1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phẩn hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh kiên giang

106 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 456,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang Lời mở đầu Chương 1: Các lý luận chung về cổ phần hóa 1.1- Doanh nghiệp nhà nước và các yêu cầu đổi mới 1.1.1- Thực trạng quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước 2.1.2-

Trang 1

Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-

KIÊN GIANG

N ăm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Lời mở đầu

Chương 1: Các lý luận chung về cổ phần hóa

1.1- Doanh nghiệp nhà nước và các yêu cầu đổi mới

1.1.1- Thực trạng quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước

2.1.2- Những tồn tại và hạn chế của doanh nghiệp nhà nước

1.2- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.2.1- Các khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.2.2- Ý nghĩa của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.2.3- Nội dung chủ yếu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

trong giai đoạn hiện nay

1.3- Kinh nghiệm quá trình chuyển đổi sở hữu ở một số nước trên thế giới

1.3.1- Chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc

1.3.2- Sơ lược về quá trình chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhà

nước ở các nước phát triển, các nước thuộc châu Mỹ La tinh và

Đông âu

1.3.3- Những đặc điểm chung của quá trình chuyển đổi sở hữu

doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới

Chương 2: Tình hình triển khai chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp

nhà nước ở nước ta và tỉnh Kiên Giang

2.2- Tình hình thực hiện cổ phần hóa ở Việt Nam trong thời gian qua

2.2.1- Các Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ

phần hóa doanh nghiệp nhà nước

2.2.2- Quá trình triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở

nước ta

2.2.3- Kết quả thực hiện quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

nước ở nước ta

2.2.4- Đánh giá tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

Trang 3

2.3- Thực trạng hoạt động và quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh

nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

2.3.1- Thực trạng hoạt động và quá trình tổ chức sắp xếp lại doanh

nghiệp nhà nước trong thời gian qua

2.3.2- Công tác triển khai cổ phần hóa tại tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

nước tỉnh Kiên Giang

3.1- Tiếp tục hoàn thiện môi trường vĩ mô liên quan đến tiến trình cổ phần

hóa doanh nghiệp nhà nước

3.1.1- Nâng cao năng lực pháp lý và hoàn thiện các cơ chế tài chính

cho quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước

3.2.2- Xác định giá trị doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hóa

3.1.3- Phát huy tác dụng của thị trường chứng khoán và các tổ chức

tài chính trung gian

3.1.4- Các chính sách hỗ trợ và ưu đãi đối với việc cổ phần hóa

doanh nghiệp nhà nước

3.2- Giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở

tỉnh Kiên Giang

3.2.1- Lựa chọn các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty

cổ phần

3.2.2- Củng cố và hoàn thiện hoạt động của Ban đổi mới quản lý

doanh nghiệp các cấp

3.2.3- Qui định tiến độ cổ phần hóa cho từng doanh nghiệp cụ thể

3.2.4- Công tác chuẩn bị của doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa

3.2.5- Các giải pháp bán cổ phần đối với doanh nghiệp cổ phần hóa

3.2.6- Các giải pháp hổ trợ

Kết luận

Phần phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 4

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định chủ trương cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước Điều đó đáp ứng quy luật phát triển cơ cấu kinh tế trong quá trình cải cách - đổi mới kinh tế trong tiến trình chuyển đổi

cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp qua một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Qua thời gian thực hiện thí điểm cổ phần hóa và giai đoạn cổ phần hóa đại trà đối với các doanh nghiệp nhà nước, đã cho thấy các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều hoạt động có hiệu quả hơn lúc còn là doanh nghiệp nhà nước Điều này đã chứng minh chủ trương cổ phần hóa là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; khai thác nguồn vốn tiềm tàng trong người lao động trong doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các dân cư; tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hình thức cổ phần; góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập với khu vực và thế giới

Kiên Giang là một tỉnh nằm phía Tây vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một vùng kinh tế quan trọng của cả nước Qua nhiều lần tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước từ năm 1990 trở về trước, toàn tỉnh có 209 xí nghiệp quốc doanh, trong đó có 139 doanh nghiệp đang hoạt động và 70 doanh nghiệp bị lỗ phải ngưng hoạt động (chủ yếu là doanh nghiệp cấp huyện) đến cuối năm 1999 còn 22 doanh nghiệp Tuy nhiên cho đến nay, Tỉnh chỉ mới có 1 doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần trong giai đoạn thí điểm (năm 1994) Điều này cho thấy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Tỉnh Kiên Giang rất chậm chạp và hầu như không thực hiện được theo yêu cầu đặt ra của Chính phủ cũng như của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh

Trang 5

Để nhằm tham gia phần nào công việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Kiên Giang, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Tỉnh Kiên Giang “

∴ Mục đích nghiên cứu : Với luận án này, tôi muốn làm rõ thêm một số vấn đề có tính lý luận và những vướng mắc gặp phải trong thực tiễn Để từ đó kiến nghị một số giải pháp cơ bản để cho quá trình cổ phần hóa của tỉnh Kiên Giang đạt được một số kết quả khả quan hơn hiện nay

∴ Phạm vi nghiên cứu : tập trung vào quá trình thực hiện cổ phần hóa ở Việt Nam và của Tỉnh Kiên Giang, những giải pháp chủ yếu gắn liền với chủ trương cổ phần hóa và các vấn đề khác có liên quan

∴ Phương pháp nghiên cứu của luận án :

- Phương pháp lý luận : dựa vào phép biện chứng duy vật và lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể : phân tích hiện trạng các doanh nghiệp nhà nước trong cả nước và trên địa bàn tỉnh từ trước đến nay để chứng minh chủ trương cổ phần hóa là đúng đắn để từ đó đề ra một số giải pháp cụ thể để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa

∴ Kết cấu luận án bao gồm :

Lời mở đầu

Chương 1 : Các lý luận chung về cổ phần hóa

Chương 2 : Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và của tỉnh Kiên Giang

Chương 3 : Một số giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tỉnh Kiên Giang

Kết luận

Phụ lục - tài liệu tham khảo

Trong thời gian nghiên cứu, tôi đã sử dụng số liệu từ niên giám thống kê, báo cáo của các ngành trong tỉnh Kiên Giang và các tài liệu có liên quan khác

Trang 6

CHƯƠNG 1 CÁC LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA

1.1- DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI:

1.1.1- Thực trạng quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước:

Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, chúng ta đứng trước một cơ hội mới để xây dựng và phát triển Tuy nhiên do những khó khăn khách quan và chủ quan như hậu quả nặng nề của chiến tranh, xuất phát điểm quá thấp của nền kinh tế, sự bất ổn trong quan hệ với các nước láng giềng, và nhất là những sai lầm trong các chính sách kinh tế nên đến năm 1985 nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Tính chung trong 10 năm (1976-1985) thu nhập quốc dân chỉ tăng bình quân mỗi năm 3,7% , giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp chỉ tăng bình quân mỗi năm 3,8%, còn giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng trung bình là 5,2%/năm Sản xuất tăng trưởng chậm và lạm phát đã tăng lên mức 3 con số, năm 1986 siêu lạm phát đạt tới đỉnh cao là 774,7% Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới kinh tế nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng và xác định động cơ chủ yếu của cải cách là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Công cuộc đổi mới nền kinh tế đã mang lại những thành tựu quan trọng, đưa nước

ta thoát khỏi khủng hoảng và tạo những tiền đề vững chắc cho sự phát triển

Cuộc cải cách kinh tế cho thấy vai trò của khu vực quốc doanh ngày càng quan trọng Trước năm 1986 khu vực quốc doanh chiếm 38% GDP thì đến năm

1998 chiếm 40,2% GDP, tốc độ tăng bình quân của khu vực quốc doanh trong những năm này là 10,5% trong khi khu vực ngoài quốc doanh chỉ tăng 6,1% Khi chuyển sang cơ chế hoạt động mới phần lớn các doanh nghiệp nhà nước đều thiếu vốn, kỹ thuật và lúng túng về phương thức hoạt động Chính vì thế, một trong những nội dung cơ bản trong cải cách khu vực quốc doanh là cơ cấu lại và

Trang 7

hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước Để thực hiện việc sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước, nhiều biện pháp đã được thực hiện như đăng ký lại doanh nghiệp, giải thể các đơn vị hoạt động yếu kém , cổ phần hoá các doanh nghiệp, tổ chức các tổng công ty Nhìn chung các biện pháp thực hiện đã có những kết quả nhất định Quá trình sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước tiến hành qua các giai đoạn chủ yếu sau:

Giai đoạn 1 : (trước năm 1990) tại đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) Đảng

đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và của thị trường Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bị phê phán triệt để, khẳng định doanh nghiệp chuyển sang hẳn hạch toán kinh doanh Trong thời gian này một số các chính sách đổi mới về xí nghiệp quốc doanh được ban hành như qui định tạm thời về quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở (Quyết định số 76/HĐBT ngày 26/6/1986); chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh XHCN đối với xí nghiệp quốc doanh (Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987)… Trong thời kỳ này các doanh nghiệp được thành lập trên một qui mô rộng lớn cả ở cấp quận huyện, và không có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp Trung ương và địa phương Đến cuối năm 1989 cả nước có 12.296 doanh nghiệp nhà nước, và đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp trong thời kỳ này là qui mô nhỏ, vốn ít và công nghệ lạc hậu Sự dàn trải của các doanh nghiệp làm cho nguồn vốn đầu tư của nhà nước không thể tập trung để phát triển cho các ngành trọng điểm dẫn tới sự thiếu hụt vốn thường xuyên Hơn nữa với cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp ít phát huy được tính sáng tạo và hoạt động một cách thụ động Từ sau đại hội Đảng lần thứ

VI, nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước và bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước thì các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cũng được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp

Trang 8

pháp Để có thể hoạt động một cách có hiệu quả và khẳng định vai trò nòng cốt của mình, các doanh nghiệp nhà nước cần phải có những cải cách mạnh mẽ và triệt để Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ra đời vào năm 1990 là các mốc quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Giai đoạn 2 (1990 - 1994) : Chủ yếu hướng vào việc tổ chức lại các doanh

nghiệp, giải thể các doanh nghiệp yếu kém, củng cố các doanh nghiệp có khả năng hoạt động tốt Chính phủ đã ban hành Nghị định 388/HĐBT, Quyết định 315/HĐBT và Chỉ thị 500/Ttg nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước đã làm giảm bớt đáng kể các doanh nghiệp nhà nước hoạt động yếu kém Nếu năm

1989 cả nước có 12.296 doanh nghiệp nhà nước thì đến năm 1995 còn lại 6.310 doanh nghiệp Trong số các doanh nghiệp bị mất đi có 35% là bị giải thể và 65% là sát nhập vào các doanh nghiệp khác Đa số các doanh nghiệp bị giải thể là các doanh nghiệp nhỏ, hoạt động không hiệu quả, và thua lỗ triền miên Việc tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước đã làm tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, đưa số doanh nghiệp thua lỗ từ 35% tổng số doanh nghiệp vào năm 1990 xuống còn 9,7% vào năm 1994, và đưa số doanh nghiệp có lãi từ 63,5% trong năm 1991 lên 78% trong năm 1995 so với tổng số doanh nghiệp Và lãi ròng trong khu vực này từ 3.275 tỷ đồng năm 1992 lên 7.157 tỷ năm 1994 và tăng 13.480 tỷ đồng trong năm 1995 Hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng tăng lên đáng kể, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đạt 19,2% và trên doanh thu đạt 5,55% trong năm

1995 Đổi mới các doanh nghiệp nhà nước còn làm giảm gánh nặng trợ cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp, tỷ lệ các khoản trợ cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nước giảm từ 8,5% GDP xuống 0,5% GDP trong khi đó đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vàøo GDP lại tăng từï 32% trong năm 1994 lên 42% trong năm 1995 Trong giai đoạn này, công tác đổi mới sắp xếp các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc tổ chức quản lý

Trang 9

và xây dựng cơ chế tự chủ cho doanh nghiệp, sáp nhập giải thể … để tạo ra một hệ thống hợp lý các doanh nghiệp cho nền kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thực hiện được Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn ở qui mô nhỏ, cơ cấu ngành vùng lãnh thổ chưa hợp lý

Giai đoạn 3 (1994 - nay) : Tiến hành sắp xếp tổng thể các doanh nghiệp

để tạo ra một hệ thống các doanh nghiệp nhà nước hợp lý và có hiệu quả, đảm nhận vai trò chủ đạo trong sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Trong thời gian này chính phủ đã thành lập 17 tổng công ty có qui mô quốc gia (Quyết định 91/ TTg) và 84 tổng công ty có qui mô nhỏ hơn (Quyết định 90/TTg) nhằm tập trung vốn, kỹ thuật để tăng cường sức cạnh tranh và định hướng chiến lược của nhà nước trong các ngành kinh tế quan trọng Các tổng công ty nhà nước này thu hút 1.750 doanh nghiệp nhà nước là thành viên hạch toán độc lập và phụ thuộc, chiếm khoảng 30% tổng số doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động và khoảng 70% doanh nghiệp do trung ương quản lý Các tổng công ty nhà nước hiện nay chiếm khoảng 80% sản lượng và vốn của khu vực doanh nghiệp nhà nước, có khả năng chi phối vào toàn bộ nền kinh tế Việt Nam

Qua ba đợt sắp xếp, số đầu mối doanh nghiệp nhà nước đả giảm hơn 50% (từ hơn 12.000 xuống còn khoảng 6000 doanh nghiệp, trong đó sát nhập 3.100 doanh nghiệp, giải thể 3.350 doanh nghiệp), nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫn phát triển ổn định Tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng từ 36,5% (năm 1991) lên 40,07% (năm 1998) Tỷ suất nộp ngân sách trên vốn Nhà nước tăng tương ứng từ 14,7% lên 27,89% Tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước năm 1993 là 6,8% và năm 1998 là 12,31% Năm 1999 đóng góp 40,2% GDP, trên 50% giá trị xuất khẩu, 39,25% tổng nộp ngân sách, trong đó thuế lợi tức hơn 14%

Trang 10

Việc sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước đã góp phần tác động nhất định đến quá trình tích tụ và tập trung vốn Vốn bình quân cho một doanh nghiệp cũng tăng từ 5,4 tỷ đồng (năm 1993) lên hơn 11 tỷ đồng (năm 1996) và hơn 18 tỷ đồng (năm 1998) Bằng những chính sách phù hợp đã giải quyết việc trợ cấp và tạo thêm việc làm mới cho phần lớn số lao động dôi dư của các đợt sắp xếp, bảo đảm được ổn định chính trị - xã hội

1.1.2- Những tồn tại và hạn chế của doanh nghiệp nhà nước :

Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước tuy có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn những tồn tại và hạn chế biểu hiện chủ yếu ở các mặt sau:

← Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước chưa cao và đang giảm dần, vẫn còn doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ, thậm chí có doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản Năm 1998, theo đánh giá chung, số doanh nghiệp thực sự có hiệu quả chiếm khoảng 40%, số doanh nghiệp không có hiệu quả, bị lỗ liên tục chiếm 20% (nếu tính đủ khấu hao tài sản cố định thì tỷ lệ này còn lớn hơn); còn lại 40% là những doanh nghiệp nằm trong tình trạng khi lỗ, khi lãi và lãi cũng chỉ là tượng trưng, nói chung là không có hiệu quả

↑ Tình hình công nợ của các doanh nghiệp nhà nước còn quá lớn Theo báo cáo của Ban đổi mơí doanh nghiệp Trung ương, năm 1996 tổng số nợ 174.797 tỷ đồng Năm 1999 lên tới 199.060 tỷ đồng Trong đó, nợ phải trả là 126.366 tỷ đồng và nợ phải thu là 72.644 tỷ đồng So với tổng số vốn toàn bộ doanh nghiệp, số nợ phải thu chiếm tới 62% và số nợ phải trả bằng 109%, trong khi khả năng thanh toán rất thấp, nợ quá hạn hoặc khó đòi chiếm tỷ lệ không nhỏ là gánh nặng đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước Trong ba năm 1997-1999, ngân sách nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp gần 8.000 tỷ đồng, trong đó 6.482 tỷ

Trang 11

đồng cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp, 1.464 tỷ đồng bù lỗ, hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước để giảm bớt khó khăn về tài chính Ngoài ra, từ năm 1996 đến nay, Nhà nước còn miễn giảm thuế 2.288 tỷ đồng, xóa nợ 1.088,5 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, cho vay tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ đồng Mặc dù nguồn vốn hỗ trợ lớn như vậy nhưng hoạt động kinh doanh ở nhiều doanh nghiệp nhà nước đã không đem lại hiệu quả tương ứng Số nộp vào ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước này ít hơn phần mà Nhà nước đã hỗ trợ Trên thực tế nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là gánh nặng cho ngân sách nhà nước

→ Cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn nhỏ về quy mô, còn dàn trải, chồng chéo theo cơ quan quản lý và ngành nghề Đến nay cả nước có 5.280 doanh nghiệp với tổng số vốn Nhà nước khoảng 106.892 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp 18,425 tỷ đồng Trong đó số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 65,45%, số doanh nghiệp có vốn hơn 10 tỷ đồng chỉ chiếm dưới 20,89% Tại các địa phương, hơn 30% số doanh nghiệp nhà nước có vốn dưới 1 tỷ đồng, đặc biệt có 6 tỉnh con số này tới trên 60%

↓ Trình độ công nghệ kỹ thuật của các doanh nghiệp nhà nước còn lạc hậu, trung bình trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nhà nước lạc hậu so với mặt bằng công nghệ thế giới là khoảng 20 năm Có những doanh nghiệp có trang thiết bị quá lạc hậu, cách nay gần 50 năm nhưng vẫn không được đổi mới Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nhà nước thuộc trung ương có tới 54,3% ở trình độ phổ thông 41% ở trình độ cơ khí và chỉ có 4,7% ở trình độ tự động hoá; trình độ công nghệ các doanh nghiệp nhà nước thuộc điạ phương trình độ còn thấp hơn Với trình độ công nghệ yếu kém nên năng suất lao động, chất lượng sản phẩm thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh kém và thua thiệt trong hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc tế

Trang 12

° Tình hình lao động thiếu việc làm và dôi dư đang là một khó khăn ảnh hưởng xấu đến quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước Tỷ lệ số lao động dôi dư bình quân trong các doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 6%; Tỷ lệ này ở nhiều doanh nghiệp nhà nước địa phương còn cao hơn - khoảng 27-33% Phần lớn người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước không được đào tạo hoặc đào tạo lại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Khi doanh nghiệp chuyển sang cơ chế tự chủ thì Nhà nước chưa có cơ chế giám sát về tuyển dụng lao động, trả công lao động và gắn với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên việc tuyển lao động ở nhiều doanh nghiệp còn rất tùy tiện Cơ chế chính sách hiện hành chưa làm cho doanh nghiệp giảm được số lao động dôi dư

± Từ những thực trạng nói trên cùng với những ảnh hưởng khách quan của nền kinh tế và bối cảnh hội nhập, cạnh tranh không thuận lợi trên thị trường khu vực và quốc tế, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước vốn đã thấp lại càng khó khăn hơn và đang có xu hướng giảm dần Nếu như tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp nhà nước từ năm 1997 về trước liên tục đạt 13% thì đến năm 1998 và đầu năm

1999 giảm xuống còn 8-9% Hiệu quả sử dụng vốn giảm Năm 1995, một đồng vốn nhà nước tạo ra được 3,46 đồng vốn doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận Năm

1998, các chỉ tiêu tương ứng chỉ đạt 2,9 đồng và 0,14 đồng Thậm chí trong ngành công nghiệp một đồng vốn chỉ làm ra được 0,024 đồng lợi nhuận

Nguyên nhân của tình trạng trên : là do chưa nhận thức thống nhất và

đầy đủ nội dung đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước; cơ chế chính sách nhất là trong lĩnh vực tài chính chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp nhà nước phát triển; còn sự chậm trễ trong việc thực hiện chủ trương cổ

Trang 13

phần hóa và đa dạng hóa sở hữu; cơ chế đào tạo, tuyển chọn và bổ nhiệm đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp còn nhiều bất cập

Từ những tồn tại và hạn chế nêu trên, đòi hỏi phải tiếp tục tổ chức sắp xếp lại sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế nhà nước nhằm đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước Trong đó việc thực hiện cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp quan trọng và cấp thiết đối với nước ta hiện nay

1.2- CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:

1.2.1- Các khái niệm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :

Cổ phần hóa là một thuật ngữ để nói lên quá trình chuyển đổi quyền sở hữu một công ty từ sở hữu một người sang sở hữu nhiều người bằng cách những người này bỏ tiền ra mua cổ phần của công ty cổ phần hóa và trở thành cổ đông của công ty Tuy nhiên trong thực tế khi nói đến cổ phần hóa người ta thường nghĩ đến quá trình chuyển đổi quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước thành công

ty cổ phần, ít ai nói đến việc chuyển doanh nghiệp tư nhân thành công ty cổ phần

Có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về việc định nghĩa cổ phần hóa Cụ thể : có ý kiến đồng nghĩa việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước với tư nhân hóa nền kinh tế quốc doanh và coi cổ phần hóa là công ty hóa xí nghiệp quốc doanh; có ý kiến khác cho rằng cổ phần hoáù doanh nghiệp nhà nước là nhằm xác định chủ sở hữu cụ thể đối với doanh nghiệp; một ý kiến khác cho rằng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thực chất là xã hội hóa các doanh nghiệp nhà nước

Khái niệm cổ phần hóa xuất hiện ở những nước chưa muốn tư nhân hóa một cách ồ ạt và triệt để, mà chỉ muốn giảm bớt một phần sở hữu của Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước nhằm cải thiện tình hình kinh tế trong nước Ở

Trang 14

những nước này, Nhà nước chủ trương bán một phần tài sản hoặc một số cổ phần nhất định trong một số doanh nghiệp quan trọng và vẫn nắm giữ một số cổ phần khống chế hoặc chuyển toàn bộ tài sản từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân đối với những doanh nghiệp không quan trọng, không ảnh hưởng quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Cổ phiếu thường được ưu tiên bán cho những người lao động trong doanh nghiệp, đồng thời cũng có những qui định ràng buộc sao cho không để một cá nhân hay một nhóm người nào có thể không chế hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, những nước này không dùng khái niệm tư nhân hóa mà họ gọi quá trình chuyển đổi sở hữu này là cổ phần hóa

Đối với nước ta, quan điểm của Nhà nước ta về khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không phải là chủ trương tư nhân hóa, mà cổ phần hóa chính là chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần; là hình thức chuyển đổi sở hữu đối với một phần tài sản của Nhà nước sang sở hữu nhiều thành phần nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2- Ý nghĩa của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :

a)- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Một hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường :

Trong nền kinh tế thị trường, cổ phần hóa được diễn ra như là một xu hướng mang tính khách quan :

- Trước hết, trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị tác động mạnh đến sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, buộc họ phải cải tiến sản xuất kinh doanh, giảm chi phí cá biệt thấp hơn chi phí xã hội để có thể tồn tại và phát triển Điều này chỉ những nhà tư bản lớn, có qui mô sản xuất ở mức độ nhất định mới có đủ khả năng tự thực hiện việc trang bị kỹ thuật hiện đại, làm năng suất lao động

Trang 15

tăng lên và giành thắng lợi trong cạnh tranh; còn những nhà tư bản nào có giá trị cá biệt cao hơn giá trị hàng hóa xã hội sẽ bị phá sản

Để tránh tình trạng bị phá sản, các nhà tư bản vừa và nhỏ có thể tự tích tụ vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, hiện đại hoá trang thiết bị và nâng cao năng suất lao động Tuy nhiên đây là một biện pháp rất khó khăn, đòi hỏi thời gian dài Một phương cách khác có hiệu quả hơn là các nhà tư bản sẽ thỏa hiệp và liên minh với nhau thông qua con đường tập trung vốn Từ hình thức tập trung vốn như vậy, các công ty cổ phần dần dần hình thành và phát triển mạnh mẽ

- Thứ hai, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật càng cao, đòi hỏi vốn mà một nhà tư bản phải có để có thể kinh doanh trong điều kiện bình thường ngày càng lớn Trong trường hợp này, các nhà

tư bản cũng phải liên minh với nhau Mặt khác do ngày càng xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới có hiệu quả hơn, thu hút các nhà đầu tư di chuyển vốn từ nơi kinh doanh kém hiệu quả sang nơi kinh doanh hiệu quả hơn; nhưng thực tế vẫn gặp khó khăn khi chuyển đổi, bởi vì không phải trong chốc lát mà họ có thể bỏ xí nghiệp cũ, thu hồi vốn để chuyển sang xây dựng xí nghiệp mới được Biện pháp khắc phục mà họ chọn là liên kết lại với nhau, cùng nhau góp vốn xây dựng xí nghiệp mới kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần

- Thứ ba, lực lượng sản xuất càng phát triển, cạnh tranh càng khốc liệt thì rủi ro trong kinh doanh, đe dọa phá sản đối với các nhà tư bản lớn; để giảm bớt rủi ro các nhà tư bản phải phân tán vốn của mình, bằng cách tham gia đầu tư ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều công ty khác nhau Với cách làm này, các nhà

tư bản vừa phân tán được rủi ro vừa huy động được nhiều người tham gia quản lý, tập trung được trí tuệ nên công ty cổ phần tự nó có thể hạn chế được rủi ro trong kinh doanh

Trang 16

Tóm lại, các công ty cổ phần được hình thành và phát triển mạnh mẽ là phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó trở thành mô hình sản xuất phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới

Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp nhà nước, lý do để cổ phần hóa có khác và do vậy cách thức tiến hành cũng khác

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, sau chiến tranh thế giới thứ II, các nước đua nhau thành lập các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là những nước xã hội chủ nghĩa và các nước theo mô hình Liên Xô (cũ) Nhưng đến năm 1970 thì đa số các nước đều nhận thấy : kinh tế quốc doanh hoạt động là kém hiệu quả, chứa đựng nhiều tiêu cực trì trệ Cho đến nay, ở những mức độ khác nhau, các nước đang tìm cách cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh, mà cổ phần hóa được coi là giải pháp quan trọng và phổ biến

Riêng ở nước ta, kinh tế quốc doanh ra đời gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước chuyên chính vô sản, được quản lý theo kiểu tập trung và được coi là hình thức quản lý tiên tiến Kinh tế quốc doanh lúc đó được coi là hình thức sở hữu đặc trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội và mang tính phổ biến trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Các quan niệm này đã dẫn đến việc phát triển ồ ạt và trên phạm vi rộng lớn các xí nghiệp quốc doanh, không tính đến khả năng thích hợp của nó trong từng ngành, từng lĩnh vực và do vậy hiệu quả kinh tế của các xí nghiệp quốc doanh hết sức thấp kém Do đó Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định chủ trương cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước Điều đó đáp ứng quy luật phát triển cơ cấu kinh tế trong quá trình cải cách - đổi mới kinh tế trong tiến trình chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp qua một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 17

b)- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế quốc doanh :

Đại hội VI của Đảng nhận định lại mô hình chủ nghĩa xã hội rút ra những bài học thành công và không thành công, nhìn nhận thực tế hơn sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, đặc biệt xem xét kỹ đời sống kinh tế xã hội đất nước đã khẳng định phải xóa bỏ chế độ bao cấp tập trung đối với kinh tế quốc doanh Sau đó Nghị quyết Trung ương 3 Đại hội 6 và quyết định của Hội đồng Bộ trưởng

1987 đặc biệt từ 1989 kinh tế quốc doanh mới thật sự chuyển sang cơ chế mới Tuy vậy tình hình sản xuất kinh doanh của kinh tế quốc doanh vẫn ở tình trạng vô cùng khó khăn Để thoát khỏi tình trạng khó khăn đang gặp phải cần có một hình thức tổ chức kinh tế mới cho các doanh nghiệp nhà nước mà hình thức cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một hình thức khả thi

Các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển thành công ty cổ phần sẽ có nhiều sở hữu bao gồm : Nhà nước, cán bộ công nhân viên đang làm việc trong doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và dân cư Thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của các công ty cổ phần, các thành phần này có quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích thực sự với kết quả hoạt động của công ty

Vì vậy, để đảm bảo quyền chủ sở hữu theo phần vốn đóng góp các cổ đông này tất yếu đòi hỏi phải có một cơ cấu tổ chức cũng như các qui định về pháp luật và điều lệ cho mỗi cổ đông phải hoạt động đúng theo những nguyên tắc theo luật định cùng những cam kết theo điều lệ Những đòi hỏi này của các cổ đông tất yếu sẽ dẫn đến sự khác nhau về tư cách giám đốc và bộ máy điều hành của công ty so với doanh nghiệp nhà nước - giám đốc có thể là người thay mặt Nhà nước tham gia vào việc quản lý công ty, nhưng với tư cách là một cổ đông được Hội đồng quản trị và được các cổ đông tín nhiệm cũng sẽ khác với vai trò một giám đốc trước đây được Nhà nước giao quyền sử dụng và làm việc với tư

Trang 18

cách là viên chức Nhà nước Đối với người lao động, cán bộ công nhân viên đang làm việc trong công ty do nắm giữ, sở hữu các cổ phần, trở thành những người chủ sở hữu đích thực của công ty và sẽ có quyền, trách nhiệm và lợi ích cụ thể, từ đó tạo điều kiện cho họ gắn bó thật sự với hoạt động của công ty

Như vậy, có thể nói công ty cổ phần Nhà nước đã tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu tổ chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật của mọi người làm việc trong công ty hơn Từ đó, cho phép công ty có thể khắc phục được những khó khăn nhiều mặt về vốn, về cải tiến kỹ thuật, về nâng cao năng suất, về chất lượng và hiệu quả hoạt động của công ty

1.2.3- Nội dung chủ yếu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay :

a)- Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước :

Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm các mục tiêu sau:

- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ thực sự; thay đổi phương thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước

b)- Tổ chức thực hiện chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần :

Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 111/1998/QĐ-TTg ngày 29/6/1998 thành lập ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương, do một Phó

Trang 19

Thủ tướng làm Trưởng ban, để giúp Thủ tướng Chính phủ tập trung nhiệm vụ đổi mới quản lý doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vào một đầu mối; ở các Bộ, địa phương, Tổng công ty 91 cũng thành lập Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp trực thuộc Bộ, địa phương, Tổng công ty 91

Chức năng nhiệm vụ của Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương trong công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như sau :

- Nghiên cứu tổng hợp trình Chính phủ chương trình kế hoạch sắp xếp cổ phần hóa và hướng dẫn kiểm tra kế hoạch này

- Thẩm định trình Chính phủ quyết định phương án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước do các Bộ, địa phương, Tổng công ty 91

- Phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng các văn bản quy phạm về sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và theo dõi thực hiện

- Phối hợp với các cơ quan có liên quan giải quyết các vướng mắc về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, theo dõi sơ tổng kết

Đối với các Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp các Bộ, địa phương, Tổng công ty 91, trong công tác cổ phần hóa có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hóa các đơn vị thuộc quyền quản lý, phù hợp với nhiệm vụ của Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương

Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ tổng hợp tổ chức 2 cuộc tập huấn cho khoảng 1.100 cán bộ thuộc các Bộ, địa phương và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa năm 1998 tại 2 miền Hai cuộc tập huấn đã đạt được yêu cầu quán triệt sâu sắc Nghị định số 44/1998/NĐ-

CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của các Bộ, của Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương đến tất cả các đối tượng đang tiến

Trang 20

hành cổ phần hóa Nhiều vấn đề vướng mắc đã được giải đáp ngay tại cuộc tập huấn Sau cuộc tập huấn các Ban Đổi mới quản lý doanh nghiêp của các Bộ, địa phương, Tổng công ty nói chung đã khẩn trương triển khai thực hiện kế hoạch về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi và trách nhiện của mình

c)- Những hình thức cổ phần hóa:

Tuỳ theo tình hình và yêu cầu cụ thể, các doanh nghiệp nhà nước có thể lựa chọn một trong bốn hình thức cổ phần hóa sau :

← Giữ nguyên giá trị phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu nhằm thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp Theo hình thức này thì giá trị cổ phần của Nhà nước góp vào công ty bằng giá trị thực tế vốn Nhà nước tại doanh nghiệp trừ đi chi phí cổ phần hóa, giá trị ưu đãi cho người lao động và giá trị phần trả dần của người lao động nghèo theo qui định của Nhà nước

↑ Bán một phần giá trị vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp Theo hình thức này thì Nhà nước sử dụng giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để bán cho các cổ đông

→ Tách một bộ phận doanh nghiệp để cổ phần hóa Theo hình thức này thì một bộ phận của doanh nghiệp có thể hoạt động độc lập và hạch toán riêng giá trị tài sản của bộ phận này được tách ra để cổ phần hóa (phân xưởng sản xuất, cửa hàng, bộ phận dịch vụ…)

↓ Bán toàn bộ giá trị hiện có tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần Theo hình thức này, nhà nước không tham gia cổ phần ở công ty cổ phần

d)- Xác định giá trị doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa:

Giá trị thực tế của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là giá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi đã trừ những khoản nợ phải trả

Trang 21

ι Việc xác định giá trị của doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hóa phải chú trọng đến cả 2 yếu tố cấu thành : giá trị hữu hình và giá trị vô hình

- Xác định giá trị tài sản hữu hình về cơ bản có hai bộ phận : giá trị thực tế toàn bộâ tài sản hiện có của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu cầu sử dụng của người mua tài sản, giá thị trường tại thời điểm cổ phần hóa và số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa Cụ thể xác định theo công thức sau :

Giá trị Số lượng thực Giá thị trường của Chất lượng

thực tế = tế của từng x tài sản tại thời điểm x còn lại của

tài sản tài sản xác định giá trị DN tài sản (%)

- Xác định giá trị vô hình bao gồm : lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị trí địa lý, uy tín mặt hàng (nếu có) Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận thực hiện tính trên vốn kinh doanh bình quân 3 năm trước khi cổ phần hóa Giá trị lợi thế nói trên chỉ tính tối đa 30% vào giá trị thực tế của doanh nghiệp Cụ thể xác định theo các công thức sau :

Tỷ suất lợi nhuận Tổng số lợi nhuận thực hiện của 3 năm liền kề

Bình quân 3 năm = –––––––––––––––––––––––––––––––––––– Của doanh nghiệp Tổng số vốn Nhà nước theo sổ kế toán 3 năm liền kề Tỷ suất Tỷ suất lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận bình quân chung của lợi nhuận = bình quân 3 năm - doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề siêu ngạch của doanh nghiệp trên cùng địa bàn (tỉnh, thành phố)

Giá trị lợi thế Vốn Nhà nước theo Tỷ suất

vào giá trị = sổ kế toán bình quân x lợi nhuận x 30%

doanh nghiệp của 3 năm liền kề siêu ngạch

Như vậy, trong thực tế sự kết hợp của hai phương pháp giá trị nêu trên hết sức linh hoạt, tùy thuộc vào những điều kiện thực tế và quan hệ cung cầu cụ thể đối với từng doanh nghiệp, phải xem xét đầy đủ hai yếu tố cấu thành này của giá trị doanh nghiệp để có sự kết hợp hai phương pháp xác định giá trị

Trang 22

Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa là tổng số các khoản: Tài sản cố định, tài sản lưu động là hiện vật được xác định qua kiểm kê; vốn bằng tiền; các khoản nợ phải thu đã đối chiếu; các khoản chi phí dở dang; các khoản ký cược ký quỹ ngắn hạn và dài hạn; tài sản đầu tư ngắn hạn và dài hạn; tài sản vô hình trên sổ sách và lợi thế kinh doanh

Công việc xác định giá trị của doanh nghiệp là một vấn đề khó khăn và phức tạp; tuy nhiên cũng không nên quá câu nệ vào trở ngại này mà làm chậm trễ tiến trình chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công ty cổ phần, để thích ứng kịp với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường của cả nước

ι Để xác định giá trị doanh nghiệp được chọn cổ phần hóa chính xác, trung thực và khách quan, doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các bước sau :

← Chuẩn bị tốt tài liệu :

hBáo cáo quyết toán 3 năm trước khi cổ phần hóa

hBáo cáo kiểm kê tài sản, hàng hóa …

hCác sổ sách kế toán của doanh nghiệp, hồ sơ giao vốn, tài liệu duyệt quyết toán hàng năm

↑ Thành lập Hội đồng xác định giá trị của doanh nghiệp do cơ quan tài chính làm Chủ tịch hoặc thuê cơ quan kiểm toán độc lập để xác định giá trị doanh nghiệp đến thời điểm cổ phần hóa

Sau khi xác định giá trị doanh nghiệp xong, báo cáo UBND Tỉnh hoặc Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 quyết định công nhận giá trị doanh nghiệp có mức vốn Nhà nước ghi trên sổ sách kế toán đến thời điểm cổ phần hóa từ 10 tỷ đồng trở xuống Trường hợp giá trị doanh nghiệp trên 10 tỷ sẽ do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định giá trị doanh nghiệp Để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, Bộ Tài chính nên giao quyền xác định giá trị các doanh nghiệp do địa phương quản lý cho UBND Tỉnh quyết định

Trang 23

e)- Quy trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần:

Thực hiện theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương hướng dẫn quy trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần tại công văn số 3395/VPCP-ĐMDN ngày 29/8/1998 có thể tóm tắt như sau :

Bước 1 - Chuẩn bị cổ phần hóa : Thành lập Ban đổi mới quản lý tại doanh

nghiệp nhằm thực hiện các nhiệm vụ như : chuẩn bị hồ sơ pháp lý khi thành lập doanh nghiệp; tình hình công nợ, tài sản, nhà xưởng, vật kiến trúc đang quản lý; vật tư hàng hóa ứ đọng, kém, mất phẩm chất và đề ra hướng giải quyết; danh sách lao động của doanh nghiệp đến thời điểm quyết định cổ phần hóa và dự kiến số lượng lao động được mua cổ phần theo giá ưu đãi của Nhà nước trả dần trong 10 năm; dự toán chi phí cổ phần hóa cho đến khi hoàn thành đại hội cổ đông lần thứ nhất

Bước 2 - Xây dựng phương án cổ phần hóa : Ban đổi mới quản lý tại doanh

nghiệp tiến hành thực hiện các công việc như : Tổ chức kiểm kê và phân loại tài sản, giải quyết những vướng mắc về tài chính và dự kiến giá thực tế của doanh nghiệp; xây dựng phương án cổ phần hóa và dự thảo điều lệ hoạt động của công

ty cổ phần; thống nhất với các cơ quan về xác định giá trị doanh nghiệp và thời hạn để hoàn thành việc xác định giá trị doanh nghiệp không quá 30 ngày

Bước 3 - Phê duyệt và triển khai phương án cổ phần hóa, gồm những nội

dung : Xét duyệt phương án cổ phần hóa; thông báo công khai tình hình tài chính của doanh nghiệp cho đến thời điểm cổ phần hóa; tổ chức bán cổ phần của doanh nghiệp cho các cổ đông; tổ chức đại hội cổ đông đại hội cổ đông lần thứ nhất

Bước 4 - Tổ chức ra mắt công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh

f)- Những ưu đãi của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :

Đối với số tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước :

Trang 24

Số tiền thu được từ việc bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

do Tỉnh quản lý sau khi trừ những chi phí cổ phần hóa do UBND Tỉnh sử dụng để:

- Đào tạo, đào tạo lại để giải quyết việc làm mới cho người lao động

- Trợ cấp cho số lao động dôi ra

- Bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước cần ưu tiên củng cố và đầu

tư cho doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa theo phương án được duyệt

Đối với doanh nghiệp được cổ phần hóa :

- Doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần là hình thức đầu tư mới, được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) Trường hợp những doanh nghiệp không đủ điều kiện hưởng ưu đãi theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước thì giảm 50% thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp) trong 2 năm liên tiếp kể từ sau khi chuyển sang hoạt động theo Luật công ty

- Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thành sở hữu của công ty cổ phần

- Được tiếp tục vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các tổ chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế và lãi suất như áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước

- Được tiếp tục xuất nhập khẩu hàng hóa theo các chế độ quy định hiện hành như đối với doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa

- Các khoản chi phí thực tế, hợp lý và cần thiết cho quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần được trừ vào tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước theo mức quy định của Bộ Tài chính Trường hợp cổ phần hóa theo hình thức giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát

Trang 25

hành cổ phiếu thu hút vốn để phát triển doanh nghiệp thì được sử dụng vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp để trang trải

Đối với người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa được hưởng một số ưu đãi theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP như sau :

- Đối với người lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa Nhà nước cho phép thực hiện chế độ mua chịu số cổ phiếu tuỳ theo thâm niên và chất lượng công tác của từøng người Một năm công tác được mua tối đa 10 cổ phần (giá trị 1 cổ phần bằng 100 ngàn đồng) với mức giảm giá 30% Tổng giá trị ưu đãi cho người lao động không quá 20% tổng giá trị vốn Nhà nước tại doanh nghiệp Những doanh nghiệp có vốn tự tích lũy từ 40% giá trị doanh nghiệp trở lên ,thì tổng giá trị ưu đãi không quá 30% tổng giá trị vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

- Người lao động nghèo trong doanh nghiệp được mua cổ phần theo giá ưu đãi thì được hoãn trả trong 3 năm đầu để hưởng cổ tức và trả dần tối đa trong 10 năm không phải chịu lãi suất Số cổ phần mua trả dần dành cho người lao động nghèo không được vượt quá 20% tổng số cổ phần Nhà nước bán theo giá ưu đãi

- Trước khi cổ phần hóa, doanh nghiệp được quyền chủ động sử dụng quỹ khen thưởng và phúc lợi để chia cho người lao động đang làm việc (được miễn đóng thuế thu nhập) để mua cổ phiếu Được duy trì và phát triển quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật như : các công trình văn hóa, câu lạc bộ, bệnh xá… để đảm bảo phúc lợi cho người lao động của công ty cổ phần Những tài sản này thuộc sở hữu tập thể người lao động do vậy công ty cổ phần thực hiện quản lý dưới sự tham gia của tổ chức công đoàn

1.3- KINH NGHIỆM QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI :

1.3.1- Chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc :

Trang 26

Cải cách kinh tế ở Trung Quốc được coi là một hiện tượng đặc biệt trong thực tế của kinh tế thế giới Trong các mô hình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, kinh tế Trung Quốc không hề có sự đình trệ trong sản xuất, không có sự lộn xộn về mặt xã hội Sau hơn 20 năm tiến hành cải cách kinh tế, mặc dù kinh tế Trung Quốc vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi sự lạc hậu, song đã làm thay đổi cơ bản bộ mặt của đất nước rộng lớn này, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới

Từ năm 1993 đến năm 1997, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm hàng loạt biện pháp trong chương trình cải cách cơ cấu của doanh nghiệp nhà nước Đó là :

← Phân loại để tìm ra 1.000 xí nghiệp Nhà nước quan trọng nhất có đủ khả năng tài chính và có áp dụng các tiêu chí tài chính - kế toán quốc tế 300 xí nghiệp trong số 1.000 xí nghiệp này sẽ được đưa vào danh sách được ngân sách Nhà nước tài trợ nhằm kiểm tra xem các xí nghiệp này có những khoản nợ gì, những khoản thất thoát nào, ai chịu trách nhiệm, hoặc do lỗi của ngân hàng hay

do thiếu nguồn ngân sách

↑ Chọn ra 100 xí nghiệp hàng đầu trong các ngành công nghiệp khác nhau để làm hình mẫu cho việc hiện đại hoá

→ Thành lập các tập đoàn công nghiệp lớn theo ngành

↓ Thành lập 57 tổ hợp công nghiệp lớn trên cơ sở các xí nghiệp đặc biệt

° Tiến hành thử ở 18 thành phố việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc sáp nhập, cho phá sản để hình thành các xí nghiệp mới

Nhằm củng cố khả năng tài chính của các xí nghiệp quốc doanh từ năm

1994, Trung Quốc đã áp dụng mức thuế lợi tức đối với tất cả các xí nghiệp là 33% (so với 55% trước đó) Đối với các xí nghiệp có lãi suất thấp trong 2 năm sẽ được hưởng mức thuế lợi tức ưu đãi là 27% và 18% Ngoài ra 15% tổng mức thu

Trang 27

thuế nói trên sẽ được để lại cho các xí nghiệp này để tăng nguồn vốn lưu động của xí nghiệp Việc cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho các xí nghiệp quốc doanh

Từ giữa năm 1996, Trung Quốc thi hành hàng loạt biện pháp xoá nợ cho các xí nghiệp quốc doanh, thành lập các qũy tài chính đặc biệt để theo dõi nợ dựa trên cơ sở tín chấp, chia nợ của xí nghiệp thành “nợ cũ” và “nợ mới” để có cách giải quyết riêng, chấp nhận cho phá sản nhiều hơn các xí nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ quá nhiều Còn một cách khác khá sâu rộng đó là : bán các xí nghiệp quốc doanh nhỏ để trả nợ cho các xí nghiệp quốc doanh lớn, bán quỹ nhà của Nhà nước hoặc đất đai của Nhà nước để trả nợ Công nhân ở các xí nghiệp bị phá sản sẽ được hưởng trợ cấp dành cho người thất nghiệp

Việc cổ phần hoá các xí nghiệp ở Trung Quốc cũng diễn ra khá mạnh mẽ Nếu như năm 1993 chỉ có 3.800 xí nghiệp cổ phần thì tới năm 1995 con số này đã là 5.049 xí nghiệp Các các xí nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần đã được tự chủ hơn, được điều hành bằng các phương pháp hiện đại, hiệu quả hơn; có nhiều khả năng thu hút đầu tư nước ngoài; có các điều kiện xuất phát tốt hơn về thiết bị, nhân lực vì chỉ các xí nghiệp khá nhất mới được cổ phần hoá

Qua quá trình thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước mặc dù đã có những thành tựu nhất định nhưng tính đến cuối năm 1997, các doanh nghiệp nhà nước thuộc diện làm ăn thua lỗ vẫn chiếm tới 45%, hàng loạt các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ đóng cửa Trong thời gian đó, khủng hoảng khu vực lan rộng và gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước, áp lực phải hội nhập quốc tế ngày càng gay gắt Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã đưa ra chương trình cải cách 3 năm (1998 - 2000) nhằm đưa các doanh nghiệp nhà nước cơ bản thoát khỏi khó khăn, tiến tới xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại

Trang 28

Những giải pháp cơ bản để thực hiện chương trình cải cách đó là:

- Phân loại và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước : Trong số 370.000 doanh nghiệp nhà nước chia thành 3 loại : loại thứ nhất gồm 1000 doanh nghiệp lớn thuộc các ngành then chốt như quốc phòng, giao thông vận tải, thông tin viễn thông, năng lượng, luyện thép… ; loại thứ hai gồm 13.000 doanh nghiệp vừa; loại thứ ba gồm trên 300.000 doanh nghiệp nhỏ Trong số 1000 lớn, Nhà nước chỉ nắm

512 doanh nghiệp then chốt còn lại áp dụng chế độ công ty cổ phần (Nhà nước nắm cổ phần khống chế 51%); còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bên cạnh việc bán, giải thể, phá sản… thì việc cổ phần hóa và sát nhập là hai biện pháp chủ yếu được áp dụng để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc cho phép bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài với mức khống chế từ 30% - 50% cổ phần của công ty với cùng một giá với nhà đầu tư trong nước

- Xử lý mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng bằng các biện pháp chuyển số nợ ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước thành cổ phần, giảm lãi suất ngân hàng nhằm giảm chi phí cho các doanh nghiệp

- Xử lý thất nghiệp bằng các giải pháp như : xây dựng các trung tâm tái tạo việc làm bảo đảm mức sống cơ bản cho công nhân bị sa thải cùng việc tìm kiếm việc làm cho họ; ưu đãi, hỗ trợ về các mặt tài chính, thuế, tiền tệ cho những công nhân tự nguyện chuyển ngành hoặc tự tìm kiếm việc làm cho mình sau khi bị sa thải khỏi doanh nghiệp; thực hiện cho về hưu đối với những cán bộ đến tuổi; phát triển khu vực dịch vụ nhằm thu hút công nhân viên chức dôi dư…

1.3.2- Sơ lược về quá trình chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhà nước ở các nước phát triển, các nước thuộc châu Mỹ La tinh và Đông Âu :

Chương trình tư nhân hóa và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của các nước trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, sôi động ngay từ đầu thập kỷ 80 và bắt đầu từ nước Anh, sau đó lan rộng ra hầu hết các nước công nghiệp phát triển và đang

Trang 29

phát triển Chỉ tính từ tháng 10/1979 đến năm 1988, Chính phủ Anh đã bán ra 22,25 tỷ USD cổ phần Nhà nước trong các ngành hàng không, bưu chính viễn thông, gang thép, khí than, đóng tàu và sản xuất hàng quân sự hoàng gia… Tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm do các doanh nghiệp nhà nước cung cấp giảm từ 11% năm 1979 xuống còn 6,5% năm 1998

Tiếp đó đến Pháp và Mỹ, từ năm 1986 đến 1991, Chính phủ Pháp đã ban hành 66 doanh nghiệp và ngân hàng cho tư nhân với tổng giá trị tài sản là 275 tỷ France, còn Chính phủ Mỹ đã bán 52 tỷ USD tài sản Nhà nước bao gồm tài sản của các ngành điện lực, sản xuất thiết bị dầu mỏ, thám không, bất động sản và cơ sở dịch vụ thuộc Chính phủ liên bang

Cùng thời điểm đó Chính phủ của các nước Mỹ La tinh và vùng Caribê đã thực hiện cổ phần hóa và tư nhân hóa hơn 2000 doanh nghiệp nhà nước gồm các ngân hàng, hải cảng, hãng hàng không, các xa lộ, các cửa hiệu bán lẻ, các công trình tiện ích công cộng và công ty bảo hiểm Trong đó Chi Lê và Mexico là những nước dẫn đầu, sau đó là Achentina Cụ thể :

Chi Lê : đã chuyển đổi sở hữu cho hơn 90% các doanh nghiệp nhà nước của mình, hơn 500 doanh nghiệp từ 1979-1988, với mục tiêu tối đa hóa thu nhập cho Nhà nước, giảm biên chế Nhà nước, mở rộng quan hệ sở hữu…

Mexico : từ năm 1982 đến đầu năm 1990, nước này đã cổ phần hóa và tư nhân hóa 750 trong tổng số 1155 doanh nghiệp nhà nước Kết quả là thu được khoảng 17 tỷ USD từ việc bán 12 ngân hàng và công ty điện thoại Telmex Đến cuối năm 1992, chính phủ nước này hy vọng cổ phần hóa tiếp 6 ngân hàng còn lại, công ty bảo hiểm Mexico, các nhà máy sản xuất phân bón, đồng thời xét tới việc lôi kéo tư nhân vào xây dựng cơ sở hạ tầng

Achentina : sau nhiều thập kỷ quốc hữu hóa mạnh mẽ, nước này đã đưa ra một chương trình cổ phần hóa công ty hàng không quốc gia và công ty độc quyền

Trang 30

điện thoại của Nhà nước, nhằm giải quyết một phần trong chương trình thanh toán nợ quốc gia Kết quả của việc cổ phần hóa này là đã giảm bớt được nợ nước ngoài 7 tỷ USD Chính phủ Achentina cho xúc tiến một chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước từ năm 1989 bằng việc tổ chức lại, tư nhân hóa và giải thể các doanh nghiệp nhà nước cả trong lĩnh vực dân sự và quốc phòng Nhà nước đã bán toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp nhà nước trong các ngành viễn thông, dầu khí, đường sắt, hàng không, hóa dầu, bất động sản… với mục tiêu tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân, giảm trợ cấp từ ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nước

Brazil : chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của nước này được tiến hành chậm hơn với nhiều khó khăn ban đầu, nhưng cũng đạt được kết quả bắt đầu bằng việc bán công ty sắt thép khổng lồ Usiminas với giá 1,4 tỷ USD vào tháng 10/1991

Đối với các nước Đông Âu, phong trào cổ phần hóa và tư nhân hóa được phát động ngay từ những năm đầu của thập kỷ 90, và hiện nay vẫn đang được tiếp diễn khá sôi động (đặc biệt là các nước Liên Xô cũ, Tiệp Khắc, Hunggari, Đức, Ba Lan…)

Liên bang Nga : chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước liên quan tới hơn 70 doanh nghiệp lớn vẫn chưa tiến triển được bao nhiêu Các nổ lực

tư nhân hóa hãng Rosnep (dầu khí) đều không thành công Trong năm 1999, Nga đã tư nhân hóa được 2,5% Gazprom, 25% Svyanzinvest và 9% Lukoil

Bungari : đến tháng 9/1997, có 20% tài sản nhà nước được tư nhân hóa, trong khi đó ở Rumani, cũng đến thời điểm đó, chỉ có 16,5% tài sản nhà nước được tư nhân hóa chiếm 44,5% số doanh nghiệp được đưa vào diện tư nhân hóa Tuy nhiên từ đầu năm 1998 đến gần hết năm 1999 thì chương trình tư nhân hóa

Trang 31

các doanh nghiệp nhà nước lớn bị trì hoãn cho đến năm 2000 chỉ mới bắt đầu tiếp tục thực hiện

Ba Lan : trong 6.786 doanh nghiệp nhà nước được liệt kê năm 1990, có 1.886 doanh nghiệp nhà nước được tư nhân hóa đến cuối năm 1997, chiếm 28% Tuy nhiên 2/3 tài sản ngành ngân hàng vẫn nằm trong tay 12 ngân hàng quốc doanh lớn Đến cuối năm 1998 các doanh nghiệp nhà nước lớn như TPSA, BPH, tập đoàn Pekao đã hoàn thành việc tư nhân hóa Nhà nước Ba Lan đang có ý định đến cuối năm 2001 sẽ hoàn thành cơ bản việc tư nhân hóa các doanh nghiệp lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở hạ tầng, mỏ, tài chính…

Công hóa Séc : cuối năm 1996 có 2/5 số người được phát cổ phiếu đã bán lại cho các quỹ đầu tư Tuy nhiên các quỹ này lại do ngân hàng thương mại trực thuộc Ủy ban quốc gia công sản kiểm soát Như vậy việc tư nhân hóa ở Cộng hòa Séc thực chất là việc chuyển từ sở hữu Nhà nước sang sở hữu của các cơ quan do Nhà nước sở hữu Ngoài ra, cần nhấn mạnh rằng 50% các vụ tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước lớn là theo phương thức phân phối cổ phần không mất tiền cho công chúng, và các doanh nghiệp được tư nhân hóa là các doanh nghiệp kém hiệu quả nhất

Hungari : trong 1.848 doanh nghiệp nhà nước thuộc diện tư nhân hóa, chỉ có hơn một nửa số doanh nghiệp được tư nhân hóa ở mức 50% Và những cổ phần của Nhà nước là những cổ phần đặc biệt cho phép nó có những quyền hạn rất lớn trong hội đồng quản trị của các doanh nghiệp được cổ phần hóa

1.3.3- Những đặc điểm chung của quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới :

Qua thực tiễn tư nhân hóa và cổ phần hóa ở một số nước trên thế giới cho thấy, ở mỗi quốc gia khi tiến hành tư nhân hóa hay cổ phần hóa đều đặt ra cho

Trang 32

mình những mục tiêu phát triển kinh tế - chính trị nhất định, kết quả thu được của quá trình cổ phần hóa ở mỗi quốc gia đều có những thành công và những vướng mắc khác nhau, nhưng đều có những điểm giống nhau về mục tiêu, hình thức và đều phải có sự trợ giúp của chính phủ để đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống cơ chế chính sách về tài chính đã áp dụng khi tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp này

a)- Về mục tiêu :

- Hầu hết các nước đều xác định mục tiêu chính của chương trình tư nhân hóa hoặc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

- Giảm thiểu số doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, tối đa hóa các đơn

vị làm ăn có lãi và tối đa hóa các khoản thu nhập cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội khác

- Chuyển giao một số lĩnh vực, ngành nghề mà khu vực kinh tế khác có thể đảm nhận, giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách, tạo điều kiện để Ngân sách Nhà nước giảm bớt thâm hụt và cân đối khả năng thanh toán nợ nước ngoài

- Phát triển các thị trường vốn trong nước

b)- Về căn cứ lựa chọn :

Hầu hết các quốc gia tiến hành chuyển đổi sở hữu như : Chi Lê, Jamaica, Mêhicô, Philipin, Ba Lan, Togo và Anh đều bắt đầu từ việc bán các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu quả hoạt động trong các lĩnh vực cạnh tranh Các loại doanh nghiệp này có thể cần phải tư nhân hóa nhanh chóng nhằm đưa tài sản của mình vào sản xuất Người Mêhicô cho đây là bài học thành công vì họ coi bán doanh nghiệp nhỏ là để học tập kinh nghiệm, giảm rủi ro đến mức thấp nhất

Nếu xét về lĩnh vực thị trường thì lĩnh vực đầu tiên được cải cách là lĩnh vực có thị trường đang và sẽ hoạt động tốt, nơi mà các doanh nghiệp nhà nước

Trang 33

chịu sự cạnh tranh trực tiếp của kinh doanh tư nhân nhưng Nhà nước không có lợi thế về quản lý như : khách sạn, vận tải bằng tàu thuyền loại nhỏ, vận tải ô tô, tiệm giặt là… tiếp đó mới đến những doanh nghiệp hoạt động trang các lĩnh vực có khó khăn hơn về mặt thị trường, những lĩnh vực trước đây Nhà nước còn độc quyền hoặc tư nhân chưa có đủ điều kiện để tham gia

Nhìn chung, việc xem xét nên bắt đầu cải cách từ đâu phụ thuộc vào mối quan tâm của nhà đầu tư, khả năng của chính phủ, và dù lựa chọn ngành nào, đều phải có sự đầu tư mới và thay đổi phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

c)- Về cơ quan chủ trì cổ phần hóa :

Các nghiên cứu điển hình cho thấy : cần thiết phải có một cơ quan độc lập và chịu trách nhiệm chính về việc nắm giữ cổ phần của Nhà nước ở các doanh nghiệp và thực hiện cổ phần hóa những doanh nghiệp có đủ điều kiện Chính phủ các nước có chương trình cổ phần hóa thành công thường giao cho Bộ Tài chính hoặc Bộ Ngân khố chủ trì việc tổ chức thực hiện cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp nhà nước thông qua một cơ quan quản lý tài sản hoặc một công

ty tài chính của Nhà nước Công ty này được giao nắm giữ cổ phần Nhà nước ở các doanh nghiệp và đứng ra tổ chức thực hiện các chương trình cổ phần hóa và

tư nhân hóa đối với các doanh nghiệp Với cách thức tổ chức trên, chương trình cổ phần hóa sẽ được nhất quán, rõ ràng với sự tham gia của đông đảo nhân dân trong nước, hạn chế tối đa sự lạm dụng hoặc khả năng tổn thất cho Nhà nước

d)- Các giải pháp kích cầu và tạo cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển thị trường vốn trong nước :

Bên cạnh việc mở rộng đối tượng bán, để đảm bảo sự công bằng và tạo điều kiện cho các công dân trong nước có thể tham gia chương trình cổ phần hóa, kích thích thị trường vốn trong nước phát triển, chính phủ của nhiều nước đã thực

Trang 34

hiện chính sách hỗ trợ vốn ban đầu cho người lao động trong doanh nghiệp cũng như các công dân đã đến tuổi trưởng thành dưới các hình thức cho không một phần giá trị doanh nghiệp, cấp số ngân phiếu, biên lai chứng chỉ mua cổ phần… để xác lập quyền mua cổ phần cho các đối tượng

Đồng thời để thúc đẩy việc bán từng phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp nhà nước, chính phủ các nước đều có những chính sách lãi suất, chính sách tài chính đúng, mở rộng thị trường mua, bao gồm cả bán cho người nước ngoài và việc chuyển nợ thành vốn đầu tư làm tăng thành phần tham gia vào doanh nghiệp, giải quyết khó khăn về vốn đối với doanh nghiệp Nhờ chuyển hoán như vậy, Achentina, Chilê, Philipine đã lôi kéo được các nhà đầu tư nước ngoài và các ngân hàng thương mại tham gia vào doanh nghiệp, và bằng cách đó đã giảm được tỷ lệ nợ trên vốn

e)- Về thể thức bán cổ phần (hay kỹ thuật phân bổ cổ phiếu) :

Về cơ bản, phương án phát hành cổ phiếu tại các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi sở hữu ở các nước được chia thành các phần như sau :

+ Một phần để thực hiện chính sách ưu đãi của Nhà nước cho người lao động trong doanh nghiệp

+ Một phần Nhà nước giữ lại để giữ vai trò chi phối hoặc tạo điều kiện để thực hiện các mục tiêu chính đặt ra khi chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp

+ Một phần bán cho các đối tượng bên ngoài

Thông thường việc bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp được thực hiện thông qua hoạt động đăng ký với cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức bán cổ phiếu, gắn với việc thực hiện các chính sách ưu đãi về giá, về tài chính

Đa số các nước áp dụng phương pháp đấu giá để bán cổ phiếu cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp thông qua các công ty quản lý tài sản, quỹ tài sản Nhà

Trang 35

nước, hay các công ty tài chính và công ty chứng khoán Một số nước dành phần vốn Nhà nước giữ lại để bán đấu thầu cho các nhà đầu tư chiến lược, tạo điều kiện để thực sự thay đổi phương thức quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã xác định cho hoạt động chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp

Trong mọi trường hợp, việc bán doanh nghiệp nhà nước phải minh bạch, công khai

f)- Những giải pháp cơ cấu lại và tăng cường mức độ hấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư :

Trước khi thực hiện chuyển đổi sở hữu cần giải quyết các vướng mắc về tài chính và thực hiện các biện pháp sắp xếp lại đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không có hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp

Kinh nghiệm chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhà nước nhỏ và vừa có tính cạnh tranh có thể và cần được bán một cách nhanh chóng thông qua đấu thầu cạnh tranh mà không cần phải cơ cấu lại nhiều Tuy nhiên việc bán một doanh nghiệp lớn yêu cầu phải có sự chuẩn bị đáng kể :

- Cần có biện pháp giải quyết các khoản nợ dây dưa, khả năng thanh toán thấp vì người mua không muốn nhận các khoản nợ này, còn chính phủ lại không muốn bỏ thêm tiền để thanh toán hộ doanh nghiệp

- Việc loại bỏ những tài sản, các dự án đầu tư không hiệu quả, theo các mệnh lệnh hành chính ở các doanh nghiệp nhà nước trong các thời kỳ trước là một yêu cầu chính đáng của các cổ đông tương lai, chính phủ với vai trò là người chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp phải giải quyết vấn đề này trước khi thực hiện chuyển đổi sở hữu

Trang 36

- Doanh nghiệp nhà nước còn có trách nhiệm lớn về mặt môi trường, đặc biệt đối với các nước Đông Âu, Trung Á Các chất thải không thích hợp cần được giải quyết trước khi bán và là điều kiện bán doanh nghiệp đối với người mua

- Giải quyết vấn đề lao động : người mua không chấp nhận kế thừa và giải quyết lao động dôi dư, do đó chính phủ cần có biện pháp đồng bộ bảo đảm về mặt xã hội, chẳng hạn như đào tạo lại, trả trợ cấp thôi việc và bảo hiểm thất nghiệp…

Sự phản đối của lực lượng lao động đối với quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước là điều khá phổ biến, dễ hiểu và đôi khi gay gắt, nhưng nó sẽ dịu đi khi người lao động hiểu được rằng doanh nghiệp của họ chỉ có một trong hai con đường : hoặc là giải thể hoặc là phải thực hiện việc chuyển đổi sở hữu để thay đổi phương thức quản lý và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Việc trả trợ cấp trọn gói thôi việc ở mức hợp lý đã làm giảm đi sự đối nghịch và tạo nên một cơ chế đảm bảo xã hội Ở Tuynidi, việc Chính phủ thực hiện chính sách trả trợ cấp trọn gói thôi việc tương đối cao làm cho nhiều người lao động tự nguyện ủng hộ tư nhân hóa (90% số lao động dôi dư) đến mức chẳng cần sự thải hồi công khai Nhiều nước như Achentina, Chilê, Jamaica, Ba Lan, Pakistan, Srilanka đã dành 5 - 20% cổ phần cho công nhân viên doanh nghiệp với giá giảm và được cấp tín dụng với các điều kiện thuận lợi

g)- Đánh giá và định giá doanh nghiệp :

Cách tốt nhất là để cho thị trường quyết định giá bán doanh nghiệp thông qua đấu thầu cạnh tranh, đặc biệt đối với những doanh nghiệp nhỏ và vừa như Chilê, Hungari, Đông Đức, Mêhicô và Tuynidi đã làm

Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, việc xác định giá bán doanh nghiệp thường được thực hiện bằng nhiều phương pháp để có thể kiểm tra mức độ hợp lý

Trang 37

của giá sàn, trên cơ sở đó tổ chức đấu thầu (kèm theo những điều kiện nhất định để thu hút các cổ đông chiến lược) và đấu giá trên thị trường để có được phương án chuyển đổi sở hữu tối ưu Nhìn chung, việc định giá doanh nghiệp có quy mô lớn đều khó khăn, nhất là đối với những nước đang phát triển

Qua tìm hiểu, có thể thấy những phương pháp thường được dùng để đánh giá tài sản và doanh nghiệp hiện nay là : Phương pháp xác định theo giá thành tài sản (phương pháp chi phí), Phương pháp giá trị tài sản thuần (NAY), Phương pháp thu nhập (phương pháp lợi nhuận), Phương pháp so sánh trực tiếp (giá thị trường hiện hành), Phương pháp thặng dư, Phương pháp đấu giá, Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) Mỗi phương pháp có thể thích ứng với một loại hình doanh nghiệp hoặc một loại tài sản nhất định, nhưng thông thường người ta vẫn sử dụng các phương pháp khác để kiểm tra lại mức độ hợp lý của phương án giá đã được xác định, dự kiến phương án phát hành cổ phiếu để tiến hành đấu thầu hoặc đấu giá với phần cổ phiếu bán ra ngoài…

CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP

NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA VÀ TỈNH KIÊN GIANG

2.2- TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA :

Trang 38

2.2.1- Các Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, để thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về đổi mới doanh nghiệp

Những vấn đề có tính nguyên tắc và là quan điểm của Đảng và Nhà nước về cổ phần hóa như sau :

- Xuất phát từ đường lối chung, chuyển nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần sang hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thực trạng yếu kém của kinh tế quốc doanh hiện nay, nên Đảng và Nhà nước đã coi cổ phần hóa là một trong những giải pháp để tiếp tục cải cách và củng cố khu vực kinh tế Nhà nước

- Cùng với chính sách kinh tế mở, thương mại hóa và luật pháp hóa, với việc “cổ phần hóa” các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp, cũng như của nền tài chính quốc gia

- Bằng những biện pháp và chính sách thỏa đáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước chủ động, sáng tạo, phát huy được hiệu quả hoạt động tích cực nhất trong môi trường kinh tế theo cơ chế mới

Từ các quan điểm nêu trên, chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước lần đầu tiên được nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 11/1991), được cụ thể hóa tại Nghị quyết Đại hội giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), Nghị quyết 10/NQ/TW ngày 17/3/1995 Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7/1996), Thông báo số 63-TB/TW ngày 4/4/1997 của Bộ Chính trị và Nghị quyết

Trang 39

Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 1/1998) thì chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được khẳng định rõ hơn

Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng được đề cập trong Nghị quyết kỳ họp thứ X Quốc hội khóa VIII ngày 26/12/1991 và Nghị quyết kỳ họp thứ IV Quốc hội khóa IX (tháng 12/1993)

Để thực hiện nghị quyết của Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các văn bản sau đây phục vụ cho việc thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phù hợp với từng giai đoạn của chương trình cổ phần hóa

ở nước ta

2.2.2- Quá trình triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :

a)- Giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (1991-1995) :

Thực hiện Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) về tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và Chỉ thị 84/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/3/1993 về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và các giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước Trong giai đoạn này có 05 doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần là :

- Công ty Đại lý liên hiệp vận chuyển, thuộc Bộ GTVT (10/1993)

- Công ty Cơ điện lạnh, thuộc UBND Thành phố Hồ Chí Minh (10/1993)

- Xí nghiệp Giầy Hiệp An, thuộc Bộ Công nghiệp (1994)

- Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩu, thuộc UBND tỉnh Long An (1995)

- Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1995)

b)- Giai đoạn cổ phần hoá mở rộng (1996 đến nay) :

Trang 40

Trên cơ sở đánh giá các ưu điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí điểm cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996 về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần Từ khi có Nghị định này đến tháng 6/1998 đã có 25 doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần Như vậy từ 1992 đến tháng 9/1998 cả nước mới có 30 doanh nghiệp đã hòan thành cổ phần hóa Ngoài ra có hơn 178 doanh nghiệp đang chuẩn bị triển khai ở các bước khác nhau

Đến ngày 29/6/1998, Nghị định 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần được ban hành bao gồm những cải tiến, đổi mới khá căn bản về cơ chế, chính sách cổ phần hóa theo hướng mở rộng ưu đãi, tạo thêm thuận lợi, đơn giản hóa thủ tục, quan tâm nhiều đến chính sách xã hội đối với người lao động

Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương chỉ đạo đẩy mạnh công tác đổi mới và cổ phần hóa với nhiều biện pháp cụ thể và đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa Tính đến ngày 15/9/2000 cả nước đã có 475 doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần, trong đó năm 1999 đã cổ phần hóa được 230 doanh nghiệp, 9 tháng đầu năm 2000 đã cổ phần hóa được 105 doanh nghiệp Nhiều Bộ ngành, địa phương đã hăng hái hưởng ứng chủ trương cổ phần hóa trong đó có một số Bộ, địa phương chỉ đạo thực hiện tích cực và có kết quả đó là : Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Nam Định, Thanh Hóa, Bình Định, Lâm Đồng, đặc biệt các tỉnh miền núi khó khăn như Hà Giang, Cao Bằng, Gia Lai cũng đã có một hai doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần và bước đầu hoạt động có kết quả rõ rệt Tuy nhiên đến nay vẫn còn 6/13 Bộ, 6/17 Tổng Công ty 91 và 12/61 tỉnh chưa có doanh nghiệp nhà nước nào tiến hành cổ phần hóa hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w