1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố hồ chí minh giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010

79 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 542,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài những tác động từ các yếu tố bên ngoài nêu trên thì hiện nay, bản thân một số các Ngân hàng Thương mại hoạt động còn kém hiệu quả về các mặt: năng lực quản trị điều hành và kiểm so

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TP H ồ Chí Minh – Năm 2005

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

1

1.1.1 – Khái niệm về Ngân hàng thương mại 1

1.1.2 – Chức năng của Ngân hàng thương mại 2 1.1.2.1- Trung gian tín dụng 2

1.1.2.3- Cung ứng các dịch vụ khác 2

1.1.3 – Vai trò của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 3

1.2 / Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại. 3

1.2.1 – Khái niệm về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương

mại

3 1.2.1.1 – Hiệu quả đối với nền kinh tế- xã hội 3 1.2.1.2 - Hiệu quả đối với bản thân các Ngân hàng thương mại 6

1.2.2 – Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng

thương mại.

6 1.2.2.1 – Các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân

hàng thương mại

6 1.2.2.2 – Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM 9 (i) Chỉ tiêu về khả năng sinh lời 9

Trang 3

(ii) Chỉ tiêu về chất lượng tín dụng 11 (iii) Vòng quay vốn tín dụng 12

1.2.3 – Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân

hàng thương mại

12

1.3 / Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các

Ngân hàng thương mại

13

1.3.1.1 - Môi trường kinh tế 13 1.3.1.2 - Môi trường pháp lý 14 1.3.1.3 - Sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông 15 1.3.1.4 - Sự thanh tra và giám sát của Ngân hàng Nhà nước các

cấp

15 1.3.1.5 - Sự cạnh tranh giữa các NHTM 15

1.3.2.1 - Năng lực quản trị, điều hành và kiểm soát hoạt động của

các NHTM

15 1.3.2.2 - Chính sách phát triển nguồn nhân lực 16 1.3.2.3 - Chủ trương về đầu tư để phát triển công nghệ ngân hàng 16

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

17

2.1/ Tổng quan về kinh tế-xã hội của TPHCM. 17

2.2/ Thực trạng hoạt động của các NHTM. 20

2.2.1 - Hệ thống NHTM trên địa bàn TPHCM 20

Trang 4

2.2.2 - Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM 21

2.2.2.1 - Thực trạng hoạt động huy động vốn 21

2.2.2.2 - Thực trạng hoạt động tín dụng 24 2.2.2.3 - Thực trạng hoạt động thanh toán –dịch vụ khác 29

2.3/ Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên địa bàn

công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn

32 2.3.1.3 - Hoạt động thanh toán của các Ngân hàng Thương mại trên

địa bàn TP.HCM ngày càng hiện đại, phát triển và mở rộng đã tạo điều

kiện luân chuyển vốn nhanh hơn, tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội

32 2.3.1.4 - Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại ở

Thành phố đã đóng góp trong việc thực hiện chủ trương chính sách của

2.3.2 - Đối với hệ thống NHTM trên địa bàn. 34 2.3.2.1 - Chỉ tiêu tổng quan về đảm bảo an toàn trong hoạt động

2.3.2.2 - Chỉ tiêu về khả năng sinh lời 35

2.3.3 - Nhận xét, đánh giá về hiệu quả hoạt động. 40

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

42

3.1/ Mục tiêu, chiến lược phát triển hoạt động ngân hàng & định hướng

nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa

Trang 5

3.1.1- Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của TP.HCM từ

3.1.2 - Định hướng phát triển hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa

3.2.2 - Các giải pháp hỗ trợ phối hợp. 55 3.2.2.1 - Nâng cao vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước

3.2.2.2 - Kết hợp hoạt động của các Ngân hàng Thương mại với các

tổ chức tài chính khác như quỹ hổ trợ phát triển, quỹ đầu tư phát triển

56 3.2.2.3 - Các giải pháp kiến nghị 56

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI :

Sau hơn 10 năm đổi mới, hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam đã căn bản thay đổi diện mạo cả về qui mô, cả về cấu trúc hệ thống cũng như nội dung hoạt động và gắn chặt với quá trình đổi mới toàn diện của nền kinh tế đất nước Hoạt động của hệ thống Ngân hàng góp phần đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng GDP; kiềm chế, kiểm soát lạm phát; kích thích phát triển xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư và dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, mang đầy đủ đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam, sự phát triển của kinh tế Việt Nam luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế khu vực TP.HCM Với tinh thần đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP.HCM đến năm 2010 là “ quán triệt Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về phương hướng phát triển chung của đất nước, của các ngành, các vùng để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Thành phố; tiếp tục nỗ lực phấn đấu, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy tính năng động, sáng tạo để đi đầu cả nước về phát triển kinh tế; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất là phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, bảo vệ môi trường; hình thành đồng bộ cơ chế thị trường định hướng XHCN; đi đầu trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển kinh tế, trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế với thế giới; xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành một Thành Phố Xã Hội Chủ Nghĩa văn minh, hiện đại, đóng góp ngày càng lớn với khu vực phía Nam và cả nước, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á, xứng đáng với Thành phố mang tên Bác Hồ ”

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động phức tạp đã tác động rất lớn đến tình hình kinh tế – xã hội của Thành phố nói chung và của hệ thống Ngân hàng nói riêng: tác động của dịch cúm gia cầm, của việc tăng lãi suất, tăng giá dầu, giá vàng đã đẩy chỉ số giá cả tiêu dùng ở TP.HCM tăng lên rất cao; Mặt khác, sự ra đời và phát triển của hàng loạt các công ty chứng khoán, công ty tài chính, quỹ đầu tư phát triển, tiết kiệm bưu điện, các công ty Bảo hiểm đã thu hút phần nào các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân

cư, đặc biệt là nguồn vốn trung, dài hạn Vấán đề này đã đặt các Ngân hàng Thương mại vào thế phải cạnh tranh quyết liệt để giữ vững thị phần hoạt động gồm thị phần huy động, thị phần cho vay và thị phần các dịch vụ Ngân hàng khác

Không những thế, từ nay đến năm 2010, với tiến trình hội nhập và quốc tế hóa hoạt động Ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn còn phải cạnh

Trang 7

tranh với những đối thủ có tiềm lực mạnh hơn gấp nhiều lần cả về vốn, về công nghệ và năng lực quản trị Trong một môi trường với quá nhiều khó khăn, thách thức như vậy, để đứng vững được trên thị trường đã là một điều khó, còn để tăng trưởng và phát triển được lại là vấn đề vô cùng khó khăn hơn

Ngoài những tác động từ các yếu tố bên ngoài nêu trên thì hiện nay, bản thân một số các Ngân hàng Thương mại hoạt động còn kém hiệu quả về các mặt: năng lực quản trị điều hành và kiểm soát còn yếu kém; các hoạt động về nghiệp vụ huy động, cấp tín dụng, hoạt động thanh toán còn chưa được cải tiến, các sản phẩm dịch vụ chưa được đa dạng, chưa áp dụng công nghệ mới trong việc cung ứng các dịch vụ Ngân hàng; trình độ quản trị rủi ro còn yếu Đó là những nguyên nhân làm cho hoạt động của Ngân hàng chưa thực sự được an toàn và chưa thực sự mang lại hiệu quả cao

Vì vậy, để đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố đến năm 2010; để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, trong khu vực cũng như quốc tế; để đảm bảo yêu cầu hoạt động an toàn và hiệu quả của hệ thống Ngân hàng Thương mại nói chung và các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn nói riêng thì cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động Đây là một việc làm hết sức thiết thực và có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Tuy nhiên, bằng cách nào, với giải pháp ra sao để có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn, đó chính là điều mà ai cũng muốn

biết và đó cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về Ngân hàng Thương mại và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại

- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM

- Nêu ra những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

- Nghiên cứu phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM từ năm 2001 đến 30/6/2005 bao gồm: Ngân hàng Thương mại Nhà nước, Ngân hàng Thương mại Cổ phần, Ngân hàng Liên doanh và Ngân hàng Nước ngoài

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong mối quan hệ so sánh giữa các hệ thống

Trang 8

Ngân hàng Thương mại với nhau Riêng về phân tích vốn tự có ,đề tài không phân tích vốn tự có của hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước bởi vì ngoài Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long có hội sở chính tại TP.HCM, các hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước khác như: Công thương, Ngoại thương, Nông nghiệp, Đầu tư & Phát triển – đều hạch toán vốn tự có theo ngành dọc nên trên địa bàn TP.HCM không theo dõi tình hình vốn tự có của các hệ thống đó

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

- Dùng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích, đánh giá tình hoạt động của các Ngân hàng Thương mại

- Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tổâng hợp, phân tích, phương pháp thống kê chọn lọc, kết hợp với phương pháp so sánh kết quả đạt được với các chỉ tiêu kinh tế

- Luận văn đã nghiên cứu, xem xét các sự kiện trong trạng thái vận động và phát triển , trong mối quan hệä hữu cơ với các hiện tượng kinh tế khác và đi từ thực tế khách quan mà đánh giá

5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI :

Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh càng diễn ra khốc liệt giữa các chủ thể kinh tế với nhau, ngay cả trong lĩnh vực Ngân hàng cũng thế Hiện nay, hoạt động về ngành Ngân hàng của Việt Nam chưa thực sự phát triển vững mạnh, trong khi đó, với xu thế hội nhập, với sự gia tăng của các Ngân hàng nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam đã khiến quá trình cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn Vì vậy, việc xây dựng một chiến lược kinh doanh sao cho phù hợp với điều kiện về trình độ, năng lực của từng Ngân hàng để từ đó có thể đạt được lợi nhuận cao đồng thời giữ vững được vị thế của mình trên thương trường là điều không phải dễ Thông qua quá trình phân tích, so sánh các kết quả đạt được với các chỉ tiêu đã qua tham khảo, đề tài đã đưa ra giải pháp cho vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời cũng đảm bảo cho hoạt động được ổn định và ngày càng phát triển

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương

- Chương 1: Những vấn đề chung về Ngân hàng Thương mại và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại

- Chương 2: Thực trạng và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng

Thương mại trên địa bàn TP.HCM giai đoạn từ năm 2006 đến 2010

Trang 9

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại :

Quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Ngân hàng Thương mại không những chỉ đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa mà còn có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa Khi kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó là kinh tế thị trường thì Ngân hàng Thương mại lại càng đóng vai trò ,vị trí quan trọng hơn và trở thành định chế tài chính không thể thiếu được

Có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng Thương mại như :

- “Ngân hàng Thương mại là loại Ngân hàng trực tiếp giao dịch với khách hàng, thường xuyên nhận tiền gửi với trách nhiệm có hoàn trả và sử dụng số tiền đó để đáp ứng cho những nhu cầu về vốn trong nền kinh tế”

- Theo “Quản trị Ngân hàng Thương mại” của Peter S.Rose (2001) :

Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng nói riêng Các Ngân hàng có thể được định nghĩa qua các chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế

Theo đó Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

- Theo điều 20 Luật các Tổ chức Tín dụng có sửa đổi (số 20/2004/QH11)

“Ngân hàng là loại hình Tổ chức Tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Đầu tư, Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác”

Từ các khái niệm về Ngân hàng trên đã thể hiện Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ và các dịch vụ về tiền tệ

Trang 10

1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại :

Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng Thương mại thực hiện các chức năng sau đây :

1.1.2.1 Trung gian tín dụng :

Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Thực hiện chức năng này, một mặt Ngân hàng Thương mại huy động và tập trung tối đa các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế như vốn nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế – xã hội, cơ quan đoàn thể, cá nhân để hình thành nguồn vốn và trên cơ sở nguồn vốn này ngân hàng sẽ cho vay để đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế

Khi thực hiện chức năng này, Ngân hàng Thương mại đã huy động triệt để được các khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu từ đó kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy sự phát triển của quá trình tái sản xuất

1.1.2.2 Trung gian thanh toán :

Xuất phát từ việc Ngân hàng là thủ quỹ của các doanh nghiệp nên Ngân hàng có thể thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng thông qua tài khoản của họ bằng các phương tiện thanh toán như: ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc, thẻ thanh toán

Thực hiện chức năng này, Ngân hàng Thương mại đã góp phần thúc đẩy quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế được thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ viễn thông đã tạo điều kiện cho việc hiện đại hóa các hoạt động của Ngân hàng, từ đó cũng tạo cơ hội cho Ngân hàng thực hiện chức năng này với chất lượng cao hơn và khối lượng nhiều hơn Cụ thể là hiện nay Ngân hàng đã sử dụng các phương tiện thanh toán hiện đại như: Thanh toán điện tử liên Ngân hàng, Internet Banking, Home banking, , với các phương tiện thanh toán này, Ngân hàng đã đẩy nhanh được tốc độ thanh toán, tiết kiệm được chi phí, nâng cao sự thuận tiện cho khách hàng

1.1.2.3 Cung ứng các dịch vụ khác

Ngoài hoạt động trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, các Ngân hàng Thương mại còn cung ứng ngày càng đa dạng các dịch vụ khác cho nền kinh tế như: dịch vụ ngân quỹ, góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ ủy thác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ

Trang 11

1.1.3 Vai trò của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế :

Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại chiếm vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã hội, giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau: hoạt động của Ngân hàng Thương mại góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; mặt khác, kinh tế – xã hội có tác động ngược trở lại đối với hoạt động của ngân hàng: nó thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của ngân hàng

Thông qua việc thực hiện các chức năng cơ bản của mình Ngân hàng Thương mại đã trở thành nơi tập trung vốn, từ đó điều hòa và cung ứng vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa nhanh chóng, giảm chi phí giao dịch xã hội Ngoài ra, nó còn góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn, góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước

1.2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :

1.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại:

Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất Nói cách khác, đó là sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí và hiệu quả

Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên thực tế là sự biểu hiện và phản ánh mức độ cống hiến của nó đối với nền kinh tế – xã hội Sự đóng góp, cống hiến đó còn phụ thuộc vào số lượng, chất lượng dịch vụ và hiệu quả cung cấp dịch vụ Nhờ hoạt động của các Ngân hàng Thương mại đã tạo điều kiện cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vay và cho vay ít tốn kém và ít rủi ro hơn Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại phải được xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế Hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại có thể chia thành: hiệu quả đối với nền kinh tế – xã hội, hiệu quả đối với bản thân các ngân hàng, hiệu quả trước mắt, hiệu quả lâu dài

1.2.1.1 Hiệu quả đối với nền kinh tế – xã hội

(1) Góp phần tăng trưởng kinh tế

- Với nghiệp vụ huy động vốn, Ngân hàng Thương mại đã thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế Tuy nhiên không chỉ bằng số lượng vốn huy động và số lượng cấp tín dụng ngày càng tăng của các Ngân hàng Thương mại đã góp phần tăng trưởng kinh tế mà việc

Trang 12

sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động để phân bổ và đầu tư vào những nơi có hiệu quả cũng góp phần làm tăng trưởng kinh tế

- Cơ cấu các Ngân hàng Thương mại ngày càng đa dạng, quy mô hoạt động ngày càng lớn và mạng lưới ngày càng phát triển sẽ đẩy mạnh vai trò trung gian tài chính, nâng cao khả năng huy động vốn và khả năng cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế

Tóm lại, sự đóng góp của các Ngân hàng Thương mại cho tăng trưởng kinh tế chính là việc nâng cao khả năng trung gian tài chính và tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính

(2) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới là một tất yếu khách quan trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế Để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì cần phải đầu tư, muốn gia tăng đầu tư mà chủ yếu là đầu tư dài hạn thì cần phải có nguồn vốn trung và dài hạn Nguồn vốn trung, dài hạn sẽ được đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật, đầu tư chiều sâu trong các ngành chế biến, các ngành công nghiệp mũi nhọn

Trong điều kiện thị trường chứng khoán chưa phát triển, để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn ngày càng tăng cho các doanh nghiệp và nền kinh tế nhằm phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì các Ngân hàng Thương mại cần phải chú trọng đến việc tăng qui mô hoạt động, đến chiến lược huy động vốn của mình mà đặc biệt là huy động vốn trung, dài hạn đồng thời cũng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này

(3) Tạo điều kiện luân chuyển vốn nhanh hơn, tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội

Do hoạt động trung gian thanh toán của các Ngân hàng Thương mại ngày càng phát triển và mở rộng Với các phương tiện thanh toán hiện đại, đa dạng và các phương thức thanh toán linh hoạt đã thúc đẩy nhanh quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, từ đó tạo điều kiện để luân chuyển vốn nhanh hơn, hiệu quả và giảm thiểu rủi ro hơn, tiết kiệm được thời gian và chi phí lưu thông xã hội Mặt khác, nó cũng giúp cho các doanh nghiệp tập trung vào việc chuyên môn hóa các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, giảm chi phí giao dịch trong quan hệ thanh toán, chi trả Thông qua đó cũng giúp cho Ngân hàng Thương mại tập trung được nguồn vốn lớn và quan trọng trong xã hội để cấp tín dụng ngày càng nhiều hơn cho nền kinh tế

Để đẩy mạnh hoạt động trung gian thanh toán nhằm thu hút khách hàng ngày càng nhiều, các Ngân hàng Thương mại luôn tìm cách hiện đại hóa công tác thanh

Trang 13

toán qua ngân hàng theo hướng nhanh chóng, thuận tiện, an toàn, kịp thời và chính xác

(4) Tạo điều kiện thực thi có hiệu quả các cơ chế, chính sách của nhà nước góp phần ổn định tài chính, ổn định kinh tế vĩ mô

- Cơ chế thanh toán qua ngân hàng có vai trò quan trọng đối với việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua sự dịch chuyển vốn giữa người trả tiền và người nhận tiền Việc thực hiện thanh toán ngay trong ngày sẽ góp phần ổn định nhu cầu dự trữ của các Ngân hàng Thương mại, cho phép xác định chính xác các thay đổi cung cầu về dự trữ khi có sự thay đổi về hoạt động thu chi của Chính phủ hoặc khi có sự can thiệp của thị trường tiền tệ, trực tiếp hỗ trợ cho sự phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng và thị trường tài chính

- Cơ chế thanh toán còn góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia Trong hoạt động thanh toán qua Ngân hàng, một khoản thanh toán của Ngân hàng này là nguồn quỹ đối với Ngân hàng khác Nếu hệ thống thanh toán bị nghi ngờ, hoặc khả năng tài chính của Ngân hàng bị nghi ngờ có thể dẫn đến khả năng trì hoãn nghĩa vụ trả tiền làm cho số lượng các khoản thanh toán chuyển đi và chuyển đến giảm

- Mặt khác, hoạt động trung gian thanh toán của các Ngân hàng thương mại mà trọng tâm là thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng mở rộng và phát triển đồng nghĩa với việc thanh toán bằng tiền mặt bị thu hẹp sẽ góp phần tạo điều kiện cho việc phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước đối với ổn định kinh tế vĩ mô

- Thông qua vai trò trung gian tài chính của mình, hoạt động của Ngân hàng Thương mại còn góp phần kìm chế lạm phát, kích thích tăng đầu tư và tiêu dùng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô thông qua việc tăng, giảm lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay

(5) Cơ cấu các Ngân hàng Thương mại ngày càng đa dạng và phát triển tạo điều kiện thúc đẩy cạnh tranh trong việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ, tiện ích cho khách hàng, mở rộng thị phần tín dụng

Cơ cấu Ngân hàng Thương mại ngày càng đa dạng và phát triển với các hình thức sở hữu khác nhau đã tạo nên sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các Ngân hàng với nhau Để mở rộng nguồn thu, các Ngân hàng Thương mại đã không ngừng quan tâm cải tiến, mở rộng nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ nhằm thu hút khách hàng ngày càng nhiều hơn Kết quả của quá trình này đã thúc đẩy sự chuyên môn hóa của các Ngân hàng Thương mại trong việc cung ứng các dịch vụ Ngân hàng, tạo điều kiện đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống xã hội

Trang 14

1.2.1.2 Hiệu quả đối với bản thân các Ngân hàng thương mại

Hoạt động của các Ngân hàng Thương mại ngoài việc mang lại hiệu quả cao để đóng góp cho nền kinh tế thì hiệu quả thiết thực và cụ thể mà cũng chính là mục tiêu hàng đầu của tất cả các Ngân hàng Thương mại, đó chính là lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là yếu tố đầu tiên được xem xét khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của bất kỳ một tổ chức kinh tế nào Chính vì vậy trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Thương mại nào có mức lợi nhuận càng cao thì vị thế của nó càng được củng cố và nâng cao Lợi nhuận tích lũy của Ngân hàng Thương mại trở thành giá trị thuần, cung cấp một khoản dự trữ để bổ sung cho các khó khăn về tài chính trong tương lai Đối với Ngân hàng Thương mại thì lợi nhuận tích lũy là nguồn tăng trưởng chủ yếu của vốn chủ sở hữu Ngân hàng Thương mại có mức vốn chủ sở hữu cao sẽ nâng cao mức độ an toàn về vốn trong hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời tăng cường được khả năng huy động vốn và khả năng cạnh tranh không những ở phạm vi trong nước mà có thể vươn ra đến ngoài nước

Vì vậy, trong hoạt động, Ngân hàng Thương mại nào có khả năng cung cấp các nghiệp vụ, dịch vụ với số lượng và chất lượng có thể đáp ứng được nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế một cách tốt nhất thì Ngân hàng Thương mại đó sẽ có doanh số hoạt động tăng lên cùng với lợi nhuận ròng lớn hơn và ngược lại Ngân hàng Thương mại nào kém cỏi về chất lượng, hạn chế về số lượng các dịch vụ cung cấp thì doanh số hoạt động sẽ ít hơn và tất nhiên lợi nhuận cũng sẽ giảm đi

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại :

Để đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại được ổn định và ngày càng phát triển thì việc phải đảm bảo về các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động Ngân hàng là điều rất cần thiết

1.2.2.1 Các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của Ngân hàng Thương

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu = > 8%

Trang 15

Ngoài ra, khi muốn đảm bảo mức độ an toàn vốn, các Ngân hàng Thương mại cần nên quan tâm đến hệ số vốn huy động trên vốn điều lệ

Theo thông lệ quốc tế muốn huy động 12 đồng nguồn vốn thì phải có 1 đồng vốn tự có Có nghĩa là hệ số này chỉ được phép ở mức < 12 Hệ số này càng lớn thì mức độ an toàn trong hoạt động huy động vốn càng kém

(2) Giới hạn tín dụng đối với khách hàng (QĐ 457/2005/QĐ-NHNN)

- Tổng dư nợ cho vay của một Tổ chức Tín dụng đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của Tổ chức Tín dụng

- Tổng mức cho vay và bảo lãnh của Tổ chức Tín dụng đối với một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có của Tổ chức Tín dụng

- Tổng dư nợ cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không vượt quá 50% vốn tự có của Tổ chức Tín dụng, trong đó mức cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của Tổ chức Tín dụng

- Tổng mức cho vay và bảo lãnh của một Tổ chức Tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan không vượt quá 60% vốn tự có của Tổ chức Tín dụng

(3) Tỷ lệ về khả năng chi trả (QĐ 457/2005/QĐ – NHNN)

Tổ chức Tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đối với từng loại đồng tiền, vàng như sau :

- Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian một tháng tiếp theo

- Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “có” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản nợ phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo

(4) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn

Theo QĐ 457/2005/QĐ-NHNN thì tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn Tổ chức Tín dụng được sử dụng để cho vay trung và dài hạn:

- Ngân hàng thương mại : 40%

- Tổ chức Tín dụng khác : 30%

Trang 16

(5) Phân loại cho vay và mức trích lập dự phòng rủi ro

Theo quyết định 493/2005/ QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 thì Tổ chức Tín dụng thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng như sau :

- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

+ Các khoản nợ trong hạn mà Tổ chức Tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1: là các khoản nợ mà khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn; 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và được Tổ chức Tín dụng đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại

* Tỷ lệ trích lập dự phòng đối với nhóm 1 là 0%

- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2

* Tỷ lệ trích lập dự phòng đối với nhóm 2 là 5%

- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3

* Tỷ lệ trích lập dự phòng đối với nhóm 3 là 20%

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4

* Tỷ lệ trích lập dự phòng đối với nhóm 4 là 50%

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý và các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại

Trang 17

+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5

* Tỷ lệ trích lập dự phòng đối với nhóm 5 là 100%

Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2,3,4,5 quy định trong các trường hợp sau :

- Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một (01) khoản nợ với Tổ chức Tín dụng mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì Tổ chức Tín dụng bắt buộc phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro

- Trường hợp các khoản nợ (kể cả các khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại) mà Tổ chức Tín dụng có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì Tổ chức Tín dụng chủ động tự quyết định phân loại các khoản nợ đó vào các nhóm rủi

ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro

1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương Mại

(i) Chỉ tiêu về khả năng sinh lời: Khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại được xác định bằng 2 hệ số :

+ Hệ số ROA (Return on Assets) : Tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng (sau thuế) với tổng tài sản có (%)

Lợi nhuận ròng (sau thuế)

H (ROA) =

Tổng tài sản có

Tỷ số này cho thấy được khả năng kinh doanh tổng quát của Ngân hàng, giúp xác định hiệu quả kinh doanh của 1 đồng tài sản có ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của NH cao, tuy nhiên nếu ROA quá lớn sẽ đi kèm với rủi ro

+ Hệ số ROE (Return on Equity) : Tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng (sau thuế) với vốn chủ sở hữu (%)

Lợi nhuận ròng (sau thuế)

H(ROE) =

Vốn chủ sở hữu

Trang 18

ROE đo lường hiệu quả của một đồng vốn chủ sở hữu Tỷ số này cho biết với

1 đồng vốn chủ sở hữu,Ngân hàng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.ROE là chỉ tiêu sinh lời tài chính.ROE càng lớn,Ngân hàng kinh doanh càng có hiệu quả

Tuy nhiên,nếu ROE quá lớn so với ROA cho thấy vốn chủ sở hữu của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn Như vậy lợi nhuận của Ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào vốn huy động, vì vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

* Mối quan hệ giữa hệ số ROA & ROE

Trong phân tích hiệu quả hoạt động, các nhà quản trị Ngân hàng luôn quan

tâm đến 2 hệ số ROA và ROE và 2 hệ số này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thông qua công thức :

Lợ nhuận ròng Lợi nhuận ròng Tổng tài sản

ROE = = x _

Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

Tổng tài sản

ROE = ROA x _

Vốn chủ sở hữu

Mối quan hệ trong công thức trên cho thấy ROE rất dễ biến động do tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu (số nhân đòn bẩy) luôn lớn hơn 1 nhiều lần vì vậy ROE có độ nhạy cao hơn ROA gấp nhiều lần Công thức này còn tính toán được khả năng sử dụng vốn so với vốn tự có của Ngân hàng thông qua tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Có nghĩa một ngân hàng có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt ROE cao với điều kiện nâng cao tỷ trọng vốn huy động

* Mở rộng hệ số ROA :

Lợi nhuận ròng Tổng thu nhập – Tổng chi phí – Thuế

ROA = =

Tổng tài sản Tổng tài sản

Thu từ lãi – Chi phí trả lãi Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi Thuế

ROA = _ + _ -

Tổng tài sản Tổng tài sản Tổng tài sản

Việc phân ra các tỷ lệ như vậy rất có ích cho việc giải thích sự thay đổi trong trạng thái tài chính của Ngân hàng Từ đó, nhà quản trị có thể chọn các phương án

Trang 19

khác nhau để giảm đầu tư vào các danh mục ít hiệu quả, đồng thời quản lý chặt chẽ các danh mục tài sản có để có thể vừa đáp ứng nhu cầu thanh khoản vừa có thể đạt được lợi nhuận cao

* Mở rộng hệ số ROE :

Lợi nhuận ròng Lợi nhuận ròng Tổng thu nhập Tổng tài sản

ROE = = _ x x

Vốn chủ sở hữu Tổng thu nhập Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu

(1) (2) (3)

Xét từng bộ phận cấu thành của công thức trên ta thấy:

Lợi nhuận ròng

(1) Tỷ lệ sinh lời = _

Ỉ phản ánh tính hiệu quả của việc quản lý chi phí và các chính sách định giá dịch vụ

(2) Tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản = _

Ỉ phản ánh các chính sách quản lý các danh mục đầu tư (đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản)

Tổng tài sản

(3) Tỷ trọng vốn chủ sở hữu = _

Vốn chủ sở hữu

Ỉ phản ánh chính sách đòn bẩy về tài chính tức là việc lựa chọn nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động ngân hàng (nợ hay vốn chủ sở hữu)

(ii) Chỉ tiêu về chất lượng tín dụng :

Hoạt động tín dụng là một hoạt động kinh doanh truyền thống nhưng lại là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các Ngân hàng Thương mại hiện nay Theo số liệu thống kê của các Ngân hàng Thương mại thì tài sản sinh lời về các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn khoảng 60 đến 70% tổng tài sản có, thậm chí ở một số Ngân hàng Thương mại tỷ lệ này chiếm tới gần 90% Chính vì điều đó, việc quản lý chất lượng tín dụng tránh để xảy ra rủi ro là vấn đề sống còn đối với các Ngân hàng Thương mại Tuy nhiên, để đánh giá hoat động tín dụng của Ngân hàng Thương mại có chất lượng hay không thì phải đánh giá toàn diện về các mặt như

Trang 20

việc có thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, điều kiện tín dụng, các qui định về cho vay, về cơ cấu vốn vay, xem xét về qui mô hoạt động tín dụng, về quá trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay trong đó cần chú trọng đến chỉ tiêu tỷ lệ nợï quá hạn của Ngân hàng Thương mại

Nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Tỷ số này xác định chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại Tỷ số này càng cao thì chất lượng tín dụng của Ngân hàng càng kém Theo qui định của Ngân hàng Nhà Nước, các Ngân hàng Thương mại cần khống chế tỷ lệ này ở mức 5% trở xuống mới được coi là bình thường

(iii) Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngược lại,vì vòng quay vốn tín dụng thường gắn với quá trình tuần hoàn luân chuyển vốn của nền kinh tế

Doanh số thu nợ trong kỳ

Vòng quay vốn tín dụng =

Mức dư nợ bình quân trong kỳ

1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại :

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa rất

to lớn thể hiện qua các mặt sau :

- Các Ngân hàng Thương mại hoạt động có hiệu quả sẽ tăng cường khả năng trung gian tài chính như nâng cao mức huy động các nguồn vốn trong nước và phân bổ nguồn vốn đó vào nơi sử dụng có hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Hoạt động càng có hiệu quả thì việc cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ khác sẽ có chi phí ngày càng thấp đi, từ đó sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Khi nền kinh tế đã tăng trưởng mạnh thì cũng sẽ tác động trở lại làm cho Ngân hàng Thương mại phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn

Trang 21

- Khi hoạt động có hiệu quả thì Ngân hàng Thương mại càng có điều kiện để tăng tích lũy, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh không những đối với thị trường trong nước mà còn từng bước vươn ra thị trường ngoài nước, tiếp cận và hội nhập với thị trường tài chính quốc tế

1.3 CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :

Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại cao hay thấp thường chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong Các nhân tố bên ngoài gồm: môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý, sự phát triển của công nghệ thông tin, sự thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại; Các nhân tố bên trong gồm: trình độ quản trị, điều hành, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng của việc kiểm tra kiểm toán nội bộ

Nhân tố có thể là những nguyên nhân hay điều kiện ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Không phải tất cả các nhân tố đều ảnh hưởng cùng một lúc và đến cùng một mặt nào đó mà nó tùy thuộc vào vai trò, vị trí của từng nhân tố trong từng thời gian nhất định mà tác động với liều lượng ít, nhiều đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại

1.3.1 Nhân tố từ bên ngoài :

1.3.1.1 Môi trường kinh tế :

Môi trường kinh tế có ảnh hưởng đối với khả năng tạo lợi nhuận, khả năng ổn định và phát triển vững mạnh của các Ngân hàng Thương mại Bất cứ sự biến động nào của lạm phát, của tăng trưởng kinh tế xã hội, của chính sách tiền tệ cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại, thậm chí còn tạo ra khả năng khủng hoảng do tác động lây lan của kinh tế thị trường

(i) Lạm phát:

Do sự không ổn định sức mua của nội tệ và của giá cả, lạm phát sẽ gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn, nhất là huy động vốn trung, dài hạn Đồng thời lạm phát cũng làm cho đầu tư dài hạn gặp nhiều rủi ro hơn và hơn thế nữa lạm phát cũng làm cho giá trị của các hợp đồng tài chính – tín dụng kém chắc chắn hơn trong tương lai

(ii) Tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế xã hội cao hay thấp đều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại, nhất là sự tăng trưởng đó được đặt trong

Trang 22

mối quan hệ kinh tế thị trường giữa trong nước và quốc tế Ảnh hưởng rõ rệt nhất của tăng trưởng kinh tế đối với hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại là ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại Gắn với quá trình tăng trưởng cao là nhu cầu vốn cũng tăng cao Tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, an toàn và hiệu quả chính là nền tảng để hoạt động của ngân hàng có hiệu quả

(iii) Chính sách tiền tệ:

Sự lựa chọn các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà Nước Trung ương trong từng thời kỳ nhất định có thể tác động đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại

- Về tỷ giá: Sự biến động tỷ giá một cách đột ngột sẽ tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại, cụ thể là sẽ tăng mức rủi ro tín dụng cho các Ngân hàng

- Dự trữ bắt buộc: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao sẽ làm giảm lợi nhuận và hạn chế sức cạnh tranh của các Ngân hàng Thương mại và làm tăng thêm áp lực lên chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay: người gửi tiền sẽ chịu mức lãi suất tiền gửi thấp hơn và những người vay tiền sẽ phải vay với lãi suất cao hơn

Nhằm khắc phục những hạn chế trong việc sử dụng các công cụ kiểm soát trực tiếp của chính sách tiền tệ nói trên, Ngân hàng Nhà Nước Trung ương đã chuyển sang sử dụng nghiệp vụ thị trường mở Với nghiệp vụ này sẽ tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại quản lý và sử dụng vốn một cách chủ động, linh hoạt, hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng ngắn hạn, tạo thuận lợi thông suốt trong hoạt động thanh toán cũng như trong việc tăng trưởng tín dụng

1.3.1.2 Môi trường pháp lý

Nếu như hệ thống pháp luật (Luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, qui định ) minh bạch, rõ ràng, kịp thời, đồng bộ và hiệu lực sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Đặc biệt là các cơ chế về hoạt động tín dụng, kinh doanh ngoại hối Từ đó các Ngân hàng Thương mại mới phát huy được quyền chủ động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh và yên tâm rằng mình đã thực hiện đúng luật

Mặt khác, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, hoạt động của các Ngân hàng Thương mại cũng đa dạng, biến đổi và phát triển không ngừng, vì vậy hệ thống pháp lý định kỳ phải bổ sung, điều chỉnh một cách kịp thời cho phù hợp với thực tiễn

Trang 23

1.3.1.3 Sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông

Với sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng Do đó, Ngân hàng Thương mại nào áp dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất, tiện lợi nhất, nhanh chóng và kịp thời sẽ thuận lợi hơn trong việc thu hút khách hàng từ đó làm cho hiệu quả hoạt động được nâng cao

Sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông cũng góp phần vào việc hội nhập và quốc tế hóa các hoạt động giao dịch của Ngân hàng Thương mại từ đó hiệu quả hoạt động của Ngân hàng càng được mở rộng và nâng cao hơn

1.3.1.4 Sự thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước các cấp

Sự thanh tra, giám sát đúng mức của Ngân hàng Nhà nước có tác động rất lớn đến sự an toàn, lành mạnh và hiệu quả trong hoạt động của các Ngân hàng Thương mại Đó chính là việc Ngân hàng Nhà nước đề ra các quy định và những biện pháp để đảm bảo và nâng cao tính an toàn đồng thời để ngăn chặn hoặc hạn chế các rủi ro thường trực và tiềm ẩn trong hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế thị trường

1.3.1.5 Sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại

Trong nền kinh tế thị trường, vì lợi ích của bản thân mình nên các Ngân hàng Thương mại phải cạnh tranh với nhau Sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại sẽ khuyến khích việc sử dụng và phân bổ các nguồn lực tài chính có hiệu quả hơn Kết quả của quá trình cạnh tranh là Ngân hàng nào hoạt động có hiệu quả sẽ tồn tại và phát triển, Ngân hàng nào hoạt động kém hiệu quả sẽ thu hẹp phạm vi hoạt động và bị thị trường đào thải

1.3.2 Các nhân tố bên trong :

1.3.2.1 Năng lực quản trị, điều hành và kiểm soát hoạt động của các Ngân hàng Thương Mại

Sự yếu kém trong việc quản trị, điều hành và kiểm soát là một nhân tố quan trọng góp phần làm cho hoạt động của Ngân hàng Thương mại kém hiệu quả

Năng lực quản trị, điều hành phản ánh khả năng đề ra và lựa chọn những chiến lược kinh doanh phù hợp, mang lại hiệu quả cao nhất như các chiến lược về hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, hoạt động thanh toán, dịch vụ, tổ chức bộ máy Các quy trình về quản lý như : quản lý tài sản có, tài sản nợ, quản lý rủi ro tín dụng, quản lý rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất Từ đó tạo nên một chuẩn mực cho hoạt động Ngân hàng thích nghi dần với phương thức quản trị hiện đại

Trang 24

1.3.2.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực :

Chất lượng của đội ngũ nhân sự là yếu tố có tính quyết định đến sự thành công hay thất bại của một tổ chức, chất lượng của đội ngũ nhân sự thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, phong cách ứng xử phù hợp với công việc và với mọi tình huống Ngân hàng Thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng và có mối quan hệ kinh tế với nhiều chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau; nhất là hiện nay, hoạt động của Ngân hàng Thương mại luôn gắn với hoạt động của nền kinh tế thị trường và sắp tới sẽ tiến tới hội nhập quốc tế thì càng đòi hỏi về chất lượng của đội ngũ nhân sự hơn nữa

1.3.2.3 Chủ trương về đầu tư để phát triển công nghệ Ngân hàng:

Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là trong dịch vụ thanh toán và một số dịch vụ khác là một tất yếu Bởi vì việc hoàn thiện và phát triển các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng nó chỉ đem lại hiệu quả khi và chỉ khi dựa trên nền tảng công nghệ Ngân hàng hiện đại, tiên tiến Do đó, việc lựa chọn đúng công nghệ và sử dụng có hiệu quả công nghệ đó là một khâu quan trọng cần phải quan tâm, xem xét để tăng cường năng lực cạnh tranh và gia tăng hiệu quả hoạt động của mỗi Ngân hàng Thương mại

Tóm lại, trong quá trình phát triển của nền kinh tế, sự phát triển một cách an toàn của các Ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà quản trị Ngân hàng, các tổ chức kinh tế, các chủ thể cá nhân Bởi lẽ những vụ đổ vỡ của các Ngân hàng sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế, nó có tác hại hơn sự đỗ vỡ của bất cứ doanh nghiệp nào khác bởi vì nó liên quan đến các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế , xã hội, của dân cư và tác hại khác mang ý nghĩa lớn hơn là mất đi lòng tin của công chúng vào hoạt động của Ngân hàng Do vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thông qua các chỉ tiêu kinh tế nói trên là rất cần thiết, vì nhờ vào đó có thể phát hiện sớm những bất ổn trong hoạt động, từ đó giúp Ngân hàng tìm ra các biện pháp khắc phục, hạn chế rủi ro và nâng cao lợi nhuận, giúp Ngân hàng ngày càng phát triển và củng cố được vị thế của mình trong nền kinh tế

Trang 25

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA

CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

Với các điều kiện thuận lợi như vậy,TP.HCM đã trở thành Trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội của cả nước với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng ở mức cao và liên tục Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Thành phố tính từ 1998 đến 2004 khoảng 10,1% Trong những năm cuối thập niên

90 tốc độ tăng trưởng GDP của Thành phố bị giảm sút do tình hình biến động trên thị trường thế giới đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính khu vực (1997) rồi tiếp đến cuộc chiến tranh ở Iraq, dịch cúm gia cầm, giá các vật tư như sắt, thép, nguyên liệu ngành nhựa, giá xăng, dầu, giá vàng tăng mạnh đã ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ Tuy nhiên, với các biện pháp chỉ đạo, xử lý hiệu quả của Chính phủ đã đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và phát triển cao cụ thể là năm 2000 GDP đạt 9,5%, 2003 đạt 11,2%,

2004 đạt 11,6%

- Cùng với việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng GDP tương đối cao, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành Phố cũng diễn ra đúng hướng Khu vực công nghiệp và dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng cao (98%) trong cơ cấu GDP của Thành Phố (xem bảng 2.1), tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng giảm dần (năm 1997 chiếm 3%, năm 2003 chiếm 1,6%) Tuy nhiên, nếu xét về sự dịch chuyển cơ cấu giữa ngành công nghiệp và dịch vụ thì cơ cấu công nghiệp lại có chiều hướng tăng (năm 2000 : 44%; năm 2004 :48%) trong khi đó cơ cấu khu vực dịch vụ lại có khuynh hướng giảm (năm 2000: 53,7%; năm 2004 : 50,1%) và đây là một vấn đề cần các cấp chính quyền Thành phố phải quan tâm Gần hơn nữa là tình hình từ những tháng cuối năm 2004 đến 31/6/2005, dịch cúm lại bùng phát trên phạm vi

Trang 26

rộng trên thế giới cùng với giá xăng dầu, giá vàng tăng nhanh đã đẩy chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2005 tăng rất cao, của TP.HCM tăng 5,77%, cả nước là 5,2%, xấp xỉ bằng chỉ tiêu lạm phát mà Quốc hội đề ra cho cả năm là 6,5% Đây là một bài toán vô cùng nan giải cho các nhà kinh tế hiện nay, nên chọn mục tiêu là kiềm chế lạm phát hay tăng trưởng kinh tế vì nếu chọn mục tiêu kiềm chế lạm phát thì phải chấp nhận tỷ lệ tăng trưởng thấp, còn nếu vì mục tiêu tăng trưởng thì có thể tình hình lạm phát sẽ gia tăng

Bảng 2.1 : Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của TP.HCM

Giá trị GDP tính theo giá

hiện hành (tỷ đồng)

(Triệu USD)

3.828 3.722 6.401 6.016 7.288 9.816

Nhập khẩu trên địa bàn

“Nguồn : Cục Thống kê TP.HCM”

- Xét về cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế thì tăng trưởng kinh tế của Thành phố về cơ bản là dựa vào thành phần kinh tế nhà nước Tuy nhiên tỷ trọng của kinh tế nhà nước có xu hướng giảm dần (1997: 46%/tổng GDP; 2004: 42%/ tổng GDP) trong khi đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân có chiều hướng gia tăng (bảng 2)

Trang 27

Bảng 2 2 : Cơ cấu GDP của TP.HCM

Đơn vị :%

Kinh tế có vốn đầu tư nước

ngoài

15,6 19,4 20,6 20,8 18,7

“Nguồn : Cục Thống kê TP.HCM”

* Về hoạt động XNK:

+ Về xuất khẩu : Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Thành phố đạt trung bình 1,6%/năm Đến 30/6/2005 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5.679 triệu USD tăng 26,1% so với cùng kỳ Việc xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ đang từng bước phát triển, chủ yếu là từ các khu chế xuất và một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

+ Về nhập khẩu : Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của thành phố đạt trung bình 5%/năm; Đến 30/6/2005 tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 3.006 triệu USD tăng 16,3%

so với cùng kỳ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh

Nếu so sánh thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu nên đã tạo

ra thặng dư cán cân thương mại trên địa bàn thành phố điển hình là năm 2004 thặng

dư cán cân thương mại của TP.HCM đạt 4.172 triệu USD, của 6 tháng đầu năm 2.673 triệu USD

* Về tình hình vốn đầu tư trên địa bàn:

Chính sách huy động vốn đầu tư xã hội trên địa bàn TP.HCM tăng nhanh cả về qui mô và tỷ trọng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Nếu xét từ năm 2000 đến nay thì tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP liên tục tăng (năm 2000 đạt 25.853 tỷ đồng, tỷ lệ 25,7%, năm 2004 đạt 42.996 tỷ đồng, tỷ lệ 32%) Tỷ lệ tăng trưởng vốn đã góp phần nâng cao tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Thành phố từ năm 2000 –

2004 bình quân hơn 10%/ năm Đạt được kết quả như thế chính là nhờ vào sự ổn định kinh tế vĩ mô, sự điều chỉnh kịp thời và phù hợp của Luật Doanh nghiệp (2000) và các chính sách kinh tế khác đã tạo lập nền tảng để kích thích hoạt động đầu tư trên địa bàn TP.HCM

Với những thành quả đạt được của thành phố như vừa nêu đã tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng góp phần khẳng định

vị thế của thành phố trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Tuy

Trang 28

nhiên,đạt được kết quả như thế cũng chưa gọi là cao so với tiềm năng và khả năng phát triển của thành phố Sắp tới, với xu thế toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội nhập quốc tế, TP.HCM sẽ phải đương đầu với những thách thức mới và đây cũng là cơ hội để TP.HCM thể hiện được vai trò là “mũi nhọn” kinh tế trong cả nước

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM :

2.2.1 Hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM :

Hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM là hệ thống Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp, đựơc định hình và phát triển mạnh mẽ kể từ khi thực hiện cải cách hệ thống tài chính ngân hàng năm 1999 và được đánh dấu bằng sự kiện Quốc hội đã ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức Tín dụng ngày 12/12/1997 và có hiệu lực vào ngày 1/10/1998

Do có ưu thế vượt trội về tiềm năng phát triển kinh tế nên TP.HCM đã quy tụ được rất nhiều các Ngân hàng Thương mại, các văn phòng và chi nhánh về đây hoạt động

Hiện nay trên địa bàn thành phố mạng lưới hệ thống Ngân hàng Thương mại đang hoạt động bao gồm :

- Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Nhà nước: 3 văn phòng đại diện, 1 hội sở chính, 3 hội sở giao dịch, 38 chi nhánh cấp 1, 45 chi nhánh cấp 2, 56 phòng giao dịch

- Ngân hàng Thương mại cổ phần: 16 hội sở chính, 3 sở giao dịch, 45 chi nhánh cấp 1, 41 chi nhánh cấp 2, 40 phòng giao dịch

+ Ngân hàng Thương mại cổ phần nông thôn: 1 hội sở chính

- Ngân hàng liên doanh với nước ngoài: 3 hội sở chính, 2 chi nhánh cấp 1

- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: 20 chi nhánh

- Văn phòng đại diện Ngân hàng nước ngoài : 18 văn phòng đại diện

Có thể thấy rằng, địa bàn TP.HCM đã quy tụ hơn 60% số lượng các Ngân hàng Thương mại so với cả nước chứng tỏ TP.HCM là một trung tâm tài chính lớn nhất của cả nước Tuy nhiên,so với yêu cầu phát triển của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung, mà đặc biệt là với nhu cầu vốn đầu tư trung, dài hạn, phục vụ cho xây dựng hạ tầng cơ sở, các công trình công cộng lớn thì với cấu trúc, qui mô của hệ thống Ngân hàng Thương mại hiện nay thì khó mà đáp ứng được Trong khi đó, thị trường chứng khoán mặc dù đã hoạt động nhưng chưa có hiệu quả nên chưa thật sự là nguồn cung cấp vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế cả nước nói chung và TP.HCM nói riêng

Trang 29

2.2.2 Thực trạng hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM :

2.2.2.1 Thực trạng hoạt động huy động vốn

* Về tốc độ tăng trưởng vốn huy động :

Bảng 2 3 : Các chỉ tiêu phản ánh tình hình huy động vốn và tốc độ tăng trưởng vốn huy động của các Ngân hàng Thương mại tại TP.HCM từ năm 2001 - 30/6/2005

Đơn vị : tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 Chỉ tiêu vốn

huy động Số tiền

- Vốn dài hạn 13.250 32,9% 17.098 29% 22.582 32,1% 31.528 39,6%

“Nguồn : Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước TP.HCM”

Nhằm đáp ứng cho yêu cầu tăng trưởng của một trung tâm kinh tế như TP.HCM, hoạt động huy động của các Ngân hàng Thương mại đã không ngừng tăng lên cả về qui mô lẫn tỉ trọng

Trang 30

- Nếu xét đến hình thái giá trị:

Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy, vốn huy động năm 2001 là 65.716 tỷ đồng tăng 16,9% so với năm 2000 Năm 2002 là năm Ngân hàng Nhà nước chuyển sang điều hành theo cơ chế lãi suất thỏa thuận nên các Ngân hàng Thương mại đã chủ động hơn trong việc đưa ra các mức lãi suất phù hợp nhằm khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nên tổng vốn huy động tăng rất cao cả về số tuyệt đối lẫn tốc độ (30,86%)

Năm 2003, huy động vốn đạt mức tăng trưởng khá cao khoảng 35,4% (chỉ tiêu đề ra 25%) do tình hình lãi suất có xu hướng tăng Tuy nhiên, do có sự chênh lệch giữa lãi suất VND và ngoại tệ nên đã thu hút khách hàng gửi VND nhiều hơn

vì vậy tốc độ tăng trưởng vốn huy động VND cao hơn ngoại tệ So với 2002 huy động VND tăng 47,8%, ngoại tệ chỉ tăng 15,7%

Tổng huy động vốn năm 2004 đạt 150.337 tỷ đồng tăng 29% so với năm

2003 Trong đó VND đạt 101.480 tỷ đồng, ngoại tệ đạt 48.857 tỷ đồng, do trong năm 2004 có sự điều chỉnh chính sách tiền tệ và chịu tác động ảnh hưởng của quan hệ lãi suất – tỷ giá cùng sự thay đổi của lãi suất ngoại tệ trên thị trường thế giới Xét về mặt giá trị tuyệt đối thì huy động vốn bằng VND cao hơn ngoại tệ và chiếm tỷ trọng cao hơn ngoại tệ, chiếm 67,5% trong tổng nguồn vốn huy động Tuy nhiên, nhìn chung thì cơ cấu nguồn vốn giữa VND và ngoại tệ cũng tương đối hợp lý

Đến 30/6/2005, tổng vốn huy động trên địa bàn ước đạt 164.370 tỷ đồng, tăng 9,3% so với đầu năm và tăng 23% so với cùng kỳ Trong đó nguồn vốn ngoại tệ có tốc độ tăng nhanh hơn vốn VNĐ Tuy vậy, nguồn vốn VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động (67,3%) mặc dù 6 tháng đầu năm lãi suất ngoại tệ có tăng và VNĐ cũng tăng nhẹ nhưng nhìn chung cơ cấu nguồn vốn vẫn đảõm bảo và không có sự dịch chuyển nhiều từ tiền gửi VNĐ sang ngoại tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng vốn của các Ngân hàng Thương mại trên địa

* Về cơ cấu vốn huy động

Nói đến cơ cấu vốn huy động là nói đến tỷ trọng của từng loại vốn huy động so với tổng số vốn huy động.Vốn huy động của Ngân hàng bao gồm nhiều loại với nhiều đặc điểm khác nhau.Do đó,việc xem xét cơ cấu vốn huy động sẽ giúp nhà quản trị Ngân hàng thực hiện các biện pháp quản trị các loại vốn này một

cách có hiệu quả hơn

- Xét về cơ cấu vốn huy động thì vốn huy động bằng VND luôn chiếm tỷ trọng chính trong tổng vốn huy động là khoảng trên 60% và luôn có xu hướng tăng từ 2001 – 2004 trong khi đó vốn huy động bằng ngoại tệ chiếm khoảng dưới 40% và lại có xu hướng giảm dần từ năm 2001 – 2004 Nguyên nhân là do lãi suất huy

Trang 31

2005 lãi suất ngoại tệ có tăng nhưng mức độ không đáng kể, thêm vào đó tỷ giá luôn ở mức tương đối ổn định nên không xảy ra tình trạng dịch chuyển từ vốn VND

sang vốn ngoại tệ

- Nếu xét theo tính chất tiền gửi thì bộ phận tiền gửi thanh toán vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động Bởi vì ngoài yếu tố lãi suất nó còn phụ thuộc vào tính tiện ích của dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng, phụ thuộc vào trình độ công nghệ và thủ tục thanh toán của mỗi Ngân hàng Thương mại Hiện nay, các hoạt động dịch vụ hiện đại và thanh toán trên địa bàn đã và đang phát triển rất mạnh và rất có hiệu quả, đó là một trong các yếu tố quan trọng để thu hút nguồn tiền gửi này Nếu chỉ tính về dịch vụ thanh toán thẻ thì năm 2004 doanh số hoạt động thẻ trên địa bàn là 11.430 tỷ đồng,tăng gấp 56 lần so với năm 2001.Riêng trong 6 tháng đầu năm 2005 doanh số thanh toán thẻ trên địa bàn cũng đã đạt 8.705 tỷ đồng bằng 76,2% so với doanh số năm 2004.Với xu hướng này,sắp tới doanh số thanh toán thẻ sẽ còn gia tăng hơn nữa và nguồn tiền gửi trên tài khoản thẻ sẽ là một nguồn vốn quan trọng mà các nhà quản trị Ngân hàng cần phải quan tâm và khai thác để sử dụng một cách có hiệu quả

Bảng 2.4 : Cơ cấu vốn huy động của các Ngân hàng Thương mại tại TP.HCM

từ 2001 – 30/6/2005

Đơn vị : tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 Chỉ tiêu vốn huy

động Số tiền Tỷ trọng

3 Theo kỳ hạn 65.716 100% 85.996 100% 116.470 100% 150.337 100%

“Nguồn : Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước TP.HCM”

Trang 32

- Còn nếu đứng trên góc độ thời hạn của nguồn vốn thì nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao khoảng 80% trên tổng nguồn vốn Nguồn vốn trung và dài hạn hiện nay khoảng 20% và sắp tới có xu hướng sẽ gia tăng do các Ngân hàng Thương mại hiện đang có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn trung, dài hạn nên đã đề ra nhiều chính sách để thu hút nguồn vốn này như tăng lãi suất, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu Tuy nhiên số lượng gia tăng chắc sẽ không đáng kể bởi vì hiện nay với tình hình lạm phát ngày một gia tăng, bên cạnh đó thì trên thị trường hiện nay còn có nhiều hình thức đầu tư sinh lời khác như: đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán… Ngoài ra còn do yếu tố về thói quen, tâm lý của người dân trong việc tích lũy và gửi vốn dài hạn vào Ngân hàng Chính vì những lý do đó mà các Ngân hàng Thương mại gặp khó khăn trong huy động vốn dài hạn từ các thành phần dân cư

* Thị phần huy động vốn của các Ngân hàng Thương Mại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh:

Để có cái nhìn rỏ hơn về vị thế hoạt động của các Ngân hàng Thương mại,ta

xem xét về thị phần của từng hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa bàn

Bảng 2.5: Thị phần huy động vốn của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh

Đơn vị: %

Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 30/6/05

NHTMNhà nước 47,20 46,74 50,56 52 51 50,3 50,2 49,7 50,8 46 NHTMCổ phần 29,62 28 29,4 26,7 29,7 29,8 29,2 28,4 29,2 34,1

NH liên doanh 3,17 6,76 5,24 3,9 3,3 3,9 3,8 4,1 3,8 2,9 NHnước ngoài 20,1 18,5 14,8 17,4 16 16 16,8 17,8 16,2 17

Tổng cộng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100

“Nguồn: Báo cáo Ngân hàng Nhà nước TP.Hồ Chí Minh”

Qua bảng 2.5 cho thấy ưu thế thị phần huy động vốn luôn thuộc về các Ngân hàng Thương mại Nhà nước (khoảng 50% tổng vốn huy động) Điều này đã khẳng định vai trò chủ đạo của các Ngân hàng Thương mại Nhà nước về các nghiệp vụ truyền thống của mình

2.2.2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng

Hiện nay tại các Ngân hàng Thương Mại, hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu nhất Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như nâng cao khả năng thu nhập, các Ngân hàng Thương mại đã quan tâm đến các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng tín dụng, cơ cấu tín dụng và chất lượng tín dụng

Trang 33

* Về tốc độ tăng trưởng tín dụng:

Hiện nay,tại hầu hết các Ngân hàng Thương mại,nghiệp vụ mang lại thu nhập chủ yếu là nghiệp vụ tín dụng.Vì vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại

Nhìn chung hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh năm 2001 đã khởi sắc trở lại sau giai đoạn tăng trưởng chậm ở các năm 1997, 1998, 1999 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực Xem số liệu bảng 2.6,dư nợ cho vay năm 2001 đạt 56.189 tỷ đồng, tăng 17,5% so năm 2000 Trong đó dư nợ vay VNĐ có tốc độ tăng trưởng lớn hơn dư nợ cho vay ngoại tệ Nếu xét theo thời hạn thì cho vay trung, dài hạn có tốc độ tăng trưởng lớn hơn tốc độ tăng trưởng cho vay ngắn hạn và chiếm 36% trong tổng dư nợ cho vay Điều này càng thể hiện mức độ rủi ro cao khi so với nguồn vốn trung và dài hạn huy động được trong năm

Năm 2002, do áp dụng chính sách lãi suất thỏa thuận nên hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại đã có bước đột phá Dư nợ cho vay đạt 74.243 tỷ đồng, tăng 32,1% so với năm 2001, trong đó cho vay bằng ngoại tệ có tốc độ tăng rất cao do mặt bằng lãi suất giữa VNĐ và ngoại tệ có chênh lệch Tuy nhiên, đáng quan tâm hơn là tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay trung, dài hạn tăng rất cao từ 24% năm 2001 lên 43,8% năm 2002 và số dư nợ cho vay trung, dài hạn vượt hơn so với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động trung dài hạn gấp 1,7 lần

Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các Ngân hàng thương mại tại TP.Hồ Chí Minh từ 2001 –30/6/05

Đơn vị:Tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 Chỉ tiêu dư nợ

cho vay Số tiền 2001/

2000

30/6/05 2002/

Trang 34

“Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.Hồ Chí Minh”

Trong năm 2003, hoạt động tín dụng trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh tăng trưởng nhanh và cao Cụ thể cho vay tăng 35,9% so với 2002 trong khi mức dư nợ cho vay của cả nước tăng 27% Cũng do lãi suất ngoại tệ thấp hơn lãi suất VND nên đối với hoạt động cho vay, diễn biến có xu hướng ngược lại với hoạt động huy động, bên cạnh đó tỷ giá cũng tương đối ổn định (cùng với các nghiệp vụ bảo hiểm tỷ giá và đối tượng vay ngoại tệ được mở rộng) nên đã kích thích khách hàng vay ngoại tệ, dẫn đến tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay ngoại tệ tăng cao, cụ thể dư nợ ngoại tệ tăng 51,3% trong khi VND tăng 29,5% so với năm 2002

Năm 2004 dư nợ đạt 136.624 tỷ đồng tăng 35,4% so 2003,ï tín dụng đạt mức tăng trưởng khá và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Trong đó dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 48.112 tỷ đồng và có tốc độ tăng trưởng dư nợ cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ VNĐ Trong năm này, cho vay trung, dài hạn đạt 56.786 tỷ đồng, so với nguồn vốn huy động trung, dài hạn là 31.528 tỷ đồng thì các Ngân hàng thương mại đã sử dụng khoảng 21,3% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn Tỷ lệ này tuy vẫn nằm trong mức giới hạn được phép nhưng các Ngân hàng Thương mại cũng cần phải quan tâm đến việc đánh giá chiến lược đầu tư để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đảm bảo hạn chế rủi ro trong cho vay trung, dài hạn

Đến 30/6/2005, dư nợ ước tính đạt 154.940 tỷ đồng, tăng 13,4% so với đầu năm và tăng 30,9% so vơi cùng kỳ

Nhìn chung lại trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh thì tốc độ tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Thương mại tăng cao nhất vào năm 2003 (35,9%), đặc biệt là cho vay trung dài hạn, trong đó cho vay bất động sản, đầu tư cơ sở hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn Từ cuối năm 2004 đến 30/6/2005 do khuyến cáo của Ngân hàng nhà nước về vấn đề có thể gặp rủi ro đối với cho vay các dự án xây dựng chung cư , mua nhà chung cư, mua bán nhà, đất… nên tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay trung,

dài hạn năm 2004 là 38,4% thấp hơn năm 2003 là 41,2%

*Cơ cấu tín dụng:

Cơ cấu tín dụng cho biết tỷ trọng dư nợ của từng loại cho vay trên tổng dư nợ cho vay.Mỗi loại cho vay có cơ cấu lãi suất,thời hạn và mức rủi ro khác nhau.Phân tích cơ cấu cho vay giúp các nhà quản trị Ngân hàng đánh giá được hoạt động tín dụng của Ngân hàng mình

- Qua bảng 2.7, cơ cấu của vốn vay VND luôn chiếm tỷ trọng trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nhưng lại có xu hướng giảm dần qua các năm trong khi đó dư nợ vay bằng ngoại tệ lại có xu hướng tăng dần Điều này cũng phù hợp bởi vì lãi suất cho vay ngoại tệ mặc dù có tăng theo lãi suất của thị trường nhưng vẫn thấp hơn so với lãi suất cho vay VND nên khách hàng thích vay bằng ngoại tệ hơn, vả lại trong giai đoạn này tỷ giá lại ở mức ổn định vì vậy vay bằng ngoại tệ sẽ có lợi hơn

Trang 35

-Nếu xét theo thời gian thì tỷ trọng giữa dư nợ cho vay ngắn hạn và dàihạn là 60% và 40% Điều này chứng tỏ nhu cầu về vốn trung, dài hạn trên địa bàn là rất cao, nhằm để phục vụ cho việc đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các dự án trọng điểm của Nhà nước Tuy nhiên, điều này cũng nói lên rằng tỷ lệ rủi ro cũng rất cao

do có sự chênh lệch về nguồn vốn và sử dụng vốn trung, dài hạn cho dù tỷ lệ này chưa vượt quá giới hạn được phép (21,3%) và càng rủi ro hơn nếu việc sử dụng vốn

không có hiệu quả

Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng cácNgân hàng Thương mại tại TP.HCM từ 2001 –

30/6/2005

Đơn vị: tỷ đồng

2001 2002 2003 2004 Chỉ tiêu dư

nợ cho vay Tỷ trọng

(%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số

Tỷ trọng (%)

“Nguồn: Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.HCM”

-Trong thời gian qua, cơ cấu tín dụng có những thay đổi về đối tượng cho vay.Tỷ lệ cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có gia tăng đã tạo môi trường bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong vấn đề tiếp cận với vốn vay Ngân hàng Tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay chiếm khoảng từ 43-47% trong tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng

Trang 36

Biểu đồ 1 : Tình hình vốn huy động và cho vay của các NHTM trên địa bàn TP.HCM

0 20 40 60 80 100 120 140 160 180

Tỷ đồng

Vốn huy động

Dư nợ cho vay

* Thị phần dư nợ cho vay của Ngân hàng thương mại trên địa bàn:

Bảng 2.8: Thị phần dư nợ cho vay của các NHTM

Đơn vị :%

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 30/6/05

1/ NHTM nhà nước 49,3 44,9 50,3 48,1 45,2 43,5 2/ NHTM cổ phần 23,3 26,6 25,5 28,9 30 30,6 3/ NH liên doanh 2,7 4,2 4,7 3,9 3,6 3,8 4/ NH nước ngoài 24,7 24,3 19,5 19,1 21,2 22,1

“Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Tp.HCM”

Thị phần dư nợ của NHTM nhà nước luôn chiếm tỷ lệ cao khoảng gần 50% tổng dư nợ của toàn Thành phố Tuy nhiên, do các chính sách cải tiến như linh hoạt trong phương pháp và thái độ phục vụ khách hàng, năng động tìm đến khách hàng để cho vay, mở rộng hình thức cho vay như: mua bán nhà cửa, sinh hoạt, tiêu dùng,

du học… nên thị phần cho vay của các NHTM Cổ phần đã dần dần gia tăng rõ rệt qua các năm và theo dự đoán của các chuyên gia ngân hàng năm 2005 có lẽ là năm

“bùng nổ” của hệ thống NHTM Cổ phần về tất cả các mặt, về mạng lưới hoạt động cũng như về khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng…

Trang 37

Biểu đồ 2 : Vốn huy động và cho vay theo thời hạn từ 2001-2004

Biểu đồ 2a Vốn huy động và cho vay năm 2001

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000

Huy động Cho vay

Huy động Cho vay

Loại hình

Trung dài hạn

Biểu đồ 2c Vốn huy động và cho vay năm 2003

22582 41021

93888 59865

0 50000 100000 150000

Huy động Cho vay

Loại hình Tỷ đồng Ngắn hạn Trung dài hạn

Trang 38

Biểu đồ 2d Vốn huy động và cho vay năm 2004

0 50000 100000 150000 200000

Huy động Cho vay

Loại hình

Tỷ đồng

Ngắn hạn Trung dài hạn

2.2.2.3 Thực trạng hoạt động thanh toán – dịch vụ khác:

Bảng 2.9 :Tổng hợp một số tình hình hoạt động dịch vụ Ngân hàng trên địa bàn TP.HCM

Đơn vị: Tỷ đồng; triệu USD

Năm 2001 Năm 2002 Năm

2003

Năm

2004 Dịch vụ ngân hàng

1 Dịch vụ huy động vốn

- Tổng huy động vốn 65.716 85.996 116.470 150.337

- Tốc độ tăng trưởng 16,9% 30,9% 35,43% 29%

2 Dịch vụ tín dụng

- Dư nợ cho vay 56.189 74.243 100.886 136.624

- Tốc độ tăng trưởng 17,5% 32,1% 35,9% 35,4%

3 Dịch vụ thanh toán

- Khối lượng thanh toán không dùng tiền

mặt

870.744 1.112.312 1.18.012 1.750.600

Trong đó :

+ Thanh toán thẻ (VNĐ, ngoại tệ quy VNĐ) 204 7.900 9.039 11.430

- Số lượng tài khoản cá nhân (tài khoản) 114.000 150.000 205.000 447.845

- Số dư tiền gửi tài khoản cá nhân 1.560 2.988 3.867 8.759

Trang 39

4 Dịch vụ ngoại hối(Đơn vị:Triệu USD)

- Doanh số mua ngoại tệ : 6.834 7.175 9.214 13.924

- Doanh số bán ngoại tệ : 6.607 7.008 8.198 13.048

- Thanh toán mậu dịch :

- Thu đổi ngoại tệ : 906 1.283 1.324 1.537

Đây là hoạt động có bước phát triển nhanh và đạt được những kết quả rất tích cực Chính quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thanh toán đã tạo ra khả năng thanh toán nhanh, chính xác, an toàn và bảo mật Với những ưu điểm đó, hoạt động dịch vụ thanh toán đã mang lại lợi ích kinh tế thực sự cho khách hàng và nền kinh tế, thu hút và hấp dẫn nhiều khách hàng đến giao dịch và thanh toán với Ngân hàng Trong đó, nổi bật nhất là hoạt động chuyển tiền điện tử, dịch vụ thẻ, thanh toán trực tuyến Bênh cạnh đó, mô hình giao dịch một cửa cũng đem lại sự thuận tiện cho khách hàng trong quá trình giao dịch , tạo cho hoạt động thanh toán của Ngân hàng Thương mại trên địa bàn có nhiều ưu thế trong quá trình cạnh tranh và phát triển.Tất cả những yếu tố đó đã góp phần thúc đẩy và mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng

Trong xu thế phát triển nhanh và hiệu quả của hoạt động thanh toán trên địa bàn TP.HCM có thể thấy hoạt động dịch vụ thanh toán thẻ,mà đặc biệt là dịch vụ thẻ ATM đã phát triển rất nhanh với tổng số máy trên địa bàn đến ngày 30/06/2005 là 355 máy Nếu tính cả hệ thống máy đọc thẻ (máy POS) được đặt tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ là 1.422 điểm thì hệ thống mạng lưới thanh toán thẻ ATM hiện nay đã đạt đến số lượng 1.777 điểm chấp nhận thẻ và thanh toán thẻ ATM và một số thẻ thanh toán khác

Gắn liền với quá trình phát triển hệ thống máy ATM,dịch vụ thẻ ATM và các thẻ thanh toán khác là quá trình phát triển hệ thống tài khoản cá nhân.Tổng số lượng tài khoản cá nhân đến năm 2004 đạt 447.845 tài khoản, tăng gần 4 lần so với

2001 (bảng 2.9).Đến nay, tổng số tài khoản cá nhân đạt trên 600.000 tài khoản, tăng gấp 5,3 lần so với năm 2001 và tổng số dư trên tài khoản cá nhân đạt trên 10.000 tỷ đồng, tăng gấp 6,5 lần so với năm 2001 Với tốc độ phát triển như thế sẽ

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w