1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp xử lý tài sản thế chấp, giải tỏa nợ đóng băng tại sở giao dịch 2 ngân hàng công thương việt nam

59 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 418,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hệ thống các Ngân hàng thương mại : Là một định chế tài chính trung gian , thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng vớ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐỖ HOÀNG LINH

LU ẬNVĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP H ồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

CHƯƠNG I : NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRONG

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I/ TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG

1.Khái niệm :

Ngân hàng là một ngành kinh tế quan trọng , có liên quan đến nhiều ngành kinh tế khác Bất kỳ thời điểm nào , góc độ nào , Ngân hàng cũng là công cụ sắc bén của Nhà nước trong công cuộc phát triển kinh tế Ngày nay ai cũng thừa nhận hoạt động Ngân hàng thông qua các công cụ như chế độ tiền tệ tín dụng , chính sách lãi suất , thanh toán … đang ngày càng trở nên gắn bó với thực tế sản xuất kinh doanh của các đơn vị , các ngành , các thành phần kinh tế , ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của các hoạt động này , qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển

Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế Ngân hàng là nơi tập trung các nguồn tiết kiệm nhỏ không tập trung thành những nguồn vốn lớn đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển , Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán , tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất – lưu thông – thanh toán , Ngân hàng còn làm chức năng tổ chức , điều hành và kiểm soát thị trường tiền tệ , thị trường vốn đồng thời góp phần thu hút , mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung cấp các dịch vụ tài chính khác

2 Chức năng , nhiệm vụ :

Theo chức năng nhiệm vụ có thể chia hệ thống Ngân hàng làm hai loại hình :

- Ngân hàng Trung Ương ( là cơ quan thuộc Chính phủ ) thực hiện những nhiệm vụ sau :

+ Ngân hàng Trung Ương là Ngân hàng phát hành , thực hiện chức năng phát hành tiền giấy , tiền kim loại vào lưu thông , điều hoà việc phát hành tiền theo yêu cầu của nền kinh tế

+ Ngân hàng Trung Ương thực hiện nghiệp vụ ngân hàng cho Chính phủ như mở tài khoản , thu – chi tiền , cho Chính phủ vay , ứng tiền cho Chính phủ

……

Trang 3

+ Ngân hàng Trung Ương lưu giữ và quản lý quý kim , ngoại tệ của Quốc gia , tập trung và tạo lập dự trữ vàng ngoại tệ Kiểm soát , điều hòa và cân bằng tỷ giá ngoại hối

+ Ngân hàng Trung Ương là ” Ngân hàng của các ngân hàng “ , quản lùý các định chế tài chính trung gian như ngân hàng thương mại , các công ty tài chính … về các quy định như : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc , lãi suất chiết khấu - tái chiết khấu , cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại , làm chức năng trung gian thanh toán giữa các ngân hàng Đồng thời ngân hàng Trung Ương còn thực hiện chức năng kiểm soát và thanh tra hoạt động của các định chế tài chính trung gian

- Hệ thống các Ngân hàng thương mại : Là một định chế tài chính trung gian , thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với nghĩa vụ hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay , thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm trung gian thanh toán

Những chức năng chủ yếu của Ngân hàng thương mại :

+ Ngân hàng thương mại là 1 định chế tài chính trung gian , đóng vai trò cầu nối giữa người có tiền nhàn rỗi và những nơi cần tiền cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh Chức năng trung gian dịch chuyển các quỹ tiền tệ dư thừa để tài trợ cho các dự án đầu tư phát triển là một trong những chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại , chức năng này thể hiện ở 2 phương diện :

- Ngân hàng thương mại là trung gian giữa Ngân hàng Trung Ương và công chúng

- Ngân hàng thương mại là trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền

+ Ngân hàng là người tạo ra tiền ( Tiền ghi sổ ) Trong hoạt động của mình nhờ chức năng nhận tiền gửi mà ngân hàng có nguồn vốn để cho vay Khi cho vay ngân hàng lại tạo ra tiền gửi không kỳ hạn ( hay còn gọi là bút tệ – một bộ phận quan trọng trong khối tiền tệ ) Khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát của Ngân hàng Trung ương thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ đó ảnh hưởng đến việc tăng , giảm của khối tiền tệ

Trang 4

Phân loại Ngân hàng thương mại :

+ Căn cứ vào hình thức sở hữu :

- Ngân hàng TM Quốc doanh

- Ngân hàng TM Cổ phần

- Ngân hàng Liên doanh

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

+ Căn cứ vào đối tượng , ngành kinh doanh :

- Ngân hàng Công thương

- Ngân hàng Ngoại thương

- Ngân hàng Nông nghiệp

- Ngân hàng Đầu tư – phát triển

+ Căn cứ vào loại hình kinh doanh :

- Ngân hàng bán buôn

- Ngân hàng bán lẻ

- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ

3 Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam

Ngân hàng là lĩnh vực kinh tế nhạy cảm , phản ánh và phụ thuộc rất lớn vào năng suất , hiệu quả của các hoạt động kinh tế Đồng thời lại là yếu tố tác động trực tiếp vào tăng trưởng và ổn định kinh tế Với vai trò đó hoạt động ngân hàng phải luôn coi trọng 2 mục tiêu cơ bản là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền và phục vụ có hiệu quả nền kinh tế gắn liền với an toàn hệ thống Trong những năm qua ngành Ngân hàng đã có những tiến bộ trong việc kiểm soát lạm phát , giữ vững sức mua đồng tiền , tăng mức huy động vốn và cho vay , phục vụ kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các chương trình xóa đói giảm nghèo , khắc phục thiên tai … Bằng việc thực hiện các giải pháp về chế độ tiền tệ tín dụng , chính sách lãi suất , tỷ giá được điều hành một cách linh hoạt , thận trọng , việc cung ứng tiền được điều chỉnh kịp thời , bước đầu đã kiểm soát được lạm phát , ổn định tiền tệ , tạo ổn định vĩ mô cho tăng trưởng bền vững

Trang 5

Sau hơn 10 năm đổi mới , hệ thống Ngân hàng Việt nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ , từng bước hội nhập với thị trường quốc tế , đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế Kế hoạch hóa tập trung sang

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường , hoạt động Ngân hàng có nhiều thay đổi cơ bản Việc tách biệt chức năng quản lý Nhà nước ( của Ngân hàng Trung Ương ) và chức năng kinh doanh ( của các Ngân hàng thương mại ) thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng :

– Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt nam ban hành theo quyết định số 37/HĐNN 8 ngày 24.5.1990 của Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước quy định

cơ chế hoạt động của Ngân hàng Nhà nước là Ngân hàng Trung Ương có chức năng quản lý , giám sát và điều tiết hệ thống tài chính cũng như việc thực hiện các chính sách tiền tệ

– Pháp lệnh về Ngân hàng thương mại , các tổ chức tín dụng và công ty tài chính ban hành theo quyết định số 38/ HĐNN 8 ngày 24.5.1990 quy định về hoạt động của các Ngân hàng thương mại , tổ chức tín dụng , công ty tài chính

Hai pháp lệnh Ngân hàng đã tạo ra bước khởi đầu mang tính quyết định cho việc hình thành hệ thống Ngân hàng 2 cấp tại Việt nam sau này

Trong giai đoạn 1990 – 1998 Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam đã có bước phát triển nhanh chóng về số lượng , mở rộng các mặt nghiệp vụ , nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng , đáp ứng nhu cầu phát triển của thời kỳ mới Đến nay Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam đã có :

- 5 Ngân hàng thương mại quốc doanh ( Ngân hàng Ngoại thương , NH Công thương , NH Đầu tư phát triển , NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn và NH Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu long )

- 1 Ngân hàng phục vụ người nghèo

- 51 Ngân hàng TMCP ( 31 Ngân hàng TMCP đô thị , 20 Ngân hàng TMCP Nông thôn )

- 2 Công ty tài chính

- 28 Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

- 4 Ngân hàng liên doanh

Trang 6

- 300 Quỹ Tín dụng Nhân dân

- 76 Văn phòng đại diện Ngân hàng nước ngoài

- 1 Công ty cho thuê tài chính

Đồng thời các tổ chức Tài chính ngân hàng quốc tế như WB , IMF, ADB

… cũng có mặt tại Việt Nam

Không chỉ tăng nhanh về số lượng , các mặt nghiệp vụ như Huy động vốn

; Đầu tư cho vay , công tác thanh toán , tài trợ XNK , Kinh doanh ngoại hối … cũng đã có bước phát triển về quy mô và chất lượng phục vụ Bên cạnh đó các nghiệp vụ mới đã được đưa vào sử dụng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng như dịch vụ thẻ thanh toán , máy rút tiền tự động , các dịch vụ về bất động sản , dịch vụ cho thuê tủ sắt , két sắt …

II/ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trong thời kỳ bao cấp , hoạt động ngân hàng chỉ đơn thuần thực hiện kế hoạch của Nhà nước , chủ yếu là hoạt động cấp phát , phân phối vốn tín dụng cho các đơn vị theo kế hoạch từ trước và thanh toán theo chỉ định

Chuyển sang nền kinh tế thị trường , hoạt động Ngân hàng đã có những chuyển biến cơ bản , đáng kể nhất là việc tách biệt chức năng quản lý (của Ngân hàng Nhà nước ) và chức năng kinh doanh (của Ngân hàng thương mại) Hoạt động ngân hàng trong thời kỳ này trở nên đa dạng và phong phú hơn , gắn bó với thực tế sản xuất kinh doanh của các đơn vị Ngoài các nghiệp vụ truyền thống như :

- Nghiệp vụ huy động vốn

- Nghiệp vụ tín dụng

- Nghiệp vụ thanh toán

- ………

Các nghiệp vụ , dịch vụ mới đã được ngân hàng đưa vào sử dụng :

- Thẻ thanh toán

- Máy rút tiền tự động

- Nghiệp vụ tín dụng thuê mua

- Hùn vốn , liên doanh liên kết

Trang 7

- Các dịch vụ về địa ốc

- Gần đây là việc hình thành các công ty đầu tư – kinh doanh chứng khoán

Có thể nói hoạt động ngân hàng được đa dạng hóa , đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các Doanh nghiệp , những nhà đầu tư và phần đông dân chúng

Những nghiệp vụ chủ yếu của NH thương mại :

Với chức năng là trung tâm thanh toán , Ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng , từ đó tiết kiệm thời gian và chi phí

Bên cạnh việc thực hiện nghiệp vụ truyền thống như huy động vốn , trong đó chủ yếu là nguồn vốn tiết kiệm của các tầng lớp dân cư , thu hút những nguồn vốn nhỏ , phân tán không tập trung thành những nguồn vốn lớn , tập trung từ đó ngân hàng có điều kiện mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động , gia tăng khối lượng đầu tư , tài trợ cho các dự án , đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, Ngân hàng còn mở rộng hoạt động thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ khác như : Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ , thanh toán quốc tế , dịch vụ thẻ tín dụng … Cụ thể là :

1 Nghiệp vụ huy động vốn – Nghiệp vụ ngân quỹ

Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại , tạo điều kiện để Ngân hàng có nguồn vốn hoạt động Việc mở rộng huy động vốn dưới nhiều hình thức góp phần tập trung những nguồn vốn nhỏ , phân tán thành những nguồn vốn lớn tập trung đáp ứng cho nhu cầu phát triển Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thực hiện dưới nhiều hình thức :

- Tiền gửi thanh toán : Thông qua việc mở tài khoản cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế , Ngân hàng vừa giúp các doanh nghiệp bảo quản vốn và cung cấp các dịch vụ thanh toán nhanh chóng , thuận tiện cho khách hàng Ngoài ra Ngân hàng còn tận dụng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong thanh toán của khách hàng để gia tăng nguồn vốn sử dụng vào các nghiệp vụ sinh lợi cho ngân hàng

Trang 8

- Tiền gửi tiết kiệm : Là hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng dưới các hình thức Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn , tiết kiệm có kỳ hạn

- Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện huy động vốn dưới các hình thức như phát hành kỳ phiếu , trái phiếu có kỳ hạn… để huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng

2 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ :

Ngày nay khi hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển , việc giao lưu buôn bán giữa các quốc gia trở nên phong phú , đa dạng khiến việc sử dụng ngoại tệ cho nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tăng cao đã tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại hối bao gồm việc Mua – Bán ngoại tệ , đảm bảo số dư trên tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài Việc kinh doanh này tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa đồng tiền của các quốc gia khác nhau

Ngoài ra nghiệp vụ này còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp tránh được những rủi ro do thay đổi tỷ giá trong thanh toán quốc tế và đảm bảo việc thanh toán cho khách hàng giữa các quốc gia an toàn và nhanh chóng , trôi chảy

Một số nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chủ yếu :

- Nghiệp vụ Spot : Là nghiệp vụ Mua – bán 1 ngoại tệ này lấy một loại ngoại tệ khác ngay trong ngày giao dịch ( Hoặc sau 2 ngày nếu có sự thoả thuận của các bên )

- Nghiệp vụ Forward : Thực hiện việc Mua – bán ngoại tệ , trong đó giá cả được xác định vào ngày giao dịch nhưng thanh toán vào 1 ngày xác định cụ thể trong tương lai

- Nghiệp vụ Swap : Là giao dịch trong đó 1 đồng tiền dược Mua - bán đồng thời và được tiến hành với 2 ngày thanh toán khác nhau

- Ngoài ra các nghiệp vụ khác như Quyền Mua – bán ngoại tệ lựa chọn , nghiệp vụ Arbittrage cũng được các ngân hàng sử dụng

3 Nghiệp vụ Đầu tư – Liên Doanh – Liên Kết

Trang 9

Ngoài những nghiệp vụ truyền thống , trong những năm gần đây hoạt động ngân hàng còn mở rộng ra nhiều lĩnh vực như :

- Đầu tư vốn vào các doanh nghiệp dưới hình thức mua cổ phiếu trái phiếu do các doanh nghiệp này phát hành

- Đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp mới

- Liên doanh , liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước hình thành các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng như các ngân hàng liên doanh , công ty thuê mua ……

4 Các nghiệp vụ , dịch vụ ngân hàng khác như :

- Máy rút tiền tự động

- Dịch vụ phát hành , đại lý thanh toán thẻ tín dụng

- Dịch vụ cho thuê tủ sắt – két sắt

- Dịch vụ tài trợ mua hàng trả góp

- Các dịch vụ liên quan đến bất động sản

5 Nghiệp vụ tín dụng :

Trong các nghiệp vụ của một Ngân hàng thương mại , nghiệp vụ tín dụng là một trong những nghiệp vụ quan trọng và đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng

Theo khái niệm , Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian phải hoàn trả với một lượng lớn hơn Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế , khái niệm cấp tín dụng cũng được mở rộng thêm Ngoài ý nghĩa thông thường là cho vay , nó còn xuất hiện thêm các nghiệp vụ mới như chiết khấu chứng từ có giá , Bảo lãnh ( bao gồm bảo lãnh thực hiện hợp đồng , bảo lãnh dự thầu … )

Các hình thức cụ thể

Trang 10

Các ngân hàng thương mại cho vay vốn ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động còn thiếu cho các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh

Nguyên tắc tín dụng :

- Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết

- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích , có hiệu quả kinh tế

- Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị vật tư , hàng hóa tương đương

Điều kiện vay vốn :

- Phải có đủ tư cách pháp nhân , hoạt động SXKD theo đúng pháp luật Việt Nam

- Hoạt động SXKD có lãi

- Có vốn tự có tham gia vào phương án xin vay

- Phải thế chấp tài sản hoặc được sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba có thẩm quyền ( Trừ những trường hợp cho vay tín chấp theo quy định của Ngân hàng )

- Chấp hành đúng thể lệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và các quy định cụ thể do ngân hàng thương mại quy định

Phương pháp cho vay

- Phương pháp cho vay theo hạn mức ( Hay cho vay theo số dư , cho vay luân chuyển ) được áp dụng cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thường xuyên , có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định , Vòng quay vốn lưu động , vòng quay vốn tín dụng cao theo đúng quy định của ngân hàng Phương pháp cho vay này chỉ được áp dụng đối với các khách hàng có quan hệ lâu năm , uy tín và có tình hình sản xuất kinh doanh ổn định , có hiệu quả và có quá trình vay trả sòng phẳng đúng hạn

- Phương pháp cho vay thông thường : Việc cho vay , giải ngân theo từng phương án vay cụ thể Từng lần vay khách hàng phải gửi hoá đơn , chứng từ có liên quan phương án kinh doanh và hoàn trả nợ vay cùng hồ sơ thế chấp để đảm bảo nợ vay đến ngân hàng Sau khi đồng ý cho vay , ngân hàng và khách hàng sẽ ký hợp đồng tín dụng với các điều khoản cụ thể về số tiền cho vay , lãi suất , thời hạn trả nợ , thế chấp ….Phương pháp này áp dụng cho

Trang 11

các khách hàng có nhu cầu vay không thường xuyên hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu để vay luân chuyển

Hồ sơ vay vốn ( Đối với pháp nhân ) : Quyết định thành lập , phương án vay vốn – hoàn trả nợ , đơn đề nghị vay vốn , các hợp kinh tế liên quan , báo cáo tài chính và hồ sơ thế chấp

5.2 Nghiệp vụ chiết khấu :

Ngân hàng thương mại nhận chiết khấu các chứng từ có giá như trái phiếu kho bạc , kỳ phiếu , trái phiếu , sổ tiết kiệm do các ngân hàng thương mại phát hành , bộ chứng từ thanh toán bằng thư tín dụng L/C không huỷ ngang

Hiện nay nghiệp vụ chiết khấu chứng từ có giá , đặc biệt là đối với bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu là một trong những nghiệp vụ sinh lợi cao của các Ngân hàng thương mại Nghiệp vụ này vừa tạo điều kiện để các doanh nghiệp quay nhanh vòng vốn , có nguồn vốn kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh , đồng thời cũng giúp ngân hàng cũng mở rộng tín dụng an toàn , nâng cao khả năng sinh lợi cho Ngân hàng

5.3 Nghiệp vụ cho vay trung – dài hạn :

Là nghiệp vụ cho vay để các doanh nghiệp cải tạo , mở rộng sản xuất , đổi mới thiết bị công nghệ , cải tiến kỹ thuật hoặc xây dựng cơ bản mới nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế

Các nguyên tắc , điều kiện , hồ sơ tín dụng tương tự như cho vay ngắn hạn

III/TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN QUA – NHỮNG KẾT QUẢ VÀ KHÓ KHĂN , TỒN TẠI

1 Hoạt động Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Sau đại hội 6 của Đảng , nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới , đó là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần , đa dạng hóa các hình thức sở hữu nhằm phát huy mọi tiềm năng vật chất và lao động sáng tạo của toàn xã hội thực hiện mục tiêu Dân giàu – Nước mạnh – Xã hội công bằng văn minh

Trang 12

Nền kinh tế nước nhà đã có những tín hiệu đáng mừng , đó là :Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng nhanh qua các thời kỳ , Giai đoạn 1986 – 1990 tốc độ tăng trưởng bình quân 4,4% / năm , Giai đoạn 1990 – 1995 là 7,5% /năm Chúng ta đã ngăn chặn được đà giảm sút kinh tế

Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế , Hệ thống ngân hàng Việt nam cũng đã có những chuyển biến tích cực , đã có sự phân định rõ chức năng quản lý của Ngân hàng nhà nước và chức năng kinh doanh của Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện để hoạt động ngân hàng tiếp cận được với hoạt động của nền kinh tế thị trường

Có thể chia hoạt động Ngân hàng trong thời kỳ này làm 3 giai đoạn chủ yếu :

- Giai đoạn 1986 – 1992 là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu chuyển đổi , Các doanh nghiệp đang trong thời kỳ sắp xếp , củng cố lại nên tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao Hoạt động ngân hàng trong thời kỳ này bắt đầu đổi mới theo yêu cầu của kinh tế thị trường Đây cũng là thời kỳ 2 pháp lệnh ngân hàng ra đời , tách biệt chức năng quản lý và chức năng kinh doanh cuả ngân hàng thương mại Các cơ chế , chính sách , chế độ tiền tệ – tín dụng , chính sách lãi suất , tỷ giá từng bước được điều chỉnh phù hợp quy luật phát triển của nền kinh tế

- Giai đoạn 1993 – 1996 : Tình hình kinh tế xã hội phát triển ổn định , tốc độ tăng trưởng cao bình quân 7,5% /năm Hoạt động ngân hàng trong giai đoạn này phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng phục vụ với việc

đa dạng hóa các sản phẩm , dịch vụ ngân hàng

- Giai đoạn 1997 – 2000 : Trong giai đoạn này nền kinh tế chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á , tốc độ tăng trưởng chậm lại , những yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại bắt đầu lộ rõ , tỷ lệ nợ quá hạn tăng nhanh đã vượt quá giới hạn cho phép Bên cạnh đó những vụ việc có liên quan đến ngân hàng được các cơ quan chức năng xử lý đã làm cho niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng phần nào giảm sút Tháng 12/1997 Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng nhà nước đã tạo vị thế quản lý Nhà nước có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung Ương xuống địa phương , Vai trò

Trang 13

quản lý nhà nước của các Chi nhánh ngân hàng nhà nước tại địa phương được quy định cụ thể , nâng cao hơn trước Bên cạnh đó Luật các Tổ chức tín dụng đã tạo những điều kiện tiền đề cần thiết giúp các ngân hàng thương mại nâng cao quyền tự chủ trong kinh doanh

Mặc dù trong 2 năm gần đây , nền kinh tế Việt nam xuất hiện những dấu hiệu bất lợi , kinh tế có biểu hiện suy giảm , khả năng hấp thụ vốn kém , hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp yếu , sản xuất và tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn , đầu tư nước ngoài tiếp tục giảm sút Bên cạnh đó thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra đã đặt ra những thử thách vô cùng to lớn Tuy nhiên về tổng thể Việt nam vẫn đạt được mức tăng trưởng dương ( Năm 1999 mức tăng trưởng là 4,8% ) , đây là tỷ lệ tăng trưởng tích cực trong bối cảnh các nền kinh tế trong khu vực khủng hoảng

Năm 1999 cũng là năm hoạt động ngân hàng tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện các chính sách tiền tệ như : Điều hòa cung ứng tiền , cơ chế lãi suất , tỷ giá và quản lý ngoại hối đều được đổi mới Đó là việc áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá mới qua đó bãi bỏ việc công bố tỷ giá cố định , thay vào đó là việc công bố tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng của ngày hôm trước với biên độ cho phép là 0,1% Cơ chế lãi suất bước đầu tiến tới tự do hóa bằng việc Ngân hàng nhà nước điều hành lãi suất thông qua cơ chế lãi suất trần được điều chỉnh linh hoạt theo các diễn biến kinh tế và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Trong năm 1999 , ngân hàng nhà nước đã 5 lần điều chỉnh lãi suất trần cho thấy lãi suất đang được tự do hoá , theo sát những diễn biến của thị trường Ngày 2/8/2000 vừa qua , Ngân hàng nhà nước thực hiện cơ chế điều hành lãi suất theo quan hệ cung cầu qua việc bỏ lãi suất trần và công bố lãi suất cơ bản Trước đây các ngân hàng thương mại không được cho vay quá mức lãi suất trần

do ngân hàng nhà nước công bố Đây là cơ chế điều hành lãi suất mang tính hành chính mệnh lệnh không còn phù hợp với cơ chế thị trường , gây nhiều khó khăn cho cả ngân hàng và khách hàng vay tiền Hiện nay ngân hàng nhà nước công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo lãi suất của nhóm 9 ngân hàng thương mại do ngân hàng nhà nước lựa chọn với biên độ 0,3% đối với cho vay ngắn hạn và 0,5% đối với cho vay trung dài hạn Biên độ này thể hiện sự quản lý của nhà nước Với lãi suất cơ bản, các ngân hàng có quyền chủ động cho vay trong biên độ cho phép Đây là bước tiến mới trong cơ chế điều hành lãi suất , tiến tới cơ chế lãi suất tự do

Trang 14

Việc triển khai quá trình cơ cấu lại Hệ thống Ngân hàng thương mại cũng là một trọng tâm trong chương trình cải tổ ngành tài chính Việt nam Với mục tiêu xây dựng một hệ thống ngân hàng thương mại vững mạnh , hoạt động lành mạnh và hiệu quả , Chính phủ đã cho phép thực hiện các giải pháp như : sát nhập các ngân hàng thương mại cổ phần , tăng vốn cho các Ngân hàng , xem xét giải pháp thành lập công ty quản lý tài sản , lành mạnh hóa dư nợ tín dụng

… Đã tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động ngân hàng trong tình hình mới

2 Hoạt động ngân hàng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế , tài chính lớn của cả nước , nơi tập trung rất nhiều các tổ chức tín dụng và là nơi hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng diễn ra vô cùng sôi động Hiện nay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã có 97 Tổ chức tín dụng bao gồm 35 Ngân hàng thương mại quốc doanh , Ngân hàng phục vụ người nghèo , Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu long , 17 Ngân hàng thương mại cổ phần có hội sở tại TP Hồ Chí Minh , 6 Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần có hội sở ngoài điạ bàn thành phố , 4 Ngân hàng liên doanh , 17 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài ,

4 Công ty tài chính cổ phần , 3 Công ty cho thuê tài chính , 9 Quỹ tín dụng nhân dân Hoạt động ngân hàng đã góp phần kiềm chế lạm phát , ổn định tỷ giá , thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển với nhịp độ cao

Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội thành phố năm 1999 :

- Giá trị tổng sản phẩm GDP ( theo giá thực tế ) là 70.208 tỷ đồng , tăng 6,16% so với năm 1998

- Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 1999 đạt 48.866 tỷ đồng

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm 1999 đạt 135.077 tỷ đồng , tăng 2,1 %

so với năm 1998

- Chỉ số hàng tiêu dùng tăng 1,56 %

- Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt mức 4.599 triệu USD tăng 23,7 % so với năm 1998 Hai nhóm hàng có mức tăng cao nhất là hàng công nghiệp xuất khẩu và hàng thuỷ sản

- Tổng kim ngạch nhập khẩu giảm 6,9 % đạt mức 3.367 triệu USD

- Đầu tư nước ngoài năm 1999 có 98 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn hoạt động là 471 triệu USD So với năm 1998 tăng 20 dự án nhưng về số tuyệt đối giảm , chỉ bằng 97,5 % so với tổng vốn đầu tư năm 1998 Như

Trang 15

vậy từ năm 1988 đến nay , Tp Hồ Chí Minh hiện có 808 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 10.261 triệu USD

Hoạt động ngân hàng trên địa bàn đã ngày càng trở nên gắn bó với thực tế sản xuất kinh doanh bằng việc đa dạng hóa các sản phẩm , dịch vụ cung cấp cho khách hàng Trong đó hoạt động tín dụng đã có những bước phát triển với mức tăng trưởng tín dụng cao , đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của nền kinh tế Nếu như năm 1990 tổng mức dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố là 1.395 tỷ đồng thì đến nay mức dư nợ đã đạt 44.428 tỷ đồng , tăng gấp 31,8 lần , mức tăng trưởng hàng năm bình quân 48% Hầu hết các doanh nghiệp và cá nhân được cung ứng vốn đều hoạt động có hiệu quả Sự tăng trưởng tín dụng từng năm tuy có khác nhau nhưng phù hợp với sự tăng trưởng chung của nền kinh tế và chỉ số lạm phát Dư nợ tín dụng đã góp phần đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế của thành phố , gia tăng khối lượng sản phẩm – hàng hóa – dịch vụ , phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật , cơ sở hạ tầng , nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm

Trong hoạt động tín dụng , Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh luôn chiếm ưu thế , đến cuối năm 1999 thị phần vốn huy động của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh trên địa bàn thành phố là 52,1% , trong đó :

- Thị phần khối Ngân hàng ngoại thương là 19,6%

- Thị phần khối Ngân hàng công thương là 17,8%

- Thị phần khối Ngân hàng đầu tư phát triển là 8,2%

- Thị phần khối Ngân hàng nông nghiệp là 6,7%

- Thị phần Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu long là 0,1%

Nguồn vốn huy động tăng trưởng nhanh đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng , đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Đến cuốn năm 1999 , thị phần cho vay của các ngân hàng quốc doanh là 45,9%, trong đó :

- Thị phần khối Ngân hàng ngoại thương là 7,6%

- Thị phần khối Ngân hàng công thương là 29,6%

- Thị phần khối Ngân hàng đầu tư phát triển là 9,2%

- Thị phần khối Ngân hàng nông nghiệp là 4,0%

- Thị phần Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu long là 0,5%

Trang 16

Cụ thể , một số chỉ tiêu về huy động vốn và sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như sau :

ĐVT : Tỷ đồng VN

CHỈ TIÊU 31/12/1998 31/12/1999 TỶ LỆ

SO VỚI TĂNG GiẢM 31/12/1998

Số Tiền Tỷ lệ % I/Nguồn vốn 63.631 71.334 + 7.703 + 12,11.Vốn tự có 5.609 5.734 + 125 + 2,22.Vốn huy động 36.433 40.836 + 4.403 + 12,13.Vốn vay TCTD # 2.856 1.037 - 1.819 - 63,74.Vốn vay NHNN 254 792 + 538 + 211,85.Tài sản nợ khác 18.479 22.935 + 4.456 + 24,1II/ Sử dụng vốn 63.631 71.334 + 7.703 + 12,11.Tiền dự trữ 2.708 3.828 + 1.120 + 41,62.Dư nợ cho vay 38.203 43.445 + 5.242 + 13,7

3 Hùn vốn liên

doanh

276 215 - 61 - 22,14.Tài sản có khác 22.444 23.846 + 1.402 + 6,2

Qua bảng số liệu trên ta thấy : Tổng mức vốn huy động đến cuối năm

1999 là 40.836 tỷ đồng – chiếm tỷ trọng 28 % trong tổng vốn huy động của cả nước , tăng 4.403 tỷ đồng , tỷ lệ tăng 12,1 % Ưu thế về huy động vốn thuộc về các Ngân hàng thương mại quốc doanh trong nước với thị phần 52,1 % , Ngân hàng thương mại cổ phần 26,7 % , Ngân hàng nước ngoài 17,3 % và Ngân hàng liên doanh là 3,9 % do bị hạn chế bởi quy định vốn huy động không được vượt quá 25 % vốn tự có ( gần đây nhất là quy định ngân hàng nước ngoài không được nhận tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt nam và ngoại tệ )

Trong điều kiện nền kinh tế phát triển chậm lại , tình trạng giảm phát kéo dài , lãi suất huy động vốn của ngân hàng liên tục giảm thì tổng vốn huy động tăng lên đã tạo điều kiện để các ngân hàng mở rộng tín dụng Theo số liệu thống kê của Ngân hàng nhà nước Tp Hồ Chí Minh thì tình hình hoạt động tín dụng trên địa bàn cụ thể như sau :

Trang 17

ĐVT : Tỷ đồng VN

CHỈ TIÊU 31/12/1998 31/12/1999 TỶ LỆ

SO VỚI

TĂNG GiẢM 31/12/1998

Số Tiền Tỷ lệ % Tổng dư nợ 38.203 43.445 + 5.242 + 13,7

1.Dư nợ cho vay ngắn

2 Dư nợ trung dài

hạn

10.067 11.609 + 1542 + 15,5

Nợ luân chuyển 10.000 11.543 + 1.1543 + 15,4 Trong đó nợ quá hạn 429 337 - 92 - 21,4Nợ đọng 67 66 - 1 - 1,5

Trang 18

Trong đó phân tích theo hệ thống ngân hàng như sau :

Nợ chờ xử lý

Nợ khoanh Tổng dư nợ Nợ trong

hạn

Nợ quá hạn

Nợ chờ xử lý

Nợ khoanh NHQD 17.646 12.654 415 3.926 651 19.941 11.655 3.839 3.782 665 NHCP 9.308 7.720 1.243 820 25 10.196 7.287 1.993 871 45 NHLD 1.180 955 218 7 1.059 819 24 216

NH

NNg

10.069 9.930 138 1 12.249 12.096 152 1 Cộng 38.203 30.759 2.014 677 677 43.445 31.857 6.008 4.896 711

Dư nợ tín dụng cuối năm 1999 là 43.445 tỷ đồng , tăng 5.242 tỷ đồng với tốc độ tăng 13,7 % so với năm 1998 Dư nợ tín dụng trên địa bàn Thành phố chiếm tỷ trọng 31,4 % / Tổng dư nợ cho vay cả nước Mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng không đạt chỉ tiêu đề ra đầu năm là phải tăng từ 18 đến 20 % , nhưng mức tăng trưởng tín dụng 13,7% phù hợp với thực trạng của nền kinh tế tăng trưởng chậm , tình trạng giảm phát kéo dài sức mua giảm sút , hàng hóa ứ đọng chậm luân chuyển Một khó khăn lớn trong hoạt động ngân hàng là mặc dù Ngân hàng nhà nước nhiều lần điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm dần nhưng vốn huy động vẫn liên tục tăng cao , trong khi đó hướng đầu tư cho vay của ngân hàng bị hạn chế bởi các nguyên nhân như :

- Tình trạng khó khăn chung của nền kinh tế , tốc độ tăng trưởng chậm , hàng tồn kho nhiều , sức mua giảm thấp , thị trường bị thu hẹp , sản xuất kinh doanh nhiều khó khăn làm nhu cầu vốn tín dụng không tăng

- Chưa có dự án khả thi

- Tâm lý e ngại của cả khách hàng và ngân hàng khi đầu tư

- Các doanh nghiệp nhà nước còn lúng túng , chưa tìm được thị trường chưa mạnh dạn vay vốn để đầu tư hoặc chưa chọn đúng hướng để đầu tư có hiệu quả

Trang 19

- Tình hình thực hiện thuế VAT khiến doanh nghiệp chưa thích ứng kịp , bước đầu gặp khó khăn nhất là các doang nghiệp sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu , từ đó ảnh hưởng đến nhập khẩu => nhu cầu vay vốn giảm thấp

- Các dự án kích cầu , Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chậm được triển khai Tốc độ đầu tư đổi mới công nghệ chậm , nhu cầu vốn trung dài hạn không tăng

- Mặc dù lãi suất giảm liên tục nhằm kích cầu tín dụng nhưng tác động vẫn rất chậm đã cho thấy tín dụng tăng trưởng chậm không hoàn toàn do lãi suất mà

do nền kinh tế tăng trưởng chậm , nhu cầu vốn không cao

Số liệu thống kê cho thấy , Thị phần cho vay với ưu thế thuộc về ngân hàng quốc doanh với 45,9 % ; ngân hàng nước ngoài với thị phần là 28,2 % ; ngân hàng thương mại cổ phần là 23,5 % ; ngân hàng liên doanh 2,4 % Trong đó đáng chú ý là trong năm 1999 trong khi thị phần của các ngân hàng khác như ngân hàng quốc doanh , ngân hàng cổ phần , ngân hàng liên doanh đều giảm thì thị phần cho vay của các ngân hàng nước ngoài lại tăng 1,8 % so với năm 1998 mặc dù bị hạn chế về vốn huy động ( không được nhận tiền gửi có kỳ hạn ) và cho vay ( không được nhậnthế chấp bất động sản , quyền sử dụng đất )

Về chất lượng tín dụng : Mặc dù có những cố gắng nâng cao chất lượng tín dụng , tập trung thu hồi các khoản nợ quá hạn cũ , hạn chế không để phát sinh các khoản nợ quá hạn mới nhưng chất lượng tín dụng trên địa bàn thể hiện qua chỉ tiêu Nợ quá hạn / Tổng dư nợ là vấn đề cần được tập trung xem xét Tổng số nợ quá hạn , nợ đọng đến 31/12/1999 là 11.588 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 26,6 % trên tổng dư nợ cho vay nền kinh tế , đây là tỷ lệ rất cao trong hoạt động tín dụng trong đó :

- Nợ đọng ( Nợ liên quan đến vụ án chờ xử lý , nợ khoanh ) là 5.580 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 12,8 % - khoản nợ này không thu được lãi

- Nợ quá hạn còn luân chuyển : 6.008 tỷ đồng

Dư nợ quá hạn , nợ đọng cao đã gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh vì trong khi vẫn phải trả lãi tiển gửi huy động thì các khoản nợ đọng không thu được lãi đã tạo áp lực xấu đến kết quả tài chính của ngân hàng

Trang 20

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG TỒN TẠI KHI XỬ LÝ

TÀI SẢN THẾ CHẤP TẠI SỞ GIAO DỊCH 2 – NGÂN HÀNG

CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

I Vài nét về Ngân hàng công thương Việt Nam và Sở Giao Dịch 2

Thời gian qua với những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong quá trình đổi mới hoạt động , thích ứng với cơ chế thị trường như cải tiến chế độ tiền tệ tín dụng , chính sách lãi suất , thanh toán … đã thu được những kết quả quan trọng Việc đổi mới hoạt động ngân hàng , cụ thể nhất là việc triển khai thực hiện 2 pháp lệnh ngân hàng ( gần đây là 2 bộ luật ngân hàng ) đã tạo ra những chuyển biến tốt về cơ cấu tổ chức , các mặt hoạt động , trình độ nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại

Hoạt động ngân hàng đã nhanh chóng chuyển mình theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường , đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế , kiềm chế và đẩy lùi lạm phát , ổn định giá trị đồng tiền , góp phần khuyến khích và thu hút vốn đấu tư trong và ngoài nước

Ngoài các ngân hàng quốc doanh , các ngân hàng cổ phần , ngân hàng liên doanh , chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp phép thành lập và mở rộng hoạt động tại khắp các địa phương trong cả nước với nội dung dần dần được đổi mới theo hướng hiện đại hóa , từng bước đổi mới công nghệ , phong cách phục vụ … theo kịp hoạt động ngân hàng tại các nước phát triển

Ngân hàng công thương Việt nam là một trong 5 ngân hàng thương mại quốc doanh được thành lập năm 1988 , ngoài hội sở chính tại Hà nội , Ngân hàng công thương Việt nam còn có mạng lưới chi nhánh tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước , các khu công nghiệp , khu chế xuất với mạng lưới kinh doanh rộng khắp , sản phẩm và dịch vụ đa dạng có chất lượng cao công nghệ ngân hàng tiên tiến Đến nay hệ thống Ngân hàng công thương Việt nam gồm Hôị sở chính tại Hà nội , 2 Sở Giao Dịch ( Sở Giao Dịch 1 tại Hà Nội ; Sở Giao Dịch 2 tại TP Hồ Chí Minh , 91 Chi nhánh , 153 Phòng giao dịch , 378 Quỹ tiết kiệm và 86 Cửa hàng vàng bạc với đội ngũ nhân viên hơn 12.000 người Là một trong những ngân hàng thương mại quốc doanh hàng đầu tại Việt nam , Ngân hàng công thương thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại thực hiện

Trang 21

kinh doanh ngoại hối và đã gia nhập hệ thống thanh toán SWIFT để thuận lợi trong hoạt động thanh toán quốc tế Có thể nói thành tựu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng công thương trong hơn 10 năm vừa qua là đã kịp thời thay đổi tư duy kinh tế , tập quán kinh doanh cũ để tiếp cận với hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Từ một ngân hàng chiếm thế độc quyền về giao dịch nội tệ tại Việt nam , sau cuộc cải cách ngân hàng năm 1988 Ngân hàng công thương đã mất dần thế độc quyền trong kinh doanh nội tệ , nhưng các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ được mở ra để thích nghi với thời kỳ mới

Ngoài các chi nhánh và phòng giao dịch , Ngân hàng công thương còn góp vốn thành lập Ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt nam ( Indovina Bank ) , là sáng lập viên của Sài gòn công thương ngân hàng cũng như tham gia vào các dự án liên doanh khác Ngân hàng công thương cũng đã liên doanh với Công ty tài chính quốc tế , Công ty thuê mua tài chính công nghiệp Hàn quốc , Ngân hàng Nippon Credit Nhật bản và Ngân hàng ngoại thương Pháp BFCE để thành lập công ty cho thuê tài chính đầu tiên tại Việt nam

Là một Ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt nam , Ngân hàng công thương còn là thành viên chính thức của Hiệp hội các ngân hàng Châu Á từ năm

1994 , có quan hệ đối ngoại rộng khắp với các ngân hàng trên thế giới với hơn

450 ngân hàng có quan hệ đại lý tại hơn 50 nước và khu vực Với phương châm tăng cường quan hệ hợp tác với các ngân hàng trên thế giới , mở rộng hoạt động kinh doanh đối ngoại , Ngân hàng công thương đã thường xuyên thu thập , nắm bắt diễn biến của thị trường tài chính thế giới , theo dõi sự biến động của các ngân hàng đại lý , đặc biệt là những biến động xấu tại thị trường Châu Á sau cuộc khủng hoảng để có biện pháp phòng tránh rủi ro Phân tích đánh giá hoạt động của các ngân hàng đại lý trên cơ sở đó phát triển mối quan hệ , tận dụng thế mạnh từng ngân hàng để phát triển mối quan hệ , tận dụng thế mạnh từng ngân hàng để phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Phát triển nghiệp vụ ngân hàng quốc tế gắn liền với việc mở ra các nghiệp vụ ngân hàng mới Năm

1999 Ngân hàng công thương đã gia nhập Hội thanh toán thẻ Việt nam , mở ra nghiệp vụ thanh toán thẻ nhằm khuyến khích việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế , nhằm từng bước tiếp cận với công nghệ ngân hàng tiên tiến , hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

Trong suốt quá trình hoạt động , Ngân hàng công thương luôn đạt tốc độ

Trang 22

thống Ngân hàng Việt nam với thị phần khoảng 25% , Tổng dư nợ cho vay và đầu tư của ngân hàng tăng mạnh qua các năm và chiếm gần 20 % thị phần tín dụng

Năm 1999 với nhiều biện pháp chủ động tích cực , Ngân hàng công thương đã duy trì được tốc độ phát triển chung và đạt được những thành tựu nhất định góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước Một số kết quả hoạt động kinh doanh năm 1999 như sau :

+ Tổng nguồn vốn huy động : 35.848 tỷ tăng 7.190 tỷ đồng – tốc độ tăng 25% so với đầu năm , chiếm tỷ trọng 22 % /Tổng nguồn vốn huy động toàn hệ thống Ngân hàng thương mại

Trong đó : - Vốn huy động VND : 28.547 tỷ tăng 24 %

- Vốn huy động ngoại tệ : 7.301 tỷ ( quy ra VND ) tăng 28,7 %

+ Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt : 27.645 tỷ đồng tăng 3.447 tỷ , tốc độ tăng 14,2 % so với đầu năm , chiếm tỷ trọng 20% /Tổng dư nợ của toàn bộ hệ thống Ngân hàng thương mại

Trong đó : - Dư nợ cho vay VND : 22.135 tỷ , tăng 15,2 %

- Dư nợ cho vay ngoai tệ ( Quy ra VND ) : 5.510 tỷ tăng 10,5 %

+ Kết quả kinh doanh : Năm 1999 toàn bộ hệ thống đạt mức lợi nhuận 105,4 tỷ đồng bằng 102,6% so với chỉ tiêu kế hoạch liên bộ giao Trong đó :

- Tổng thu nhập : 2.666 tỷ – tăng 9,5 % so với năm 1998

- Tổng chi phí : 2.578 tỷ - tăng 10,7% so với năm 1998

- Lợi nhuận : 105,4 tỷ - tăng 0,19% so với năm 1998

Có thể nói năm 1999 ,Ngân hàng công thương một mặt vừa chấn chỉnh những yếu kém vừa mạnh dạn tháo gỡ khó khăn , duy trì và phát triển trên các mặt nghiệp vụ , kết quả kinh doanh đạt mức lợi nhuận 105,4 tỷ là kết quả đáng trân trọng phản ánh quyết tâm của gần 12.000 cán bộ công nhân viên Ngân hàng công thương

Sở giao dịch 2 – Ngân hàng công thương Việt nam là một chi nhánh của Ngân hàng Công thương Việt nam , được thành lập theo Quyết định số 53/QĐ-NHCT ngày 16.9.1997 của Hội đồng quản trị Ngân hàng công thương Việt nam trên cơ sở sát nhập Chi nhánh ngân hàng công thương Tp hồ Chí Minh vào Sở Giao Dịch 2 ( trước đây chỉ làm công tác quản lý các địa phương phía nam) Nhằm mục tiêu củng cố và tăng cường hiệu quả kinh doanh , Sở Giao Dịch 2

Trang 23

thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng bằng đồng Việt nam và ngoại tệ , làm đầu mối cho các chi nhánh ngân hàng công thương trên địa bàn thành phố quan hệ với các Cơ quan chính quyền thành phố , đồng thời Sở Giao Dịch 2 còn thực hiện chức năng kiểm tra việc chấp hành chế độ , thể lệ , nghiệp vụ , theo dõi các hoạt động kinh doanh của các chi nhánh ngân hàng công thương các tỉnh phía nam

Từ khi thành lập đến nay , Sở Giao Dịch 2 đã nhanh chóng ổn định tổ chức , không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ , giữ vững và phát triển thị trường mới trong hoạt động kinh doanh

II Một số khó khăn thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của Sở Giao Dịch

2

Với ưu thế là một Chi nhánh lớn nhất trong Hệ thống ngân hàng công thương Việt nam xét cả về quy mô huy động vốn và dư nợ cho vay nền kinh tế cũng như sự đa dạng về các nghiệp vụ ngân hàng như thanh toán quốc tế – kinh doanh ngoại tệ - nghiệp vụ ngân quỹ - nghiệp vụ thanh toán – tài trợ xuất nhập khẩu – nghiệp vụ thẻ tín dụng – các nghiệp vụ cho thuê tủ sắt , két sắt cũng như các dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước

- Sở Giao Dịch 2 có đội ngũ nhân viên có trình độ , kinh nghiệm , tận tâm với khách hàng với phương châm “ Hợp tác để cùng phát triển “

- Sở Giao Dịch 2 có vị trí thuận lợi trong kinh doanh , nằm ngay trung tâm tài chính tiền tệ của thành phố

- Có số lượng khách hàng truyền thống lớn

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên , Sở Giao Dịch đang đứng trước những thử thách đó là :

- Hoạt động kinh doanh trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động , tốc độ tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chậm lại

- Hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Trang 24

- Do những tồn tại cũ của chi nhánh để lại , hoạt động của Sở Giao Dịch 2 gặp rất nhiều khó khăn do mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn , nợ quá hạn , nợ bảo lãnh trả thay quá lớn vẫn chưa có biện pháp tháo gỡ Khó khăn này luôn là một áp lực nặng nề ảnh hưởng xấu đến kết quả tài chính Tình trạng nợ quá hạn lớn nêu trên do một số khách hàng lớn của ngân hàng công thương bị phá sản , vi phạm pháp luật dẫn đến không trả được một lượng vốn vay cho ngân hàng , nhất là một số vụ án kinh tế gần đây đã khiến uy tín trong giao dịch đối nội và đối ngoại của Sở Giao Dịch 2 bị ảnh hưởng

- Tâm lý e ngại không những của các doanh nghiệp mà cả của ngân hàng khi đầu tư vốn , khả năng mở rộng tín dụng bị hạn chế

Trước những khó khăn trên , với vai trò là một ngân hàng vùng Sở Giao Dịch 2 xác định mục tiêu là giữ vững sự ổn định trên các mặt hoạt động , nâng cao chất lượng phục vụ , xây dựng chiến lược tiếp thị thu hút khách hàng mới … Trong đó xác định mục tiêu trọng tâm trong hoạt động kinh doanh là :

- Đẩy mạnh công tác xử lý các khoản nợ tồn đọng , nợ khó đòi , trong đó chủ yếu là khai thác , xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ Đồng thời tăng cường công tác thẩm định , kiểm soát sau để hạn chế nợ xấu phát sinh

- Tập trung lựa chọn các dự án , phương án có hiệu quả của các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh , các doanh nghiệp thuộc tổng công ty 90 ,91 và các đơn vị thành viên , các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc những ngành kinh tế mũi nhọn Tận dụng lợi thế về nguồn vốn VNĐ , về hạn mức cho vay đối với một doanh nghiệp để từ đó đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp lớn trên địa bàn trên cơ sở nâng cao chất lượng phục vụ , áp dụng nhiều hình thức ưu đãi để thu hút khách hành giao dịch , quan hệ tín dụng

- Đẩy mạnh cho vay tài trợ xuất khẩu , mở rộng và áp dụng công nghệ mới trong hoạt động thanh toán quốc tế , kinh doanh ngoại tệ , phát triển dịch vụ kiều hối

- Đổi mới mạnh mẽ cơ cấu tín dụng theo hướng tăng dần tỷ trọng cho vay trung dài hạn , phấn đấu đưa mức dư nợ trung dài hạn lên mức 30 %/ Tổng

dư nợ lành mạnh Để thực hiện mục tiêu này cần đẩy mạnh công tác tiếp

Trang 25

cận , tìm hiểu nhu cầu đổi mới trang thiết bị , giới thiệu các điều kiện cho vay trung dài hạn, tham gia tư vấn xây dựng dự án cùng doanh nghiệp để từ đó chọn lựa các dự án có hiệu quả để đầu tư vốn nhất là khi UBND TP Hồ Chí Minh có chủ trương kích cầu đầu tư vốn với 119 dự án đã được duyệt với mức vốn là 4.042 tỷ đồng Bên cạnh đó mở rộng việc cho vay hợp vốn với các ngân hàng khác trên địa bàn để đầu tư cho các công trình trọng điểm mà thành phố đã duyệt Cụ thể là đã ký hợp đồng cho vay hợp vốn thực hiện dự án đường Điện Biên Phủ và dự án đường Liên tỉnh lộ 15 với số vốn Sở Giao Dịch 2 tham gia là 50 tỷ đồng

Một số kết quả trong hoạt động kinh doanh năm 1999

1 Nghiệp vụ huy động vốn :

Tổng nguồn vốn huy động của Sở Giao Dịch 2 đến 31/12/1999 là 3.124 tỷ đồng đạt 107 % kế hoạch đề ra , tăng 384 tỷ đồng tương ứng tăng 14% so với đầu năm Tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp là 1.587 tỷ đồng – tăng 467 tỷ tương ứng tăng 42 % so với đầu năm , tiền gửi dân cư là 1.265 tỷ đồng – giảm

85 tỷ tương ứng giảm 7% do những thay đổi về lãi suất Bên cạnh đó Sở Giao Dịch 2 bước đầu đã thu hút tiền gửi kho bạc nhà nước ( 34 tỷ đồng ) và nhận vốn điều hoà của Ngân hàng công thương 6.121 tỷ đồng , vốn cho vay đồng tài trợ do Ngân hàng công thương Việt nam chuyển về là 64 tỷ đồng

2 Nghiệp vụ tín dụng :

Nguồn vốn huy động tăng đã tạo điều kiện tăng dư nợ tín dụng Dư nợ tín dụng tăng đều và ổn định với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng chung của các ngân hàng thương mại trên địa bàn , nâng cao thị phần của Sở Giao Dịch 2 trong thị trường tín dụng tại TP Hồ Chí Minh cụ thể : ( Chỉ tính dư nợ lành mạnh , đơn vị tính tỷ đồng VN )

Quý 1/98 Quý 4/98 Quý 1/99 Quý 4/99

Dư nợ : 1.115 1.102 1.200 1.781

Thị Phần : 3,27 % 3,54% 3,86 % 4,90 %

Trang 26

Trong đó :

Đơn vị tính : Tỷ VNĐ

4.Vòng quay vốn Tín

Dụng

Có thể nói công tác tín dụng trong năm 1999 đã bước đầu tạo được sự ổn định trên các mặt hoạt động , nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng , giữ vững những khách hàng truyền thống đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới Đến cuối năm 1999 Sở Giao Dịch 2 đã có quan hệ tín dụng với hơn 160 Doanh nghiệp, trong đó có hơn 100 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng thường xuyên – tăng hơn 25 doanh nghiệp với dư nợ tăng thêm của các doanh nghiệp này là 120 tỷ đồng Sở Giao Dịch 2 cũng đã đẩy mạnh công tác tiếp thị , tìm kiếm khách hàng mới đặc biệt là công tác tiếp cận với với các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty 90 ,91 Đến cuối năm 1999 , Sở Giao Dịch 2 đã có quan hệ tín dụng với 69/252 đơn vị thuộc Tổng công ty 90,91 trên địa bàn với tổng dư nợ

886 tỷ đồng , chiếm tỷ trọng 52,4 % tổng dư nợ Tốc độ tăng trưởng tín dụng đều và ổn định , tỷ lệ nợ quá hạn mới phát sinh ( không kể số số nợ quá hạn trước đây – sẽ đề cập ở phần sau ) nằm trong giới hạn cho phép và có thể kiểm soát , hiệu quả công tác tín dụng từng bước được nâng cao

3 Nghiệp vụ thanh toán quốc tế , kinh doanh ngoại tệ :

Trang 27

Năm 1999 Doanh số Mua – Bán ngoại tệ tăng 58% đảm bảo nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng đầy đủ , kịp thời Sở Giao Dịch 2 đã chủ động khai thác các nguồn ngoại tệ của các doanh nghiệp , các Ngân hàng trên địa bàn , mua từ Ngân hàng công thương Việt nam , từ khách hàng kiều hối … Đồng thời làm tốt nhiệm vụ làm đầu mối cho các Chi nhánh ngân hàng công thương các tỉnh phía Nam

Cụ thể kết quả kinh doanh ngoại tệ so với năm 1998 :

Doanh số Mua vào : 185.895.930 USD tăng 67.537.571 USD tăng 57% Doanh số Bán ra : 186.325.622 USD tăng 68.986.127 USD tăng 59% Tổng thu nhập từ Kinh doanh ngoại tệ : 1.998.562.691 đồng

Hoạt động thanh toán quốc tế : Năm 1999 đã phát hành 666 L/C nhập tổng trị giá 111 triệu USD , tăng 22,7 triệu USD so với năm 1998 , thanh toán

702 L/C với tổng trị giá 100,6 triệu USD giảm 12 triệu USD so với năm 1998

Có thể thấy rằng trong điều kiện tốc độ tăng trưởng hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố chậm lại , chỉ số giá cả liên tục giảm trong nhiều tháng , cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng găy gắt thì hoạt động kinh doanh của Sở Giao Dịch 2 vẫn duy trì ổn định và phát triển nhất là trên các mặt huy động vốn , dư nợ cho vay nền kinh tế ( Dư nợ lành mạnh ) , nghiệp vụ thanh toán quốc tế , kinh doanh ngoại tệ …

Tuy nhiên một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tín dụng như đã nêu trên là Tập trung xử lý thu hồi các khoản nợ quá hạn , xử lý tài sản thế chấp , cầm cố , bảo lãnh chưa được thực hiện hiệu quả

III THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI SẢN THẾ CHẤP VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN THẾ CHẤP TẠI SỞ GIAO DỊCH 2 – NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

1 Khái niệm Thế chấp , cầm cố tài sản

Thế chấp tài sản là một trong những biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng Thế chấp tài sản là biện pháp phòng chống rủi ro của ngân hàng cho vay , theo đó người đi vay phải dùng những tài sản thuộc sở hưũ của mình để đảm bảo số nợ vay và cam kết

Trang 28

chấp để thu nợ ( Điều 1 , quyết định 1187/NHCT TD quy định về thế chấp , cầm cố ,bảo lãnh vay vốn ngân hàng )

Trong những năm gần đây khi nền kinh tế nước ta phát triển theo hướng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì mối quan hệ kinh tế giữa các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ , các giao dịch kinh tế – giao dịch dân sự ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Việc các tổ chức kinh tế thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến , phù hợp với quy luật phát triển kinh tế đất nước Trong bối cảnh đó việc thế chấp tài sản - quản lý tài sản thế chấp – xử lý tài sản thế chấp là một thực tế khách quan nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ giao dịch kinh tế

Các tài sản dùng để thế chấp, cầm cố :

Theo quy định của Bộ luật dân sự quy định về giao dịch có đảm bảo , Luật đất đai và các văn bản dưới luật thì các tài sản sau đây được dùng làm tài sản thế chấp , cầm cố để vay vốn ngân hàng :

Tài sản thế chấp là Bất động sản :

Đối với tài sản là bất động sản , Nhà nước xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng , chủ sở hữu bất động sản thông qua các loại giấy chứng nhận như :

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị cho các tổ chức , hộ gia đình , cá nhân

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức được Nhà nước giao đất , cho thuê đất

- Đăng ký sở hữu nhà , công trình xây dựng gắn liền với đất đai thuộc sở hữu của tổ chức và được cấp văn bản xác nhận đăng ký sở hữu nhà , công trình xây dựng

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu dân cư nông thôn

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp , lâm nghiệp cho các tổ chức hộ gia đình , các nhân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp , lâm nghiệp

Người có quyền sử dụng đất , chủ sở hữu bất động sản được quyền thế chấp giá trị tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với quyền sử dụng đất tại

Trang 29

các tổ chức tín dụng để vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh Cụ thể các bất động sản sau được quyền thế chấp :

- Quyền sử đất hợp pháp

- Nhà ở , kể cả các tài sản gắn liền với nhà

- Công trình xây dựng gắn liền trên đất

- Nhà xưởng , cửa hàng , khách sạn , vật kiến trúc có giá trị

- ………

Ngoài ra một số loại đất , tài sản gắn liền trên đất không được sử dụng để thế chấp bao gồm : đất sử dụng vào mục đích công công , lợi ích quốc gia …

Cầm cố Động sản :

Theo điều 329 Bộ Luật dân sự thì :” Cầm cố tài sản là bên có nghĩa vụ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự Nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản hoặc giao cho người thứ 3 giữ “

Các tài sản sau được dùng để cầm cố :

- Máy móc thiết bị , dây chuyền sản xuất

- Các loại phương tiện vận tải

- Vàng bạc đá quý

- Chứng từ có giá ( Trái phiếu , thẻ tiết kiệm , bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu bằng L/C hợp lệ )

- Vật tư hàng hóa

Điều kiện của Tài sản Thế Chấp , cầm cố :

- Tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hưũ hợp pháp của người vay ( hoặc người bảo lãnh ) , đối với đất đai phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp do cơ quan có thẩm quyền cấp

- Nếu tài sản thế chấp là thuộc sở hữu của Công ty cổ phần , công ty TNHH ,

Xí nghiệp liên doanh khi thế chấp phải có văn bản đồng ý của Hội đồng quản trị

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w