Nước ta cũng định hướng phát triển kinh tế theo hướng hội nhập với các nước trong khu vực và mở rộng ra toàn Thế Giới: thực hiện Hiệp Định Thương Mại Việt Mỹ từ năm 2001, thực hiện CEPT/
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TP H ồ Chí Minh – Năm 2004
Trang 2M ỤC LỤC
Ph ần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do và mục đích chọn đề tài 1
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Ph ần 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 5
2.1 Định nghĩa chế độ tỷ giá hối đoái 5
2.2 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái 5
2.3 Giả Thuyết Lưỡng Cực và Nỗi Sợ Thả Nổi (Bipolar Hypothesis & Fear of Floating) 10
2.4 Chuyển đổi chế độ tỷ giá hối đoái (Regime Transitions) 12
2.5 Chế độ tỷ giá hối đoái tác động như thế nào đến hoạt động của nền kinh tế? 13
2.6 Một vài nét lý thuyết về lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu 15
Phần 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LỰA CHỌN CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 20 3.1 Vấn đề bù trừ lợi ích – thiệt hại 20
3.2 Lý thuyết bộ ba bất khả (Impossible trinity) 22
3.3 Lý thuyết về Miền Tiền Tệ Tối ưu (The Optimum Currency Area - OCA) 24
3.3.1 Định nghĩa miền tiền tệ tối ưu (OCA) 24
3.3.2 Vấn đề bù trừ lợi ích và thiệt hại cơ bản trong lý thuyết OCA 24
3.3.3 Những gợi ý của OCA đối với các nước đang phát triển 26
3.4 Bài học rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ gần đây 30
3.4.1 Nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng gần đây 31
3.4.2 Bài học rút ra 33
Trang 3Phần 4: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VN 37
4.1 Chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam qua các thời kỳ 37
4.1.1 Chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam trước tháng 03/1989 37
4.1.2 Chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ 03/1989 đến nay 40
4.2 Đánh giá việc điều hành chính sách tỷ giá của nước ta trong thời kỳ này 47
4.2.1 Những thành quả đạt được 47
4.2.2 Những tồn tại của chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam 49
4.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại 50
Phần 5: LỰA CHỌN CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI 52
5.1 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tế Thế Giới 53
5.2 Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam 64
5.2.1 Mục tiêu để lựa chọn 64
5.2.2 Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái 66
5.2.3 Các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá 71
5.2.4 Xây dựng các phương pháp dự báo tỷ giá 73
KẾT LUẬN 77
PHỤ LỤC A: Can thiệp của Ngân hàng Trung ương vào tỷ giá hối đoái 80
PHỤ LỤC A: Bảng biểu, số liệu minh họa 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 4Ph ần 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do và mục đích chọn đề tài
a Lý do:
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật và công nghệ,
nhất là sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã khiến các quốc gia trên Thế Giới có
xu hướng hội nhập với nhau trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hội nhập về kinh tế
Nước ta cũng định hướng phát triển kinh tế theo hướng hội nhập với các nước trong khu vực và mở rộng ra toàn Thế Giới: thực hiện Hiệp Định Thương Mại
Việt Mỹ từ năm 2001, thực hiện CEPT/AFTA từ ngày 01.07.2003 và đang trong
tiến trình để trở thành thành viên chính thức của WTO năm 2005… Trong những
năm vừa qua, Việt Nam đã nỗ lực để phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán do nhập siêu vẫn còn ở mức cao, giảm gánh nặng nợ vay nước ngoài và ra
sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau… Đồng thời,
nước ta ngày càng hoàn thiện thể chế, luật pháp, hệ thống tài chính, ngân hàng…
tạo ra những tiền đề cần thiết cho tiến trình hội nhập Vấn đề được đặt ra là: Làm
thế nào để nước ta phát huy hết các lợi thế trong nước nhằm nâng cao dần sức
cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế, phát triển xuất khẩu và ngày càng hấp dẫn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam mà vẫn giữ
vững ổn định kinh tế, chính trị và xã hội ? Một trong những vấn đề quan trọng cần xem xét đó là chế độ tỷ giá hối đoái mà nước ta sẽ áp dụng khi thực hiện hội nhập kinh tế
Mặt khác, các bài học rút ra từ các cuộc khủng hoảng xảy ra ở các quốc gia
hội nhập kinh tế cũng đáng để chúng ta phải suy nghĩ Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở các nước Đông Á, khởi đầu từ Thái Lan sau đó lan rộng ra các nước lân cận trong khu vực, có nguy cơ trở thành một cuộc khủng hoảng hệ thống toàn cầu năm 1997
là một ví dụ Hậu quả của nó một mặt làm giảm sản lượng, tỷ giá hối đoái, chỉ số
chứng khoán, giá trị tài sản và chỉ số trái phiếu ở các quốc gia chịu tác động của
Trang 5Vậy đâu là chế độ tỷ giá hối đoái phù hợp và tối ưu cho Việt Nam?
b M ục đích:
Câu trả lời không đơn giản chút nào Thực hiên đề tài này, tôi nghiên cứu các
lý thuyết về chế độ tỷ giá hối đoái của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) (chương 2 &
chương 3), kế đến nghiên cứu thực trạng chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam qua các thời kỳ (chương 4), từ đó đưa ra những kiến nghị về chế độ tỷ giá tối ưu (chương 5), nhằm đưa nước ta hội nhập thành công vào nền kinh tế các nước trong khu vực và quốc tế, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội và ngăn chặn các cú sốc, các cuộc tấn công đầu cơ làm tổn hại đến
nền kinh tế, chủ quyền quốc gia
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý thuyết về chế độ tỷ giá hối đoái qua các công trình nghiên
cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và của các chuyên gia trong nước
- Nghiên cứu thực trạng các chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam qua các thời
Trang 6Bài viết này tập trung nghiên cứu chế độ tỷ giá hối đoái, các loại chế độ khác nhau, qua đó đánh giá, phân tích và kiến nghị một chế độ tối ưu trong một điều kiện kinh tế nào đó, cụ thể là Việt Nam Hay nói cách khác, bài viết nghiên
cứu cơ chế, một sự dàn xếp giữa các quốc gia, trong đó tỷ giá hối đoái có thể vận động theo ý đồ và mục tiêu mà chính phủ các nước đã đặt ra trong một hoàn cảnh,
thời kỳ nhất định Bài viết không mở rộng nghiên cứu điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái nói chung
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Chế độ tỷ giá hối đoái đã phát triển từ chế độ bản vị vàng (trước chiến tranh
Thế Giới lần thứ nhất năm 1914), đến hệ thống Bretton Woods (sau chiến tranh
Thế Giới lần thứ hai), đến các chế độ tỷ giá linh hoạt hơn từ sau năm 1973 và phát triển cao nhất là liên minh tiền tệ Châu Âu (khu vực đồng Euro) Đến nay, đã có
rất nhiều công trình nghiên cứu của IMF về chủ đề này, chẳng hạn như lý thuyết
Miền Tiền Tệ Tối Ưu OCA (Mundell-1961), lý thuyết Bộ Ba Bất Khả
“Trilemma”vào những năm 1980, phân loại chế độ tỷ giá hối đoái của IMF năm
1999 và nhiều kinh nghiệm rút ra từ các cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, đối với
Việt Nam thì vấn đề này còn tương đối mới mẻ, do nước ta chính thức công bố
chương trình đổi mới kinh tế từ năm 1996 Kề từ đó, nước ta mới dần dần chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu kinh tế với nước ngoài và tỷ giá
hối đoái mới thực sự phát huy vai trò là một công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Những năm gần đây, khối lượng mậu dịch giữa Việt Nam và các nước ngày càng lớn, đầu tư nước ngoài đổ vào Việt nam ngày càng nhiều, cùng với cam
kết lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT, Hiệp Định Thương Mại Việt Mỹ và
hướng tới gia nhập WTO, thì vấn đề tỷ giá nói chung và chế độ tỷ giá nói riêng càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nước ta
Chính vì thế, nghiên cứu chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam có ý nghĩa to
lớn cả khía cạnh khoa học lẫn khía cạnh thực tiễn Thực tế, nhiều chuyên gia trong
nước đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề này
Trang 8Ph ần 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.1 Định nghĩa chế độ tỷ giá hối đoái:
Chế độ tỷ giá hối đoái là sự dàn xếp trong một nhóm các quốc gia để thực
hiện việc thanh toán và xác định tỷ giá hối đoái Về cơ bản, có ba loại chế độ: chế
độ tỷ giá hối đoái cố định, chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và các chế độ tỷ giá trung gian
Để hiểu rõ hơn về định nghĩa chế độ tỷ giá hối đoái, chúng ta cùng tìm hiểu
về Hệ thống Bretton Woods trước đây Đó là một sự thỏa hiệp về tỷ giá hối đoái
giữa tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố định được gọi là các quốc gia theo hệ thống neo tỷ giá có điều chỉnh (adjustable-peg) Thông thường, các quốc gia này can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong một biên độ hẹp (narrow band) so với mức neo (peg)
Nếu một quốc gia có cán cân thanh toán không cân bằng, nó sẽ phải điều chỉnh
mức neo để lấy lại sự thăng bằng cho cán cân thanh toán Do hệ thống tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods tỏ ra không còn phù hợp nữa vào cuối những năm
1960, nên nhiều nhà kinh tế đã đề nghị các quốc gia nên thả nổi đồng tiền của họ trên thị trường ngoại hối Đến đầu năm 1973, nhiều quốc gia đã thả nổi đồng tiền
của mình, điều đó đã đặt dấu chấm hết cho hệ thống Bretton Woods, mở ra một
thời kỳ mới cho các chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn
2.2 Phân lo ại chế độ tỷ giá hối đoái
Tuy nhiên, chế độ thả nổi hoàn toàn hay cố định hoàn toàn đều không hoàn
hảo và không thể giải quyết tất cả các vấn đề mới nảy sinh trong thị trường tài chính toàn cầu Vì thế, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau Theo số liệu thống kê của IMF, các quốc gia được phân loại theo 03 nhóm
lớn hệ thống tỷ giá hối đoái như sau:
(a) Các quốc gia có đồng tiền được neo chặt vào một đồng tiền khác hoặc một
rổ tiền tệ
Trang 9(b) Các quốc gia có hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt hạn chế, biến thiên theo
một đồng tiền hay một rổ tiền tệ
(c) Các quốc gia với những hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn
B ảng 2.1 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái của IMF
1 Dollar hóa, Euro hóa No separate legal tender
2 Chuẩn tiền tệ (Currency Board) Tiền tệ được hậu thuẫn hoàn toàn bởi
các dự trữ ngoại hối
3 Neo cố định theo quy ước
(Conventional Fixed Pegs)
Neo vào một tiền tệ khác hay một rổ
tiền tệ với biên độ lớn nhất là +/- 1%
4 Dải băng ngang (Horizontal Bands ) Neo với niên độ lớn hơn +/- 1%
5 Neo trườn (Crawling Pegs ) Neo với ngang giá trung tâm định kỳ
được điều chỉnh lượng cố định với mức
độ được thông báo trước, đáp ứng lại
những thay đổi các chỉ tiêu định lượng
đã chọn
6 Dải băng trườn (Crawling Bands) Neo trườn kết hợp với biên độ lớn hơn
+/- 1%
7 Thả nổi có quản lý với chiều hướng tỷ
giá hối đoái không được báo trước
(Managed Float with No Pre-announced
Path for the Exchange Rate)
Can thiệp chủ động vào tỷ giá hối đoái
mà không có cam kết cho một mục tiêu
hoặc chiều hướng được báo trước
8 Thả nổi độc lập (Independent Float) Tỷ giá hối đoái do thị trường xác định
và chính sách tiền tệ độc lập với chính sách tỷ giá hối đoái
Nguồn: IMF (1999)
Trang 10Theo một khảo sát khác phân loại chế độ tỷ giá hối đoái theo mức độ cố định từ cao xuống thấp (xem Bảng 2.2), gồm có 9 chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau như sau:
Bảng 2.2 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái theo mức độ cố định tỷ giá
Chế độ cố định
a Liên minh tiền tệ (Currency Unions)
b Chuẩn tiền tệ- Đô la hóa (Currency
Boards- dollarization)
c Tỷ giá hối đoái cố định thực sự (Truly fixed exchange rates)
Ch ế độ trung gian
a Neo có điều chỉnh (Adjustable pegs)
b Neo trườn (Crawling pegs)
c Neo rổ tiền tệ (Basket pegs)
d Biên độ hay vùng mục tiêu (target zone or bands)
Chế độ thả nổi
a Thả nổi có quản lý (Managed float)
b Thả nổi tự do (Free float)
Chế độ Liên Minh Tiền Tệ có thể lấy Liên Minh Tiền Tệ Châu Âu làm ví
dụ, qua đó đồng tiền được lưu hành ở một quốc gia cũng là đồng tiền lưu hành ở
một hoặc một số nước đối tác Chuẩn Tiền Tệ là chế độ tỷ giá hối đoái mà tiền tệ được đảm bảo 100% dự trữ ngoại tệ cho cơ sở tiền tệ (monetary base), nguồn cung tiền mở rộng hay thu hẹp một cách tự động với tình trạng của cán cân thanh
Trang 11Các chế độ trung gian bắt đầu là chế độ Neo Trườn, theo đó các quốc gia có
thể định kỳ điều chỉnh mức neo tỷ giá của họ Đối với Neo Trườn, mức neo tỷ giá thông thường được điều chỉnh qua hàng loạt hành động phá giá đồng tiền Trong khi Neo Rổ Tiền Tệ thì tỷ giá hối đoái được cố định trong điều kiện bình quân gia quyền của một rổ ngoại tệ Đối với Biên Độ hay Vùng Mục Tiêu thì chính phủ các
nước can thiệp khi tỷ giá hối đoái chạm biên trên hoặc dưới so với ngang giá trung tâm đã được công bố trước
Các chế độ thả nổi được chia làm 2 loại: Thả Nổi Tự Do là chế độ mà các
quốc gia không can thiệp và cho phép tỷ giá hối đoái được xác định bởi các lực
lượng thị trường Và Thả Nổi Có Quản Lý là chế độ mà sự can thiệp được thực
hiện để “hướng theo chiều gió”
Ranh giới giữa chế độ cố định và chế độ trung gian là chính sách cố định tỷ giá hay nói cách khác là một cam kết hành chính Ranh giới giữa chế độ trung gian
và chế độ thả nổi là một vùng mục tiêu qua đó chính phủ các nước can thiệp vào tỷ giá
Theo số liệu thống kê tài chính quốc tế tháng 4/1999 trên 185 nền kinh tế, IMF phân loại 47 quốc gia theo chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi độc lập, 45 quốc gia theo chế độ neo tỷ giá cố định (chuẩn tiền tệ hoặc liên minh tiền tệ) và 93 quốc gia theo chế độ tỷ giá hối đoái trung gian
Trang 12Chê ́ độ tỷ giá hối đoái ở các quốc gia 4/1999
Tha ̉ nổi độc lập Neo cố định Chế độ trung gian
Sơ đồ 2.1 Chế độ tỷ giá hối đoái ở các quốc gia 4/1999
Như vậy, các quốc gia theo chế độ tỷ giá trung gian chiếm đa số trong khảo sát trên Các quốc gia theo chế độ trung gian lại được IMF phân loại nhỏ ra như sau: 25 nước neo tỷ giá vào một đồng tiền, 13 nước neo tỷ giá vào một rổ tiền, 6
nước theo chế độ neo trườn, 12 nước theo chế độ dải băng ngang, 10 nước theo
chế độ dải băng trườn, và 26 nước thả nổi có quản lý
Trang 13Phân loại chính thức của IMF đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên
cứu thực nghiệm về chế độ tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, có một vài nhà kinh tế nghi
ngờ tính xác đáng của phân loại theo IMF mà nó được gọi là phân loại hợp pháp
hay de jure Chẳng hạn, Eduardo Levy-Yeyati và Federico Sturzenegger (1999) cho biết phân loại của IMF dựa trên các chế độ được công bố bởi chính quyền các
nước, nhưng trên thực tế luôn có sự không nhất quán giữa chính sách thực tế và chính sách được công bố Họ tin rằng sự phân loại dựa trên tình hình thực tế hay
các quốc gia theo báo cáo của IMF giai đoạn 1974-2000 là một sự thay thế có ý nghĩa hơn cho những nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai Điểm chính trong bài luận của họ là đánh giá chế độ tỷ giá hối đoái qua hành vi hơn là lời nói Mặt khác, họ đã trình bày cách phân loại chế độ tỷ giá hối đoái chủ yếu dựa trên sự
kiện hơn là những đặc tính pháp lý của một chế độ tỷ giá hối đoái
Mặc dù phân loại theo Eduardo Levy-Yeyati và Federico Sturzenegger có
thể chỉ là điểm khởi đầu cho những nghiên cứu thực nghiệm tương lai trong lĩnh
vực này, nhưng nó cũng cho chúng ta một gợi ý nào đó Vì vậy, khi nỗ lực tìm
kiếm bằng chứng từ hoạt động của các nền kinh tế có chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, chúng ta nên quan tâm nhiều hơn nữa đến các hành vi của chính phủ thay vì nghe các chính phủ đó nói gì
2.3 Giả Thuyết Lưỡng Cực và Nỗi Sợ Thả Nổi (Bipolar Hypothesis & Fear of Floating)
a./ Gi ả thuyết lưỡng cực
Bắt đầu từ giữa những năm 1990, nhiều nhà nghiên cứu đã tiên đoán rằng các quốc gia có nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi, sẽ chuyển về các cực chế
độ tỷ giá theo mức độ linh hoạt của tỷ giá hối đoái Các quốc gia có thể áp dụng
chế độ hoặc thả nổi hoàn toàn hoặc neo chặt tỷ giá (hard peg) Thực tế cho thấy, số
lượng các quốc gia này tăng lên từ năm 1990 đã ủng hộ quan điểm lưỡng cực này Tuy nhiên, đã không xảy ra “khoảng trống ở giữa” (“hollwing of the middle”)
Trang 14b./ Nỗi sợ thả nổi
Khuynh hướng ở các quốc gia cho phép tỷ giá hối đoái trên thực tế (de
“Nỗi sợ thả nổi” (“Fear of Floating”) Theo Calvo và Reinhart (2002) thì “nỗi sợ
thả nổi” (“fear of floating”) là một sự miễn cưỡng để cho phép tỷ giá hối đoái dao động tự do, nhưng thực tế lại theo đuổi sự ổn định tỷ giá hối đoái ở một mức độ nào đó Nguyên nhân có thể do độ tin cậy của chính sách ở mức thấp, nỗi sợ lạm phát, nỗi sợ mất cân xứng tiền tệ (currency mismatch), nỗi sợ lãi suất biến động cao và những thay đổi theo chu kỳ trong lãi suất và những tác động trên bảng cân đối tài sản (balance sheet effects) (trên tài khoản nợ có thể chuyển hóa thành đôla) trong trường hợp đồng tiền giảm giá trầm trọng Chính vì thế, một bộ phận lớn các
quốc gia nói thả nổi lại không thả nổi trên thực tế Hơn nữa, nhiều quốc gia nói họ
có chế độ tỷ giá trung gian, trên thực tế lại neo chặt tỷ giá
Trang 15ơ đồ 2.3 Số chế độ tỷ giá thả nổi được công bố (de jure)
tế (de facto) thì không thả nổi
Nguồn: Levy-Yeyati và Federico Sturzenegger (1999)
2.4 Chuy ển đổi chế độ tỷ giá hối đoái (Regime Transitions)
Trên thực tế, các quốc gia đã thay đổi chế độ tỷ giá hối đoái một cách
thường xuyên Theo số liệu thống kê từ năm 1940, mỗi năm có khoảng 7% các
quốc gia trên Thế giới đã chuyển sang chế độ tỷ giá hối đoái khác, và tuổi thọ bình quân của một chế độ tỷ giá hối đoái khoảng 14 năm
Các chế độ neo chặt tỷ giá trên thực tế có khuynh hướng thay đổi ít hơn và
tồn tại lâu hơn là các chế độ khác
Các nước có nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi có khuynh hướng chuyển đổi chế độ tỷ giá thường xuyên hơn là các quốc gia khác Kể từ năm 1940,
tỷ lệ chuyển đổi chế độ tỷ giá mỗi năm ở các nước này khoảng 10% so với 7% ở các nước tiến bộ và khoảng 2% ở các nước đang phát triển khác
Trang 16Trong tương lai, các nhà nghiên cứu của IMF cho rằng tỷ trọng các quốc gia theo các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau sẽ không thay đổi nhiều Tuy nhiên,
do các quốc gia đang phát triển ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính toàn cầu, tạo ra xu hướng các quốc gia theo các chế độ cố định tỷ giá sẽ
giảm dần, trong khi các quốc gia theo các chế độ tỷ giá linh hoạt hơn sẽ tăng dần
2.5 Ch ế độ tỷ giá hối đoái tác động như thế nào đến hoạt động của nền kinh
t ế?
Việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của nó lên hoạt động của
nền kinh tế chắc chắn là một trong những đề tài gây nhiều tranh cãi trong chính sách kinh tế vĩ mô Có hai quan điểm đối nghịch nhau như sau:
Một số nhà nghiên cứu tin rằng không có sự liên hệ giữa việc chọn lựa chế
độ tỷ giá hối đoái và hoạt động của nền kinh tế Chẳng hạn công trình nghiên cứu
của Baxter và Stockman (1989), Flood và Rose (1995) và Gosh et al (1997), kết
luận của họ cho thấy việc lựa chọn chế độ tỷ giá ảnh hưởng tương đối nhỏ lên hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, những nghiên cứu này dựa trên phân loại chính
thức chế độ tỷ giá hối đoái của IMF (de jure classification), nên được đánh giá là
chưa chuẩn xác bởi vì sự khác nhau giữa lời nói và hành vi Do đó, kết quả có thể thay đổi nếu sử dụng cách phân loại khác
Một số nhà nghiên cứu khác có quan điểm ngược lại Họ cho rằng có các
chứng cứ thực nghiệm mạnh mẽ rằng chế độ tỷ giá hối đoái thực sự là vấn đề đối
với hoạt động của nền kinh tế Thí dụ, Eduardo Levy-Yeyati và Federico Sturzenegger (1999): “Chúng ta nghiên cứu mối liên hệ giữa chế độ tỷ giá hối đoái
và phát triển kinh tế qua ví dụ của 183 nước giai đoạn hậu Bretton Woods, sử
dụng cách phân loại chế độ tỷ giá hối đoái mới - phân loại theo thực tế (de facto)
dựa trên các hành vi thực tế của các biến số kinh tế vĩ mô có liên quan Ngược lại
với các nghiên cứu trước đây, chúng ta phát hiện ra rằng, đối với các quốc gia đang phát triển, chế độ tỷ giá hối đoái kém linh hoạt hơn đi đôi với phát triển thấp
Trang 17Bên cạnh đó, một số nhà kinh tế khác lại khám phá ra mối liên hệ giữa
khủng hoảng ngân hàng và chế độ tỷ giá hối đoái Ví dụ Ilker và Maria (2000) của ngân hàng Thế giới, dựa trên thực nghiệm cũng đã tìm ra mối liên hệ giữa khủng
hoảng ngân hàng và chế độ tỷ giá hối đoái, họ đã sử dụng dữ liệu toàn diện gồm cả các nước đã và đang phát triển trong suốt hai thập kỷ gần đây Họ cho rằng áp
dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ làm giảm nguy cơ xảy ra khủng hoảng ngân hàng ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, một khi khủng hoảng xảy ra các quốc gia có
tỷ giá hối đoái cố định chịu tổn thất lớn hơn các quốc gia có tỷ giá hối đoái linh
hoạt
Những phát hiện gần đây cho thấy một quốc gia càng trưởng thành theo nghĩa hội nhập vào thị trường vốn quốc tế và phát triển hệ thống tài chính lành
mạnh, càng nên lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn:
- Ở các nước đang phát triển, tiếp cận thấp với thị trường vốn quốc tế nên
áp dụng các chế độ cố định tương đối như neo tỷ giá Vì nó giúp đạt được lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn và khả năng xảy ra khủng
hoảng thấp hơn
- Ở các nước có nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi, tiếp cận cao hơn vào dòng vốn quốc tế, thì nên áp dụng các chế độ trung gian Bởi vì, chế
độ tỷ giá cố định nếu áp dụng ở các nước này sẽ là mầm mống gây ra
khủng hoảng, mặt khác nó không giúp đạt được mức lạm phát thấp hoặc
tăng trưởng cao một cách rõ ràng Trong khi đó, chế độ tỷ giá linh hoạt hoàn toàn cũng không thể áp dụng ở các nước này, do lo ngại rằng dao động lớn trong tỷ giá hối đoái có thể gây thiệt hại cho nền kinh tế
- Ở các nước tiến bộ, thả nổi hoàn toàn sẽ cho mức phát triển nhanh hơn các chế độ tỷ giá khác mà không phải chịu lạm phát cao
Trang 18Mặc dù, giá trị của tỷ giá hối đoái linh hoạt gia tăng với sự trưởng thành về tài chính, thì ưu thế của bất kỳ chế độ tỷ giá nào cũng sẽ được tăng cường bởi
quản lý kinh tế vĩ mô nhất quán của các quốc gia
Bảng 2.3 Chế độ tỷ giá hối đoái tác động đến hoạt động của nền kinh tế
Chế độ tỷ giá hối đoái tác động đến hoạt động của nền kinh tế
được kiềm chế trong
điều kiện quản lý
kinh tế yếu kém
Làm giảm các chi phí giao
của các cú
sốc và tỷ giá
cố định danh nghĩa
Làm tăng rủi ro
về các cuộc đầu
cơ tấn công vào
tiền tệ, đặc biệt khi có biểu hiện các dòng vốn không ổn định Làm tăng nguy
cơ khủng hoảng trong bộ phận ngân hàng
sốc và ít bị
chệch hướng
bởi các cú sốc
Làm tăng tính bất ổn
Trang 192.6 M ột vài nét lý thuyết về lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu
Có nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau và các quốc gia cần phải lựa
chọn một chế độ phù hợp Vấn đề quan trọng ở đây là làm sao lựa chọn được chế
độ tối ưu Trên thực tế, đây là vấn đề nan giải và được chú trọng trong quản lý vĩ
mô ở các quốc gia có nền kinh tế mở
Đầu năm 1953, Friedman cho rằng chế độ tỷ giá linh hoạt có ưu thế hơn
chế độ tỷ giá cố định do nó giúp tránh được những cú sốc từ bên ngoài Trước một
cú sốc về ngoại tệ, nếu một quốc gia duy trì chế độ neo tỷ giá, nó sẽ bị sốc Nhưng
tỷ giá thả nổi lại làm giảm sốc Friedman xem tỷ giá hối đoái linh hoạt như một
phương tiện để đạt được sự thay đổi nhanh chóng trong giá cả tương đương quốc
tế
Vào thời của Friedman, có rất ít sự luân chuyển vốn thậm chí trong các
quốc gia giàu có nhất Số dư tài khoản hiện hành bằng không có thể được duy trì
bởi tỷ giá thả nổi, nó có thể đóng tất cả các kênh dẫn đến sốc từ bên ngoài Sau này, trong một loạt các bài báo, Mundell (1960, 1961a, 1961b, 1963) chỉ ra rằng thuộc tính cách ly khỏi các cú sốc của tỷ giá thả nổi bị giảm bớt nếu thiếu sự luân chuyển vốn quốc tế
Lý thuyết Miền tiền tệ tối ưu (optimum currency arreas- OCA) cũng nghiên
cứu vấn đề này, nội dung chính của lý thuyết là: Các quốc gia có nên chia sẻ một đồng tiền chung hay không? Mundell (1961a) đã đi tiên phong phát triển lý thuyết này Lý thuyết OCA phát biểu rằng các quốc gia lớn và không mở cửa nên có đồng tiền riêng của mình Các nền kinh tế mở nhỏ hơn nên là thành viên của một liên minh tiền tệ Sự linh hoạt tỷ giá hối đoái được kỳ vọng ở các quốc gia phụ thuộc là dễ tạo ra sốc về nguồn cung và cầu thực tế Một khi mức giao thương giữa hai quốc gia là cao, việc dùng chung một đồng tiền trở nên cấp thiết bởi vì luân chuyển tiền tệ - hàng hóa giữa hai nước sẽ điều chỉnh các cú sốc Hơn nữa, hai
nước là ứng cử viên cho một đồng tiền chung nếu có mức độ hội nhập cao về tài chính, và có cơ chế tài chính hiện hành cho phép thực hiện điều đó
Trang 20B ảng 3.1 Các yếu tố cần xem xét trong việc lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu
Y ếu tố G ợi ý lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu
Đặc tính của nền kinh tế Những gợi ý cho mức độ linh hoạt kỳ vọng của
tỷ giá hối đoáiKích thước của nền kinh tế Nền kinh tế càng lớn thì tỷ giá hối đoái linh hoạt
Độ lệch của lạm phát trong
nước
Lạm phát của một quốc gia càng lệch so với lạm phát của các nước đối tác chính trên thế giới, thì càng có nhu cầu điều chỉnh tỷ giá hối đoái
thường xuyên (Nhưng đối với quốc gia siêu lạm phát, tỷ giá hối đoái cố định sẽ lập lại kỷ cương
và niềm tin vào chính sách tiền tệ trong chương trình bình ổn nền kinh tế)
Trình độ của nền kinh tế/tài
chính
Trình độ của nền kinh tế và phát triển tài chính càng cao, thì chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt càng khả thi
Trang 21Luân chuyển lao động Mức độ luân chuyển lao động càng cao, khi tiền
lương và giá cả được kết dính (sticky) theo chiều
hướng giảm, thì các điều chỉnh đối với những cú
sốc từ bên ngoài với một tỷ giá hối đoái cố định càng khó khăn (và tổn thất)
Luân chuyển vốn Mức độ luân chuyển vốn càng cao, thì duy trì
một chế độ tỷ giá hối đoái cố định (có thể điều
nước
Các cú sốc trong nước càng nhiều, thì tỷ giá hối đoái cố định càng hấp dẫn hơn
Các cú sốc thực Tính nhạy cảm của nền kinh tế đối với các cú
sốc thực càng lớn, thì tỷ giá hối đoái linh hoạt càng thuận lợi hơn
Sự tín nhiệm các nhà làm chính
sách
Sự tín nhiệm các nhà làm chính sách trong việc
chống lạm phát càng thấp, thì tỷ giá hối đoái cố định đóng vai trò như một cái neo danh nghĩa càng hấp dẫn hơn
Nguồn: IMF (1997b)
Tóm tắt phần 2: Phần 2 cho chúng ta những khái niệm, lý luận chung nhất
về chế độ tỷ giá hối đoái
Chế độ tỷ giá hối đoái được định nghĩa như là một sự dàn xếp giữa các
quốc gia để thực hiện việc thanh toán quốc tế và xác định tỷ giá hối đoái Có nhiều cách phân loại chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau: phân loại của IMF (1999) và phân
loại theo mức độ cố định tỷ giá Nhìn chung, cách phân loại nào cũng phân các chế
độ tỷ giá thành 3 nhóm lớn: nhóm các chế độ tỷ giá cố định, nhóm các chế độ tỷ giá trung gian và nhóm các chế độ tỷ giá thả nổi
Trang 22“Giả thuyết lưỡng cực” cho rằng chế độ tỷ giá hối đoái ở các quốc gia có
nền kinh tế thị trường đang chuyển đổi, có xu hướng vận động chuyển thành hoặc
thả nổi hoàn toàn hoặc neo chặt tỷ giá (hard peg) Tuy nhiên trên thực tế, các chế
độ tỷ giá trung gian ở giữa đã không biến mất “Nỗi sợ thả nổi” là tình trạng chế
độ tỷ giá hối đoái trên thực tế (de facto) ít linh hoạt hơn chế độ tỷ giá được công
bố (de jure) bởi chính phủ các nước
Nghiên cứu vấn đề chuyển đổi tỷ giá hối đoái của các quốc gia cho thấy xu
hướng các quốc gia theo các chế độ cố định tỷ giá sẽ giảm dần, trong khi các quốc gia theo các chế độ tỷ giá linh hoạt hơn sẽ tăng dần
Kế đến, chúng ta nghiên cứu chế độ tỷ giá hối đoái tác động như thế nào đến hoạt động của nền kinh tế Sau cùng trong phần 2 này, chúng ta nghiên cứu
những nét lý thuyết chung nhất về lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu
Trang 23Ph ần 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LỰA CHỌN CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 3.1 V ấn đề bù trừ lợi ích – thiệt hại (trade off)
Gần đây, có một công trình nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề của nền kinh tế mở, trong trạng thái cân bằng tổng thể năng động của nền kinh tế mở, đó là Kinh Tế Học Mới Thời Mở Cửa (New Open-Economy Microeconomics- NOEM)
Một vấn đề gây tranh cãi của NOEM trong thời gian dài đó là vấn đề bù trừ giữa
lợi ích và thiệt hại (trade off) Nói chung, cả tỷ giá hối đoái thả nổi lẫn cố định đều
có những lợi thế và hạn chế nhất định Vì mỗi quốc gia đều có hoàn cảnh kinh tế đặc thù nội tại của mình trong khi các điều kiện ngoại cảnh lại biến đổi không
ngừng Do đó, để có sự chọn lựa xác đáng, vấn đề quan trọng là phải hiểu thấu đáo môi trường trong cũng như ngoài nước và cân đối giữa các lợi ích của tỷ giá hối đoái cố định và thả nổi
So sánh đầy đủ những lợi thế và hạn chế của tỷ giá hối đoái cố định và thả
nổi sẽ gây ra sự tranh cãi không có hồi kết Nhưng những điểm chính yếu có thể gút lại như sau:
+ Lợi thế tương đối của tỷ giá hối đoái cố định:
- Chi phí giao dịch thấp hơn nhưng rủi ro về tỷ giá có thể không khuyến khích thương mại và đầu tư, do đó làm giảm các rào cản đối với thương mại
và dòng vốn đầu tư
- Đưa ra mức neo tỷ giá danh nghĩa rõ ràng và đáng tin cậy đối với chính sách tiền tệ
Sự biến động cao hơn của tỷ giá có thể tạo ra tình trạng không chắc chắn,
và do đó rủi ro đến lượt mình không khuyến khích thương mại quốc tế và đầu tư
Hơn một thập kỷ trước đây, nó đã là vấn đề gây tranh cãi mạnh mẽ chống lại chế
độ thả nổi Tuy nhiên, ngày nay hầu hết các nhà kinh tế có xu hướng ôn hòa hơn
với tranh cãi này, bởi vì rủi ro tỷ giá có thể được phòng ngừa thông qua thị trường
hối đoái kỳ hạn và các chứng chỉ tài chính phái sinh khác (financial derivatives)
Ngược lại, không có sự thẩm định thuyết phục nào rằng thương mại và đầu tư gia
Trang 24Để chống lại tình trạng lạm phát, ngân hàng trung ương có thể cam kết
bằng việc cố định tỷ giá hối đoái vào một đồng tiền mạnh, hoặc thậm chí từ bỏ đồng tiền riêng của mình
+ Những lợi thế tương đối của tỷ giá hối đoái thả nổi:
- Điều chỉnh các điều kiện thương mại (terms of trade) và tỷ giá hối đoái
thực thông qua vận động của tỷ giá theo quan hệ cung cầu trên thị trường
- Cho phép một chính sách tiền tệ độc lập
- Khai thông chính sách tài khóa với vai trò tạo ra sự ổn định
- Không bị ảnh hưởng bởi các cuộc tấn công đầu cơ
Dưới hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods, các quốc gia ngoài Mỹ đã sử
dụng công cụ chính sách tiền tệ một cách hạn chế để đạt được cân bằng nội và ngoại Dưới chế độ thả nổi, tuy nhiên, thị trường ngoại hối tự động tạo ra những thay đổi trong tỷ giá hối đoái và loại bỏ nghĩa vụ neo giá trị tiền tệ, trả lại việc
kiểm soát tiền tệ cho ngân hàng trung ương Vì thế, lợi thế chính của chế độ tỷ giá linh hoạt nằm ở sự tự chủ chính sách tiền tệ Đặc biệt đối với các nước lớn, khi
xảy ra sốc các nước này cần năng lực tự quyết để tránh suy thoái Bằng việc tự do hóa tiền tệ, quốc gia có thể khai thông chính sách tài khóa đóng vai trò như là một công cụ ổn định hóa bằng cách mở rộng hoặc thu hẹp tiền tệ Do đó, kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa có thể bù lại ảnh hưởng bất lợi của sốc
Mặc dù, tỷ giá thả nổi không bị ảnh hưởng bởi các cuộc tấn công đầu cơ
vẫn là vấn đề gây tranh cãi, tính không ổn định cố hữu của thị trường tài chính
cũng có thể gây hại cho nền kinh tế Có một bất lợi dễ thấy của thả nổi tự do đó là
xu thế hướng về tính hay biến đổi, không phải lúc nào nó cũng có nguồn gốc từ các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vĩ mô, bao gồm sự sụp đổ và bùng phát đầu cơ không thường xuyên Sự đầu cơ làm mất ổn định trong thị trường tài chính có
Trang 25Chính vì thế, khi quyết định chế độ tỷ giá hối đoái, các nhà làm chính sách
sẽ cân nhắc các yếu tố chi phối, lợi ích của chế độ cố định hoặc lợi ích của chế độ
thả nổi ? Không có câu trả lời chuẩn cho tất cả các quốc gia trên Thế Giới, như Frankel đã cho rằng câu trả lời tùy thuộc phần lớn vào các đặc tính của từng quốc gia Do đó, trên cơ sở các đặc tính của mỗi quốc gia, sẽ có một sự bù trừ giữa các
mặt lợi và mặt bất lợi của các chế độ tỷ giá hối đoái
3.2 Lý thuyết bộ ba bất khả (Impossible trinity)
Ngoài ra, có một lý thuyết khác được phát triển vào những năm 1980 cũng thu hút được sự quan tâm rộng rãi Nó được gọi là “Bộ Ba Bất Khả”, tên khác là
“Trilemma” Lý thuyết phát biểu rằng các nhà làm chính sách nhìn chung phải đương đầu với 3 mục tiêu kỳ vọng nhưng đối kháng nhau:
1 Cố định tỷ giá hối đoái nhằm mục đích ổn định giá cả tương đối
2 Luân chuyển vốn tự do nhằm mục đích linh hoạt và hiệu quả
3 Cam kết một chính sách tiền tệ tích cực nhằm mục đích ổn định sản lượng đầu ra
Bởi vì chỉ có 2 trong 3 mục tiêu có thể cùng tồn tại, các nhà làm chính sách
phải từ bỏ mục tiêu còn lại Thực tế, bất kỳ một cặp nào trong 3 mục tiêu nêu trên đều ứng với một chế độ tỷ giá hối đoái nào đó Một quốc gia cố gắng đạt được ổn định về tỷ giá hối đoái và độc lập về tiền tệ thì sẽ phải theo đuổi nghiêm ngặt kiểm soát vốn trên diện rộng Còn quốc gia đó muốn đạt được hội nhập về tài chính và
Trang 26Để đơn giản, lý thyết này được minh họa theo sơ đồ sau đây:
Kiểm soát vốn hoàn toàn
Độc lập về tiền tệ
Tính biến động vốn gia
tăng
Ổn định tỷ giá hối đoái
Thả nổi hoàn toàn Liên minh tiền tệ
Hội nhập tài chính hoàn toàn
Sơ đồ 3.1 Lý thuyết Bộ Ba Bất Khả
Nguồn: Frankel (1999)
Mỗi một cạnh của bộ ba này có sức lôi cuốn riêng của nó - sự hấp dẫn của độc lập về tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái, và hội nhập hoàn toàn về tài chính Như
sơ đồ trên đã chỉ ra, sự phát triển chung của hội nhập về tài chính đã thúc đẩy hầu
hết các quốc gia hướng về phần thấp hơn của tam giác, nó có vẻ trùng khớp với lý thuyết về giải pháp góc Tuy nhiên, vài ý kiến khác cho rằng thậm chí trong điều
kiện biến động vốn hoàn hảo, cũng không có sự cản trở một quốc gia lựa chọn các
giải pháp trung gian giữa thả nổi và liên minh tiền tệ
Trang 273.3 Lý thuy ết về Miền Tiền Tệ Tối ưu (The Optimum Currency Area - OCA)
Có rất nhiều các đặc tính của quốc gia đã được nhận diện là các yếu tố quan
trọng đối với vấn đề thả nổi hay cố định Vài đặc tính then chốt trong số đó có liên quan chặt chẽ đến độ lớn và độ mở cửa của một quốc gia Khảo sát này đưa chúng
ta đến với lý thuyết Miền Tiền Tệ Tối Ưu (OCA), nó phân tích các vấn đề về tỷ giá thả nổi hay cố định từ một góc độ khác Lý thuyết OCA đã bắt đầu với bài viết
của Mundell năm 1961 Sau đó, nhiều bài viết khác đã phát triển thêm lý thuyết này
3.3.1 Định nghĩa miền tiền tệ tối ưu (OCA)
Miền tiền tệ tối ưu được định nghĩa là “các quốc gia đã hội nhập với nhau ở
mức cao về thương mại và các quan hệ kinh tế khác, có khả năng để tạo thành một
miền tiền tệ tối ưu Miền tiền tệ tối ưu là một vùng lãnh thổ mà tốt nhất nó nên có
một đồng tiền chung và một chính sách tiền tệ chung cho nó.”
Liên quan đến độ lớn của một quốc gia, một vài chuyên gia quả quyết rằng: Nhìn chung các quốc gia nhỏ hơn có khuynh hướng mở cửa và hội nhập với các
nước láng giềng hơn là các nước lớn Họ định nghĩa miền tiền tệ tối ưu là: “Một vùng không quá nhỏ và mở cửa để neo đồng tiền của nó vào một quốc gia láng
giềng, cũng không quá lớn để chia thành những lãnh thổ nhỏ với các đồng tiền riêng”
3.3.2 Vấn đề bù trừ lợi ích và thiệt hại cơ bản trong lý thuyết OCA
Lý thuyết OCA giả định rằng những lợi ích trong nước đạt được từ dự báo
tỷ giá hối đoái sẽ gia tăng, nhưng với tốc độ giảm dần, bởi vì vùng lãnh thổ mà tỷ giá hối đoái được cố định giữa các quốc gia sẽ mở rộng về mặt địa lý Mặt khác,
khả năng phát sinh các vấn đề điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô cũng gia tăng, và với
tốc độ tăng dần Bởi vì, một liên minh tỷ giá hối đoái sẽ mở rộng sự đa dạng hơn
nữa các vấn đề kinh tế, tùy thuộc vào những xáo trộn của thị trường và sản lượng
Trang 28Những phân tích truyền thống của lý thuyết OCA, vấn đề bù trừ giữa những
lợi ích về kinh tế đạt được bằng việc gia tăng hữu dụng tiền tệ qua việc mở rộng
miền hiệu quả của các tiền tệ đơn lẻ thông qua liên minh tiền tệ hay tỷ giá hối đoái
cố định và các chi phí kinh tế do việc từ bỏ tỷ giá hối đoái như là một công cụ ổn định tự động và do đó tùy thuộc vào các chính sách kinh tế trong nước để giữ
thăng bằng cán cân thanh toán Theo Robert Mundell phát biểu đầu tiên vào năm 1961:
“Hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt thường được thể hiện, qua các đề xuất của
nó, theo đó sự giảm giá có thể xảy ra với tình trạng thất nghiệp khi cân bằng ngoại trong tình trạng thâm hụt, và sự tăng giá biểu hiện qua lạm phát khi nó trong tình trạng thặng dư.”
Vấn đề bù trừ về căn bản có thể được làm sáng tỏ một cách súc tích, như Masson và Taylor (1993) đã tiến hành khảo sát lý thuyết OCA:
“ Giá trị của các liên minh tiền tệ rõ ràng xuất phát từ sự lưu thông rộng rãi
một đồng tiền ổn định Các lợi ích chính bao gồm giảm chi phí giao dịch,
giảm tính biến thiên của tỷ giá hối đoái và giá cả, tăng cường độ tin cậy chống
lạm phát của chính sách tiền tệ… Những mất mát của một liên minh tiền tệ đối với một quốc gia liên quan đến những tổn thất do tính linh hoạt của tỷ giá
hối đoái, mà nó có thể được xem như là công cụ để giảm sốc cho nền kinh tế
Lý thuyết OCA truyền thống xem xét các điều kiện trong đó thiệt hại của liên minh tiền tệ là thấp nhất Trong nội bộ các liên minh tiền tệ biểu lộ tính biến động cao và tính linh hoạt trong giá cả và tiền lương, đối với các nền kinh tế
tương đối mở cửa và đối với các quốc gia có mức độ đa dạng hóa cao về công nghiệp.”
Trang 29Friedman (1953) và Yeager (1966) phát biểu rằng sự linh hoạt tỷ giá hối đoái có thể chỉ đóng vai trò như là sự thay thế thứ yếu (second best) cho tính hay thay đổi của các nhân tố và cho tính linh hoạt trong giá cả tiền lương đối với việc điều chỉnh các cú sốc khác nhau Bởi vì tính cứng nhắc (rigidities) của nền kinh tế,
họ đã nghĩ rằng chính sách thứ yếu này hữu dụng Do đó, trong điều kiện lý tưởng
miền tiền tệ tối ưu phải là một thế giới chỉ có một đồng tiền, tuy nhiên trên thực tế
thế giới có thể có nhiều hơn một miền tiền tệ tối ưu
Nếu không xét trên phạm vi thị trường toàn thế giới, thì vận động của giá
cả và tiền lương trong nước thường thể hiện tính cứng nhắc (rigidities) Do đó, độ
lớn và độ mở cửa của nền kinh tế trở thành những nhân tố chính có ảnh hưởng lớn đến những tổn thất và lợi ích của các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau McKinnon (1963) đã nhấn mạnh, một nền kinh tế càng nhỏ và càng mở cửa, tính hữu dụng
của đồng tiền nội địa càng thấp Bởi vì tỷ lệ mậu dịch các hàng hóa phi mậu dịch càng cao, thì tỷ giá danh nghĩa thay đổi ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực càng
thấp Ngược lại, nếu một quốc gia có khuynh hướng nhập khẩu biên cao hơn, thì thu nhập thực trong nước giảm thấp hơn để đạt được sự cải thiện cần thiết nào đó trong cán cân thương mại Tóm lại, nếu một quốc gia nhỏ hơn và mở cửa hơn, thì
tỷ giá hối đoái cố định chắc chắn sẽ cho những lợi ích đạt được lớn hơn những tổn
thất bị mất
Theo lý thuyết OCA, khía cạnh chính yếu của kỳ vọng giữa tỷ giá cố định
và tỷ giá linh hoạt là: Hoặc để xảy ra sốc - tạo ra sự xung khắc giữa cân bằng nội (kinh tế vĩ mô trong nước) và cân bằng ngoại (cán cân thanh toán), kinh tế trong
nước phải được điều chỉnh theo kinh tế nước ngoài qua việc cố định tỷ giá Hoặc
bộ phận kinh tế nước ngoài phải điều chỉnh theo bộ phận kinh tế trong nước qua
những điều chỉnh tỷ giá Câu trả lời phụ thuộc phần lớn vào độ lớn tương đối của hai bộ phận, đó là sự mở cửa của nền kinh tế
Kenen (1967) đã trình bày một điều thứ 3 phải tính tới đó là cấu trúc công nghiệp Nếu một nền kinh tế có cấu trúc công nghiệp phong phú, chắc chắn nó sẽ
Trang 303.3.3 Những gợi ý của OCA đối với các nước đang phát triển
Đối với các nước đang phát triển, vấn đề bù trừ của lý thuyết OCA có thể cho một vài gợi ý cho sự lựa chọn giữa các chế độ cố định hay linh hoạt Ngày nay, tỷ giá hối đoái của các đồng tiền chính đang được thả nổi Một nước đang phát triển có thể hình thành một miền tiền tệ bằng cách neo đồng tiền của họ vào
một trong số các đồng tiền mạnh Lý thuyết OCA sau đó có thể được áp dụng để xác định miền tiền tệ nào là tối ưu
Phần lớn thương mại trên Thế giới được tiến hành bằng các đồng tiền của các nước công nghiệp hóa chứ không phải là đồng tiền của các nước đang phát triển Do đó đối với các nước đang phát triền, tỷ giá hối đoái đóng vai trò sống còn trong việc tính giá mậu dịch bằng đồng tiền trong nước Hơn nữa, một vài quốc gia đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu các sản phẩm thô, các sản
phẩm này thường hay bị sốc về chu kỳ giá và nguồn cung thực tế trong nước Tỷ giá hối đoái thả nổi rất có thể sẽ gia tăng tính biến động giá cả hàng hóa ngay cả trong một chính sách tiền tệ ổn định Các quốc gia đang phát triển có mức tăng
trưởng cao hoặc có một hệ thống tiền tệ yếu kém có thể lạm phát sẽ biến động ở
mức cao
Với những luận điểm trên đây, lý thuyết OCA cho rằng các nước đang phát triển có nền kinh tế mở nên neo tỷ giá để đảm bảo giá trị đồng tiền của họ Như Mundell (1961) đã phát biểu,
“Một miền tiền tệ tối ưu sẽ cải thiện tính hiệu quả các chức năng của tiền tê:̣ là
phương tiện trao đổi (do giảm chi phí giao dịch), là phương tiện tích trữ (do giám rủi ro trong trao đổi) và là phương tiện thanh toán (do nền kinh tế thông tin).”
Trang 31Các nhà kinh tế cho rằng nếu một quốc gia đang phát triển có mức độ mở
cửa giao thương cao và thả nổi đồng tiền của họ với một đối tác lớn, biến động trong tỷ giá hối đoái rất có thể dẫn đến biến động trong giá mậu dịch bằng đồng
tiền trong nước Điều này gây ra sự thay đổi đáng kể trong giá cả và giá tương đối
bởi vì chính sách tiền tệ có thể chỉ ảnh hưởng đến giá cả phi mậu dịch Nó có thể làm suy yếu đồng tiền trong nước, dẫn đến khả năng thay thế tiền tệ và tháo chạy dòng vốn Điều đó giải thích tại sao sự thay thế tiền tệ thì phổ biến ở các nước đang phát triển với mức lạm phát cao, biến động và có chính sách tiền tệ không
chắc chắn trong tương lai
Mặt khác, giá cả và giá tương đối xem ra sẽ ổn định hơn dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định Do đó, tỷ giá hối đoái cố định không làm thay đổi giá tương đối giữa hai đồng tiền, nó có thể đảm bảo lưu hành đồng tiền trong nước ở các
nước đang phát triển
Với khía cạnh an ninh tiền tệ, lý thuyết OCA đã chỉ ra những khó khăn mà các nước đang phát triển có thể đương đầu khi quản lý tiền tệ trong nước và chính sách tiền tệ dưới một chế độ linh hoạt Lý thuyết “trilemma” và lý thuyết bù trừ về
chế độ tỷ giá hối đoái có thể hỗ trợ rất nhiều trong trường hợp này
Một nước đang phát triển có nên neo tỷ giá và nên neo vào đồng tiền nào ?
Để trả lời câu hỏi này, một loạt các tiêu chuẩn cho sẵn mà lý thuyết OCA đã thiết
lập như sau:
1) Hội nhập mậu dịch
Tại sao các tiêu chuẩn OCA lại phụ thuộc vào sự hội nhập ? Những lợi ích của tỷ giá hối đoái cố định gia tăng với mức độ hội nhập mậu dịch, trong khi lợi ích của
tỷ giá hối đoái linh hoạt lại giảm Điều này rõ nhất trong trường hợp hội nhập về
mậu dịch, nhưng nó cũng đúng cho các hình thức hội nhập khác Lý giải cho vấn
đề này nằm ở sự giảm xuống trong chi phí giao dịch khi áp dụng tỷ giá hối đoái cố định, nó có thể cải thiện hiệu suất giữa hai quốc gia hội nhập ở mức cao
Trang 322) Tương đồng trong tỷ lệ lạm phát
Hai quốc gia phải có biểu hiện lạm phát gần giống nhau (Fleming, 1971) Khi tỷ lệ
lạm phát giữa một quốc gia phát triển và một nước công nghiệp hóa tương tự nhau, các giao dịch trên tài khoản hiện hành sẽ cân bằng và ít phải điều chỉnh thông qua thay đổi tỷ giá hối đoái Nếu điều kiện này thỏa mãn, tỷ giá hối đoái cố định giữa hai quốc gia là hợp lý
3) Cấu trúc công nghiệp
Đa dạng hóa trong xuất khẩu và sản xuất phải được nhắc đến (Kenen, 1969) Mức
độ cao trong đa dạng hóa xuất khẩu và sản xuất sẽ góp phần cách ly sự tấn công
của các cú sốc Do đó, các quốc gia không phải thay đổi thường xuyên các điều
kiện thương mại thông qua tỷ giá hối đoái Vì vậy, mục tiêu của neo tỷ giá sẽ tùy thuộc vào (1) Mức độ tập trung thương mại và liên kết tài khoản vốn với một quốc gia công nghiệp hóa nào đó, (2) Mức độ tương đồng giữa cơ cấu sản xuất của hai
quốc gia
4) Luân chuyển lao động
Tiêu chuẩn OCA được nêu trong bài viết đầu tiên của Mundell là luân chuyển lao động, ở đây nó được định nghĩa là sự dễ dàng trong di chuyển lao động giữa quốc gia Theo tiêu chuẩn này, nhân công của một nước có thể di chuyển ra ngoài biên
giới để kiếm việc làm khi kinh tế trong nước suy thoái, vì thế sự cần thiết phải mở
rộng tiền tệ hoặc phá giá đồng tiền giảm xuống
5) Tính hệ thống của sốc
Một quốc gia phát triển phải quan tâm đến tính hệ thống của sốc, bởi vì các cú sốc không đối xứng rất có thể sẽ gây rắc rối cho liên minh tiền tệ hoặc chế độ tỷ giá cố định (Mundell, 1961; De Grauwe, 1992b) Nếu sốc xâm nhập vào một quốc gia đang phát triển và một nước công nghiệp hóa là không giống nhau, chính sách tiền
tệ ở các quốc gia cũng phải khác nhau
6) Thiện ý chính trị (Political willingness)
Trang 33Thiện ý chính trị là sự sẵn lòng của các quốc gia để chấp nhận chính sách của
nước láng giềng Ở mức độ nào đó cư dân trong nước có những ưu tiên về kinh tế, đặc biệt trong việc chống lạm phát và thất nghiệp, nếu tương tự như của các nước láng giềng, các quốc gia không cần một phản ứng khác đối với các cú sốc chung
Những tiêu chuẩn trên đây là các tiêu chuẩn tiêu biểu nhất của lý thuyết OCA cho vấn đề được đặt ra Bên cạnh đó, lý tuyết OCA còn nhiều tiêu chuẩn khác nhưng không được mở rộng bàn thảo trong bài viết này
3.4 Bài h ọc rút ra từ các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ gần đây
Nói chung, không một chế độ tiền tệ đơn lẻ nào là tốt nhất cho các nước đang phát triển xét từ khía cạnh lý thuyết Hơn nữa, đối với vấn đề chế độ tỷ giá
hối đoái, chúng ta cũng có thể học được rất nhiều từ kinh nghiệm quá khứ, đặc biệt
là từ các cuộc khủng hoảng Đông Á đã từng được xem là một mô hình kiểu mẫu
để các nước đang phát triển khác noi theo Tuy nhiên vùng này đã chịu tổn thất rất nhiều từ một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Như Christoffersen (2000) tóm tắt:
“Nó không chỉ là sự kết hợp giữa khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ, nó còn nhanh chóng dẫn đến một cuộc khủng hoảng nợ và đe doạ trở thành một cuộc
khủng hoảng hệ thống toàn cầu Mặc dù mức độ nghiêm trọng của mỗi cuộc
khủng hoảng và hậu quả thực tế của nó thì khác nhau đối với các quốc gia khác nhau, nhưng hiệu ứng chung cuộc thì khá giống nhau Đó là, sự giảm xuống nhanh chóng trong sản lượng, tỷ giá hối đoái, chỉ số chứng khoán, giá trị tài
sản và chỉ số trái phiếu Mặt khác, sự gia tăng mạnh mẽ trong tỷ lệ thất nghiệp
và lạm phát, làm khô cạn tín dụng trong nước và quốc tế cũng như chiều hướng
tăng cường sự mất ổn định về xã hội và chính trị.”
Trang 34Thay đổi trong TGHĐ ở các nước Asian 1997
Phâ ̀n trăm thay đổi
Sơ đồ 3.2: Thay đổi trong tỷ giá hối đoái của các nước Asian (% US dollar / đồng tiền các nước) từ 01/01 đến 31/12/1997
Nguồn: Christoffersen và Errunza (2000)
Sơ đồ trên mô tả mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng theo giác độ
tỷ giá hối đoái Cuộc khủng hoảng ở Mexico năm 1994 cũng đã diễn ra trước đó Sau cuộc khủng hoảng Asian, nước Nga và Brazil cũng đã gặp phải khủng hoảng Các cuộc khủng hoảng ở các nước đang phát triển gần đây đã cho chúng ta nhiều bài học quý giá về thế nào là một chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp Eichengreen (1999) kết luận rằng, đối với các nước đang phát triển đang tìm cách thâm nhập vào thị trường vốn toàn cầu, thì tỷ giá hối đoái cố định chứa đựng những mầm
mống gây ra khủng hoảng Các quốc gia này được khuyến khích nên bỏ lợi ích riêng của mình mà hướng đến lợi ích quốc tế lớn hơn, để chấp nhận các chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn
3.4.1 Nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng gần đây
1) Môi trường tài chính mới
Ngày nay, cuộc cách mạng trong viễn thông, vận chuyển và công nghệ thông tin kéo theo tốc độ phát triển khủng khiếp trong đổi mới, tự do hóa và giải phóng các luật lệ thị trường tài chính quốc tế Luân chuyển vốn và hội nhập thị
Trang 35trường tài chính toàn cầu đang phát triển với tốc độ chóng mặt Các quốc gia đang phát triển cũng bị cuốn vào làn sóng này, theo đó họ đã thực hiện tự do hóa tài khoản vốn, hội nhập thị trường vốn và tăng trưởng nhanh chóng trong luân chuyển
vốn Vốn tư nhân thuần đổ vào các nước đang phát triển trung bình xấp xỉ 130 tỷ USD mỗi năm trong suốt giai đoạn từ 1990-1996 so với ít hơn 20 tỷ USD mỗi
năm trong suốt giai đoạn 1984-1989 Hơn nữa, trong suốt những năm 1990, hầu
hết các dòng vốn là đầu tư trực tiếp hay đầu tư theo danh mục (portfolio investments), không giống như những năm trước đó khi hầu hết các dòng vốn là từ nguồn vay ngân hàng Vốn đầu tư nước ngoài (trực tiếp và portfolio) được xem
như là một sự thay thế vốn vay ngân hàng Chúng cung cấp các nguồn vốn mới trong việc san sẻ rủi ro và luân chuyển tiền tệ một cách hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước Trong khi đó, phải thừa nhận rằng đầu tư trực tiếp đã mang lại
những lợi ích về chuyển giao công nghệ
Với mức tăng trưởng cao và triển vọng kinh tế sáng sủa, các nước đang phát triển gần đây đã trở thành nơi hấp dẫn thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư toàn cầu Tuy nhiên, nếu như thiếu những tiền đề cần thiết và quản lý vĩ mô lành
mạnh, sự bùng nổ các dòng vốn đầu tư vào một quốc gia cũng có thể gây nguy hại
và dẫn đến khủng hoảng Hơn nữa, trong hầu hết các thị trường tài chính hội nhập toàn cầu, các dòng vốn có thể đảo chiều và bị đầu cơ tấn công mạnh mẽ và đột
ngột, nó có thể gây ra các cuộc khủng hoảng và tổn thất kinh tế trong dài hạn 2) Chế độ tỷ giá hối đoái cố định
Quan sát cho thấy chế độ tỷ giá hối đoái cố định đóng góp vào việc gây tổn
thương cho nền kinh tế các nước đang phát triển đã hội nhập sâu vào thị trường tài chính toàn cầu Minh họa cho lập luận này, chúng ta có thể thấy các nước đang phát triển với chế độ tỷ giá hối đoái cố định như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Hàn
Quốc, Nga và Brazil - là các nền kinh tế thịnh vượng, đã có những phát triển kinh
tế hướng ngoại bất lợi, có thể dẫn đến khủng hoảng vào năm 1996 Mặt khác, các
quốc gia đang phát triển với chế độ tỷ giá linh hoạt hơn như Chilê, Mêxicô, Pêru
Trang 363) Nền kinh tế không lành mạnh và hệ thống tài chính yếu kém
Chắc chắn, chế độ tỷ giá hối đoái không là lý do duy nhất gây ra khủng
hoảng và các tổn thất do nó gây ra Trong thực tế, có rất nhiều vấn đề trong môi
trường kinh tế ở các nước đang phát triển cũng góp phần gây ra khủng hoảng
Các quốc gia đang phát triển nhìn chung là yếu kém trong quản lý doanh nghiệp, ngân hàng và bộ phận kinh tế công Nhiều quốc gia đã gặp rắc rối do
những̣ can thiệp cố hữu của chính phủ, mệnh lệnh hành chánh và cho vay trực tiếp,
đã dần dần tích lũy áp lực tạo ra sốc
Ở các nước đang phát triển, hạ tầng cơ sở nghèo nàn, thông tin không cân
xứng và các nhà đầu tư non nớt là các vấn đề phổ biến Hạ tầng cơ sở bao gồm hành lang pháp lý và hệ thống kế toán, hiệu lực hợp đồng và quyền sở hữu trí tuệ,
nó cần được cải cách một cách quyết liệt ở các nước đang phát triển Vấn đề chất
lượng hàng hóa, thực hiện hợp đồng đúng hạn và nguồn thông tin chính xác đầy
đủ có thể giúp loại bỏ tính mất cân xứng, từ đó ngăn ngừa được sự đầu cơ và giành được thế chủ động trên thị trường Các nhà đầu tư phải được đào tạo tốt về quản lý
một danh mục đầu tư và đầu tư chứng khoán trong dài hạn, điều đó cũng giúp
kiềm chế sự đầu cơ
Hệ thống ngân hàng yếu kém và có vấn đề ở các nước đang phát triển cũng
là một yếu tố gây ra khủng hoảng Một hệ thống tài chính được giám sát và quản
lý tốt có thể tạo ra những động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp và hộ gia đình trong nước do rủi ro của vay nợ và rủi ro ngoại hối thấp hơn Chỉ bằng cách này,
Trang 374) Tương tác giữa các yếu tố
Trong thời gian xảy ra các cuộc khủng hoảng gần đây, có sự tương tác giữa
tỷ giá hối đoái và các yếu tố khác, đặc biệt là sự yếu kém của bộ phận tài chính Các chuyên gia kinh tế đã dự đoán rủi ro thấp dưới chế độ tỷ giá cố định Do đó,
họ đã bị thôi thúc để gia tăng nợ nước ngoài Bởi vì dưới tỷ giá hối đoái cố định, khi lãi suất trong nước được đẩy lên cao với tốc độ nhanh và trở nên cao hơn lãi
suất nước ngoài, các công ty sẽ được khuyến khích vay nợ nước ngoài Một phát
biểu hay cho tình huống này đó là “khi tín dụng ngắn hạn rẻ và dễ dàng có hơn, các dòng vốn có khuynh hướng là trong ngắn hạn và nguy hiểm hơn”
3.4.2 Bài h ọc rút ra
1) Lợi ích của tỷ giá hối đoái linh hoạt
Mặc dù còn nhiều tranh cãi, các cuộc khủng hoảng gần đây vẫn nhắc nhở chúng ta về lợi ích của chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt Nó là nhân tố ổn định hóa
tự động giúp điều chỉnh áp lực tăng hoặc giảm giá và đưa ra được tỷ giá hối đoái cân bằng Căn bản là một chế độ linh hoạt sẽ làm cho các cú sốc dễ dàng được điều chỉnh và được hấp thụ hơn là một chế độ tỷ giá hối đoái cố định Đồng thời,
nó giúp tránh được những phí tổn thường xảy ra do sự sụp đổ của một chế độ tỷ giá hối đoái Hơn nữa, một tỷ giá hối đoái linh hoạt có thể ảnh hưởng đến các kỳ
vọng và nhắc nhở các bên tham gia thị trường bảo hiểm rủi ro tỷ giá hối đoái
2) Theo lý thuyết Bộ ba bất khả
Mặc dù lý thuyết này rõ ràng và đơn giản, nhưng ngạc nhiên là các bài học
từ lý thuyết trilemma thường hay bị các nhà làm chính sách bỏ qua Xem qua các
cuộc khủng hoảng gần đây, chúng ta có thể thấy được điều đó Theo lý thuyết này,
một quốc gia cố gắng đạt được đồng thời ba mục tiêu sẽ chịu thiệt hại từ sự không
Trang 38nhất quán trong chính sách, đó là nguy cơ xảy ra khủng hoảng tiền tệ Đây là vấn
đề mà các nước Asean đã mắc phải trước thềm cuộc khủng hoảng tài chính 1997
Trước cuộc khủng hoảng, phần lớn các nước Đông Á tự do hóa bộ phận tài chính của nước họ và hướng đến hội nhập tài chính toàn diện Tại các mức độ khác nhau, các quốc gia này đã đánh mất khả năng kiểm soát vốn, trong khi họ
tiếp tục theo đuổi quyền tự trị chính sách tài chính của họ Tuy nhiên, họ lại cố
gắng duy trì ổn định trong tỷ giá hối đoái
Mặc dù các quốc gia này công bố một cách chính thức các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, chẳng hạn như thả nổi hoàn toàn, biên độ, rổ tiền tệ …, nhưng hầu
hết là neo tỷ giá vào đồng dollar Mỹ
Chính vì thế, khủng hoảng ở các nước Asian buộc các nước đang phát triển xem lại lý thuyết “Bộ ba bất khả”
3) Các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vĩ mô (Macroeconomic fundamentals)
Theo Kochhar và Loungani (1998) phát biểu,
“Chế độ tỷ giá hối đoái không thể được xem là nguyên nhân duy nhất gây ra các cuộc khủng hoảng gần đây, do đó thay đổi chế độ tỷ giá sẽ không nhất thiết là có thể giảm nhẹ được các thảm họa trong tương lai Do đó, các yếu tố
cơ bản của nền kinh tế vĩ mô cần thiết phải được phát triển một cách lành
mạnh”
Thứ nhất, để duy trì phát triển về lâu dài, một quốc gia phải xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô cách khôn ngoan, áp dụng một chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp
và giữ lạm phát ở mức thấp Chính sách kinh tế lành mạnh và giám sát các dòng luân chuyển vốn có thể sẽ làm nản lòng các nhà đầu cơ chơi một canh bạc chống
lại chính phủ của các nước đang phát triển
Thứ hai, hệ thống tài chính lành mạnh cũng là một nguyên tắc cơ bản Hệ
thống tài chính của các nước đang phát triển nhất thiết là phải được tổ chức tốt Bộ
phận tài chính yếu kém chắc chắn sẽ là yếu điểm cho các cuộc tấn công khác nhau
Trang 39Thứ ba, để cải thiện hiệu quả phân bổ các nguồn lực, các quốc gia đang phát triển cần phá vỡ mối liên hệ mật thiết giữa chính phủ, doanh nghiệp và ngân hàng và làm biến chuyển các hoạt động tài chính được thực hiện bởi chính phủ
Nó ngụ ý cải thiện thể chế cả trong việc xây dựng chính sách và bộ phận doanh nghiệp Và các áp lực thị trường nên được củng cố bởi một khung pháp lý hoàn thiện Hành vi của các bên tham gia thị trường phải được thể chế hóa bằng một
luật đủ mạnh để thực hiện việc quản lý không chuyên quyền
Tóm lại, các yếu tố cơ bản của nền kinh tế thì có tầm quan trọng cơ bản (Xem thêm PHỤ LỤC A: Can thiệp của Ngân hàng Trung ương vào tỷ giá
hối đoái)
Tóm t ắt phần 3: Phần 3 đưa chúng ta đến với các lý thuyết để chính phủ
các nước có thể dựa theo đó mà lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu
Nghiên cứu vấn đề bù trừ lợi ích – thiệt hại (trade off) của các chế độ tỷ giá
hối đoái khác nhau cho thấy bất kỳ một chế độ tỷ giá hối đoái nào cũng đều có cả
những ưu thế và những hạn chế nhất định Do đó, khi chính phủ các nước áp dụng
một chế độ tỷ giá nào đó, sẽ có sự bù trừ giữa các lợi ích đạt được, cũng như các
tổn thất đánh mất, vấn đề được đặt ra là làm sao lựa chọn được chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu
Lý thuyết “Bộ Ba Bất Khả” (“Impossible Trinity”) phát biểu rằng các quốc gia không thể cùng lúc đạt được cả 3 mục tiêu: ổn định tỷ giá, độc lập về tiền tệ và
Trang 40Lý thuyết Miền Tiền Tệ Tối Ưu (The Optimum Currency Area – OCA) nghiên cứu vấn đề các quốc gia nên có đồng tiền riêng của mình hay nên sử dụng
một đồng tiền chung, một chính sách tiền tệ chung, hay nên neo đồng tiền của mình vào một ngoại tệ mạnh nào đó hay vào một rổ các ngoại tệ mạnh Giải quyết
vấn đề này liên quan chặt chẽ đến độ lớn và độ mở của các quốc gia Miền tiền tệ
tối ưu được định nghĩa là một vùng lãnh thổ gồm các quốc gia đã hội nhập với nhau ở mức cao về thương mại và các quan hệ kinh tế khác Các quốc gia này nên
sử dụng một đồng tiền chung và một chính sách tiền tệ chung
Sau cùng trong phần 3, chúng ta rút ra các bài học đắt giá liên quan đến vấn
đề chế độ tỷ giá hối đoái từ các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ gần đây Trong
đó, lợi ích của các chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn được khẳng định trong điều
kiện các quốc gia theo đuổi chiến lược hội nhập kinh tế, tài chính toàn cầu