãi suất cao,

nhưng kèm theo đó là rủi ro cao vì chúng thường không được bảo đảm bằng bất cứ nguồn nào khác ngoài thu nhập từ dự án, công trình

Tuy khác nhau ở phương thức bảo đảm trả nợ nhưng về bản chất cả hai loại trái phiếu đều là chứng khoán nợ trung và dài hạn, có tính thương mại, có bảo đảm

về pháp lý cao do được chính quyền các tỉnh, thành phố phát hành và thu nhập từ trái phiếu thường được miễn thuế thu nhập theo qui định của pháp luật

™ Trái phi ếu doanh nghiệp : hay còn gọi là trái phiếu công ty, là các trái phiếu do

các công ty phát hành để vay vốn trung và dài hạn để mở rộng quy mô sản xuất TPDN có đặc điểm chung là: Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty Nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và tiền lãi trái phiếu chính là phần chênh lệch giữa giá mua và mệnh giá Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu Có những điều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay TPDN bao gồm những loại sau:

Trang 16

+ Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế

chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể

+ Trái phi ếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng

tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó Cụ thể là:

+ Trái phi ếu có thể mua lại: cho phép người phát hành mua lại chứng khoán

trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn

+ Trái phi ếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền

bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn

+ Trái phi ếu có thể chuyển đổi: cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi

trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty

+ Trái phi ếu không thể chuyển đổi: là loại trái phiếu không có khả năng

chuyển đổi thành cổ phiếu

1.1.2.2 Phân loại căn cứ vào việc có ghi danh hay không ghi danh

™ Trái phi ếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua (trái chủ) cả

trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành Những trái phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và

Trang 17

mang đến ngân hàng nhận lãi Khi trái phiếu đến hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ đến ngân hàng để nhận lại khoản cho vay ban đầu (vốn gốc)

™ Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của người mua trên

chứng chỉ và trên sổ sách của người phát hành Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi Dạng ghi danh toàn bộ phổ biến hiện nay là hình thức ghi sổ, tức là quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính

1.1.2.3 Phân loại theo thời gian đáo hạn

™ Trái phiếu ngắn hạn : là loại trái phiếu có thời hạn dưới 5 năm

™ Trái phiếu trung hạn : là loại trái phiếu có thời hạn từ 5 đến 10 năm

™ Trái phiếu dài hạn : là loại trái phiếu có thời hạn trên 10 năm

™ Trái phiếu vô thời hạn : là loại trái phiếu mà trên đó người ta không ghi ngày đáo hạn

1.1.2.4 Phân loại theo phạm vi lưu thông

™ Trái phiếu quốc nội : loại trái phiếu được phát hành trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia

™ TPQT : là loại trái phiếu được phát hành bên ngoài lãnh thổ của một quốc gia

1.1.2.5 Phân loại theo phương thức trả lãi

™ Trái phi ếu chiết khấu hay còn gọi trái phiếu Zero coupon Trái phiếu chiết khấu

là loại trái phiếu mà người mua chỉ trả một số tiền nhỏ hơn mệnh giá (phần chênh lệch này chính là lãi trái phiếu) và khi đến hạn thanh toán, kho bạc sẽ trả cho người mua một số tiền bằng mệnh giá

™ Trái phi ếu được hưởng lãi định kỳ hay còn gọi trái phiếu Coupon là loại trái

phiếu mà người mua nó phải trả cho kho bạc một số tiền bằng mệnh giá, đổi lại

người mua sẽ nhận lợi tức định kỳ và khi đến hạn thanh toán họ sẽ nhận được số tiền bằng mệnh giá của trái phiếu

Trang 18

™ Trái phi ếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi tức

được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu

1.1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ TRÁI PHIẾU

Nói chung, giá thị trường của bất cứ loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc vào cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì quyết định giá trái phiếu chúng ta chỉ cần tìm hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu

™ Nhân t ố thứ nhất đó là khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu :

Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn

đề vốn Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn gốc của

người cung cấp trái phiếu Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của nhà phát hành, thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên TTCK

™ Nhân t ố thứ hai là thời gian đáo hạn:

Một trái phiếu có thời gian đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp

Ví dụ : một trái phiếu sẽ được thanh toán theo đúng mệnh giá vào cuối năm

thứ 10 kể từ ngày phát hành, nếu không có biến động xấu về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và lãi suất thị trường bình ổn, thì giá trái phiếu kể từ năm thứ 5 trở

đi sẽ có khuynh hướng càng cao so với các năm đầu tiên Trên thực tế người ta gọi

hiện tượng này là “ kéo giá tới thời hạn ”

™ Nhân t ố thứ ba là dự kiến về lạm phát:

Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả theo lãi trái phiếu chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng loại trừ lạm phát Dẫn đến kết quả là giá thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc tăng lãi cho các chứng khoán đó, phần lãi tăng này sẽ đền bù cho thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnh hưởng của lạm phát

Bên cạnh đó, sự vận động của giá trái phiếu với các thời hạn khác nhau sẽ vẽ nên một phác thảo về thị trường trái phiếu và khả năng diễn biến của lạm phát

™ Nhân t ố thứ tư là biến động lãi suất thị trường:

Trang 19

Lãi suất thị trường là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với đối với các trái phiếu đang tồn tại chắc chắn thay đổi Trong trường hợp này vốn sẽ chảy vào thị trường nào hứa hẹn lợi nhuận cao hơn Như vậy giá của trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm Nhìn khía cạnh khác nếu giá trái phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì việc tăng lãi suất ( Chính việc này làm giảm giá trái phiếu )

có thể coi là dấu hiệu của Chính phủ quyết định đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tiêu cực của việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực triển vọng lạm phát

được cải thiện

™ Và nhân t ố cuối cùng là sự thay đổi tỷ giá hối đoái:

Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán bằng nội tệ

hoặc ngoại tệ Ví dụ như đồng Đôla Mỹ có gía trị cao hơn so với đồng bảng Anh thì

sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng Đôla Mỹ

1.2 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1.2.1 KHÁI NIỆM

Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường chứng khoán, là nơi giao dịch và mua bán các loại trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này có thể là các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương hay trái phiếu doanh nghiệp Thị trường giao dịch trái phiếu có thể là thị trường giao dịch chính

thức hoặc có thể là thị trường giao dịch phi chính thức

1.2.2 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

™ Được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung

cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính;

™ Là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều tự do tham

gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán, mà giá

cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu;

Trang 20

™ Về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát hành

trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn

1.2.3 PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1.2.3.1 Thị trường sơ cấp (Primary market)

Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các trái phiếu mới phát hành Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc mua các trái phiếu mới phát hành

Đặc điểm của thị trường sơ cấp

™ Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho người phát hành Là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư

™ Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành…

™ Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất định, trong thời gian hạn định

1.2.3.2 Thị trường thứ cấp (Secondary market)

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành

Đặc điểm thị trường thứ cấp

Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc

về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không thuộc về nhà phát hành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu trên thị trường Thị trường

thứ cấp là một bộ phận quan trọng của TTTP, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp

Trang 21

1.2.4 VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1.2.4.1 Vai trò của TTTP đối với sự phát triển nền kinh tế :

™ TTTP là n ơi chính phủ có thể huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn để tài trợ cho các dự án trọng điểm của chính phủ

Chúng ta có thể nhận thấy rằng, TTTP có vai trò vô cùng quan trọng trong

việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là đối với các địa phương có tiềm lực kinh tế thì nhu cầu vốn để đầu tư cho các cơ sở hạ tầng đô thị, phát triển các khu dân cư, xây dựng bệnh viện… là rất lớn Nhu cầu vốn lớn này, một phần được giải quyết bằng nguồn ODA, số còn lại sẽ phải dựa vào những nguồn lực khác, trong đó phát hành trái phiếu là một kênh huy động vốn được chú trọng đặc biệt Nguồn vốn này là nguồn tài trợ có quy mô lớn và dài hạn, đảm bảo đủ nguồn lực cho các dự án

trọng điểm của chính phủ

™ Huy động vốn từ phát hành trái phiếu để cân đối thu chi ngân sách

Thông thường, một quốc gia khi đứng trước tình trạng bị thâm hụt ngân sách,

họ thường chọn cách phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt Tuy nhiên, biện pháp tài trợ bằng cách in tiền rất dễ để lại hậu quả khó lường, chẳng hạn như khó kiểm soát

khối lượng tiền trong lưu thông, gây ra lạm phát Qua phát hành trái phiếu, chính phủ có thể tập trung những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, tập trung thành nguồn vốn lớn bổ sung vào ngân sách Nhà nước Như vậy, huy động vốn qua phát hành trái phiếu là cách giải quyết thâm hụt ngân sách tỏ ra hữu hiệu hơn

™ Phát tri ển TTTP tạo điều kiện giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ

mô hiệu quả

Phát hành trái phiếu giúp chính phủ điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả bằng cách thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, tập trung thành lượng vốn lớn, tài trợ cho các dự án lớn của chính phủ, cũng như làm đa dạng nguồn vốn, giảm bớt các nguồn vốn vay viện trợ từ nước ngoài mà chính phủ phải cam kết theo các điều kiện từ phía nước cho vay

Ngoài ra, thông qua TTTP, ngân hàng trung ương có thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở Nếu NHTW cần rút bớt khối lượng tiền trong lưu thông về thì

Trang 22

NHTW sẽ tung lượng trái phiếu ra để bán và ngược lại sẽ tiến hành mua một lượng lớn trái phiếu về để bơm tiền vào lưu thông Mục đích của việc làm này là NHTW luôn muốn đảm bảo khối lượng tiền trong lưu thông hợp lý

™ TTTP là nơi giúp chính phủ hình thành đường cong lãi suất chuẩn làm lãi suất tham chiếu cho các công cụ nợ khác

Với đặc tính ít rủi ro và có tính thanh khoản cao hơn so với các công cụ nợ khác, lãi suất TPCP được xem là lãi suất chuẩn để hình thành nên đường cong lãi suất, dùng tham chiếu cho các công cụ tài chính khác trên thị trường Dựa trên đường cong lãi suất chuẩn, các nhà đầu tư có thể xác định được giá trái phiếu tại thời điểm đáo hạn, từ đó ra quyết định tiếp tục mua vào hay bán ra Còn đối với nhà phát hành thì dựa vào đường cong lãi suất có thể nhận biết chi phí vay của mình cao hay thấp, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí vay

1.2.4.2 Vai trò của TTTP đối với hoạt động của doanh nghiệp

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều cần đến vốn Nhờ

có nguồn vốn huy động được qua phát hành trái phiếu, mà doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động kinh doanh, gia tăng dòng tiền vào Ngoài ra, khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí rẻ hơn so với phát hành cổ phiếu hay vay vốn ngân hàng Bên cạnh đó, phát hành trái phiếu làm giảm áp lực vay vốn từ ngân hàng, cho phép doanh nghiệp huy động được một lượng vốn lớn mà không bị ràng buộc bởi các điều khoản tín dụng Bằng cách phát hành trái phiếu, doanh nghiệp có thể chủ động tiếp cận nguồn vốn vay với thời gian dài và rút ngắn thời gian huy động Thêm vào đó, để được phát hành trái phiếu ra

thị trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải công bố thông tin một cách minh bạch, điều này sẽ giúp làm tăng tính kỷ luật thị trường

1.2.4.3 Vai trò của TTTP đối với nhà đầu tư

TTTP cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, góp phần đa dạng hàng hóa trên thị trường, tạo điều kiện để cho các nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm tài chính phù hợp với danh mục đầu tư của mình nhằm tăng thêm lợi nhuận

và làm giảm thiểu rủi ro trên tổng tài sản

1.2.4.4 Vai trò của TTTP đối với thị trường vốn

Trang 23

Thị trường trái phiếu phát triển làm cho thị trường vốn hoàn thiện và đa dạng hơn Thị trường trái phiếu có quy mô và độ sâu để hỗ trợ tốt hơn nhu cầu vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường vững chắc mà nó dựa trên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu trong tương lai Thị trường trái phiếu thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn định của thị trường vốn

1.2.5 CÁC NHÂN TỐ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1.2.5.1 Hành lang pháp lý

Như chúng ta đã biết, tất cả các chủ thể tham gia trên TTCK với mục đích cuối cùng là mong muốn đạt được những lợi ích kinh tế nhất định Đối với tổ chức phát hành thì lợi ích kinh tế đó chính là việc huy động được một số vốn nhất định và

họ dùng số vốn huy động này cho các dự án và kế hoạch kinh doanh của mình, từ

đó nhằm tạo ra những giá trị lợi ích trong tương lai Đối với nhà đầu tư thì lợi ích kinh tế đó chính là việc họ kỳ vọng vào việc nhận được tỷ suất sinh lợi từ đồng vốn

mà họ bỏ ra cho việc đầu tư Đó có thể là trái tức hoặc cổ tức mà nhà đầu tư nhận được hay giá trị chênh lệch do nhà đầu tư tiến hành chuyển nhượng chứng khoán trên thị trường (capital gain) Đối với các tổ chức môi giới, trung gian phát hành và giao dịch thì lợi ích kinh tế chính là các loại phí mà họ thu của các tổ chức phát hành, nhà đầu tư hay các thành phần tham gia khác như phí bảo lãnh phát hành, phí đại lý phát hành, đại lý thanh toán, phí giao dịch hay phí môi giới… Ngoài ra, các tổ chức này còn đóng vai trò là các nhà đầu tư (với hình thức tự doanh) hay tổ chức phát hành nên họ có thể thụ hưởng được các lợi ích của tổ chức phát hành và nhà đầu tư nêu trên Đối với nền kinh tế hay thị trường chứng khoán nói chung thì lợi ích kinh tế chính là tổng các lợi ích nêu trên Với những lợi ích nhận được như trên, các hành vi tham gia giao dịch trên thị trường của các chủ thể đều mong muốn hướng tới siêu lợi nhuận Vì vậy, nếu không có hành lang pháp lý cùng với sự quản

lý của nhà nước nhằm khống chế các hành vi nói trên sẽ có nguy cơ gây xáo trộn thị trường Những văn bản pháp lý này quy định cho từng lĩnh vực riêng sẽ là mối ràng buộc các chủ thể phải tuân thủ theo các nguyên tắc thị trường, đảm bảo lợi ích của các bên tham gia thị trường, hạn chế được những rủi ro nhất định, tăng niềm tin

Trang 24

trong giới đầu tư nhất là đối với NĐTNN, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động ổn định

1.2.5.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin

Việc xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin phát triển Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của

thị trường trái phiếu vì đây là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, giao dịch của tất

cả các chủ thể tham gia trên thị trường, cung cấp thông tin kịp thời đến cho các nhà đầu tư Sự cần thiết để phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và nâng cao hiệu quả hoạt động trên TTTP, đó là :

+ Đảm bảo an ninh mạng, bảo mật dữ liệu của hệ thống công nghệ thông tin tại CTCK vì lợi ích của CTCK cũng như của các nhà đầu tư

+ Giúp cơ quan quản lý nhà nước và giám sát thị trường có thể thực hiện thanh tra, kiểm tra các thông tin một cách đầy đủ, chính xác

+ Đảm bảo tính tương thích giữa hệ thống công nghệ thông tin của CTCK với

hệ thống giao dịch chứng khoán của các TTGDCK

+ Tạo sự tin tưởng và động lực để các nhà đầu tư yên tâm tham gia thị

trường

Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo ra một thị trường trái phiếu công khai, minh bạch, cung cấp thông tin bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư, đáp ứng sự phát triển của TTTP, đáp ứng như cầu cấp thiết về an toàn hệ thống công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu giao dịch, thông tin giao dịch của nhà đầu tư, góp phần phát triển một thị trường vốn Việt Nam năng động, hội nhập

1.2.5.3 Hàng hóa trên thị trường trái phiếu

Hàng hoá trên TTTP chính là trái phiếu, mà chủ yếu là các loại sau : TPCP, TPDN, TPCQĐP và TPQT Các loại trái phiếu này đóng vai trò quan trọng trên

Trang 25

TTTP Dựa theo đặc điểm và tính chất của từng loại trái phiếu trên mà có cách phân loại khác nhau1

1.2.5.4 Các chủ thể tham gia thị trường

Sự tham gia của các chủ thể trên TTTP góp phần tạo nên một TTTP sôi động Các chủ thể tham gia TTTP cũng rất đa dạng, có thể chia thành bốn nhóm như sau:

™ Chủ thể phát hành: Là những người huy động vốn trên thị trường bằng cách

phát hành và bán các chứng khoán trên thị trường sơ cấp Các chủ thể này bao gồm: Chính phủ, chính quyền địa phương, các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là Chính phủ và các doanh nghiệp

Ch ủ thể phát hành là Chính phủ trung ương

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có nhu cầu huy động vốn để bù đắp thâm hụt ngân sách, đầu tư vào các dự án trọng điểm của quốc gia Ngoài ra, chính phủ có thể phát hành các loại tín phiếu như : tín phiếu kho bạc hay tín phiếu bắt

buộc để can thiệp vào thị trường tiền tệ hay thực hiện nghiệp vụ thị trường mở Chính phủ có thể tự đứng ra phát hành hoặc thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh phát hành cho doanh nghiệp hoặc chính quyền địa phương hoặc ủy thác cho các tổ chức phát hành như Kho bạc Nhà nước (KBNN), Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) Các phương thức phát hành TPCP chủ yếu hiện nay là : Đấu thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành

Ch ủ thể phát hành là doanh nghiệp

Khi có nhu cầu vốn để tăng quy mô hoạt động, đầu tư cho các dự án quan trọng của công ty hay tăng vốn điều lệ thì doanh nghiệp sẽ tiến hành phát hành trái phiếu, tùy theo tính chất, đặc điểm của doanh nghiệp và quyết định của lãnh đạo doanh nghiệp mà họ sẽ chọn loại trái phiếu nào sẽ được phát hành So với phát hành

cổ phiếu, phát hành trái phiếu có những ưu điểm vượt trội như sau :

+ Phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn Nếu doanh nghiệp có nhu cầu trên 1.000 tỷ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn vốn từ phát

1Xem định nghĩa từng loại trái phiếu ở mục 1.1.2 trang 1

Trang 26

phát hành trái phiếu dễ dàng hơn so với đi vay hay phát hành cổ phiếu

+ Khi doanh nghiệp muốn tăng vốn hoạt động, doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu thay vì phát hành thêm cổ phiếu, làm như vậy sẽ pha loãng quyền sở hữu của các cổ đông của công ty Phát hành trái phiếu chỉ là hành vi vay nợ trên thị trường và kết thúc nghĩa vụ trả nợ khi trái phiếu đáo hạn, nghĩa là không ảnh hưởng đến quyền lợi của trái chủ khi nắm giữ nó

+ So với phương thức huy động vốn qua kênh truyền thống là ngân hàng thì chi phí vay rẻ hơn rất nhiều (Hiện nay, nếu vay tín dụng với cùng loại kỳ hạn doanh nghiệp sẽ phải chịu mức lãi suất rất cao từ 16-19%/năm Trong khi phát hành trái phiếu doanh nghiệp chỉ ấn định lãi suất trong khung từ 10-12.5% Hoặc nếu phát hành cổ phiếu doanh nghiệp phải trả cổ tức hàng năm rất cao khoảng 12-15% đồng thời phải đảm bảo mức lợi nhuận sau thuế tối thiểu là 20%)

+ Cho phép doanh nghiệp có thể khai thác đòn bẩy tài chính và tận dụng các lợi thế về thuế Chi phí lãi trái phiếu tính trên số nợ vay mà công ty phải trả cho

người nắm giữ trái phiếu của công ty sẽ được trừ khỏi lợi nhuận của công ty trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Khi doanh nghiệp giải thể hay thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước cổ phiếu

™ Ch ủ thể đầu tư : Là những người có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và họ dùng

số vốn này đầu tư vào thị trường chứng khoán bằng cách mua vào các chứng khoán đang được phát hành và giao dịch trên thị trường nhằm thụ hưởng những khoản thu nhập trong tương lai Thu nhập trong tương lai có thể là thu nhập từ cổ tức, trái tức hoặc chênh lệch giá khi họ chuyển nhượng các chứng khoán trên thị trường Có thể phân loại chủ thể này thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức Nhà đầu tư cá nhân chính là các cá nhân hoặc nhóm cá nhân trong nền kinh tế, nhóm chủ thể này dùng nguồn thu nhập thường xuyên hay nguồn vốn tiết kiệm của mình để mua các chứng khoán Nhà đầu tư tổ chức chính là các tổ chức kinh tế trong xã hội

như các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các quỹ hưu bổng, quỹ hỗ tương…và họ có thể dùng vốn nhàn rỗi hay vốn đầu tư của mình

để mua các chứng khoán nhằm gia tăng thu nhập trong tương lai

Trang 27

™Ch ủ thể trung gian : Là những người có vai trò môi giới, tư vấn hay bảo lãnh

cho chủ thể phát hành ở thị trường sơ cấp, là người tư vấn và môi giới cho chủ thể đầu tư trên thị trường thứ cấp Ngoài ra, để trở thành chủ thể trung gian thì họ phải

là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán và lúc này ngoài vai trò nêu trên thì chủ thể trung gian còn được phép mua hay bán các chứng khoán trong danh mục đầu tư của mình, do đó lúc này họ còn đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường Chủ thể trung gian có thể chia làm hai loại: Nhà trung gian cá nhân (thể nhân) và tổ chức trung gian như các công ty chứng khoán

Ngoài các chủ thể tham gia thị trường đã đề cập trên đây, còn có cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan giám sát thị trường, sàn giao dịch chứng khoán và Hiệp hội TTTP

1.2.5.5 Các công cụ điều hành chính sách vĩ mô của Chính phủ

Để đảm bảo các hoạt động kinh tế diễn ra trên thị trường thì Chính phủ cần

có các công cụ nhất định Đó chính là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách hối đoái

™ M ục tiêu của chính sách tài khóa: CSTK là tổng hợp các chính sách, phương

thức huy động, sử dụng và phân bổ NSNN của Chính phủ trong một giai đoạn nhất định Mục tiêu của chính sách tài khóa là tăng thu nhập cho nền kinh tế, giải quyết việc làm, kiểm soát lạm phát trong ngắn hạn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Hai công cụ chủ yếu của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách tài khóa là chính sách chi tiêu của Chính phủ và chính sách thuế đối với nền kinh tế

™ M ục tiêu của chính sách tiền tệ: Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ

là tổng hợp các chính sách và phương thức của Chính phủ nhằm thay đổi lượng tiền trong nền kinh tế nhằm tác động đến lãi suất tiền tệ trên thị trường, từ đó tác động đến các mặt của nền kinh tế như đầu tư, tiết kiệm, tăng trưởng kinh tế, lạm phát…

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả và ổn định giá trị của đồng nội tệ, từ đó góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm trong

xã hội Các công cụ của Chính phủ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ là: công cụ tái

cấp vốn, lãi suất tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở

Trang 28

Mục tiêu của chính sách hối đoái: Nguyên lý cơ bản của chính sách này là

việc Chính phủ thông qua các nghiệp vụ ngoại hối nhằm tác động đến quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường, từ đó tác động đến tỷ giá hối đoái Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái tăng, lúc này Chính phủ sẽ tung lượng ngoại hối ra bán nhằm tăng cung ngoại hối trên thị trường, từ đó góp phần làm cho tỷ giá hối đoái trên thị trường giảm xuống và ngược lại làm cho tỷ giá hối đoái trên thị trường tăng lên

1.2.5.6 Tổ chức định mức tín nhiệm (Credit Ratings)

Xếp hạng tín nhiệm thực chất là việc đánh giá chất lượng, mức độ tin cậy,

khả năng thanh toán của các tổ chức phát hành chứng khoán nợ với mục đích là cung cấp thông tin kịp thời đến nhà đầu tư, giảm được tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường, giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư Từ đó, nhà đầu tư căn cứ trên

những thông tin do tổ chức xếp hạng tín nhiệm cung cấp mà có thể đưa ra quyết định có nên đầu tư vào trái phiếu do tổ chức đó phát hành hay không

Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm căn cứ vào tình hình hoạt động của doanh nghiệp hay triển vọng phát triển kinh tế đất nước (bao gồm việc thanh toán các khoản nợ đến hạn và chưa đến hạn, nguy cơ vỡ nợ ); các yếu tố rủi ro vĩ mô (lạm phát, chính trị bất ổn…); chính sách của nhà nước có ảnh hưởng đến ngành và đến công ty; đặc điểm của ngành kinh tế mà công ty đang tham gia, triển vọng phát triển của ngành trong nền kinh tế quốc dân, quản lý vốn, tình hình tài chính …

Về nguyên tắc để có thể trở thành tổ chức xếp hạng tín nhiệm là các tổ chức này phải đánh giá dựa trên sự khách quan không vì bất kỳ lợi ích nào; phải độc lập đánh giá không chịu sự chi phối của bất cứ cơ quan hay quốc gia nào; thông tin cung cấp là đáng tin cậy; đánh giá không nhằm mục đích khuyến cáo mua hay bán Kết quả đánh giá định mức tín nhiệm được biểu hiện dưới các ký hiệu từ A (nghĩa

là ít bị vỡ nợ nhất) cho đến D (nghĩa là đã bị vỡ nợ rồi) phụ thuộc vào khả năng của người phát hành trả nợ gốc và lãi đúng hạn.2

1.3 CẤU TRÚC KỲ HẠN LÃI SUẤT

2 Tham khảo phụ lục thang điểm đánh giá của 3 tổ chức định mức tín nhiệm lớn nhất trên thế giới

Trang 29

Với những trái phiếu có mức độ rủi ro thanh toán như nhau, người ta có thể

vẽ biểu đồ biểu thị mối quan hệ giữa lãi suất và thời hạn Đồ thị đó được gọi là cấu trúc thời hạn của lãi suất, hay đường cong lãi suất Thông thường, khi nói đến đường cong lãi suất, người ta thường muốn nói đến đường cong lãi suất của trái phiếu chính phủ Đường cong lãi suất thường có bốn dạng chính : dạng thông thường, dạng dốc, dạng đảo ngược và dạng phẳng Tuy nhiên, phải lưu ý rằng đường cong lãi suất không phải là một dự báo, mà chỉ là một chỉ báo

1.3.1 DẠNG THÔNG THƯỜNG

Hình 1.1 : Cấu trúc lãi suất dạng thông thường

Thời hạn Trong dạng thông thường của đường cong lãi suất, các lãi suất ngắn hạn là

thấp nhất, sau đó nó tăng dần lên, và tới đoạn cuối đường cong gần như nằm ngang Một đường cong dạng thông thường cho thấy dấu hiệu của một nền kinh tế lành mạnh, ổn định, tăng trưởng chậm nhưng đều đặn, TTTP có xu hướng ổn định

1.3.2 DẠNG D ỐC

Bình thường thì chênh lệch giữa các mức lãi suất ngắn hạn và dài hạn vào khoảng 3%, nhưng khi khoảng chênh lệch này tăng lên tới 4-5% thì nó tạo thành một đường cong dốc hơn Một đường cong dốc như vậy cho thấy những người nắm giữ trái phiếu dài hạn tin rằng nền kinh tế sẽ cải thiện trong một tương lai gần Loại đường cong này thường xuất hiện sau các cuộc suy thoái, khi nền kinh tế ổn định và bắt đầu mở rộng

Trang 30

Hình 1.2 : Cấu trúc lãi suất dạng dốc

Lãi suất

Thời hạn 1.3.3 DẠNG ĐẢO NGƯỢC

Hình 1.3 : Cấu trúc lãi suất dạng đảo ngược

Lãi suất

Thời hạn

Nếu khoản vay trong ngắn hạn trả lãi suất cao hơn khoản vay dài hạn, thì đường cong lãi suất sẽ có dạng đảo ngược và đó là tín hiệu của thời kỳ thu hẹp của nền kinh tế Đường cong lãi suất có thể bị đảo ngược vì các lý do sau :

+ Nhu cầu cao bất thường đối với các quỹ ngắn hạn, do một trục trặc nào đó về tính thanh khoản ngắn hạn của các công cụ của chính phủ hay doanh nghiệp

+ Gia tăng áp lực lạm phát trong ngắn hạn

+ Chính sách tiền tệ thắt chặt của ngân hàng trung ương

Trang 31

1.3.4 DẠNG PHẲNG

Nói chung, đường cong lãi suất có thể giúp cho nhà đầu tư lựa chọn các khoảng thời gian đáo hạn cho các chứng khoán có thu nhập cố định của mình Xem xét đường cong lãi suất hiện thời các nhà đầu tư sẽ có được các thông tin về các mức lãi suất ở những thời hạn khác nhau, có thể giúp họ đưa ra các quyết định đối với thời gian đáo hạn Nếu các nhà đầu tư tin rằng lãi suất sẽ ổn định hoặc giảm xuống, thì họ có thể có thể đầu tư vào trái phiếu 20 năm có lãi suất cao nhất, nếu họ tin rằng lãi suất sẽ tăng, thì đầu tư vào các công cụ ngắn hạn có lãi suất cao nhất sẽ

là khôn ngoan

Hình 1.4 : Cấu trúc lãi suất dạng phẳng

Lãi suất

Thời hạn Đường cong lãi suất có thể được sử dụng như một chỉ báo về những thay đổi

có thể xảy ra trong nền kinh tế cũng như trên các thị trường cổ phiếu và trái phiếu, giống như những chỉ báo khác, song nó không phải là chỉ báo chính xác Đường cong lãi suất phải được sử dụng kết hợp với những chỉ báo và các thông tin khác, trong đó có tin tức kinh tế, cùng với những gì đang xảy ra trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu

1.4 RỦI RO CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1.4.1 RỦI RO LÃI SUẤT

Giá của một trái phiếu điển hình sẽ thay đổi ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất thị trường : khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu giảm Ngược lại, khi lãi suất

giảm thì giá trái phiếu tăng Nếu người đầu tư phải bán trái phiếu trước khi nó đáo hạn trong điều kiện lãi suất tăng lên, thì người đầu tư đó sẽ lỗ vốn, tức là bán trái

Trang 32

phiếu dưới giá mua Tất cả các loại trái phiếu, trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi, đều phải chịu rủi ro lãi suất

Mức độ nhạy cảm của giá trái phiếu trứơc những thay đổi trong lãi suất thị trường phụ thuộc vào những đặc tính khác nhau của đợt phát hành, như lãi suất cuống phiếu và thời gian đáo hạn Nó cũng phụ thuộc vào những lựa chọn kèm theo đợt phát hành

1.4.2 RỦI RO THANH TOÁN

Rủi ro thanh toán hay còn gọi là rủi ro tín dụng, là rủi ro mà người phát hành một trái phiếu có thể vỡ nợ, có nghĩa là mất khả năng thanh toán đúng hạn các khoản lãi và gốc của đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ được xem là trái phiếu không có rủi ro thanh toán vì Chính phủ có thể tăng thuế hay in tiền để chi trả lãi và vốn gốc khi đáo hạn Còn đối với trái phiếu công ty thì ngược lại, rủi ro thanh toán

của trái phiếu công ty cao hơn TPCP, chính vì vậy mà lãi suất trái phiếu công ty bao giờ cũng lớn hơn TPCP để đảm bảo tính thanh khoản cho trái phiếu Trái phiếu công ty khác nhau sẽ có mức độ rủi ro khác nhau

Rủi ro thanh toán được xác định bằng mức xếp hạng tín nhiệm do các công ty xếp hạng tín nhiệm ấn định, căn cứ vào những điều khoản trong khế ước vay, khả

năng thu nhập và hệ số trang trải nợ, khả năng thanh toán và trình độ quản lý của công ty phát hành

Tuy nhiên, mức xếp hạng tín nhiệm có thể thay đổi sau khi các công ty phát hành, hay nói khác đi là rủi ro thanh toán có thể thay đổi nhanh hơn sự đánh giá của các tổ chức đánh giá chuyên nghiệp

1.4.3 RỦI RO DO LẠM PHÁT

Rủi ro do lạm phát hay còn gọi rủi ro sức mua, phát sinh do sự biến đổi trong trong giá trị của các dòng tiền mà một chứng khoán mang lại, do lạm phát, được đo lường bằng sức mua

Ví dụ : nếu một nhà đầu tư mua một trái phiếu có lãi suất coupon 7% nhưng

tỷ lệ lạm phát là 8% thì sức mua của dòng tiền này thực sự đã giảm sút

Trang 33

Trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi, còn đối với những trái phiếu này người đầu

tư có nguy cơ chịu rủi ro lạm phát bởi lãi suất mà nhà phát hành hứa trả là cố định trong suốt thời hạn của đợt phát hành Trái phiếu có lãi suất thả nổi có rủi ro lạm phát ở mức thấp hơn, trong chừng mực lãi suất phản ánh được tỷ lệ lạm phát dự đoán

1.4.4 RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

Khi tỷ giá hối đoái thay đổi theo chiều hướng đồng tiền thanh toán trái phiếu

bị giảm giá thì nhà đầu tư nắm giữ loại trái phiếu này sẽ gặp phải rủi ro Ví dụ như, nếu trái phiếu được thanh toán bằng đồng Việt Nam, mà đồng Việt Nam lại giảm giá so với đô la Mỹ, thì người đầu tư sẽ nhận được ít đôla Mỹ hơn Đó là rủi ro tỷ giá Ngược lại, đồng Việt Nam tăng giá so với đôla Mỹ thì người đầu tư hưởng lợi

1.4.5 RỦI RO TÁI ĐẦU TƯ

Giả định rằng, các dòng tiền nhận được từ trái phiếu được tái đầu tư Khoản thu nhập bổ sung từ việc tái đầu tư đó còn được gọi là lãi của lãi, phụ thuộc vào

mức lãi suất hiện hành tại thời điểm tái đầu tư, cũng như vào chiến lược tái đầu tư Khả năng thay đổi của lãi suất tái đầu tư của một chiến lược xác định do sự thay đổi của lãi suất thị trường Từ đó dẫn đến tính không chắc chắn của lợi tức dự kiến nhận được từ trái phiếu, được gọi là rủi ro tái đầu tư Đó là rủi ro khi lãi suất để tái đầu tư các dòng tiền giữa kỳ bị giảm xuống Rủi ro này sẽ lớn hơn đối với những thời kỳ nắm giữ dài hơn

1.4.6 RỦI RO THANH KHOẢN

Rủi ro thanh khoản tùy thuộc vào việc trái phiếu có dễ dàng được bán theo giá trị hay gần với giá trị không Thước đo chủ yếu đối với tính thanh khoản là độ

lớn khoảng cách giữa giá hỏi mua và giá chào bán trái phiếu mà nhà giao dịch yết lên Nếu người đầu tư dự định nắm giữ trái phiếu cho tới khi đáo hạn thì rủi ro này không quan trọng lắm

Trang 34

1.5 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI - BÀI HỌC VÀ KINH NGHIỆM CHO SỰ PHÁT TRIỂN TTTP Ở VIỆT NAM

1.5.1 KHÁI QUÁT TTTP MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.5.1.1 Thị trường trái phiếu Thái Lan

TTTP Thái Lan được chia thành hai giai đoạn chính, trước khủng hoảng và sau khủng hoảng năm 1997

Trước khủng hoảng, TTTP ở Thái Lan chưa được chú trọng phát triển do các doanh nghiệp Thái Lan lúc này chỉ quen huy động vốn qua hệ thống ngân hàng mà chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn (dưới 1 năm) Trong 3 năm trước thời điểm

1997 các khoản nợ ngắn hạn của Thái Lan chiếm tới 7-10% GDP, trong khi tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 1% GDP Khi khủng hoảng tài chính xảy ra, các ngân hàng thu hẹp các khoản vay làm cho các doanh nghiệp Thái Lan đối mặt với mất khả năng thanh toán, nợ xấu tăng cao dẫn đến nền kinh tế suy

yếu

Sau khủng hoảng tài chính 1997, hệ thống tài chính ở Thái Lan bị mất cân đối Để khắc phục những hậu quả nặng nề do di chứng khủng hoảng để lại, lúc này TTTP ở Thái Lan được ưu tiên hàng đầu, thứ nhất là để tái cấu trúc tài chính, thứ hai là hỗ trợ các công ty trong việc tái cấu trúc nợ, thứ ba là giảm phụ thuộc vào hệ

thống ngân hàng

Đến năm 2010, nhờ sự cải thiện tài chính, TTTP bằng đồng nội tệ ở Thái Lan

đã tăng trưởng khá nhanh, đạt 20.5% Quy mô TTTP Thái Lan đã đạt được 58% GDP Thời gian này, do các luồng vốn đổ vào trái phiếu Thái Lan quá nhiều làm cho giá đồng baht đã tăng 11% và trở thành đồng tiền mạnh thứ 2 ở châu Á sau đồng yên Để bảo vệ đồng nội tệ, Chính phủ Thái Lan đã quyết định áp mức thuế 15% đối với luồng đầu tư nước ngoài vào trái phiếu chính phủ của nước này nhằm kìm hãm đà tăng giá của đồng baht, hiện ở mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997

Trang 35

Bảng 1.1: Cơ cấu thị trường trái phiếu của Thái Lan từ năm 2005-2007

Khối lượng

(t ỷ USD) Tỷ trọng (%)

Khối lượng (t ỷ USD) Tỷ trọng (%)

Khối lượng (t ỷ USD) Tỷ trọng (%) TPCP 54.29 68.86 74.56 66.58 107.48 69.82TPDN 24.55 31.14 37.44 33.42 46.45 30.18

Tổng 78.84 100 112.01 100 153.92 100

(Nguồn : Asian Bond Monitor 2008)

1.5.1.2 Thị trường trái phiếu Hàn Quốc

Trước khủng hoảng tài chính 1997, hoạt động huy động vốn ở Hàn Quốc chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng để chuyển tiết kiệm thành đầu tư Chính phủ can thiệp mạnh mẽ vào hệ thống tài chính để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ sở áp dụng lãi suất trần và phân phối tín dụng thông qua các khoản cho vay chính sách Thời gian này, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và là công cụ hữu hiệu của chính phủ để thực hiện chính sách công nghiệp Thị trường vốn chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình huy động và phân

bổ vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên, vào những năm 1970 và 1980, hệ thống ngân hàng đã không còn đủ sức cung cấp vốn cho một nền kinh tế phức hợp ngày càng phát triển ở Hàn Quốc Với mục tiêu phát triển thị trường vốn để khắc phục những

hạn chế của hệ thống ngân hàng, trong những năm 1970 và 1980, chính phủ đã thực hiện hàng loạt các chính sách để phát triển thị trường TPDN, trong đó đặc biệt phải

kể đến hệ thống bảo lãnh TPDN Điều này đã dẫn đến thị trường TPCP không phát triển do chính phủ Hàn Quốc chủ trương duy trì chính sách ổn định NSNN và chủ trương chỉ huy động TPCP cho nhu cầu chi tiêu cần thiết

Cho đến trước năm 1997, hệ thống tài chính Hàn Quốc dựa vào chính phủ để tăng cường khả năng chịu đựng rủi ro Bảo lãnh trực tiếp hay gián tiếp của chính phủ đối với ngân hàng làm cho vấn đề hiểm họa đạo đức (moral hazard) trở nên phổ biến Các doanh nghiệp công nghiệp được vay với lãi suất lớn sẵn sàng đầu tư vào các dự án rủi ro và có lợi suất thấp Trong một thời gian dài, rủi ro của các doanh nghiệp công nghiệp đã chuyển qua hệ thống tài chính mà không có bất kỳ biện pháp

Trang 36

quản trị rủi ro hiệu quả nào được thiết lập Kết quả là, với sự bảo lãnh của chính phủ, các nguồn vốn vốn ngắn hạn nước ngoài được đổ vào hệ thống ngân hàng Hàn Quốc và tài trợ cho các dự án dài hạn Khi khủng hoảng xảy ra, các nguồn vốn ngắn hạn đột ngột rút chạy khỏi Hàn Quốc tạo ra sự sụp đổ của các doanh nghiệp, các định chế tài chính, các ngân hàng dựa quá nhiều vào vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho các khoản đầu tư dài hạn

Kể từ sau cuộc khủng hoảng, chính phủ Hàn Quốc đã thay đổi hoàn toàn quan điểm liên quan tới phát hành TPCP Nguyên tắc kỷ luật ngân sách trước đây được hủy bỏ và chính phủ tăng cường phát hành trái phiếu huy động vốn bù đắp thâm hụt ngân sách và tài trợ cho khôi phục kinh tế sau khủng hoảng tài chính Chính phủ đã nhận thức được tầm quan trọng của TPCP trong quá trình phát triển TTTP nói chung, và TPDN nói riêng TPCP đã trở thành một công cụ huy động vốn dài hạn quan trọng của chính phủ kể từ thời kỳ này Cùng những cải thiện nhằm phát triển TTTP, đến nay về quy mô TTTP ở châu Á, thì Hàn Quốc là nước có quy

mô cao nhất với 109%GDP Bên cạnh đó, cơ cấu các loại trái phiếu đang lưu hành cũng khá đồng đều, năm 2000 có khoảng 71.2 ngàn tỷ Won đến năm 2006 đã tăng 254.3 ngàn tỷ Won TPCP được phát hành

Hình 1.2 : Cơ cấu các loại trái phiếu lưu hành ở Hàn Quốc (nghìn tỷ KRW)

Loại trái phiếu 1996 1998 2000 2002 2004 2006 Trái phiếu chính phủ 23.3 41.6 71.2 90.2 170.5 254.3Trái phiếu bình ổn tiền tệ 30 45.7 66.4 83.9 142.5 158.4Trái phiếu doanh nghiệp 61.3 122.7 143.1 162.7 131 121.7Trái phiếu tài chính 28.9 48.5 73 104.4 115.7 165.1Trái phiếu khác 28.8 86.2 86.6 139.9 116.4 105.1

Tổng cộng : 172.3 344.6 440.3 581.7 676.8 804.5

(Nguồn : Bank of Korea, Financial Supervisory Service)

1.5.1.3 Thị trường trái phiếu Nhật Bản

Trang 37

Thị trường TPCP Nhật trước thời điểm kinh tế toàn cầu trượt vào suy thoái giai đoạn năm 2007 – 2008 tăng trưởng tương đối ổn định cùng với lợi suất TPCP thấp Việc phát hành trái phiếu chính phủ tại Nhật chủ yếu hướng tới người mua là dân chúng trong nước, nhưng người dân càng ngày càng có xu hướng giảm tiết kiệm Rủi ro tiềm ẩn của nền kinh tế Nhật thực sự bộc phát khi kinh tế toàn cầu chìm sâu vào khủng hoảng tài chính, nguy cơ đối mặt với nợ công chồng chất khiến Nhật phải huy động vốn từ phát hành trái phiếu để trang trải nợ công này Thời gian này, nhiều người nắm giữ TPCP Nhật đã gặp khó khăn do lợi suất trái phiếu thu về

thấp Bên cạnh đó, tình trạng giá cả hàng hóa sụt giảm giúp Nhật bán trái phiếu với mệnh giá cao hơn, nhưng lại gây ra giảm phát và đẩy tỷ lệ nợ công trên GDP tăng cao Nhật đã chủ trương nới lỏng CSTT bằng cách giảm lãi suất nhiều lần và cuối cùng thực hiện “chính sách lãi suất zero”, đã khiến người dân Nhật chuộng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn là đầu tư vào trái phiếu hay chứng khoán Tính đến năm 2007,

có khoảng 6,879.28 tỷ USD TPCP và 773.97 tỷ USD TPDN Nhật lưu hành trên thị

Kh ối lượng (tỷ USD) Tỷ trọng (%) TPCP 6,302.54 89.44 6,389.17 90.04 6,879.28 89.89 TPDN 743.87 10.56 706.93 9.96 773.97 10.11

Tổng 7,046.41 100 7,096.10 100 7,653.25 100

(Nguồn : Asian Bond Monitor 2008)

1.5.1.4 Thị trường trái phiếu Mỹ

Trái phiếu chính phủ Mỹ có tính thanh khoản gần như tương đương với bản thân đồng USD vì nó được hỗ trợ đằng sau bởi quốc gia hùng mạnh nhất thế giới Rất nhiều nước nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ trong dự trữ ngoại hối của mình vì ngoài tính thanh khoản cao, nó còn có khả năng sinh lãi định kỳ Năm 2007, ước tính có khoảng 25 ngàn tỷ USD trái phiếu lưu hành ở Mỹ, chiếm hơn 50% thị trường trái phiếu thế giới (44 ngàn tỷ USD)

Trang 38

Kể từ khi khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 ở nước Mỹ lan rộng trên toàn cầu thì trái phiếu của nước này cũng bị ảnh hưởng Mặc dù Chính phủ nước này đã thực hiện nhiều gói giải pháp nhằm kích cầu cũng như cứu trợ tài chính của

Mỹ như việc phát hành thêm hàng ngàn tỷ USD trái phiếu Tuy nhiên, để làm tăng lượng sở hữu lượng trái phiếu của các nhà đầu tư, nước phát hành phải nâng mức lợi tức mới có thể làm tăng tính hấp dẫn trái phiếu lên được Một điều mà chính phủ

Mỹ cần suy tính đến là lãi suất có liên quan đến lạm phát Việc tăng lãi suất trái phiếu sẽ tạo thêm lo lắng cho thị trường về tình trạng lạm phát trái phiếu Mỹ Như chúng ta đã biết, nếu đầu tư trái phiếu Chính phủ Mỹ vào năm 2008 là một lựa chọn đúng đắn Song, bắt đầu từ năm 2009, trái phiếu có biểu hiện vô cùng tồi tệ và tình trạng này vẫn đang tiếp diễn, bằng chứng là 3 phiên đấu giá trái phiếu liên tục đều

bị thất bại Cụ thể là, 23/3/2010 Bộ Tài Chính Mỹ đã bán đấu giá 44 tỷ USD trái phiếu kỳ hạn 2 năm, kết quả khiến nhiều người thất vọng Ngày 24/3, lần bán 42 tỷ USD trái phiếu kỳ hạn 4 năm cũng thất bại do nhu cầu yếu ớt, lãi suất tranh thầu cao

hơn rất nhiều so với dự đoán, các nhà giao dịch vội vã hạ giá, điều này đã mở rộng chiều hướng sụt giảm trái phiếu, biểu hiện hiện nay của trái phiếu Mỹ là xấu nhất trong gần 7 tháng qua Ngày 25/3, 32 tỷ USD trái phiếu kỳ hạn 7 năm vẫn không gây hào hứng, giá trái phiếu từ từ trượt giảm, lãi suất tranh thầu lần bán đấu giá này cũng vẫn cao hơn so với dự đoán Bước sang quý III/2010, tốc độ lạm phát đang giảm đáng kể Lãi suất cho vay của các ngân hàng hầu như không đổi từ sau giai đoạn suy thoái chấm dứt tới nay Và một trong những giải pháp được Chính phủ Mỹ đưa ra là nới lỏng tiền tệ, tiếp tục giữ một mức lãi suất thấp kỷ lục Trong bối cảnh này thì FED có thể bơm tiền ra nền kinh tế thông qua việc mua các trái phiếu chính

Trang 39

Th ứ nhất, đẩy mạnh phát triển thị trường TPCP và thành lập cơ quan quản lý nợ

chính phủ TTTP có vai trò vô cùng quan trọng trong việc củng cố tài chính, trái phiếu được xem như là một công cụ đa dạng hóa rủi ro có thể dùng để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính nếu nó xảy ra Vì vậy, Việt Nam cần phải chú trọng phát triển thị trường trái phiếu, trong đó thị trường TPCP đóng vai trò chủ chốt, có những hướng đi tích cực để chuẩn bị ứng phó với khủng hoảng tài chính có thể xảy

ra bất kỳ lúc nào

Th ứ hai, lãi suất tham khảo đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập giá cả TTTP

Để có lãi suất tham khảo phản ánh đúng qui luật thị trường, Chính phủ cần xóa bỏ các phương pháp xác định lãi suất cưỡng ép, không tuân thủ nguyên tắc thị trường

như áp đặt lãi suất trần Cần xác định lãi xuất thông qua cung cầu dựa trên cơ sở đấu giá công khai không áp đặt lãi suất trần

Th ứ ba, để giảm chi phí giao dịch thì cần phải chuẩn hóa các loại TPCP về mệnh

giá, kỳ hạn và phát hành theo một lịch trình định trước trên cơ sở đấu giá công khai thông qua hệ thống giao dịch điện tử tự động

Th ứ tư, để trái phiếu có thể phát hành thành công cần nhấn mạnh vai trò của các

nhà kinh doanh trái phiếu sơ cấp Bên cạnh đó, để trái phiếu sau phát hành có tính thanh khoản cao trên thị trường thứ cấp thì cần chú trọng phát triển hệ thống các nhà tạo lập thị trường Cần đẩy mạnh phát triển TTTP tập trung, nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường trái phiếu chuyên biệt tại HASTC

Th ứ năm, cần xây dựng hệ thống chỉ số để giám sát thay đổi của thị trường tạo điều

kiện cho các thành viên tham gia thị trường có điều kiện theo dõi và dự đoán diễn biến thị trường, kịp thời điều chỉnh danh mục đầu tư

Th ứ sáu, không nên vội vã ban hành thuế suất đánh vào giao dịch trái phiếu trong

lúc này, thay vào đó nên nghiên cứu các biện pháp thu hút đầu tư hay có chính sách khuyến khích đầu tư Khi thị trường đủ lớn và đủ mạnh thì việc ban hành thuế sẽ hiệu quả hơn

Trang 40

Th ứ bảy, cần phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm làm cơ sở để đánh giá rủi ro

tín dụng và xác định lãi suất yêu cầu đối với từng trái phiếu có mức rủi ro tín dụng khác nhau

Th ứ tám, cần thực hiện minh bạch hóa chính sách vĩ mô, ổn định kinh tế vĩ mô,

kiểm soát lạm phát trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát

Kiềm chế lạm phát là điều kiện tiên quyết để TTTP phát triển

Th ứ chín, cần xem xét nên phát hành trái phiếu ở mức độ nào là hợp lý và phù hợp

với quản lý nợ quốc gia được an toàn Đồng thời, kiểm soát các dòng tiền từ nguồn

trái phiếu phát hành trong và ngoài nước, điều này sẽ giúp cho Chính phủ Việt Nam quản lý nợ tốt hơn

Mặc dù ở trình độ phát triển thấp hơn so với các nước trong khu vực, nhưng thị trường trái phiếu Việt Nam đã có khá nhiều điều kiện phát triển tương đồng với các nước, từ chính sách tài chính đến phát triển thị trường Việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển TTTP ở các nước sẽ giúp Việt Nam phát triển thị trường trái phiếu vững chắc, dựa trên những bài học về thành công cũng như thất bại của thị trường trái phiếu các nước

phần hình thành nên TTTP bao gồm hàng lang pháp lý, chủ thể tham gia thị trường, các công cụ điều tiết vĩ mô, tổ chức định mức tín nhiệm, rủi ro của TTTP

Ngày đăng: 16/09/2020, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w