1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng phát triển ngành du lịch tỉnh thừa thiên huế đến năm 2010

83 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 417,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng để dẫn tới thành công thì phải có những chiến lược phù hợp trong từng giai đoạn phát triển cụ thể nhằm tận dụng các điểm mạnh, nắm bắt các cơ hội, khắc phục các điểm yếu, hạn chế c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TP H ồ Chí Minh – Năm 2004

Trang 2

MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1

1.1 Những lý luận cơ bản về du lịch 1

1.1.1 Những khái niệm cơ bản 1

1.1.1.1 Một số khái niệm về du lịch 1

1.1.1.2 Du Khách 2

1.1.1.3 Phân loại du khách 2

1.1.1.4 Tài nguyên du lịch 3

1.1.1.5 Sản phẩm du lịch 4

1.1.1.6 Quan điểm về phát triển du lịch bền vững 4

1.2 Một số vấn đề về chiến lược 6

1.2.1 Khái niệm về chiến lược 6

1.2.2 Lợi ích của chiến lược 7

1.2.3 Hoạch định chiến lược 7

1.2.3.1 Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu

của doanh nghiệp 8

1.2.3.2 Phân tích môi trường kinh doanh 8

1.2.3.3 Phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp 11

1.2.3.4 Xây dựng và lựa chọn chiến lược thích nghi 13

1.3 Phương hướng phát triển của du lịch Việt Nam 15

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ 18

2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch của Tỉnh 18

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, khí hậu, dân số 18

2.1.2 Tài nguyên du lịch 19

2.2 Thực trạng du lịch Thừa Thiên Huế trong những năm qua 21

2.2.1 Lượng khách du lịch 22

2.2.2 Doanh thu du lịch 23

2.2.3 Cơ sở du lịch 24

2.2.3.1 Cơ sở hạ tầng 25

2.2.3.2 Cơ sở du lịch cơ bản 26

2.2.3.3 Nhận sự phục vụ của ngành du lịch 27

2.2.3.4 Đầu tư vào ngành du lịch 27

2.2.3.5 Hoạt động Marketing 29

2.3 Những điểm mạnh, yếu của du lịch Thừa Thiên Huế 30

2.3.1 Những điểm mạnh 30

2.3.2 Những điểm yếu 31

Trang 3

2.3.3 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong( IFE ) của ngành

du lịch Tỉnh Thừa Thiên Huế 32

2.4 Phân tích môi trường hoạt động của du lịch Thừa Thiên Huế 32

2.4.1 Các yếu tố về kinh tế 32

2.4.2 Các yếu tố về chính trị, chính phủ 33

2.4.3 Các yếu tố về tự nhiên, văn hóa 34

2.4.4 Yếu tố công nghệ 35

2.4.5 Ảnh hưởng của yếu tố an ninh, an toàn 35

2.4.6 Ảnh hưởng của yếu tố môi trường 36

2.4.7 Ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh 37

2.4.8 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài 39

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ ĐẾN NĂM 2010 40

3.1 Mục tiêu phát triển của du lịch Thừa Thiên Huế đến năm 2010 40

3.1.1 Quan điểm phát triển 40

3.1.2 Các dự báo 41

3.1.3 Mục tiêu phát triển du lịch Thừa Thiên Huế đến năm 2010 43

3.2 Xây dựng và chọn lựa chiến lược 44

3.2.1 Chiến lược tăng trưởng tập trung theo hướng tăng trưởng và phát triển thị trường trong nước 45

3.2.2 Chiến lược tăng trưởng tập trung theo hướng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch 46

3.2.3 Chiến lược liên doanh, liên kết, khuyến khích đầu tư 100% vốn nước ngoài 48

3.2.4 Chiến lược giữ gìn, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch 49

3.3 Các giải pháp chủ yếu 50

3.3.1 Vốn đầu tư vào du lịch 50

3.3.2 Bảo vệ và tôn tạo môi trường 52

3.3.3 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 54

3.3.4 Giải pháp về Marketing 55

3.4 Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch 56

3.5 Kiến nghị 57 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

Du lịch từ lâu đã là một trong những hoạt động quan trọng trong đời sống nhân loại Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 đến nay, việc chi tiêu các dịch vụ liên quan đến thời gian nhàn rỗi phát triển mạnh trên thế giới Kinh doanh du lịch đang là một trong những mũi nhọn kinh tế của nhiều quốc gia Giá trị kinh tế của ngành du lịch không còn thuần túy là lợi nhuận, doanh thu tính ra tiền của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch mà còn nhiều giá trị không tính thành tiền ở các lĩnh vực khác Phát triển du lịch góp phần tiêu thụ các sản phẩm trong nước, tạo công ăn việc làm, có thêm ngoại tệ trong cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia

Đối với Việt Nam, sự phát triển của ngành du lịch đạt tốc độ tăng trưởng khá nhanh trong những năm qua, đã từng bước khẳng định vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Thuận lợi cơ bản của chúng ta là nằm trong khu vực Châu Á, nơi mà xu hướng khách du lịch sẽ dịch chuyển đến nhiều hơn trong thế kỷ 21, hơn nữa Việt Nam là một đất nước có khả năng thu hút khách du lịch rất lớn do những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể lâu đời của nó cũng như những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên ban tặng

Thành phố Huế là thành phố được xếp vào danh sách di sản văn hóa của thế giới Nắm bắt được thế mạïnh đó, trong những năm qua tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH) đã chú trọng đến việc phát triển ngành du lịch của mình Tuy nhiên, đây là một ngành mới mẽ đối với đất nước nói chung và tỉnh TTH nói riêng Cần khẳng định rằng mục tiêu phát triển du lịch của tỉnh TTH là hết sức đúng đắn, đúng thời điểm và mang tính khả thi cao Nhưng để dẫn tới thành công thì phải có những chiến lược phù hợp trong từng giai đoạn phát triển cụ thể nhằm tận dụng các điểm mạnh, nắm bắt các cơ hội, khắc phục các điểm yếu, hạn chế các

đe dọa, để tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh, đồng thời đảm bảo được tính bền vững của ngành du lịch Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng Bởi vì nếu không có nhưng chiến lược đúng đắn, khoa học thì những hạn chế trong việc phát triển của ngành du lịch tỉnh sẽ không tránh khỏi

Trang 5

Với mong muốn được đóng góp vào sự phát triển ngành du lịch tỉnh nhà tôi đã chọn đề tài “Định hướng phát triển ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2010” cho luận văn thạc sĩ của mình

Mục tiêu nghiên cứu:

Xuất phát từ tình hình phát triển du lịch trên thế giới hiện nay, đánh giá lại thực trạng của ngành du lịch của tỉnh, từ đó đề xuất các chiến lược, các giải pháp, kiến nghị nhằm định hướng cho sự phát triển nhanh và bền vững của ngành du lịch tỉnh trong giai đoạn từ nay đến năm 2010

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian được giới hạn trên địa bàn tỉnh, có xem xét đến các quan hệ với sự phát triển của ngành trong phạm vi cả nước và khu vực

Về thời gian, luận văn sử dụng các số liệu thống kê hoạt động của ngành du lịch chủ yếu từ năm 1995 đến năm 2003

Đề tài không có tham vọng đi sâu vào việc phân tích những vấn đề cụ thể, mà chỉ phân tích những vấn đề tổng quát nhằm phục vụ cho mục đích xây dựng và lựa chọn chiến lược phát triển của ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Phương pháp nghiên cứu:

Để phân tích và làm rõ nội dung của luận văn tôi đã vận dụng phép biện

chứng duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp mô tả, so sánh đối chiếu, phân tích và tổng hợp, tham khảo ý kiến của một số người có đam mê nghiên cứu Huế Cơ sở cho việc nghiên cứu luận văn là nguồn số liệu thu thập được từ Niên giám thống kê, các tài liệu đã được công bố trên sách báo, internet

Bố cục của luận văn:

Kết cấu của luận văn gồm ba chương

Chương I: Tổng quan lý thuyết

Những lý luận cơ bản về du lịch; quan điểm về phát triển du lịch bền vững hiện nay; lý thuyết cho việc phân tích, xây dựng và chọn lựa chiến lược; phương hướng phát triển của ngành du lịch Việt nam

Chương II: Thực trạng du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 6

Phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch của tỉnh; phân tích thực trạng của du lịch địa phương, từ đó rút ra được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy

cơ nhằm làm cơ sở cho việc đề ra các chiến lược phát triển

Chương III: Định hướng phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Đưa ra mục tiêu phát triển của ngành du lịch tỉnh trên cơ sở các quan điểm phát triển và dự báo Xây dựng và chọn lựa chiến lược, đề xuất các giải pháp và kiến nghị cho việc thực hiện các chiến lược đó

Trang 7

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

1.1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH

1.1.1 Những khái niệm cơ bản:

1.1.1.1 Một số khái niệm về du lịch:

Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, kinh tế thế giới được khôi phục và phát triển nhanh chóng, thu nhập cá nhân và tố chất văn hóa của toàn thể loài người được phổ biến nâng cao, từ đó làm cho hoạt động du lịch phát triển thành một hoạt động mang tính quần chúng Hình thức du lịch đại chúng này là đặc điểm nổi bật của du lịch hiện đại

Về định nghĩa du lịch, một số tổ chức quốc tế và các nhà nghiên cứu đều rất hứng thú trong việc từ các góc độ khác nhau tiến hành nghiên cứu, đưa ra rất nhiều định nghĩa về du lịch, trong đó định nghĩa của Hội Liên hiệp các chuyên

gia quốc tế về Du lịch học được nhiều người đồng tình nhất “Du lịch là sự tổng

hòa các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và tạm thời cư trú của những người không định cư dẫn tới Số người này không định cư lâu dài, vả lại cũng không làm bất kỳ hoạt động nào để kiếm tiền” [12, 8]

Theo định nghĩa trên, du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính tổng hợp, tính tạm thời và tính không hành nghề của hoạt động du lịch Nhưng không làm việc gì để kiếm tiền chỉ nhắm vào du lịch giải trí, chứ chưa tính đến

việc du lịch thương mại Thật ra các nhà nghiên cứu cho rằng “các hoạt động

như đàm phán buôn bán, ký kết hợp đồng và triển lãm hội chợ cùng tham quan dưới hình thức du lịch tổ chức cho đại biểu sau khi kết thúc hội nghị cũng nên gom vào khái niệm du lịch” [13, 8]

Nếu xem du lịch không chỉ đơn thuần là hiện tượng xã hội mà còn là hoạt động kinh tế, du lịch được coi là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản là chủ thể du lịch (du khách), khách thể du lịch ( tài nguyên du lịch ), và môi giới du lịch ( ngành du lịch ) cấu thành

Trang 8

Du lịch học là một khoa học mới phát triển, cũng là một khoa học có tính tổng hợp rất cao, nó liên quan tới nhiều lãnh vực, nhưng đối tượng nghiên cứu chủ yếu vẫn là hoạt động du lịch Hoạt động du lịch lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch, môi giới du lịch làm điều kiện tác động lẫn nhau mà nảy sinh Du lịch học chính là nghiên cứu tổng hợp ba bộ phận này, tìm hiểu các quy luật hoạt động của sự phát sinh và phát triển của nhiều hiện tượng và quy luật của

ba bộ phận nói trên

1.1.1.2 Du khách

Từ du khách (tourist) xuất hiện sớm nhất trong từ điển Oxford bằng tiếng Anh xuất bản năm 1811, ý là “du khách từ ngoài tới với mục đích tham quan du ngoạn” Về sau, các nhà nghiên cứu nêu ra rất nhiều lý giải mới Quy nạp lại,

du khách có các đặc điểm sau đây:

- Người không định cư

- Du khách tạm thời lưu lại tối thiểu 24 giờ

- Là người lữ hành không nhằm mục đích lợi lộc

Du khách chỉ “Người tạm thời rời khỏi môi trường cư trú tới nước khác ở lại tối thiểu 24 giờ, tiến hành đi lại, ăn ở, du ngoạn, vui chơi, giải trí, mua sắm nhằm đạt được sự hưởng thụ về tinh thần và vật chất” [106, 8]

1.1.1.3 Phân loại du khách

Du khách quốc tế: “Du khách nước ngoài là người rời khỏi nước định cư của

mình tới thăm viếng một nước khác tối thiểu 24 giờ” [106, 8] Và quy định bốn loại người sau đây thuộc du khách quốc tế:

- Người đi ra nước ngoài du hành vì nguyên nhân tiêu khiển, việc gia đình và sức khỏe bản thân

- Người đi ra nước ngoài lữ hành để tham gia hội nghị hoặc là đại biểu công vụ

- Người đi ra nước ngoài lữ hành vì mục đích nghiệp vụ thương mại

- Nhân viên đến thăm trong quá trình dạo chơi trên biển, dù thời gian dừng lại không đủ 24 giờ cũng được gọi là du khách

Trang 9

Du khách trong nước: Năm 1991, Hội nghị công tác thống kê du lịch quốc

tế do Liên hợp quốc và chính phủ Canada liên hợp tổ chức ở Ottawa cho rằng, du khách trong nước là chỉ “bất kỳ người nào tới một nơi nào đó ngoài môi trường thường trú của mình ở trong nước mà mình thường trú để thực hiện lữ hành trong thời hạn không quá 12 tháng, mục đích chủ yếu không phải là thay đổi các hoạt động nhằm thu được thù lao ở nơi đó” [109, 8]

1.1.1.4 Tài nguyên du lịch

a Tài nguyên du lịch cảnh quan

Tài nguyên du lịch cảnh quan, xét về thuộc tính cơ bản của nó có thể chia ra thành tài nguyên du lịch thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên

du lịch xã hội

Tài nguyên du lịch thiên nhiên: chỉ tài nguyên mà thiên nhiên ban tặng con

người để tiến hành các hoạt động du lịch như nghỉ ngơi điều dưỡng, du ngoạn tham quan và khảo sát khoa học

Tài nguyên du lịch nhân văn: chỉ những của cải vật chất và tinh thần do con

người sáng tạo ra từ xưa đến nay, có thể thu hút mọi người tiến hành hoạt động

du lịch Nó gồm hai loại hữu hình và vô hình Tài nguyên du lịch nhân văn có truyền thuyết thần thoại, sự việc phi thường Tài nguyên du lịch nhân văn hữu hình có thể chia ra tài nguyên nhân tạo lịch sử và tài nguyên nhân tạo hiện có, bao gồm di tích lịch sử, kiến trúc cổ điển, di tích văn hóa, văn hóa nghệ thuật, đặc sản công nghệ, thành tựu xây dựng, v.v…

Tài nguyên du lịch xã hội: Hoạt động du lịch quốc tế rầm rộ đã thúc đẩy sự

giao lưu lớn giữa các vật tải văn hóa khác nhau, du khách từ nơi khác tới và người địa phương tiếp xúc với du khách đều có thể thu được bổ ích và thỏa mãn từ trong giao lưu Vì thế, con người cũng là tài nguyên du lịch, là chủ thể của tài nguyên xã hội

b Tài nguyên du lịch kinh doanh

Trang 10

Tài nguyên du lịch kinh doanh chỉ tài nguyên có liên quan với hoạt động kinh doanh du lịch, có thể chia ra tài nguyên du lịch có hạn và tài nguyên du lịch vô hạn Có hạn và vô hạn bao gồm hai mặt thời gian và không gian Tài nguyên du lịch sinh vật, tài nguyên du lịch khí hậu có thể coi là vô hạn, tài nguyên để ăn uống khi du lịch, tài nguyên công nghiêp hàng tiêu dùng du lịch, tài nguyên kiến trúc du lịch, tài nguyên nhân tài du lịch, bất kể thời gian hay không gian đều là có hạn

1.1.1.5 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là một khái niệm tổng thể Trong thực tế kinh doanh, một loại sản phẩm du lịch thường là do các xí nghiệp và bộ phận du lịch trực thuộc một số ngành nghề nhưng độc lập với nhau cung cấp, các xí nghiệp và bộ phận này căn cứ vào tính chất của mình tự tổ chức dịch vụ đã định, xoay quanh thị trường mục tiêu riêng Sự kết hợp một cách hữu cơ các sản phẩm du lịch đơn lẽ mới có thể tạo ra sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu du khách Sự ra đời công ty du lịch và sự xuất hiện du lịch trọn gói đã thích ứng với yêu cầu khách quan này, họ kết hợp một trăm phần trăm hoặc toàn bộ sản phẩm du lịch đơn lẽ lại thành sản phẩm du lịch thỏa mãn các nhu cầu của du khách trong quá trình

du lịch

1.1.1.6 Quan điểm về phát triển du lịch bền vững

Sự phát triển của ngành du lịch trong thập niên vừa qua đã đem lại những lợi ích rất lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới tin rằng du lịch sẽ đóng vai trò thiết yếu trong việc giải quyết nhiều thách đố mà xã hội ngày nay phải đương đầu Ngành du lịch sẽ tạo ra công ăn việc làm mới, cung cấp ngoại tệ, giúp các quốc gia phát triển nền kinh tế của mình, và góp tay vào việc phát triển kỹ thuật, đào tạo, và trao đổi văn hóa Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố tích cực, việc phát triển du lịch cũng tạo ra những yếu tố tiêu cực đối với các sắc dân, nền văn hóa, và đặc biệt là sự hủy hoại môi trường Sự phát triển của ngành du lịch có thể gây ô nhiễm nào đó cho môi trường tự nhiên, gây sự phá hoại mức độ nhất định cho tài nguyên du lịch Cho

Trang 11

nên khai thác tài nguyên du lịch cần hết sức coi trọng bảo vệ môi trường thiên nhiên và sự cân bằng sinh thái Vì vậy, xu hướng chung hiện nay là phát triển

du lịch phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường để bảo đảm tính bền vững

Các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước trên thế giới trong thập niên cuối của thế kỷ 20 đã đẩy mạnh hoạt động kinh doanh du lịch Trong điều kiện thực tiễn của một số nước đã sớm đề ra phương châm đúng đắn là tổ chức và quản lý du lịch phải thực sự bền vững Phương châm hoạt động kinh doanh

du lịch phải bền vững đã sớm được nhiều nước ủng hộ và đã trở thành mục tiêu phấn đấu của các nước

Tổ chức du lịch thế giới đã có định nghĩa về du lịch bền vững như sau: ”Du lịch bền vững là sự phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và của người dân sở tại trong khi vẫn quan tâm bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên bảo đảm sự phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai Du lịch bền vững là kế hoạch hóa việc quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người trong khi vẫn duy trì được sự toàn vẹn về đa dạng sinh học và đa dạng về văn hóa, sự phát triển các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ đối với cuộc sống của con người”.[11, 5]

Trên cơ sở của định nghĩa này Tổ chức du lịch thế giới cũng nêu ra những nguyên tắc cơ bản của sự phát triển du lịch bền vững là:

- Những tài nguyên du lịch tự nhiên, lịch sử, văn hóa và những tài nguyên khác cần được bảo tồn với mục đích khai thác lâu dài trong tương lai mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho cả hiện tại

- Những hoạt động về phát triển du lịch cần được quy hoạch và quản lý để không gây ra các vấn đề về môi trường và văn hóa – xã hội đối với khu vực

- Chất lượng của môi trường chung được bảo vệ và cải thiện nếu thấy cần thiết

Trang 12

- Cần chú ý sự hài lòng của du khách để tạo lập được uy tín và sự hấp dẫn của du khách đã có mặt và qua họ có thể phổ biến rộng rãi đối với những du khách chưa từng đến

- Bảo đảm và nâng cao hiệu qủa kinh tế của du lịch

- Thu nhập từ du lịch được phân bố rộng khắp trong toàn xã hội

Chương trình 21 về du lịch và lữ hành do Ủy ban du lịch và lữ hành thế giới và Hội đồng về Trái đất đã xác định như sau:

- Đối với các cơ quan nhà nước, các cơ quan quốc gia về du lịch ( Tổng cục

du lịch, Bộ du lịch …) và các đại diện những tổ chức thương mại thì nhiệm vụ quan trọng nhất là việc xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách nhằm đưa mục tiêu phát triển bền vững trở thành trọng tâm, và xác định những quyết sách nhằm có thể thực hiện các bước cần thiết để biến những mục tiêu phát triển bền vững thành hiện thực

- Đối với các doanh nghiệp thì mục tiêu cơ bản là xây dựng hệ thống và cơ chế hướng những vấn đề bền vững trở thành phần chủ yếu trong công tác quản lý, đồng thời xác định các nhiệm vụ phải thực hiện nhằm biến những mục tiêu phát triển bền vững thành hiện thực [12, 5]

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHIẾN LƯỢC:

1.2.1 Khái niệm chiến lược

Trong môi trường kinh doanh ngày nay, hơn bất kỳ một kỷ nguyên nào trước đó là sự thay đổi quá mau chóng Công nghệ thông tin và nhất thể hóa toàn cầu đã thay đổi môi trường và đang làm chuyển đổi hình thức kinh doanh truyền thống Các tổ chức đạt được thành tích và thích ứng với những thay đổi liên tục phần lớn là do trong số họ đã biết hoạch định chiến lược phù hợp với những biến động để tồn tại và phát triển Có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược:

Trang 13

- Tác giả R.David cho rằng “Chiến lược” là những phương tiện đạt tới những

mục tiêu dài hạn

- Mớùi đây vào 1996 tác giả M.E.Porter cho rằng :

• Thứ nhất: Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt

• Thứ hai: Chiến lược là những phương tiện để đạt tới những mục tiêu dài hạn và tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các họat động của tổ chức

Chiến lược thể hiện phương thức có hệ thống và khách quan trong việc xác định chiều hướng tương lai của một tổ chức

1.2.2 LỢI ÍCH CỦA CHIẾN LƯỢC:

Xây dựng chiến lược cho một công ty là một nội dung rất quan trọng để giúp cải thiện tình hình hoạt động của một tổ chức nói chung Có 4 lý do chủ yếu để giải thích vấn đề này:

• Chiến lược giúp đỡ cho tổ chức dự báo trước, sáng tạo ra và tác động dến môi trường để đương đầu linh hoạt với sự thay đổi quá nhanh của môi trường (bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong)

• Chiến lược giúp đỡ tổ chức phân bố nguồn tài nguyên có hiệu quả nhất

• Chiến lược là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể và đo lường những kết quả đó, đồng thời làm sơ sở kinh doanh cả về chất lượng và hiệu quả hướng đến sự thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi nhuậän cao cho tổ chức

• Chiến lược giúp đỡ tổ chức cải thiện tình hình thông tin nội bộ qua việc theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện chiến lược

1.2.3 Hoạch định chiến lược

Hoạch định chiến lược gồm: xác định nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức, phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài đồng thời đề ra các chiến lược thích nghi

Trang 14

1.2.3.1 Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu của doanh

Mục tiêu bao gồm mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn, doanh nghiệp thường có hai mục tiêu chính như sau:

- Lợi nhuận (thu nhập,cổ tức, lợi nhuận tiền vốn đầu tư)

- Tăng trưởng (doanh thu, thị phần)

1.2.3.2 Phân tích môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh mà tổ chức phải đương đầu có thể chia làm 3 cấp độ: môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp và môi trường bên trong

Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế đất nước, tất cả các nền kinh doanh Môi trường ngành (môi trường tác nghiệp) được xác định và ảnh hưởng đối với một ngành công nghiệp cụ thể Các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành thì chịu ảnh hưởng của môi trường ngành đó Nhiều khi môi trường vĩ mô và môi trường ngành kết hợp với nhau và được gọi là môi trường bên ngoài Như vậy thành 2 cấp độ là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong Việc thiết lập chiến lược là việc tận dụng khai thác các

cơ hội và né tránh hoặc có phản ứng nhằm hạn chế các đe dọa của môi trường

Vì vậy gắn việc phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong sẽ tạo

ra những gợi ý cho việc xây dựng chiến lược doanh nghiệp Nhà quản trị thường dùng rất nhiều công cụ kỹ thuật để phân tích và đánh giá môi trường, trong khi hoạch định chiến lược Một công cụ kỹ thuật quan trọng nhất và thường được sử dụng là phân tích SWOT

Trang 15

• Phân tích SWOT: (Strength – Weakness – Opportunity – Threat: Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Rủi ro)

Mục đích của phân tích SWOT giúp chúng ta xác định những điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường nội tại và những cơ hội, nguy cơ từ môi trường bên ngoài Trong đó điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp sẽ tiến hành so với đối thủ cạnh tranh, còn cơ hội và rủi ro được dự báo theo môi trường Trên cơ sở đó, phối hợp điểm mạnh và điểm yếu với các cơ hội, nguy cơ một cách thích hợp để xây dựng các chiến lược kinh doanh Có thể thực hiện quá trình phối hợp này bằng ma trận SWOT

Việc phân tích môi trường với một cái nhìn tổng quát về mức độ hỗn loạn trong môi trường là rất quan trọng Tính phức tạp và tính biến động cao của môi trường sẽ làm cho việc dự đoán trở nên khó khăn và ảnh hưởng đến việc xây dựng chiến lược Bởi vì hai yếu tố trên đều là ngoại cảnh, doanh nghiệp rất khó kiểm soát xuất hàng Phân tích PEST (Political, Economic, Social, Technological) được xem như công cụ để phân tích môi trường vĩ mô

Chính trị: (Political) bao gồm các đảng phái chính trị, luật lệ, quan hệ giữa chính quyền và doanh nghiệp, sở hữu nhà nước trong ngành công nghiệp và thái độ đối xử với độc quyền và cạnh tranh

Kinh tế: (Economic) bao gồm tổng thu nhập quốc dân GDP và thu nhập quốc dân trên đầu người, lạm phát, mức tiêu dùng và thu nhập, lãi suất, bị động ngoạïi tệ và tỉ giá hối đoái, đầu tư của nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và công

ty nước ngoài, nạn thất nghiệp, chi phí năng lượng, vận chuyển, thông tin, nguyên vật liệu

Văn hóa –Xã hội: (Social-cultural) bao gồm nâng cấp về giá trị và văn hóa thay đổi lối sống, thái độ đối với công việc và thời gian nhàn rỗi, các chiến dịch môi trường “xanh”, giáo dục y tế, sự thay đổi về nhân khẩu, phân phối thu nhập

Trang 16

Công nghệ: (Technoligical) bao gồm chính sách đầu tư của chính phủ, xác định các chính sách nghiên cứu mới, sản phẩm và sáng chế mới, tốc độ thay đổi và áp dụng công nghệ mới, mức độ đầu tư và sự bảo vệ bản quyền

Phân tích PEST nhằm nghiên cứu các yếu tố về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và công nghệ là điểm khởi đầu cho việc phân tích môi trường chung quanh doanh nghiệp Các yếu tố này có tác động lẫn nhau và cùng có tác động lên doanh nghiệp hoặc tác dụng lên doanh nghiệp một cách độc lập

Các nội dung của từng yếu tố có mức độ quan trọng khác nhau tùy thuộc đối tượng nghiên cứu Khi nghiên cứu các yếu tố của môi trường vĩ mô không nên kết luận ngay khi chỉ xem xét một vài yếu tố mà phải xem xét một cách toàn diện, trong quan hệ tác động qua lại giữa chúng với nhau

• Phân tích môi trường vi mô

Mục đích của việc phân tích môi trường vi mô là để phát triển các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để có thể đánh bại các đối thủ của mình và bảo vệ vị trí của mình Mỗi doanh nghiệp có một môi trường vi mô riêng Do đó, không nên áp dụng một cách rập khuôn các kinh nghiệm của một doanh nghiệp khác Các yếu tố chính của môi trường vi mô gồm: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, người cung cấp, đối thủ tiềm ẩn và các sản phẩm mới thay thế

Đối thủ cạnh tranh: Mỗi doanh nghiệp đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng

biệt Do đó việc nhận diện được các ưu thế, hạn chế, khả năng, vận hội, mối đe dọa, mục tiêu và chiến lược của tất cả các đối thủ cạnh tranh là rất quan trọng Từ đó, doanh nghiệp có thể hoạch định chiến lược cho mình một cách chủ động hơn Các đối thủ tiềm ẩn, đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

Trang 17

Khách hàng: là lý do tồn tại của doanh nghiệp Nếu lượng khách hàng càng

tăng thì mức độ rủi ro của doanh nghiệp càng giảm Muốn vậy cần phải nghiên cứu phân loại khách hàng theo những tiêu thức như tuổi tác, giới tính, thu nhập, địa phương, địa lý, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa …để tiến hành phân khúc thị trường

Nhà cung ứng là những đối tượng cung cấp cho doanh nghiệp máy móc, thiết

bị, nguyên vât liệu, tài chính, lao động… Việc lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán giá cả, thời gian thanh toán và xây dưng mối quan hệ với nhà cung cấp là nhiệm vụ rất quan trọng Bởi vì việc mất đi một nhà cung cấp chủ yếu sẽ làm cho sản xuất có thể bị ngưng trệ, hay phải tìm một nguồn thay thế khác với chất lượng thấp hơn hay giá cả cao hơn Nó có thể dẫn đến nguy cơ là công ty không thể cung cấp cho khách hàng đúng loại sản phẩm, đúng nơi hoặc đúng giá cả đã

cam kết với khách hàng

Đối thủ tiềm ẩn: là những đối tượng sẽ tham gia kinh doanh trong ngành Họ

có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần càng nhiều

Sản phẩm thay thế: Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng

lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất của sản phẩm bị khống chế Nếu không chú ý đến các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Phần lớn các sản phẩm thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ Do vậy muốn thành công, doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình

1.2.3.3 Phân tích môi trường bên trong của doanh nghiệp

Môi trường bên trong của doanh nghiệp là các yếu tố bên trong của doanh

nghiệp và có thể kiểm soát được Các yếu tố này bao gồm marketing, sản xuất,

tài chính, nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, hệ thống thông tin ….Việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố bên trong cho phép đánh giá các thế mạnh cũng như những điểm yếu của doanh nghiệp Từ đó, xem xét chiến lược cần được xây dựng như thế nào để khai thác điểm mạnh và hạn chế điểm yếu một cách tốt nhất

Trang 18

Marketing: theo Ph.Kotler, marketing có thể được định nghĩa như sau:

Marketing là sự phân tích, kế hoạch hóa, tổ chức và kiểm tra khả năng câu khách của một công ty cũng như những chính sách và hoạt động với quan điểm thỏa mãn những nhu cầu mong muốn của nhóm khách hàng mục tiêu, Marketing đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống kinh tế thị trường Đó là công cụ mạnh mẽ và sống động giúp cho công ty có thể tồn tại và phát triển Bộ phận marketing phải phân tích các nhu cầu, thị hiếu sở thích của thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, định giá, giao tiếp và chọn kênh phân phối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp hướng tới

Sản xuất trong hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động nhằm biến

đổi đầu vào thành hàng hóa và dịch vụ Các hoạt động này khác nhau tùy theo ngành nghề và môi trường Bộ phận sản xuất cần chú ý đến các vấn đề sau: giá cả và mức độ cung ứng nguyên vật liệu, hệ thống kiểm tra hàng tồn kho và chu kỳ lưu chuyển hàng tồn kho, bố trí các phương tiện sản xuất và mức độ cung ứng nguyên vật liệu, hệ thống kiểm tra hàng tồn kho và chu kỳ lưu chuyển hàng tồn kho, bố trí các phương tiện sản xuất và mức độ sử dụng các phương tiện này, lợi thế so sánh do sản xuất với qui mô lớn, chi phí và khả năng công nghệ của doanh nghiệp đối với toàn ngành và so với đối thủ cạnh tranh, ứng dụng các sáng kiến phát minh vào trong sản xuất …

Nguồn nhân lực: có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh

nghiệp Chiến lược có đúng đắn đến mức độ nào đi chăng nữa nó cũng không mang lại hiệu quả nếu không có những con người làm việc có hiệu quả Do đó, phân tích nguồn nhân lực là cần thiết trong xây dựng chiến lược doanh nghiệp và không được xem là một nhiệm vụ đơn giản sẽ được thực hiện sau khi chiến lược đã được xây dựng xong

Hệ thống thông tin: liên kết tất cả những chức năng trong kinh doanh với

nhau Nó cung cấp dữ liệu cho nhà quản trị để hoạch định các chiến lược kinh doanh hữu hiệu và ra quyết định quản trị Nó giúp theo dõi các thay đổi của môi trường, nhận ra những mối đe dọa trong cạnh tranh và hỗ trợ cho việc thực hiện đánh giá và kiểm soát chiến lược Hệ thống thông tin tốt nhất phải là một

Trang 19

hệ thống đơn giản, cung cấp thông tin cho đối tượng có nhu cầu dưới dạng có

thể sử dụng được

Nghiên cứu và phát triển: Ngày nay, nghiên cứu và phát triển là sự sống còn

của nhiều công ty, nhất là những công ty đang theo đuổi chiến lược phát triển sản phẩm Chi phí nghiên cứu và phát triển có thể nhằm hình thành sản phẩm mới trước các đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm hay cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí Bộ phận chức năng về nghiên cứu phát triển phải thường xuyên theo dõi các điều kiện của môi trường bên ngoài, các thông tin về đổi mới công nghệ liên quan đến qui trình công nghệ, sản phẩm và nguyên vật liệu, liên hệ chặt chẽ với các bộ phận khác, đặc biệt là bộ phận marketing, thì mới làm tốt chức năng của mình, đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp

Tài chính: Điều kiện tài chính được xem là cơ sở đánh giá vị trí cạnh tranh tốt

nhất của doanh nghiệp và là điều kiện thu hút tốt nhất đối với các nhà đầu tư Các yếu tố tài chính thường làm thay đổi các chiến lược hiện tại và việc thực hiện các kế hoạch Cần chú ý các vấn đề: xem xét khả năng huy động vốn ngắn hạn hay dài hạn, xem xét về tỉ lệ vốn vay, vốn cổ phần, chi phí vốn so với toàn ngành và so với các đối thủ cạnh tranh, các vấn đề thuế, quan hệ của doanh nghiệp đối với các cơ quan tài chính, vốn lưu động, tính linh hoạt của cơ cấu vốn đầu tư, sự kiểm soát giá thành và khả năng giảm giá thành của các sản phẩm hay dịch vụ chính

1.2.3.4 Xây dựng và chọn lựa chiến lược thích nghi

Trên cơ sở phân tích đánh giá môi trường các nhà quản trị chiến lược của công ty sẽ xây dựng các chiến lược tổng thể và các chiến lược chức năng cho công ty Chiến lược thích hợp là chiến lược mà công ty nhắm đến để thực hiện các mục tiêu kỳ vọng của mình, chiến lược phải mang tính thực tiễn được xây dựng trên cơ sở đánh giá thế mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, nhận dạng cơ hội cũng như những đe dọa trong môi trường kinh doanh

Trang 20

Có nhiều phương pháp trong việc phân tích, xây dựng và lựa chọn chiến lược, một trong những phương pháp thường được xử dụng là dựa trên việc phân tích các yếu tố bên ngoài cũng như bên trong để xây dựng các ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), ma trận đánh giá các yêu tố bên trong (IFE), từ đó xây dựng ma trận về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ (SWOT) và

ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng làm căn cứ để xây dựng và lựa chọn các chiến lược

Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE): Ma trận đánh giá các yếu tố

bên ngoài hình thành dựa trên việc phân tích môi trường vĩ mô và vi mô của tổ chức, nhằm tóm tắt và đánh giá sự tác động của các yếu tố này đối với hoạt động của tổ chức trong hiện tại cũng như trong tương lai, từ đó thấy được các cơ hội (O), các nguy cơ (T) đối với hoạt động của tổ chức Có năm bước trong việc xây dựng một ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài:

1 Lập danh mục các yếu tố bên ngoài có vai trò quyết định đối với sự phát triển của tổ chức, bao gồm cả những cơ hội và những nguy cơ, nên có tối thiểu là năm yếu tố chủ yếu

2 Phân loại tầm quan trọng của các yếu tố, từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng); tổng số các mức phân loại của các yếu tố phải bằng 1

3 Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố, dựa theo mức độ phản ứng của các chiến lược hiện tại của tổ chức đối với các yếu tố, trong đó 4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình và 1 là phản ứng ít

4 Nhân số phân loại tầm quan trọng với phân loại mức độ phản ứng để xác định số điểm về tầm quan trọng của yếu tố

5 Cộng số điểm về tầm quan trọng của các yếu tố để xác định tổng số điểm quan trọng cho tổ chức

Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà mỗi tổ chức có được là 4 và thấp nhất là 1; số điểm quan trọng trung bình là 2,5 Tổng số điểm trên mức trung bình và càng cao cho thấy tổ chức đang phản ứng tốt với các cơ hội, các đe dọa và ngược lại

Trang 21

Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE): Ma trận đánh giá bên trong

được hình thành trên cơ sở phân tích kỹ lưỡng những yếu tố và những hệ thống bên trong của tổ chức, từ đó xác định những điểm mạnh (S) và điểm yếu (W) của nó

Việc xây dựng ma trận đánh giá bên trong và việc tính tổng số điểm quan trọng được thực hiện qua các bước tương tự như ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài

Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT): Ma trận SWOT là

một công cụ kết hợp quan trọng để từ các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy

cơ đã được nhận diện để xây dựng bốn loại chiến lược từ việc kết hợp các nhân tố này:

- Chiến lược kết hợp điểm mạnh – cơ hội (SO): Sử dụng các điểm mạnh để tận dụng các cơ hội

- Chiến lược kết hợp điểm yếu – cơ hội (WO): Vượt qua các điểm yếu bằng cách tận dụng các cơ hội

- Chiến lược kết hợp điểm mạnh – nguy cơ (ST): Sử dụng các điểm mạnh bên trong để giảm thiểu hay tránh các mối đe dọa bên ngoài

- Chiến lược kết hợp điểm yếu – nguy cơ (WT): Tối thiểu hóa những điểm yếu và tránh khỏi các mối đe dọa

Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM): Là công cụ

cho phép các chiến lược gia đánh giá khách quan các chiến lược có thể thay thế, trước tiên dựa trên các yếu tố thành công chủ yếu bên trong và bên ngoài đã được xác định Có sáu bước trong việc xây dựng ma trận QSPM:

1 Liệt kê các cơ hội, de dọa bên ngoài và điểm yếu, điểm mạnh bên trong

2 Phân loại cho mỗi yếu tố thành công quan trọng bên trong và bên ngoài

3 Nghiên cứu ma trận SWOT và xác định các chiến lược có thể thay thế mà tổ chức nên xem xét để thực hiện

4 Xác định số điểm hấp dẫn

5 Tính tổng số điểm hấp dẫn

6 Tính cộng các số điểm hấp dẫn

Trang 22

1.3 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH VIỆT NAM

Trong chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Việt nam từ năm 2001 – 2010 nói chung đã bao hàm cả chiến lược và chính sách phát triển

du lịch của Việt nam Mục tiêu chính của du lịch trong thời kỳ này và các năm sau là phát triển du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đồng thời về lâu dài vẫn giữ được vai trò quan trọng bảo đảm sự bền vững của nền kinh tế quốc dân kể cả môi trường, văn hóa và an ninh của đất nước Để đạt mục tiêu trên, ngành du lịch đã cụ thể hóa các mục tiêu như sau:

- Trước hết là ngành du lịch phải tạo lập được những sản phẩm du lịch hấp dẫn trong khu vực và cả trên thế giới

- Thực sự khai thác có hiệu quả các thị trường đã có và các thị trường tiềm năng trong nước và trên thế giới

- Phát triển khoa học và công nghệ du lịch ở trong nước

- Phát triển đội ngũ nhân lực có tay nghề, có chất lượng của ngành du lịch

- Thực sự hội nhập khu vực, nâng cao vị thế du lịch của Việt nam trong khu vực và trên thế giới, đẩy mạnh hợp tác phát triển du lịch của đất nước thông qua các Tổ chức du lịch quốc tế

- Tăng cường năng lực quản lý vĩ mô, khai thác có hiệu quả tiềm năng của các nguồn nhân lực và môi trường du lịch sẵn có Xã hội hóa tổ chức và quản lý để phát triển kinh tế du lịch bền vững của đất nước [18, 5]

Cùng với mục tiêu cụ thể trên, căn cứ vào điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của từng địa phương, Nhà nước đã có sự quy hoạch các vùng du lịch lớn như sau:

1 Vùng du lịch Bắc bộ: Vùng du lịch này được quy hoạch từ năm 1995 gồm 29 tỉnh kể từ Hà Giang ở phía bắc tiếp giáp với các tỉnh phía nam của nước Trung Quốc đến tỉnh Hà Tĩnh ở miền trung, các tỉnh từ Lai Châu ở phía tây đến trung tâm du lịch Hạ Long ở phía đông Vùng du lịch bắc bộ được phân thành năm tiểu vùng gồm: tiểu vùng Tây – Bắc, tiểu vùng Đông – Bắc, tiểu vùng Duyên hải Đông – Bắc, tiểu vùng Nam Bắc bộ và tiểu vùng trung tâm Vùng

du lịch Bắc bộ có 3 khu vực phát triển truyền thống về du lịch là khu vực Hà Nội và phụ cận, khu vực Hạ Long và phụ cận và khu vực miền núi Sa Pa

Trang 23

2 Vùng du lịch Bắc Trung bộ gồm 6 tỉnh từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi là vùng đất hẹp, phía Đông là biển Đông và phía Tây là dãy Trường Sơn chạy dài từ vùng núi phía nam huyện Hương Khê thuộc tỉnh Hà Tĩnh tiếp giáp huyện Minh Hóa phía bắc tỉnh Quảng Bình nối liền vùng núi phía Bắc Hải Vân, phía nam tỉnh Thừa Thiên Huế và chạy suốt qua phía tây tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi

Vùng du lịch Bắc trung bộ cho đến đầu thế kỷ XXI có hai trung tâm và khu vực phát triển then chốt du lịch là tỉnh Thừa Thiên – Huế và thành phố Đà Nẵng Vùng này có tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn tiêu biểu là 4 di sản văn hóa thế giới gồm Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn ở Quảng Nam, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng ở Quảng Bình

3 Vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ gồm 26 tỉnh từ Bình Định, Kon Tum đến tỉnh Tiền Giang, tỉnh Cà Mau Vùng này có trung tâm du lịch là thành phố Hồ Chí Minh Vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ được phân chia thành 4 tiểu vùng là vùng duyên hải Nam Trung bộ gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận; tiểu vùng Tây Nguyên ở Trung bộ, tiểu vùng Đông nam bộ gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và tiểu vùng Tây nam bộ gồm các tỉnh Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau

Vùng du lịch này có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt và các cơ sở hỗ trợ khác tạo điều kiện phát triển du lịch tốt trong những năm gần đây

Trang 24

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH CỦA TỈNH

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, khí hậu, dân số

Tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc vùng Bắc trung bộ của Việt Nam mà trung tâm là thành phố Huế cách thủ đô Hà Nội 650 Km và thành phố Hồ Chí Minh 1080Km, vị trí này tương đối bất lợi vì xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước như các tỉnh ở phía nam, Hà Nội, Hải Phòng Tỉnh có 9 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Huế, các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới, với phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng với ranh giới là đèo Hải Vân, phía tây là dãy Trường Sơn chạy dọc miền Trung và phía đông tiếp giáp với biển Đông với đường bờ biển dài khoảng 120 Km, có cảng Thuận An và vịnh chân Mây có độ sâu 18 – 20m có khả năng xây dựng cảng nước sâu

Về khí hậu: Thừa Thiên Huế nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa mang tính

chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, không có mùa đông và mùa khô rõ rệt Chỉ khi có những đợt không khí lạnh tràn về thì thời tiết lạnh, thời tiết khô khi có ảnh hưởng của gió Lào thổi về

Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ khá lớn Do lượng bức xạ cao dẫn đến nhiệt độ tăng Ở Huế nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 đến tháng 8 trung bình 29 – 29,5 độ, tháng 12 đến tháng 1 là những tháng có nhiệt độ thấp 19 – 20 độ, có thời điểm thấp nhất là 10 – 14 độ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25 độ, số giờ nắng trung bình ở Huế là 2000 giờ

Lượng mưa trung bình hàng năm tại Huế là 2740mm mùa mưa chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12, độ ẩm dao động từ 72 – 90% Số lượng bão ở Thừa Thiên Huế khá nhiều thường bắt đầu từ tháng 6 và nhiều nhất là tháng 9, tháng 10 hàng năm Ngoài ra tỉnh còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, gió Lào

Trang 25

tuy có ảnh hưởng nhưng không lớn như tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình, được phân thành 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình là 25 độ, cao nhất 38.4 độ, thấp nhất 10 độ Điều kiện khí hậu như vậy gây ra rất nhiều khó khăn cho việc phát triển các ngành kinh tế của tỉnh kể cả du lịch

Về dân số: Dân số tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2003 là 1.105.494 người

trong đó khu vực thành thị chiếm 28,5% và khu vực nông thôn chiếm 71,5% Người Kinh chiếm 96,74%, tiếp theo là dân tộc Tà Ôi 2,1%, Cu Tu 1%, Bru-Vân Kiều 0,06%, người Hoa 0,05% còn lại là các dân tộc khác có số dân dưới

100 người

Toàn tỉnh có 24 dân tộc chung sống đoàn kết thân ái Truyền thống văn hóa của Thừa Thiên Huế rất phong phú vì mỗi dân tộc đều mang đậm bản sắc văn hóa đậm đà, phong phú, đặc sắc với các lễ hội truyền thống của dân tộc mình

2.1.2 Tài nguyên du lịch [phụ lục 2]

Với gần 120Km tiếp giáp với biển Đông đã tạo cho tỉnh không ít những bãi tắm nổi tiếng được biết từ lâu như Thuận An, Lăng Cô, và Cảnh Dương với những bãi cát trắng mịn sạch sẽ, khung cảnh tự nhiên còn rất hoang sơ, môi trường tự nhiên rất trong lành so với các bãi biển đã tương đối bị ô nhiễm ở phía nam như Vũng Tàu, Long Hải thuận lợi cho việc phát triển các loại hình

du lịch liên quan đến biển

Ngoài ra, ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế có rất nhiều đầm lầy nổi tiếng Riêng phá Tam Giang của tỉnh được xem là loại phá lớn nhất thế giới Ven bờ biển có các đầm là đầm Sam, đầm Thanh Lam, đầm Thủy Tú, đầm Hà Trung, đầm Cầu Hai… Các đầm phá này không những làm chức năng bảo vệ môi trường, điều hòa tự nhiên ở vùng khí hậu khô, làm sạch các chất bẩn từ các dòng sông trước khi đổ ra biển mà còn là một tài nguyên du lịch tiềm năng bởi hệ sinh thái đa dạng của nó

Thành phố Huế là nơi hình thành du lịch sông sớm nhất Ở nơi đây đã tổ chức du lịch trên sông Hương, từ trung tâm thành phố Huế du khách được đưa

Trang 26

đến gần chùa Thiên Mụ, lên khu lăng các triều nhà Nguyễn Trên dòng sông êm ả, trong lành du khách vừa thưởng ngoạn cảnh quan tự nhiên, cùng với những khu dân cư ven sông, những cảnh đền, chùa nổi tiếng

Chùa ở Huế được xây dựng từ lâu, chúng ta biết sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Quãng, cắt đứt liên hệ với vua Lê và tạo lập ra xứ Đàng Trong lấy sông Gianh làm ranh giới, nhưng phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân hai miền vẫn là một Huế lúc này là một miền đất mới, chính trị, kinh tế, tín ngưỡng còn phôi thai, dân phần nhiều từ miền bắc di cư vào và dân Chiêm Thành bị đồng hóa chưa có nơi sinh hoạt tinh thần nên chùa dần dần được xây dựng: Linh Mụ (1601), Báo Quốc (1674), Từ Đàm (1683), Quốc Ân (1684), Thuyền Tôn (1708), Từ Hiếu (1843), Diệu Đế (1844), Tây thiên (1903)… Không kể gần 200 niệm Phật đường của các khuôn hội Phật học, Huế và các vùng phụ cận có khoảng trên 100 cảnh chùa, nhưng nổi tiếng nhất và thuận lợi cho sự giao thông thủy bộ là các chùa Linh Mụ, Bảo Quốc, Từ Đàm, Từ Hiếu

Khu Cố Đô chính là khu Hoàng Thành hay còn gọi là Đại Nội gồm quần thể lâu đài, đền miếu được xây dựng từ thế kỷ XIX, nhưng trải qua các cuộc chiến tranh cùng với sự tàn phá của thời gian và sự bỏ mặc của con người đã tàn phá làm cho Hoàng thành vốn có sự hài hòa đậm nét giữa nền nghệ thuật dân gian với nền văn hóa cung đình bị phá vỡ Ngoài ra lăng tẩm ở Huế là một trong những kỳ quan của thế giới, vì kiến trúc mỹ quan, vì khung cảnh trang nghiêm hùng vĩ, cũng như vì quan điểm triết học đối với sự chết của các bậc Vua chúa ngày xưa Các lăng tẩm đều xây ở phía tây kinh đô Huế, hai bên bờ sông Hương, bao gồm các lăng: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định

Ơû Huế có nhiều nhà vườn được kiến tạo từ các đời Vua trước Nhà vườn ở Huế có nét văn hóa khác biệt đối với các nhà vườn Nam Bộ, nó thể hiện tình yêu thiên nhiên, lòng khao khát của con người bằng cách thâu tóm không gian rộng lớn, đất trời mênh mông vào trong khuôn viên sân vườn Nhiều khu nhà vườn đã được đưa vào tuyến du lịch, cho khách đến thưởng ngoạn và tìm hiểu nếp sống của người dân Huế trong những khu vườn

Trang 27

Điểm đặc biệt đối với cảnh quan sinh thái của Huế là cùng với các yếu tố sinh thái nguyên sinh như núi, sông, biển, đầm phá… Còn có những di sản văn hóa vật thể của một thủ đô như lâu đài, đền miếu, chùa chiền, lăng mộ, sân vườn cổ kính… Tuy một số di sản đã bị tàn phá trong chiến tranh, một số còn lại đang được con người tôn tạo lưu giữ được những đặc điểm của kiến trúc truyền thống Một vẻ đẹp của nền văn hóa sông Hương làm cho không những người dân Việt Nam tự hào, mà không ít du khách quốc tế đến Huế đã từng ghi nhớ đậm nét đó là nghệ thuật cung đình Đã không ít người có dịp du ngoạn hàng giờ trên dòng sông Hương êm ả để thưởng thức nghệ thuật này

Ngoài ra, trong tiến trình lịch sử lâu dài của Huế đã hình thành một di sản văn hóa phi vật thể do bao thế hệ dày công xây dựng hun đúc nên với những vốn quý tinh thần, những phong tục tập quán lễ hội, các ngành nghệ thuật, những ngành nghề thủ công truyền thống… đã tạo cho Huế một giá trị đặc trưng nổi bật, một bản sắc riêng độc đáo

Năm 1993 thành phố Huế đã được tổ chức giáo dục – văn hóa – khoa học của Liên hợp quốc công nhận là di sản văn hóa thế giới Như vậy, đã hơn mười năm qua thành phố Huế với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể và những cảnh quan hình thành các tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù là sông Hương, núi Ngự Bình, chùa chiền, lăng tẩm và không xa Huế có phá Tam Giang, vườn quốc gia Bạch Mã có khu nghỉ dưỡng từ thời thuộc Pháp, cửa sông

Ô Lâm, bãi biển Thuận An, Lăng Cô … đều là những điểm, những khu du lịch sinh thái đặc sắc của Huế

2.2 THỰC TRẠNG DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NHỮNG NĂM QUA

Mặc dù Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định hoạt động du lịch như là một lĩnh vực kinh tế – dịch vụ có vị trí nhất định nhưng đến năm 1994 ngành du lịch Việt Nam mới có những bước chuyển mình và Thừa Thiên Huế cũng không ngoại lệ Tuy nhiên, việc UNESCO công nhận Huế là di sản văn hóa của thế giới vào năm 1993 đã mở ra một con đường hết sức thuận tiện cho việc phát triển ngành du lịch của tỉnh, đến năm 2000 với sự giúp đỡ của Pháp, thành phố

Trang 28

Huế tổ chức thành công Festival Huế đã đánh dấu một bước phát triển mới của ngành du lịch

2.2.1 Lượng khách du lịch

Nhìn vào bảng ta thấy lượng khách du lịch trong giai đoạn 1995 – 1997 có tăng trưởng trung bình là 1,7% Trong giai đoạn này lượng khách quốc tế chiếm tỷ trọng so với khách nội địa khá cao 97,3% Qua giai đoạn 1998 – 2003 lượng khách du lịch đã tăng lên rõ rệt với tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,68%, và khách nội địa có mức tăng trưởng là 12,87% và khách quốc tế là 7,12% Tuy nhiên, nếu loại trừ ảnh hưởng của dịch SARS năm 2003 thì tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1998 – 2002 của khách quốc tế là 16,6% và khách nội địa là 15%

Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch đến Huế trong giai đoạn 1995 - 2003

Năm

Tổng số Quốc tế Nội địa

Tỷ lệ QT/NĐ Quốc tế Nội địa

Tốc độ tăng khách (%)

N guồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2003

Nếu thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch quốc tế cũng như nội địa vào năm 1995 là 1,87 ngày thì năm 2003 thời gian lưu trú trung bình của khách chỉ đạt 1,94 (nội địa đạt 1,86 còn quốc tế đạt 2,1) Điều này cho thấy các sản phẩm du lịch của tỉnh chưa đa dạng cần phải chú trọng đầu tư theo hướng này nhiều để du khách có thể ở lại lâu hơn

Trang 29

Bảng2.2: Tỷ trọng khách quốc tế so với cả nước

trong cả nước

Số khách quốc tế đến Huế

Tỷ trọng (%)

Nguồn: Tổng cục du lịch và niên giám thống kê tỉnh năm 2003

Thành phần kinh tế khác

Tỷ lệ doanh thu của nhà nước với tp kinh tế khác

Trang 30

Cùng với sự tăng trưởng về số khách thì doanh thu du lịch cũng tăng theo Nếu năm 1995 doanh thu từ du lịch là 93.400 triệu đồng thì năm 2003 doanh thu khoảng 280.000 triệu đồng đạt mức tăng bình quân là 15%/năm

Nhìn vào bảng 2.3 và bảng 2.4 ta có nhận xét sau:

Doanh thu từ du lịch chủ yếu là thuê phòng, lữ hành, vận chuyển và ăn uống chiếm tỷ trọng là 88,3% vào năm 2003, còn lại là doanh thu từ bán hàng và các dịch vụ khác

Cơ cấu doanh thu rất bất hợp lý vì tỷ trọng doanh thu của thành phần kinh tế nhà nước so với các thành phần kinh tế khác ngày càng tăng Nếu năm 1995 tỷ trọng này là 1,42 lần thì năm 2003 tăng lên là 2,68 lần Điều này cho thấy tốc độ đầu tư vào du lịch của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước còn rất thấp đi ngược lại với xu hướng chung của cả nước

Bảng2.4: Phân theo loại doanh thu Triệu

đồng

thu

Doanh thu dịch vụ

Doanh thu bán hàng

Doanh thu ăn uống

Doanh thu khác

Nguồn: Tổng cục du lịch và niên giám thống kê tỉnh năm 2003

2.2.3 Cơ sở du lịch

Trang 31

Ý thức được cơ sở du lịch là điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch, để khai triển hoạt động kinh tế du lịch nên trong những năm qua các cơ sở hạ tầng cũng như những cơ sở cơ bản phục vụ du lịch đã được Thừa Thiên Huế quan tâm phát triển

2.2 3.1 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông:

Đường bộ: Trong những năm qua, cùng với sự quy hoạch mở rộng thành phố về phía nam, hệ thống đường bộ của tỉnh đã được đầu tư và nâng cấp tương đối, tuyến quốc lộ 1 đi qua hầu hết các huyện, thành phố của tỉnh trừ huyện A Lưới Đây là một yếu tố rất thuận lợi cho việc vận chuyển bằng đường bộ Cho đến nay, ngoại trừ tuyến đường từ quốc lộ 1 đến điểm du lịch vườn quốc gia Bạch Mã chưa được mở rộng, nâng cấp đúng mức do địa hình phức tạp, còn lại tất cả các tuyến đến các điểm du lịch khác đều đã hoàn chỉnh đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch Ngoài ra, tour du lịch Xuyên Á từ Thái Lan qua Lào qua Việt Nam theo quốc lộ 9 ở địa phận Huyện Lao Bảo của tỉnh Quảng Trị nhằm tham quan các di sản thế giới của 3 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình đã đi vào hoạt động

Đường sắt: Tuyến đường sắt đi qua 10 ga của tỉnh trong đó có ga chính là ga Huế, vì vậy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hành khách và hàng hoá

Đường hàng không: Tỉnh có sân bay Phú Bài cách thành phố 18 Km về phía nam với công suất 1 triệu khách/năm, hoạt động 24 giờ trong ngày và có thể phục vụ cho các máy bay có trọng tải lớn

Đường thủy: Ngoài cảng biển Chân Mây đang được xây dựng, tỉnh còn có cảng nhỏ Thuận An chủ yếu phục vụ cho tàu chở hàng có trọng tải nhỏ

- Điện, nước: Năng lượng điện của tỉnh được tải từ mạng lưới điện quốc gia

500 KV, cho đến nay đã bao phủ hết các vùng trong tỉnh Hầu hết trong thành phố cáp điện đã được đặt ngầm dưới đất, tăng lên vẽ mỹ quan cho thành phố

Trang 32

Tỉnh có hai nhà máy nước đủ để đáp ứng nhu cầu nước sạch cho thành phố

Huế và một số vùng lân cận Hầu hết các huyện đều có hệ thống xử lý nước

lấy từ sông phục vụ cho nhu cầu của huyện, tuy nhiên một số vùng ven biển

như Cảnh Dương, phải sử dụng nước ngầm, nước giếng Tuy nhiên, một số xã ở

hai huyện ở vùng cao như Nam Đông, A Lưới vẫn chưa cung cấp đủ nước sạch

dùng cho sinh hoạt Hệ thống xử lý nước thải đã được nâng cấp đảm bảo được

việc thoát nước tốt kể cả trong mùa mưa lũ

- Hệ thống thông tin liên lạc: Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin

trong cả nước, trong những năm qua hệ thống bưu chính viễn thông của tỉnh

luôn được nâng cấp, đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc Mạng lưới bưu

điện, bưu cục đã được xây dựng ở tất cả các huyện, xã Mặc dù các huyện vùng

cao có hệ thống thông tin chưa được phát triển do nhu cầu thấp nhưng những

huyện đó không có các khu du lịch cũng như không có tiềm năng phát triển du

lịch trong tương lai

2.2.3.2 Cơ sở du lịch cơ bản

Cơ sở lưu trú:

Bảng 2.5: Số cơ sở khách sạn và số buồng

Buồng đạt tiêu

chuẩn quốc tế

N guồn: Niên giám thống kê tỉnh năm 2003

Vào thời điểm 1995 tại tỉnh có tổng cộng 69 khách sạn với 1.665 phòng, hầu

hết đây là những nhà nghỉ của các ngành kinh tế chủ yếu của nước ta ở thời

điểm đó và chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu nghỉ mát của cán bộ công nhân

viên các ngành Đến năm 2003 một số nhà nghỉ được phá bỏ dành cho mục

Trang 33

đích khác, số còn lại được đầu tư nâng cấp phục vụ cho mục đích du lịch Cho đến cuối năm 2003 toàn tỉnh có 102 khách sạn với 2.713 phòng, trong đó có

1384 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế Bên cạnh đó, để đảm bảo đủ phòng cho khách du lịch vào dịp Festival Huế, Sở thương mại – du lịch đã phát huy số phòng dư của các hộ gia đình và các nhà vườn

Ngoài các khu du lịch biển đã có sẵn cơ sở vật chất tương đối đầy đủ như Thuận An, Lăng Cô khu du lịch Cảnh Dương cũng bắt đầu được đầu tư nhưng nhỏ và mang tính chất tự phát

Phương tiện vận chuyển: Phương tiện vận chuyển khách du lịch từ các tỉnh

khác tới Thừa Thiên Huế có thể bằng máy bay, ô tô hay tàu hỏa, còn vận chuyển khách du lịch chủ yếu ở trong tỉnh là ô tô và thuyền Ngoài số xe của ba công ty taxi tỉnh còn có các xe tư nhân của các hộ gia đình, các công ty du lịch và một liên doanh vận chuyển với Hàn Quốc có vốn đầu tư là 2,95 triệu USD (Phụ lục 4)

Để phục vụ cho các hình thức nghệ thuật trên sông Hương như hò huế, ẩm thực và vận chuyển khách du lịch đến các di tích hai bên sông, Huế có đội thuyền rồng khoảng 100 chiếc, có đầy đủ tiện nghi trị giá khoảng 40 – 50 triệu mỗi chiếc

2.2 3.3 Nhân sự phục vụ cho ngành du lịch (phụ lục 3)

Số lao động kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn nhà hàng trên địa bàn theo thống kê đến 31/12/2003 là 41.753 người, trong đó hầu hết là ở khu vực kinh tế trong nước 41.562, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 191 Nếu phân theo ngành kinh tế thì khu vực thương nghiệp dịch vụ là 33.383 chiếm 79,95%, du lịch 112 chiếm 0,27%, khách sạn nhà hàng 8.258 chiếm 19.78% Điều này cho thấy văn phòng đại diện, chi nhánh các đơn vị du lịch, lữ hành tại tỉnh rất thấp (Phụ lục)

Do thành phố Huế là trung tâm đào tạo lớn (đứng thứ 3 sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) nên chất lượng nhân sự tương đối cao Tuy nhiên tác phong

Trang 34

của người Huế chậm, cẩn thận và phản ứng với các tình huống không linh hoạt Đây cũng chính là điểm yếu nhất trong việc phục vụ khách

2.2.3.4 Đầu tư vào ngành du lịch (phụ lục 4)

Để đảm bảo nhu cầu khách du lịch vào những ngày cao điểm như Festival Huế, trong những năm qua tỉnh Thừa Thiên Huế đã chú trọng vào việc nâng cấp, xây dựng mới hệ thống nhà hàng khách sạn, hệ thống vận chuyển khách bằng ô tô trong tỉnh cũng như các khu du lịch Từ phụ lục ta thấy các dự án tập trung vào nâng cấp và xây dựng khách sạn ở trung tâm thành phố, còn các dự án đầu tư cho các khu du lịch hầu như không có Điều này cho thấy một sự phát triển không đồng đều trong hoạt động đầu tư cho ngành du lịch

Các dự án lớn, đòi hỏi phải có vốn đầu tư của nước ngoài như khu du lịch sinh thái Cồn Giã Viên, khu du lịch Tân Mỹ, khu du lịch Cảnh Dương vẫn chưa thực hiện được do chưa kêu gọi và chưa thống nhất được với các đối tác So với các tỉnh ven biển khác như Đà Nẵng, Bình Thuận … thì hấp dẫn đầu tư vào các loại hình du lịch biển, du lịch sinh thái, các làng nghỉ dưỡng còn rất thấp Theo các nhà chuyên môn thì nguyên nhân chủ yếu là tỉnh chưa có cơ sở hạ tầng và chính sách hợp lý đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư

Đầu tư phát triển nhà vườn vẫn còn mang tính chất tự phát, quy mô nhỏ Mặc dù tỉnh đã có chính sách hỗ trợ phát triển nhà vườn nhưng mang tính dàn trải, không tập trung và không có mô hình quy hoạch phát triển chi tiết Bên cạnh đó, những chủ vườn nhận được chính sách hỗ trợ phải chịu sự quản chế về sang nhượng đất, vì vậy họ ngần ngại không dám đầu tư vào Cho đến nay, nhà vườn ở Huế chưa phải là điểm du lịch hấp dẫn du khách

Vấn đề đầu tư để trùng tu các di sản văn hóa của Huế đã được Nhà nước quan tâm sâu sắc Năm 1996, Thủ tướng chính phủ đã phê duyện Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế 1996 – 2010 với tổng mức đầu tư tới 720 tỷ đồng Ngoài ra, UNESCO và các Chính phủ cùng các tổ chức của các nước Nhật bản, Ba Lan, Pháp, Anh, Đức đã có rất nhiều giúp đỡ về vốn và kỹ thuật Tuy nhiên, do chiến tranh kéo dài và do điều kiện kinh tế khó khăn

Trang 35

sau năm 1975 các di sản đã bị bỏ quên khá lâu Đội ngũ các nghệ nhân đã mất

đi nhiều, các tài liệu xưa về kinh thành triều Nguyễn đã bị tiêu hủy, một số di sản văn hóa phi vật thể đã bị bỏ quên chưa có điều kiện nghiên cứu phục hồi Hiện nay, tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ mới trùng tu phần lớn khu Hoàng Thành và các lăng tẩm như Tự Đức, Khải Định, Đồng Khánh và đưa vào khai thác du lịch, các lăng tẩm còn lại dù ở địa thế rất đẹp nhưng vẫn trong tình trạng hoang tàn chưa trùng tu được hoặc chỉ trùng tu sơ sài

2.2.3.5 Hoạt động marketing

Trên thế giới ngày nay, việc cạnh tranh trên thị trường du lịch tương đối quyết liệt mà nhất là giành giật nguồn khách Để giành giật du khách, mở rộng tỷ lệ chiếm lĩnh thị phần, những người cung cấp du lịch bao gồm nhà nước, khu vực, hãng du lịch dùng các thủ đoạn để tiến hành cạnh tranh kịch liệt trên thị trường du lịch và hoạt động marketing chính là một công cụ quan trọng, nhất là hoạt động marketing vĩ mô của nhà nước

Hiện nay hoạt động Marketing vĩ mô cho ngành du lịch ở nước ta còn rất yếu

do các nguyên nhân sau:

- Tổng cục du lịch Việt Nam chưa chú trọng đến vai trò của marking vĩ mô

- Chưa có sự đồng thuận giữa Tổng cục du lịch Việt Nam với các hãng du lịch lớn cũng như với các ngành khách sạn và vận chuyển hàng không nếu không nói là có mưu thuẫn gay gắt, điều này dẫn đến những chương trình quảng cáo lớn giới thiệu hình ảnh của đất nước không thực hiện được

Việc quảng bá hình ảnh Việt Nam cho du khách nước ngoài của ngành du lịch hiện còn quá khiêm tốn Chương trình tuyên truyền cho du lịch qua CNN cũng chưa thành hiện thực, hợp đồng giới thiệu văn hóa ẩm thực của Việt Nam

ra nước ngoài không thực hiện được Cho đến nay, Tổng cục du lịch vẫn chưa tổ chức được một hội chợ du lịch quốc tế nào, trong khi hai nước yếu hơn ta là Lào và Campuchia đã thực hiện được điều này [Tống Minh Nghĩa, Quảng bá du lịch cần đặt lên hàng đầu, tạp chí ANDL 29-8-2004, trang 29] Sự yếu kém trong

Trang 36

marketing vĩ mô đã ảnh hưởng đến du lịch của cả nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng

Về phía tỉnh Thừa Thiên Huế mặc dù đã có trang web giới thiệu về du lịch tỉnh nhưng nói chung vẫn chưa chú trọng đến công tác tuyên truyền, quảng cáo mà hầu như để mặc khâu này cho các hãng du lịch nội địa

Các dịch vụ khác: Giống như tình trạng chung của du lịch Việt Nam công

nghệ sản xuất hàng lưu niệm và các mặt hàng thủ công truyền thống phục vụ cho du khách tại Thừa Thiên Huế chưa được chú trọng Không giống như ngành

du lịch của các nước khác, du khách được dẫn vào rất nhiều nhà xưởng nhỏ với mục đích tìm hiểu cách thức sản xuất các mặt hàng, cảm nhận được sự tinh xảo của người thợ thủ công Du khách nước ngoài đánh giá cao các giá trị văn hóa của chúng chứ không phải là sự đắt tiền hay sang trọng Khi mua, ngắm, tìm hiểu một số sản phẩm thủ công truyền thống, khách du lịch sẽ rất thích thú với loại sản phẩm làm bằng tay, chất liệu hoàn toàn của địa phương và là biểu trưng cho các di sản văn hóa

Các điểm vui chơi, giải trí hay mua sắm dành cho khách du lịch vào ban đêm ít Như nhận xét của rất nhiều du khách, thành phố Huế ban đêm rất buồn, chỉ nhộn nhịp vào giờ tan học của các lớp dạy ngoại ngữ ban đêm và sau đó thì hoàn toàn vắng vẻ

2.3.1 Những điểm mạnh (S) :

Trang 37

S1 : Có sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức của các nước trên thế giới cũng như là của nhà nước Vì di sản văn hóa Huế không chỉ là của Huế, của Việt Nam, mà là một trong những tài sản quý giá của nhân loại

S2 : Có nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, bên cạnh các di tích kiến trúc của triều Nguyễn, Thừa Thiên Huế còn có những đầm phá lớn nhất thế giới, vườn quốc gia Bạch Mã thích hợp cho du lịch sinh thái, có bờ biển dài với nhiều bờ biển đẹp phù hợp với du lịch biển và du lịch nghỉ dưỡng

S3 : Là một vùng đất kinh đô cũ, nên bên cạnh nền văn hoá vật thể còn có một nền văn hóa phi vật thể khá phong phú thể hiện ở các mặt tôn giáo, nghệ thuật như ca Huế, múa cung đình, lễ hội điện Hòn chén, cũng như các nghi thức cung đình xưa…

S4 : Có nguồn nhân lực địa phương dồi dào và tương đối thuận lợi trong việc đào tạo vì Huế là thành phố có khá nhiều trường đại học, cao đẳng Người dân ở đây hiền hòa và hiếu khách

S5 : Cơ sở hạ tầng tốt, được quan tâm nâng cấp, đầu tư bảo đảm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch

S6 : Bên cạnh quần thể kiến trúc cổ của Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn ở Quảng Nam, động Phong Nha – Kẻ Bàng ở tỉnh Quảng Bình cũng được UNESCO công nhận là di sản thế giới Các di sản này nằm tương đối gần nhau nên dễ thiết kế một sản phẩm du lịch hấp dẫn

2.3.2 Những điểm yếu (W) :

W1 : Điều kiện khí hậu và vị trí tự nhiên không thuận lợi cho ngành du lịch Mùa đông khắc nghiệt, mùa mưa thường kéo dài nhiều tháng gây nên lũ lụt, tỉnh còn chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão Với điều liện khí hậu như vậy không thuận lợi cho phát triển du lịch biển

Trang 38

Với vị trí địa lý cách xa các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải phòng, thành phố Hồ Chí Minh… nơi có nhu cầu du lịch cuối tuần rất lớn nên khả năng thu hút khách nội địa thấp do trở ngại về giao thông cũng như điều kiện thời gian

W4 : Chưa chú trọng đến phát triển công nghệ thổ đặc sản của địa phương Chưa quan tâm đến việc tăng doanh thu bán hàng từ du lịch qua việc tổ chức lại ác nghề truyền thống

c

W5 : Vì du lịch là một ngành tương đối mới ở Việt Nam nên chất lượng nguồn nhân lực trong toàn ngành nói chung là chưa cao và Thừa Thiên Huế cũng không là ngoại lệ

W6 : Hoạt động marketing về du lịch của tỉnh còn yếu, chưa có những chiến lược quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu những sắc thái riêng của tỉnh

2 3.3 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (bảng 2.6)

Tổng số điểm là 2,65 cho thấy phản ứng của các chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc khai thác các điểm mạnh, hạn chế các điểm yếu cao hơn mức trung bình Do đó, bên cạnh việc phát huy những mặt mạnh, Thừa Thiên Huế cần phải thực hiện những chiến lược thích hợp nhằm khắc phục những mặt yếu có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của ngành du lịch như thu hút đầu tư và hoạt động marketing yếu

Trang 39

2.4 PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN HOẠT

ĐỘNG CỦA DU LỊCH THỪA THIÊN HUẾ

2.4.1 Các yếu tố về kinh tế

Tốc độ tăng trưởng GDP có mối quan hệ chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Việt nam Vì sự tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế đã làm tăng khả năng thu nhập và chi tiêu của người dân Việt Nam, nhu cầu dành cho du lịch cũng tăng cao Trong giai đoạn 1994-1996, tốc độ tăng trưởng GDP của nước ta được duy trì ổn định với tốc độ khá cao, trung bình 9%/năm, lạm phát được kìm chế ở mức độ thấp, sự hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới của Việt nam ngày càng sâu là cơ hội và động lực to lớn để ngành du lịch Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng cao

Thời gian qua, các chỉ tiêu phát triển của du lịch Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với du lịch các nước trong khu vực và thế giới: trong 10 năm (1990 – 2001) khách quốc tế tăng xấp xỉ 10 lần, khách nội địa tăng 12 lần, thu nhập du lịch tăng trung bình 25%/năm Từ năm 1999 đến 2002 nhịp độ tăng trưởng bình quân của ngành luôn đạt xấp xỉ bình quân 15%/năm Lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng khá nhanh, từ hơn 1,7 triệu lượt khách năm 1999 đến 2,4 triệu lượt khách năm 2001 và năm 2002 là 2,6 triệu Khách nội địa tăng từ 10 triệu lượt năm 1999 đến 13 triệu lượt năm 2002 Năm 1999, thu nhập du lịch đạt 15.600 tỷ đồng thì năm 2002 đã tăng lên 23.500 tỷ đồng ( trên 1 tỷ USD ) Đây là mức tăng trưởng cao hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.{Võ Thị Thắng, Du lịch Việt Nam đang trên đà khởi sắc, tạp chí ANDL ngày 18-7-2004, trang 10}

Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian tới là tiếp tục đường lối quản lý kinh tế nhằm phát huy nội lực của các thành phần kinh tế để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa; tăng cường hiệu quả và vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước, thúc đẩy cổ phần hóa, tiếp tục cải tổ một cách toàn diện các lĩnh vực luật pháp, hành chính, tài chính

Trang 40

Môi trường đầu tư trong nước tiếp tục được hoàn thiện Việc khuyến khích các dự án có quy mô vừa và nhỏ, các dự án sử dụng nhiều lao động, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, sẽ giúp cho đầu tư nước ngoài tại Việt nam sớm phát triển trở lại, dự kiến mức tăng trưởng FDI vào khoảng 5-7% cho giai đoạn 2000 – 2010 Với các giải pháp của Chính phủ dự kiến trong mười năm đầu thế kỷ

21, mức tăng trưởng GDP hàng năm của nước ta vào khoảng từ 6 – 8%

2.4.2 Các yếu tố về chính trị, chính phủ

Về hệ thống pháp luật, Nhà nước cũng đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động du lịch, luật du lịch đang được hoàn chỉnh để kịp trình quốc hội xem xét thông qua vào năm 2005 Du lịch Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức du lịch thế giới, hiệp hội lữ hành các nước Châu Á – Thái Bình Dương, ký kết hiệp định du lịch ASEAN tháng 11/2002, và đã ký hiệp định du lịch song phương với 20 nước trên thế giới … Đây cũng là điều kiện pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của du lịch Việt Nam

Bối cảnh phát triển hiện nay đang có nhiều thuận lợi cho du lịch Vai trò, vị trí của ngành du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ngày càng được nâng cao Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã xác định “Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Chính phủ đã có những biện pháp linh hoạt, kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch Với việc cải cách thủ tục xuất nhập cảnh, ký hiệp định bãi bỏ thị thực với các nước trong khối ASEAN, và miễn thị thực cho du khách Nhật, Hàn Quốc, Nga đã làm cho lượng

du khách từ những nước này vào Việt Nam tăng

Sự ổn định về chính trị, an ninh và trật tự xã hội đã biến Việt Nam thành điểm đến an toàn trong con mắt của du khách quốc tế

2.4.3 Các yếu tố về tự nhiên, văn hóa

Yếu tố tự nhiên về mặt địa lý cũng tạo cho nước ta có rất nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp; bên cạnh đó là nền văn hóa đặc sắc, phong phú đa dạng và lịch sử đấu tranh anh dũng, hào hùng của dân tộc Việt nam cũng tạo nên sức

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm