Kinh nghiệm sản xuất và xuất khẩu dừa của Indonesia Cây dừa được trồng tại 93 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, phân bố ở 20o Bắc và Nam bán cầu với diện tích hơn 12 triệu ha APCC
Trang 1Kinh nghiệm xuất khẩu dừa của Philippines và Indonesia và giải
pháp cho Việt Nam
3.1 Kinh nghiệm sản xuất và xuất khẩu dừa của Indonesia
Cây dừa được trồng tại 93 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, phân bố ở 20o Bắc và Nam bán cầu với diện tích hơn 12 triệu ha (APCC, 2005), trong đó trên 80% diện tích trồng dừa thuộc các nước Đông Nam Á và Nam Á Quốc gia trồng dừa nhiều nhất là Indonesia với diện tích 3,8 triệu ha, kế đến là Philippines với 3,1 triệu ha và xếp thứ
ba là Ấn Độ với 1,84 triệu ha Nhìn chung, từ năm 1990 đến nay diện tích trồng dừa trên thế giới biến động tương đối từ 9,9 triệu ha ở năm
1990 đến 10,6 triệu ha ở năm 2003 Diện tích (ha) dừa đang thu hoạch
ở một số nước chủ yếu trên thế giới:
Bảng 1.15 Các quốc gia xuất khẩu dừa chủ yếu trên thế giới
Quốc Gia 1970 1980 1990 2000 2003
Indonesia 1,810 2,680 3,394 3,696 3,883
Philippines 1,884 3,126 3,112 3,119 3,124
Trang 2Thailand 320 415 393 325 328
Total 6,128 8,487 9,939 10,300 10,618
Trang 3Indonesia là nước xuất khẩu cám dừa lớn thứ 2 trên thế giới sau Philippines được dự báo sản lượng và xuất khẩu sẽ tăng trong năm
2010 , ước lượng cả năm sản xuất đạt khoảng 557.000 tấn tăng 3,1%
so với sản lượng năm 2009 Sản lượng quý 1/2010 đạt khoảng 136.400 tấn Cám dừa ước xuất khẩu cả năm đạt khoảng 73.900 tấn, xuất khẩu cám dừa của Philippines và Indonesia chiếm khoảng 91,5% sản lượng cám dừa xuất khẩu trên thị trường thế giới
Khoảng 70% lượng cám dừa xuất khẩu của Indonesia được xuất khẩu sang Hàn Quốc và Việt Nam đạt khoảng 134.000 tấn trong năm
2009 giảm 47,9% so với xuất khẩu năm 2008 do tiêu thụ nội địa tăng và nhu cầu nhập khẩu của Hàn Quốc và Việt Nam giảm trong năm 2009 Năm 2010, dự kiến xuất khẩu cám dừa trên thị trường thế giới đạt khoảng 782.000 tấn tăng 10,3% so với xuất khẩu năm 2009 Trong khi
đó nhu cầu nhập khẩu khoảng 784000 tấn tăng khoảng 13,6% so với nhu cầu nhập khẩu năm 2009 Tiêu thụ cám dừa trên thế giới cũng có khuynh hướng tăng trong năm 2010 với số lượng khoảng 1,91 triệu tấn tăng khoảng 6% so với năm 2009 Giá cám dừa tại thị trường Indonesia dao động từ 95 – 130 USD/tấn
3.2 Kinh nghiệm sản xuất và xuất khẩu dừa của Philippines
Với diện tích trồng dừa lớn thứ 2 trên thế giới, hàng năm Philippines cung cấp một khối lượng dừa lớn ra thị trường thế giới Có lẽ không có loại cây trồng nào có thể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm bằng cây dừa Cho đến nay các quốc gia thành viên của Hiệp Hội Dừa Châu Á-Thái Bình Dương (APCC) đã sản xuất và xuất khẩu được hơn 70 chủng loại sản phẩm từ dừa, trong đó Philippines đóng góp hơn 40 loại sản phẩm từ dầu dừa, từ các sản phẩm cao cấp phục vụ công nghiệp như alcohol béo cho đến hàng thủ công mỹ nghệ Ở Philippines, thạch dừa được xuất khẩu thu ngoại tệ hơn 26 triệu USD trong năm 1993 và hơn 17 triệu USD trong năm 1996 Có mấy ai biết được rằng những bánh xà phòng cao cấp của các hãng mỹ phẩm nổi tiếng như Unilever, P&G… đều có thành phần chính là dầu dừa.
Trang 4Theo UCAP ( Hiệp hội dừa Philippines) lượng xuất khẩu các sản phẩm từ dừa tháng 9 năm 2008 đạt 67.291 triệu USD và giảm 16,3% so với cùng kỳ năm 2007 do chi phí thương mại tăng cao Năm 2008 lượng xuất khẩu các sản phẩm từ dừa của Philippines đạt gần 1 triệu tấn trong
đó lượng dầu dừa xuất khẩu chiếm 641.758 tấn, bột cùi dừa khô đạt 366.010 tấn, dừa sấy khô 96.385 tấn, hóa chất từ dừa (oleochemical) đạt 68.852 tấn
Năm 2009, nước này đã bán được 808.007 tấn dầu dừa, giảm 4,6% so với mức 847.626 tấn trong năm 2008 và thấp hơn mức dự báo
là 835.000 tấn do nhu cầu thấp tại các nước công nghiệp
Theo dữ liệu của Liên hiệp các Hiệp hội Dừa, lượng xuất khẩu dầu dừa của Philippines trong tháng 1 năm 2010 đã tăng lên tới 130.000 tấn
so với 24.579 tấn vào cùng tháng năm trước Philippines xuất khẩu 80% sản lượng dầu dừa nhưng nước này chỉ chiếm 5% thị trường dầu và mỡ toàn cầu, chủ yếu do sự cạnh tranh của dầu cọ Châu Âu và Mỹ có nhu cầu lớn về dầu cọ của Philippines và 2 khu vực này đã mua khoảng 80% khối lượng dầu dừa xuất khẩu của Philippines
Dầu dừa là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 5 của Philippines và là hàng nông sản hàng đầu, chiếm 80% lượng xuất khẩu sản phẩm từ cơm dừa, các sản phẩm dừa khác, dừa khô, than gáo dừa và hóa chất
từ dừa
Trang 5Ông Yvonne Agustin – Giám đốc điều hành Ủy ban Dừa Thống nhất Philippines dự kiến xuất khẩu dầu dừa cả năm 2010 có thể đạt 980.000 tấn, tăng khoảng 21% so với xuất khẩu năm 2009, do nền kinh tế thế giới đang phục hồi nên nhu cầu nhập khẩu dầu dừa tăng Thị trường xuất khẩu dầu dừa chủ yếu của Philippines là Mỹ và EU chiếm khoảng 4/5 thị phần, tiếp theo là thị trường các nước Châu Á chiếm khoảng 1/5 thị phần Hiện nay giá dầu dừa thấp hơn dầu cọ cũng góp phần làm tăng nhu cầu nhập khẩu dầu dừa Dầu dừa thường được chế biến thành thực phẩm, sản xuất xà phòng , dầu diesel sinh học Philippines xuất khẩu dầu dừa giao vào thời điểm tháng 4 – 5 năm 2010 giá CIF Rotterdam là 795 USD
3.3 Giải pháp cho ngành sản xuất và xuất khẩu dừa của Việt Nam
3.3.1 Giải pháp từ phía doanh nghiệp
3.3.1.1 Nâng cao chất lượng dừa và đa dạng các sản phẩm chế biến từ dừa
nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh
Việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm từ dừa không chỉ giúp tăng nguồn thu từ xuất khẩu mà còn giảm việc nhập khẩu các sản phẩm từ dừa hay các sản phẩm thay thế Chính vì vậy người trồng dừa quy mô nhỏ, với vốn đầu tư ít vẫn có thể tăng giá trị sử dụng của dừa nếu biết cải tiến công nghệ và thâm nhập được nhiều thị trường hơn
Trang 6Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển của mình vì nó có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóa sản xuất
3.3.1.2 Tăng cường tìm hiểu, cập nhật thông tin về thị trường
Do đặc trưng của ngành trồng dừa là trồng trên quy mô nhỏ, tính tổ chức chưa cao nên chất lượng dừa không đồng đều, tại các vườn dừa khác nhau, và là nguyên do để tư thương ép giá, vì thế việc tăng cường tìm hiểu thị trường, cập nhật thông tin, trao đổi buôn bán sản phẩm sẽ giúp các doanh nghiệp trồng dừa có cơ hội tiếp cận nhiều với thị trường, kinh nghiệm có hiệu quả hơn
Điều tra cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu được người sử dụng chấp nhận
3.3.1.3 Đẩy mạnh xây dựng và quảng bá thương hiệu ra thị trường
Việc xây dựng và quảng bá thương hiệu sẩn phẩm của mình đóng vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp
Để sản phẩm dừa của Việt Nam xuất khẩu được nhiều ra trên thế giới, nên thành lập nhiều hiệp hội trồng dừa nhằm truyền bá thông tin rộng khắp, nâng cao danh tiếng và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm dừa Việt Nam trên thế giới
Trang 7Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực marketing của mình vì đó là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, Promotion) trong hoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm
nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càng cao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu uy tín Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với những doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường
Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều
khâu như tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bán hàng đóng vai trò quan trọng đến doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp
3.3.2 Giải pháp từ phía Nhà nước
3.3.2.1 Hoàn thiện việc quy hoạch nguồn lực, mạng lưới chế biến, phát triển
cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu sản phẩm dừa
Trang 8Muốn cây dừa trở thành cây trồng quan trọng trong cơ cấu cây trồng, thì các vườn dừa cần được cải tạo, thay diện tích dừa già cỗi, kém hiệu quả bằng các giống dừa mới năng suất cao hơn, chú trọng phát triển dừa nguyên liệu chế biến công nghiệp để xuất khẩu, dừa ăn quả, uống nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường nội địa
và khách du lịch Các ngành chức năng có liên quan cần tăng cường công tác nghiên cứu, chọn lọc giống, quy hoạch xây dựng các cơ sở nhân giống để cung cấp giống dừa cho nông dân Đồng thời hướng dẫn nông dân cải tạo vườn dừa, đầu tư thâm canh… để cây dừa thực sự là cây hàng hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, chú trọng đến việc chế biến dừa trái, nghiên cứu thị trường mở hướng phát triển công nghiệp, sản xuất chế biến sản phẩm có nguyên liệu từ cây dừa Khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến trái cây vừa và nhỏ ở nông thôn, phù hợp với vùng nguyên liệu, thiết bị chủ yếu do cơ khí trong nước chế tạo nhưng phải có công nghệ tiên tiến, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm;
Đầu tư các dây chuyền phân loại, sơ chế, đóng gói và bảo quản tại các chợ đầu mối hoa quả để phục vụ lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền và phục vụ xuất khẩu.
3.3.2.2 Nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ đối với doanh nghiệp xuất
khẩu
Trang 9Các địa phương nên hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất cũng như xuất khẩu dừa như khuyến khích các nhà đầu tư đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tham gia vào việc sản xuất những sản phẩm mới từ dừa; hỗ trợ lãi suất đối với những dự án vay vốn dài hạn cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này; hay những dự án mua sắm trang thiết bị cho việc chế biến sản phẩm từ dừa Ngoài ra, cần có những hỗ trợ về tinh thần, tư vấn, hướng dẫn làm thủ tục nhanh cho các nhà đầu tư…
Nhà nước cũng cần có nhiều chính sách khuyến khích xuất khẩu sản phẩm dừa như tăng cường quảng bá thương hiệu, cắt giảm thuế xuất khẩu, và các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm trưng bày quảng bá các sản phẩm được làm từ cây dừa, từ đó thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm dừa phát triển
Ở nước ta, các hiệp hội chủ yếu mới tập hợp các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, chứ chưa quan tâm đến đội ngũ nông dân trực tiếp sản xuất Các hiệp hội mới chỉ đóng vai trò điều hành xuất khẩu, mà chưa điều hành được sản xuất sao cho cung phù hợp với cầu Điều hành sản xuất và xuất khẩu nông sản ở nước ta hiện quá chồng chéo, nhiều bộ ngành chủ quản, nhưng dường như không có nhạc trưởng
Trang 10Để ngành sản xuất và xuất khẩu dừa phát triển bền vững, phải thống nhất quản lý, có thể giao quyền điều hành cho hiệp hội hoặc liên đoàn ngành hàng Hiệp hội phải đảm bảo được lợi ích của những người sản xuất kinh doanh Và chính lợi ích đó là trung tâm, là thước đo cho
sự phát triển của hiệp hội Chứ hiệp hội không thể làm hành chính Hiệp hội phải bảo vệ thành viên của mình, là nơi nắm vững, nắm chắc thông tin, định hướng thị trường, dự báo thị trường Và hiệp hội phải chuyển được tất cả các thông tin đó tới người sản xuất để họ quyết định nên làm như thế nào Hiệp hội phải mang tính chuyên nghiệp chứ không thể
là phong trào, nghĩa là phải có chuyên gia về thị trường, khoa học công nghệ và cả tổ chức sản xuất
Ngoài ra, hiệp hội phải có quyền lực điều tiết trong tất cả các khâu:
từ sản xuất, tiêu thụ đến giám sát chất lượng và an toàn vệ sinh đối với sản phẩm Hiệp hội không thể chỉ là của các doanh nghiệp mà phải đại diện cho rất nhiều thành phần: doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm dừa, cơ
sở chế biến dừa, nông dân, tổ chức làm dịch vụ tư vấn kỹ thuật canh tác, hợp tác xã cung cấp vật tư và dịch vụ nông nghiệp, thương lái thu gom và đại diện chuyên trách ngành hàng của các bộ, ngành liên quan Tức là, hiệp hội phải có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chính đáng cho cả người sản xuất, người chế biến, người kinh doanh, vì vậy phải hội đủ cả
4 nhà: nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học
3.3.2.3 Đẩy mạnh chiến lược tổng thể về hội nhập, đàm phán tham gia các
hoạt động thương mại song phương
Trang 11Để mặt hàng dừa nói riêng cũng như các mặt hàng nông sản nói chung đến được nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cần nhanh chóng đẩy mạnh tiến trình hội nhập và đàm phán, kêu gọi đầu tư bằng việc hoàn thiện hệ thống pháp lý và các thủ tục hành chính phù hợp với thông lệ quốc tế để thúc đẩy xuất khẩu nói riêng cũng như phát triển kinh tế - xã hội nói chung
3.3.2.4 Chính sách liên kết trong sản xuất theo mô hình
Mô hình liên kết Hiệp hội:
Để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh sản phẩm dừa đồng thời phối hợp, thống nhất hành động giữa các doanh nghiệp trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của các đối tác trong bối cảnh hội nhập và tự do hoá thương mại, các Hiệp hội ngành hàng đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các doanh nghiệp và làm chức năng cầu nối giữa Nhà nước với các doanh nghiệp Hiện nay, trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu dừa đã có hiệp hội trồng dừa đóng góp một phần to lớn trong quá trình kinh doanh và xuất khẩu
ra nước ngoài
Trang 12Trong thời gian tới, ngoài Hiệp hội trồng dừa, cần xem xét thành lập các Hiệp hội chuyên về nghiên cứu chế biến và bảo quản các sản phẩm dừa Giữa các Hiệp hội này cần xây dựng quy chế liên kết, phối hợp nhằm thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất và tiêu sản phẩm chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực chính như: Xác định phương hướng phát triển sản xuất, kinh doanh, phổ biến và khuyến khích các thành viên áp dụng tiến bộ khoa kỹ thuật vào sản xuất; Nhận định tình hình sản xuất, giá cả thị trường, đề ra phương thức liên kết và hợp tác sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở tự nguyện của các thành viên; Cung cấp thông tin về thị trường giá cả, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, đóng gói, của các nước cho các thành viên thông qua các tạp chí định kỳ, website của Hiệp hội; Hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, tổ chức cho các thành viên tham gia các lớp tập huấn, hội thảo, hội chợ triển lãm, tham quan, khảo sát thị trường trong và ngoài nước; Bảo vệ quyền lợi hội viên; Phản ánh nguyện vọng của các thành viên đến các cơ quan Nhà nước, đề xuất với Chính phủ phương hướng phát triển, cơ chế quản lý ngành hàng, các chính sách, giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
Để tạo điều kiện cho hoạt động của các Hiệp hội, cần có văn bản pháp quy của Nhà nước quy định cơ chế phối hợp hoạt động giữa các
Bộ ngành liên quan với các Hiệp hội, giữa các Hiệp hội với nhau và giữa các thành viên trong Hiệp hội Tăng cường năng lực cho các Hiệp hội ngành hàng để làm vai trò thống nhất hành động giữa các thành viên trong sản xuất, kinh doanh, xúc tiến thương mại
Mô hình liên kết Hợp tác: