1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngân hàng với vai trò trung gian tài chính trong quá trình thiết lập và phát triển thị trường tài chính ở việt nam

89 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 454,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết và kinh nghiệm về sự phát triển tài chính và sự tăng trưởng kinh tế cho thấy, ở các nước có hệ thống tài chính phát triển, thị trường tiền tệ và thị trường vốn phát triển mạnh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

DƯƠNG NGUYỄN UYÊN MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

Chon 1 CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH

1.1 Tổng quan về thị trường tài chính 3

1.1.1 Khái niệm, các thành phần của TTTC 3

1.1.2.1 Công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ 5

1.1.2.2 Công cụ tài chính trên thị trường vốn 6

1.2 Sự cần thiết của việc phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam 7

1.2.1 Thị trường tài chính là cơ chế phân bố vốn hiệu quả nhất phục vụ phát

1.2.2 Thị trường tài chính ảnh hưởng đến tiết kiệm và giảm rủi ro 8

1.2.3 Thị trường tài chính là yêu cầu khách quan đối với đổi mới kinh tế 9

1.2.4 Thị trường tài chính là yêu cầu cơ bản cho quá trình cổ phần hóa 11

1.3 Vai trò của hệ thống ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế và TTTC 12

1.3.1 Hệ thống thanh toán 12

1.3.3 Nâng cao hiệu quả việc phân bổ vốn 16

Chương 2 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

VỚI VAI TRÒ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát về quá trình thay đổi cơ cấu và phát triển hệ thống ngân

hàng Việt Nam 20 2.2 Ngân hàng với vai trò trung gian tài chính 23

2.2.1 Hoạt động của hệ thống ngân hàng trước cuộc đổi mới 23

2.2.1.1 Hệ thống thanh toán 25

2.2.1.2 Huy động tiết kiệm 25

2.2.1.3 Phân bổ đầu tư 26

Trang 3

2.2.2 Vai trò của hệ thống ngân hàng giai đoạn từ đổi mới đến nay 28

2.2.2.1 Huy động tiết kiệm 31

2.2.3 Những thách thức tồn đọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam 43

2.2.3.1 Sự thiếu hụt vốn đầu tư dài hạn 43

2.2.3.2 Vấn đề cho vay không hiệu quả 46

2.2.3.3 Sự dư thừa một lượng lớn tiền mặt và sợ rủi ro của các ngân hàng 48

2.2.3.4 Hệ thống thanh toán yếu kém 48

2.3 Kết luận 49

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN

CHỨC NĂNG TRUNG GIAN TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM 3.1 Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô 51

3.2 Vai trò của chính phủ trong đổi mới hệ thống ngân hàng 52

3.3 Ngân hàng Nhà nước 53

3.4 Ngân hàng thương mại 56

3.4.1.1 Nâng cao vị thế và uy tín ngân hàng 56

3.4.1.2 Xử lý lãi suất tiền gửi trong mối quan hệ với tỷ giá và thị trường

3.4.1.3 Đa dạng hóa các công cụ tài chính để huy động tiền gửi vào ngân

hàng, đặc biệt là tiền gửi trung và dài hạn 603.4.1.4 Nâng cao trình độ cán bộ, nhân viên làm công tác huy động vốn 63

3.4.1.5 Aùp dụng các hình thức khuyến mãi đối với người gửi tiền 63

3.4.2 Tín dụng tài trợ 63

3.4.2.1 Tăng cường tiếp thị, đầu tư vào các dự án lớn có hiệu quả 63

3.4.2.2 Nâng cao chất lượng tín dụng 64

Trang 4

3.4.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát nội bộ 65

3.4.2.4 Đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác cho vay 65

3.4.3 Dịch vụ ngân hàng 66

3.4.3.1 Phát triển các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại 66

3.4.3.2 Xây dựng kỹ nghệ hiện đại 68

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến nay các nhà kinh tế đều đồng ý rằng hệ thống tài chính có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào Lý thuyết và kinh nghiệm về sự phát triển tài chính và sự tăng trưởng kinh tế cho thấy, ở các nước có hệ thống tài chính phát triển, thị trường tiền tệ và thị trường vốn phát triển mạnh có thể sẽ thúc đẩy sự phát triển của các khu vực kinh tế khác Ngược lại, một nền kinh tế với hệ thống tài chính tụt hậu sẽ gây ra không ít khó khăn cho sự phát triển các khu vực kinh tế khác do thị trường tài chính không ổn định và chấp vá Lý thuyết sự phát triển tài chính là nền tảng cho hàng loạt cuộc cải cách tài chính trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Từ năm 1986 Việt Nam đã theo đuổi một chính sách kinh tế toàn diện và đã đạt được những thành tựu kinh tế vĩ mô, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong những năm gần đây Từ năm 1988 cải cách kinh tế ở Việt Nam đã được tăng tốc bởi hàng loạt những thay đổi và đổi mới hệ thống tài chính bao gồm sự chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang ngân hàng hai cấp, thay đổi trong cơ chế hoạt động ngân hàng và cải cách chính sách tiền tệ Những cải cách tài chính nói trên là điều kiện quan trọng và là tiền đề cho việc thiết lập và phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu phục vụ phát triển kinh tế đất nước Thị trường tài chính phát triển với những công cụ tài chính hấp dẫn sẽ huy động và phân bổ vốn một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên việc thiết lập và phát triển thị trường tài chính cần đến những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Trong thời gian tới khi thị trường tài chính chưa phát triển thì việc cải tiến vai trò của hệ thống ngân hàng với chức năng trung gian tài chính là mục tiêu hàng đầu

2 Mục đích nghiên cứu của luận án

Sự thay đổi của hệ thống ngân hàng trong thời gian qua đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, ngân hàng với vai trò trung gian tài chính được xem như là điều kiện cơ bản cho việc phát triển thị trường tài chính Luận án nghiên cứu các vấn đề sau :

- Những điều kiện cơ bản để thiết lập và phát triển thị trường tài chính

- Đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam có góp phần vào sự phát triển thị trường tài chính hay không ?

Trang 6

- Hệ thống ngân hàng có một vai trò thiết yếu trong quá trình phát triển thị trường tài chính Vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam nên được đổi mới như thế nào để hoàn thành tốt hơn chức năng trung gian tài chính

Luận án giả thiết rằng sự hoàn thiện hệ thống ngân hàng với chức năng trung gian tài chính ngân hàng thật sự trong nền kinh tế thị trường là điều kiện

cơ bản để thiết lập và phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam Hệ thống ngân hàng càng được hoàn thiện theo hướng cung cấp ngày càng nhiều dịch vụ trung gian tài chính thì vốn huy động phục vụ phát triển nền kinh tế của đất nước càng lớn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận án nghiên cứu sự thay đổi trong cơ chế và thể chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống tài chính như thế nào cũng như những tồn tại, yếu kém trong chức năng trung gian tài chính ngân hàng

- Luận án nghiên cứu hoạt động của ngân hàng từ 1986 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, qui nạp để luận chứng

5 Nguồn số liệu

- Thống kê tài chính quốc tế (IMF)

- Ngân hàng thế giới (WB)

- Thống kê Việt Nam

- Số liệu từ các tổ chức chính phủ

- Số liệu từ các sách tham khảo, tạp chí

6 Kết cấu của luận án: Phần mở đầu

Chương 1 Các trung gian tài chính

Chương 2 Hệ thống ngân hàng với vai trò trung gian tài chính ở Việt Nam Chương 3 Một số biện pháp hoàn thiện chức năng trung gian tài chính của hệ

thống ngân hàng Việt Nam Kết luận

Trang 7

Chương 1

CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH

1.1 Tổng quan về thị trường tài chính

Trong nền kinh tế thị trường, các trung gian tài chính đóng một vai trò hết sức quan trọng Các trung gian tài chính này được định hình cùng với TTTC Tuy nhiên, với một nền kinh tế có hệ thống tài chính tụt hậu như Việt Nam hiện nay thì hệ thống ngân hàng chiếm giữ một vị trí thiết yếu, quan trọng trong TTTC Vì vậy, trong chương này sẽ chỉ nghiên cứu vai trò của ngân hàng đối với sự phát triển TTTC

1.1.1 Khái niệm, các thành phần của TTTC

Có nhiều khái niệm về TTTC TTTC có thể được hiểu một cách đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá, là nơi gặp gở của các nguồn cung và cầu về vốn Thông qua TTTC giá cả các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu được hình thành, và giá cả các loại vốn đầu tư (lãi suất vay, lãi suất cho vay, lãi suất ngắn hạn, trung và dài hạn) được quyết định

Sự luân chuyển vốn từ những đơn vị thặng dư (nguồn cung cấp vốn) đến những đơn vị thiếu hụt (có nhu cầu về nguồn vốn) dưới hai hình thức Hình thức thứ nhất là quan hệ vay mượn trực tiếp giữa người cho vay và người vay dưới hình thức mua và bán cổ phiếu, trái phiếu Hình thức thứ hai , vốn được luân chuyển từ người cho vay đến người cần vay vốn thông qua các trung gian tài chính như các NHTM, và các định chế tín dụng không phải là ngân hàng Vì vậy, TTTC giữ một vai trò thiết yếu trong nền kinh tế và có mối quan hệ chặt chẽ với các trung gian tài chính

Có nhiều cách phân loại TTTC theo thời gian sử dụng nguồn vốn vay của người vay và thời gian cho vay vốn của người sở hữu vốn, đối tượng cho vay, hình thức vận động của các nguồn vốn

Phổ biến nhất là cách phân loại TTTC theo thời gian vận động của vốn và đối tượng giao dịch trên thị trường Theo cách phân loại này TTTC chia thành

: thị trường tiền tệ (Money market) và thị trường vốn (Capital market) Thị

trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá có kỳ hạn thanh toán

dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế Thị trường

vốn là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các chứng khoán và giấy tờ có giá

trung hoặc dài hạn, là thị trường cung ứng vốn cho đầu tư dài hạn

Trang 8

Phân loại theo phương pháp giao dịch chứng khoán, TTTC bao gồm : thị trường chính thức tập trung (Organized stock exchange) và thị trường chính thức

phi tập trung ( Over the counter) Thị trường chính thức tập trung là thị trường có

tổ chức, hoạt động theo đúng các qui luật pháp định, là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo các qui tắc đã được ấn định TTCK chính thức tập trung có địa điểm và thời biểu mua bán rỏ rệt, giá cả được xác định theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của Hội đồng chứng khoán quốc gia TTCK chính

thức được thể hiện bằng sở giao dịch chứng khoán Thị trường chính thức phi tập

trung là thị trường mua bán ngoài sở giao dịch chứng khoán, không có địa điểm

tập trung những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như ở sở giao dịch chứng khoán Ở đây không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thõa thuận của người mua và người bán

Phân loại theo phương thức phát hành chứng khoán, TTTC bao gồm : thị trường sơ cấp (Primary Market) và thị trường thứ cấp (Secondary Market) Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán những chứng khoán mới phát hành cho lần giao dịch đầu tiên Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch những chứng khoán đã phát hành, được mua bán tiếp theo sau lần bán đầu tiên

Các thành phần tham gia trên TTTC về cơ bản gồm 4 nhóm : khách hàng, các NHTM và các định chế tài chính không phải là ngân hàng và Chính phủ

Khách hàng Khách hàng trong TTTC bao gồm các hộ gia đình, là những

đơn vị thừa vốn hàng đầu dưới hình thức tiết kiệm, kế đó là các doanh nghiệp thĩnh thoảng dư vốn tạm thời Các đơn vị thừa vốn có xu hướng trước hết là gửi tiền vào các trung gian tài chính để hưởng các dịch vụ tài chính hưởng lãi dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửiù kỳ hạn, tiền gửi thanh toán Mặc khác các đơn vị thừa vốn còn đầu tư ở TTTC dưới hình thức mua trái phiếu, cổ phiếu để hưởng lợi tức

Trong khi đó các đơn vị cần vốn, chủ yếu là doanh nghiệp, chính phủ vay hay nhận đầu tư trực tiếp từ các trung gian tài chính hoặc phát hành chứng khoán Khi vay hay nhận đầu tư, các đơn vị cần vốn phải trả lãi hay chia lời cho các trung gian tài chính, cũng như phải trả lãi, trả cổ tức cho người mua chứng khoán

NHTM và các định chế tín dụng không phải là ngân hàng Trong hầu hết

các quốc gia, NHTM và các định chế tín dụng không phải là ngân hàng chiếm một vị trí thống trị trong hệ thống tài chính Nghiệp vụ của NHTM là cung cấp các dịch vụ ngân hàng trong nước và quốc tế chủ yếu là nhận tiền gửi tiết kiệm, cung cấp tín dụng cho khách hàng cũng như đầu tư chứng khoán, … trên TTTC Các định chế tín dụng không phải là ngân hàng cũng cung cấp các dịch vụ tài

Trang 9

chính nhưng không nhận tiền gửi và không có các nghiệp vụ thanh toán Họ huy động vốn bằng cách vay các tổ chức tín dụng khác hoặc phát hành trái phiếu Thuộc loại này là các công ty tài chính, công ty cho thuê, công ty bảo hiểm, quỹ học bổng hay quỹ dự phòng, công ty đầu tư

Chính phủ Chính phủ tham gia trên TTTC với vai trò là nhà đầu tư vừa

thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hệ thống tài chính Để duy trì sự ổn định trên TTTC, bù đắp các khoản thiếu hụt do bội chi ngân sách cũng như tài trợ hệ thống giáo dục, an ninh, quốc phòng chính phủ mua và bán chứng khoán nợ do chính phủ phát hành Chính phủ cũng ban hành các luật lệ cũng như định hướng cho TTTC hoạt động hiệu quả thông qua việc tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy sự phát triển của các thể chế khác nhau, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và những người có tiết kiệm, giảm chi phí trung gian tài chính

1.1.2 Công cụ tài chính

Công cụ tài chính là những công cụ mua bán trên TTTC nhằm luân chuyển vốn từ đơn vị thặng dư vốn sang đơn vị thiếu vốn Thông thường các công cụ tài chính được phân thành hai loại : ngắn hạn và dài hạn Các công cụ tài chính ngắn hạn được mua bán trên thị trường tiền tệ, các công cụ tài chính dài hạn được mua bán trên thị trường vốn

1.1.2.1 Công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ

Những công cụ chính của thị trường tiền tệ gồm :

Trái phiếu kho bạc (Treasury bills) : là loại chứng khoán ngắn hạn do

chính phủ phát hành để tài trợ cho chi tiêu ngân sách Trái phiếu kho bạc được xem là loại chứng khoán không có rủi ro do được bảo đảm bằng uy tín của chính phủ, có tính thanh khoản cao vì có thể mua bán trên thị trường tiền tệ rất dể dàng Trái phiếu kho bạc được các NHTM ưa thích vì nó được tính vào phần dự trử bắt buộc, dể bán, giá tương đối ổn định và ít rủi ro Ngân hàng trung ương sử dụng trái phiếu kho bạc như là công cụ can thiệp trên thị trường mở để thi hành chính sách tiền tệ Các đơn vị kinh tế có dư tiền tạm thời cũng thích mua trái phiếu kho bạc vì sự an toàn của nó

Thương phiếu (Commercial paper) : là những lệnh phiếu thường không có

bảo đảm do các công ty phát hành, hay công ty phát hành nhờ một ngân hàng bảo đảm bằng một khoản tín dụng, theo đó ngân hàng cam kết thanh toán thương phiếu khi đáo hạn nếu công ty phát hành thương phiếu không trả được vốn và lãi Thương phiếu có thể được bán trực tiếp cho nhà đầu tư chứng khoán, người này mua theo thể thức chiết khấu và bán lại theo mệnh giá phát hành

Trang 10

Cũng có khi thương phiếu được bán cho nhà kinh doanh phát hành và người này chỉ hưởng hoa hồng mà thôi Tiền lãi của nhà đầu tư là tiền chiết khấu (giá phát hành thấp hơn mệnh giá) như trái phiếu kho bạc

Chứng chỉ tiền gửi định kỳ hay còn gọi là kỳ phiếu (Certificate of deposits hay CD) : là những phiếu xác nhận tiền gửi định kỳ ở một ngân hàng Kỳ phiếu

là loại chứng khoán có mang lãi suất Kỳ phiếu có thể được mua bán trên thị trường với rủi ro thấp nhưng tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận của trái phiếu kho bạc

1.1.2.2 Công cụ tài chính trên thị trường vốn

Những công cụ phổ biến trên thị trường vốn gồm :

Trái phiếu kho bạc trung hạn (Treasury notes) và dài hạn (Treasury bonds): là loại trái phiếu do kho bạc phát hành đứng ra vay tiền cho quốc gia để

thực hiện các công trình lớn như đường xá, phi trường, hải cảng Nhà nước lấy tiền sử dụng các công trình đó để trả lại cho trái chủ

Trái phiếu kho bạc trung hạn có thời gian đáo hạn lớn hơn một năm và nhỏ hơn 5 năm, trái phiếu kho bạc dài hạn có thời gian đáo hạn lớn hơn 5 năm

Trái phiếu dài hạn công ty (Corporate bond) : do các công ty phát hành

nhằm mục đích tài trợ dài hạn cho các nhu cầu tăng vốn của công ty như mua thêm thiết bị, thay đổi công nghệ

Trái phiếu đô thị (Municipal bonds) : do chính quyền địa phương phát

hành nhằm tài trợ bổ sung những khoản chi ngân sách thiếu hụt tại địa phương để xây dựng cơ sở hạ tầng Tỉnh, Thành phố sẽ thu tiền các công trình đó để trả cho các trái chủ Trái phiếu dài hạn khi trả được trả theo mệnh giá Người cho vay được hưởng lãi suất cố định và tỷ suất chiết khấu không cao

Cổ phiếu thường (Common stock) : là một loại chứng khoán ghi nhận

quyền sở hữu vốn đóng góp vào công ty cổ phần Cổ đông nắm giữ những cổ phiếu là một trong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả kinh doanh cũng như lãnh chịu mọi rủi ro trong kinh doanh

Cổ phiếu ưu đãi ( Preferred stock) : là một loại chứng khoán vừa có những

đặc điểm của cổ phiếu thường vừa giống trái phiếu Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá, và được ưu tiên trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị giải thể

Trang 11

Kết luận :

Có nhiều khái niệm về TTTC Hiểu theo nghĩa rộng, TTTC là nơi cung và cầu về vốn gặp nhau và được điều chỉnh Hiểu theo nghĩa hẹp, TTTC tồn tại với những hình thức xác định như là thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp,… Các thành phần tham gia vào TTTC gồm các cá nhân, doanh nghiệp, các NHTM, các định chế tín dụng không phải là ngân hàng và chính phủ Trong số đó, NHTM là các trung gian tài chính chi phối trong hầu hết các quốc gia Nhờ vào các công cụ tài chính, vốn được luân chuyển từ cung sang cầu TTTC với những chức năng trên và các công cụ tài chính đã đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế

1.2 Sự cần thiết của việc phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam

* Huy động vốn phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngày nay phát triển kinh tế là một thách thức đối với mọi quốc gia, mọi dân tộc Phát triển kinh tế nhanh hay chậm không chỉ đem lại sự giàu có thịnh vượng hay nghèo nàn lạc hậu cho đất nước, mức sống cao hay thấp cho nhân dân mà còn củng cố, nâng cao hay hạ thấp vị trí, vai trò của một đất nước trong cộng đồng quốc tế Phát triển chỉ có thể thành công khi có đủ các điều kiện về nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn đầu tư, hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và chế độ chính trị ổn định Ngoài điều kiện về nhân lực dồi dào thì điều kiện về vốn đầu tư là quan trọng

Nếu có vốn đầu tư nhưng chính sách, chiến lược phát triển không đúng, không phù hợp thì cũng không phát huy được hiệu quả của vốn đầu tư, nền kinh tế sẽ phát triển chậm Trong một nước có vốn đầu tư còn cần phải có các chính sách, giải pháp huy động tập trung chuyển giao vốn có hiệu quả cho các nhà đầu

tư, phân bổ và sử dụng vốn vào các mục tiêu, dự án, công trình có tác dụng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, hiện đại hóa công nghệ, tăng tốc độ phát triển

Tóm lại, quy luật của phát triển là các nguồn tiết kiệm, tích lũy trong xã hội được huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tiết kiệm đó (vốn đầu tư) thì nền kinh tế của đất nước sẽ tăng trưởng với tốc độ cao

Hệ thống tài chính có vai trò quan trọng trong các hoạt động của nền kinh tế, thực hiện chức năng thanh toán trong các trao đổi hàng hóa và dịch vụ cũng như huy động và phân phối các nguồn lực tài chính Về cơ bản có hai hình thức huy động vốn Hình thức thứ nhất là tài chính gián tiếp thông qua sự phát triển của các trung gian tài chính Các trung gian tài chính huy động tiết kiệm để cung cấp tín dụng bởi một loạt các dịch vụ và công cụ huy động vốn Tuy nhiên, vốn được huy động thông qua các trung gian tài chính có hạn chế vì phần lớn là vốn

Trang 12

ngắn hạn Vai trò của các trung gian tài chính trong quá trình tiết kiệm – đầu tư sẽ được phân tích chi tiết trong phần sau Hình thức thứ hai là thị trường tài chính trực tiếp Những người vay vốn tài chính sẽ phát hành cổ phiếu hay trái phiếu để huy động nguồn lực tài chính TTTC là hình thức huy động vốn hiệu quả nhất vì những lý do sau

1.2.1 Thị trường tài chính là cơ chế phân bổ vốn hiệu quả nhất phục vụ phát triển kinh tế

Trên TTTC, giá cả của các công cụ tài chính được quyết định bởi các áp lực thị trường sẽ hướng trực tiếp nguồn vốn vào các khu vực và các doanh nghiệp khác nhau của nền kinh tế Giá cả phản ánh khả năng sinh lời của các doanh nghiệp khác nhau Như vậy, giá cả có vai trò gián tiếp thông qua đó TTTC có thể phân bổ nguồn vốn Ví dụ, nếu lợi nhuận của các doanh nghiệp trong tương lai có thể tăng thì nhu cầu về công cụ nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp này sẽ cao, dẫn đến giá của các công cụ nợ này cao tương đối so với lợi nhuận hiện tại của nó, làm cho chi phí về vốn của doanh nghiệp thấp Chi phí về vốn thấp sẽ khuyến khích đầu tư Kết quả là TTTC đảm bảo nguồn vốn khan hiếm được phân bổ đến doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ có lợi nhuận

Tuy nhiên những lợi thế của TTTC nói trên chỉ có thể đạt được nếu và chỉ nếu có hệ thống thông tin rỏ ràng và lãi suất (giá cả của vốn) được tự do hóa thông qua sự quyết định của thị trường

1.2.2 Thị trường tài chính ảnh hưởng đến tiết kiệm và giảm rủi ro

TTTC thiết lập những công cụ tài chính khác nhau tạo nhiều cơ hội đầu

tư cho những người có tiết kiệm và những nhà đầu tư Người có tiết kiệm khi mua các công cụ tài chính , ví dụ như cổ phiếu hay cổ phần, sẽ không chỉ được lợi từ lãi suất mà còn từ sự tăng giá của cổ phiếu Hơn thế nữa, những cổ đông còn có quyền điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đây là một trong những động cơ khuyến khích người dân tiết kiệm Ngoài ra TTTC còn giúp vốn luân chuyển dể dàng dưới hình thức mua bán các công cụ tài chính TTTC tạo thuận lợi cho những người đã mua chứng khoán được bán lại một cách dể dàng, thuận tiện để có thể thu hồi vốn bất cứ lúc nào (ở thị trường cấp hai) Đầu

tư chứng khoán sẽ có lợi, do đó các nguồn tiết kiệm không kể qui mô lớn hay nhỏ cũng sẽ được huy động thông qua TTTC

Ngoài ra TTTC là công cụ thúc đẩy các doanh nghiệp phải kinh doanh có hiệu quả Theo nguyên tắc hoạt động của TTTC, các doanh nghiệp phải chứng minh được hiệu quả hoạt động kinh doanh, tình trạng tài chính và triển vọng

Trang 13

phát triển Ví dụ, muốn trở thành thành viên chính thức của TTCK, muốn cổ phiếu của mình được có tên trong danh sách những cổ phiếu giao dịch trên TTCK doanh nghiệp phải có đủ những điều kiện của doanh nghiệp lớn làm ăn nghiêm chỉnh, không vi phạm luật pháp, mức lợi nhuận cao,… Thông thường nhu cầu về chứng khoán của các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả là cao, vì vậy giá sẽ cao và ngược lại Người có tiết kiệm và các nhà đầu tư có thể nhận biết vị trí của một doanh nghiệp trên thương trường thông qua sự biến động về giá cả các chứng khoán của doanh nghiệp đó Vì vậy sự phát triển của TTCK không chỉ giúp cho các hộ gia đình giảm thiểu các rủi ro thông qua đa dạng hóa đầu tư của mình mà còn hạn chế những bất lợi do việc thiếu thông tin gây ra

Ngày nay, các thành phần tham gia trên TTTC như ‘Quỹ đầu tư’ đang được mở rộng ‘Quỹ đầu tư’ là loại hình đầu tư phổ biến, đặc biệt đã phát triển ở Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp, Thái Lan, … Với loại hình đầu tư này, mọi người dân có thể sử dụng một phần nhỏ thu nhập của mình đầu tư vào ‘Quỹ đầu tư’ Các quỹ này, thông thường là một nguồn vốn đầu tư lớn do việc gom góp từ các nguồn tiết kiệm nhỏ, sẽ được dùng để mua chứng khoán trên TTTC cho các đầu

tư dài hạn

* Vai trò của TTTC đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

Việc thiết lập và phát triển TTTC không chỉ có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển mà còn là yêu cầu tất yếu của quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam

1.2.3 Thị trường tài chính là yêu cầu khách quan đối với đổi mới kinh tế

Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam được bắt đầu thật sự từ 1986 với Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI Đây là quá trình tiền tệ hóa các hoạt động kinh tế Để chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc thúc đẩy sự thiết lập và phát triển ba thị trường cơ bản sau đây là cần thiết : thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường lao động, và thị trường tài chính Trong các thị trường đó thì mức độ phát triển của TTTC có vai trò quyết định bởi vì tiền tệ được xem như là huyết mạch của nền kinh tế Sự phát triển của hai thị trường còn lại có tác động hổ trợ đối với TTTC

Đổi mới kinh tế đã đưa đến những thay đổi đáng kể trong nền kinh tế Việt Nam bao gồm khuynh hướng công nghiệp hóa, chính sách nền kinh tế mở, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, tự do hóa giá cả

Công nghiệp hoá sẽ dẫn đến việc thiết lập các trung tâm thương mại

GDP tăng, vì thế tiết kiệm và tiêu dùng cũng tăng Điều này sẽ tác động làm cho thị trường hàng hóa và thị trường lao động phát triển Nền kinh tế thị trường

Trang 14

buộc các hoạt động kinh tế phải thực hiện theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh Như thế sẽ nâng cao chất lượng các dịch vụ về hệ thống thông tin liên lạc và cơ sở hạ tầng Tất cả những vấn đề này là nền tảng tốt cho TTTC phát triển

Chính sách nền kinh tế mở đã khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài

(FDI) không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà còn trong hệ thống ngân hàng Việc tăng FDI đã cải thiện hoạt động thanh toán , tín dụng, tín dụng bảo lãnh, …, cũng như đã tạo điều kiện cho sự gia nhập vào thị trường quốc tế

Sự chuyển đổi từ nền kinh tế một thành phần sang nền kinh tế nhiều thành phần đã huy động nguồn lực nhàn rỗi trong dân chúng phục vụ cho sự phát triển

kinh tế và tạo môi trường cạnh tranh cho nền kinh tế thị trường Sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần đã cho phép các cá nhân và các hộ gia đình tham gia vào việc kinh doanh nhằm theo đuổi lợi nhuận cá nhân, khuyến khích sự mở rộng các doanh nghiệp tư nhân Hơn thế nữa, Hiến pháp 1992 thừa nhận quyền sở hữu cá nhân Điều này đảm bảo môi trường luật pháp an toàn cho hoạt động kinh tế tư nhân phát triển Khu vực tư nhân trong thời gian qua tồn tại dưới các hình thức khác nhau như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay các doanh nghiệp tư nhân Theo Nghị định về công ty trách nhiện hữu hạn và công

ty cổ phần 1990, công ty cổ phần được phép phát hành chứng khoán và cổ phần Đây là điều kiện cơ bản cho sự phát triển TTTC

Tự do hóa giá cả là một thay đổi quan trọng dẫn đến việc thành lập một

thị trường thống nhất Tự do hóa giá cả được phản ánh thông qua lãi suất và giá cả hàng hóa Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, Nhà nước thường sử dụng công cụ giá cả và lãi suất thấp để hổ trợ cho các doanh nghiệp Theo chính sách trước đó của chính phủ là áp dụng lãi suất và giá cả hàng hóa khác nhau đối với các khu vực kinh tế khác nhau Khu vực quốc doanh được quyền ưu tiên vay ngân hàng và được mua nguyên vật liệu với giá thấp Lãi suất thấp và âm đã không thu hút tiền gửi nhưng khuyến khích cầu tín dụng Vì vậy, khoảng cách giữa cầu và cung tín dụng bị mở rộng Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất phải phản ánh chính xác sự khan hiếm của nguồn vốn Tín dụng phải được phân phối dựa trên khả năng và hiệu suất sản xuất của người vay Từ năm 1989 lãi suất được đưa ra dựa vào mối quan hệ với tỷ lệ lạm phát để đảm bảo lãi suất thực dương Cải cách giá cả cũng được thực hiện để xóa bỏ những méo mó về giá cả bằng cách nâng giá trong nước lên gần bằng với giá thị trường quốc tế Khoảng giữa 1987 đã không còn hình thức hổ trợ các doanh nghiệp thông qua giá cả hàng hóa thấp Nó đã đặt tất cả các doanh nghiệp trước nguyên tắc hạch toán lãi

- lỗ Cùng thời gian đó, các DNNN được có quyền chủ động hơn trong kinh doanh Lúc bấy giờ, Nhà nước chỉ can thiệp gián tiếp thông qua kế hoạch và chính sách kinh tế vĩ mô

Trang 15

Tự do hóa giá cả đã giúp thiết lập một thị trường tín dụng lành mạnh và môi trường kinh tế vĩ mô ổn định cho sự phát triển kinh tế Và tất cả sự thay đổi trên là nền tảng cho TTTC phát triển

1.2.4 Thị trường tài chính là điều kiện cơ bản cho quá trình cổ phần hóa

Song song với những thay đổi trong khu vực kinh tế tư nhân, cải cách kinh tế được thực hiện cùng với sự đổi mới các DNNN Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, DNNN độc quyền đã phá hủy môi trường cạnh tranh và dẫn đến việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả Vì thế trong những năm qua, tư nhân hóa các DNNN được thực hiện từng bước dưới hình thức cổ phần hóa Vào 6/1992, vài doanh nghiệp đã được chọn cổ phần hóa thí điểm Quá trình cổ phần hóa được tiến hành chậm và gặp không ít khó khăn Kết quả cuối cùng của cổ phần hóa là chuyển các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước sang doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân toàn phần hay một phần Cổ phần hóa sẽ không có ý nghĩa gì về sự thay đổi quyền sở hữu nếu tất cả chứng khoán hay cổ phần được bán cho các DNNN khác Hiện nay, việc mua cổ phần của các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa chưa là quen thuộc đối với công chúng Thu nhập của người Việt Nam vẫn còn thấp, trong khi đó hệ thống tài chính và ngân hàng kém phát triển đã không cho phép người dân vay mượn hay mua cổ phần Đây là một trong những điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ được phân tích trong chương 2 Hơn thế nữa, người dân sẽ mua chứng khoán nếu và chỉ nếu họ chắc chắn là chứng khoán dể dàng được chuyển đổi thành tiền Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu TTTC phát triển Như vậy, cổ phần hóa không chỉ là điều kiện mà còn là nguyên nhân cho sự phát triển của TTTC

Vì vậy, TTTC có vai trò rất quan trọng đối với việc đầu tư hay đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội Nhu cầu vốn đầu tư phục vụ phát triển kinh tế đòi hỏi phải có một TTTC phát triển ở Việt Nam

Kết luận :

Phát triển TTTC là điều kiện cần thiết phục vụ sự phát triển kinh tế ở Việt Nam Trong thời gian qua, những điều kiện cơ bản cho việc thiết lập và phát triển TTTC ở Việt Nam đã được cải thiện dần dần, thực hiện từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, từ thị trường vốn ngắn hạn đến thị trường vốn dài hạn Tuy nhiên, ở Việt Nam hệ thống ngân hàng chiếm một vị trí chủ yếu trong hệ thống tài chính Sự phát triển của hệ thống ngân hàng là vấn đề hạt nhân của sự phát triển hệ thống tài chính Vì vậy chức năng, vai trò của hệ thống ngân hàng sẽ được trình bày

Trang 16

1.3 Vai trò của hệ thống ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế và thị trường tài chính

Như đã trình bày ở phần trên, hệ thống ngân hàng là thành phần tích cực, năng động và chủ đạo nhất trong quá trình hình thành và phát triển TTTC Thiếu vai trò của hệ thống ngân hàng (chủ yếu là các NHTM) thì TTTC khó hình thành và phát triển được

Sự phát triển kinh tế của một nước phụ thuộc vào khả năng sản xuất của đất nước đó dựa vào ba yếu tố chủ yếu là lao động, vốn và trình độ kỷ thuật Nếu một trong ba yếu tố này được cải thiện thì sẽ góp phần tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế Sự hình thành và phát triển TTTC nhằm huy động nguồn vốn cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất Báo cáo của Ngân hàng thế giới (1989) cho thấy các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thường có TTTC phát triển và ngược lại Điều này có nghĩa là sự phát triển tài chính có mối quan hệ tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế

Vậy bằng cách nào hệ thống ngân hàng có thể đóng góp cho sự phát triển kinh tế của một đất nước ? Hệ thống ngân hàng đảm nhận hai chức năng chủ yếu : (i) đảm bảo một hệ thống thanh toán hiệu quả, (ii) huy động vốn và nâng cao hiệu quả việc phân bổ vốn đầu tư

1.3.1 Hệ thống thanh toán

Lịch sử kinh tế cho thấy, hệ thống ngân hàng góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc thiết lập một hệ thống thanh toán đầy đủ và hiệu quả Nếu không có hệ thống ngân hàng, nền kinh tế sẽ là một nền kinh tế tự cung tự cấp và hoạt động dưới hình thức hàng đổi hàng với hai ý muốn trùng hợp nhau Điều này làm cho việc mua bán có chi phí vừa cao vừa mất thời gian hay chi phí giao dịch cao làm cho sự chuyên môn hóa và khả năng sản xuất bị hạn chế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có vật trung gian trao đổi, vì thế hình thái tiền tệ xuất hiện Tiền tệ không chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông mà còn thực hiện chức năng thước đo giá trị, phương tiện tích lũy và phương tiện thanh toán hoãn hiệu đã phá vỡ những hạn chế của việc mở rộng thị trường cũng như sự phân công lao động Tuy nhiên để đạt được sự tăng trưởng kinh tế không chỉ khả năng sản xuất cần phải được duy trì mà còn cần phải mở ra các thị trường mới và tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm Các hoạt động kinh tế ngày càng mở rộng cùng với sự trao đổi hàng hóa ngày càng phức tạp dẫn đến tiền tệ hóa nền kinh tế Theo Bertherlemy và Varoudakis (1996), hệ thống tài chính lạc hậu sẽ làm cho vòng quay tiền tệ chậm lại, mà đây lại là một yếu tố cần thiết cho sự tăng trưởng Đây chính là kinh nghiệm của phần lớn các nền kinh tế phát triển

Trang 17

Hệ thống ngân hàng có vai trò quan trọng trong quản lý hệ thống thanh toán theo các mối quan hệ tín dụng, mà nó sẽ làm giảm chi phí cơ hội của việc giữ tiền Với những lợi thế kỷ thuật trung gian tài chính ngân hàng, hệ thống thanh toán không chỉ làm giảm chi phí thuộc về thông tin trong sử dụng tín dụng mà còn dể dàng tạo ra những tài sản tài chính thay thế cho tài sản tiền tệ truyền thống Aûnh hưởng của hoạt động tài chính trong GDP cùng số nhân viên trong khu vực tài chính tăng được kết hợp với tăng trưởng kinh tế Trong thực tiễn, thế kỷ XX được xem là có những tiến bộ của các công cụ thanh toán bao gồm thẻ thanh toán và chuyển tiền điện tử Các công cụ thanh toán này đã cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán

Hệ thống tài chính phát triển sẽ cung cấp nhiều dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp như bảo hiểm (nhằm khắc phục các rủi ro kinh doanh), hay sự bảo đảm các thõa thuận (bằng cách sử dụng các quyền lựa chọn hay các hợp đồng tương lai), tín dụng bảo lãnh, thấu chi, chiết khấu thương phiếu, tài trợ cho thuê,

… tư vấn tài chính, các vấn đề về thuế và kế toán, …Các dịch vụ này làm cho việc kinh doanh trở hấp dẫn và hiệu quả hơn, và vì thế tăng đầu tư trong nền kinh tế Tiền tệ hóa nền kinh tế hay sự phát triển tài chính sẽ cung cấp hệ thống tài chính tiện lợi, rẻ hơn và ít rủi ro hơn Nó giúp cho nền kinh tế hoạt động thuận lợi, tăng khả năng sản xuất và thu nhập của nền kinh tế và vì thế tăng trưởng kinh tế

1.3.2 Huy động vốn

Trong một nền kinh tế với hệ thống tài chính kém phát triển, có rất ít hay không có sự chuyển giao tiết kiệm từ các cá nhân đến các cá nhân khác, và khả năng đầu tư sẽ là toàn bộ tiết kiệm của các cá nhân Đây chính là mặt hạn chế cả về vốn đầu tư sẳn có cũng như tính hiệu quả của việc đầu tư, bởi vì nguồn vốn có thể sử dụng cho đầu tư đã không được sử dụng một cách tối ưu và việc tự tài trợ làm hạn chế tính hiệu quả của việc phân bổ vốn đầu tư Sự tồn tại của TTTC và/hay hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến việc huy động tiết kiệm sẳn có trong nền kinh tế tốt hơn Sự phát triển tài chính có ảnh hưởng tích cực đến việc huy động vốn Các trung gian tài chính tạo ra động lực to lớn đối với người dân thông qua việc cung cấp những tài sản tài chính với lãi suất tương đối cao và ít rủi ro Điều này góp phần trực tiếp nâng cao hiệu suất sử dụng vốn và thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng

Quả thật, lãi suất kỳ vọng tăng và đa dạng hóa rủi ro đã khuyến khích tiết kiệm tài chính hơn là đầu tư vào các dự án với lãi suất thấp Chính điều này trở lại thúc đẩy hệ thống tài chính phát triển hơn nữa, kết quả là một mạng lưới các định chế tài chính phát triển với một lượng lớn các tài sản tài chính sẽ khuyến khích các hộ gia đình tiết kiệm hơn trong phần thu nhập của họ mà không tiếp

Trang 18

tục tiêu dùng hay đầu tư trực tiếp, bởi vì tiết kiệm có khả năng sinh lời và cũng tiện lợi hơn trước đó khi mà các công cụ tài chính còn hạn chế Sự khác nhau của các tài sản tài chính đã làm thõa mãn sở thích đa dạng danh mục đầu tư của những người có tiết kiệm khác nhau Chính điều đó đã khuyến khích tiết kiệm Rỏ ràng là sự phát triển các công cụ và thị trường tài chính có ảnh hưởng ‘tiết kiệm’

Hơn nữa, sự phát triển vai trò trung gian tài chính khuyến khích gửi tiết kiệm nhờ giảm những giới hạn về tính thanh khoản của việc cho vay trực tiếp Các nhà đầu tư thường có nhu cầu về vốn đầu tư dài hạn bởi vì họ phải đầu tư vào các tài sản vật chất mà các tài sản này lại cần có thời gian lâu dài để hoàn thành, đưa vào hoạt động và thu lợi nhuận Vì vậy họ cần nguồn vốn đầu tư ổn định để tài trợ cho các chiến lược kinh doanh của họ Do vậy, việc cho vay trực tiếp không thông qua các trung gian tài chính buộc người có tiết kiệm phải đầu

tư trong thời gian dài hạn, trong khi họ thường thích gửi tiết kiệm ngắn hạn bởi

vì ít rủi ro và tính thanh khoản cao hơn Việc người có tiết kiệm giữ một phần tài sản của họ dưới hình thức có tính thanh khoản cao là cần thiết, do bởi họ luôn phải đối phó với thu nhập bất thường hay khuynh hướng sử dụng tiền tiết kiệm trong tương lai gần Các trung gian tài chính như NHTM sẽ thõa mãn yêu cầu của người có tiết kiệm cũng như đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư bằng việc vay vốn ngắn hạn và cho vay dài hạn Các ngân hàng sẽ đáp ứng yêu cầu về tính thanh khoản cho người có tiết kiệm như cho phép họ rút tiền gửi tiết kiệm bất cứ lúc nào họ cần, đồng thời đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nhu không cần phải trả vốn ngay tức thời

Mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giới hạn về tính thanh khoản với tỷ lệ tiết kiệm và/hay sự tăng trưởng kinh tế đã được chứng minh qua việc nghiên cứu mẫu gồm các nước thành viên và không thành viên của OECD với giả định rằng xác suất đạt được chỉ có liên hệ về mặt lượng với sự tích lũy vốn hữu hình (Berthelemy và Varoudakis)

Tính thanh khoản và việc rút tiền tiết kiệm dể dàng làm cho các công cụ tài chính trở nên hấp dẫn hơn Ở giai đoạn phát triển kinh tế cao hơn, lãi suất cao sẽ làm cho người có tiết kiệm ưa chuộng hình thức tiết kiệm tài chính hơn những hình thức tiết kiệm phi tài chính Kết quả là tỷ lệ tiết kiệm tài chính trên tổng tiết kiệm sẽ tăng lên Trong một nghiên cứu gần đây, số liệu của 81 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ tài sản nợ có tính thanh khoản trên GDP tăng 0,75% tương ứng với tăng 1% trong tỷ lệ lãi suất danh nghĩa trả cho tài khoản tiền gửi Xét về tổng thể, lãi suất thực cao hơn gần như dẫn đến tăng trưởng tài chính bởi vì người có tiết kiệm sẽ chuyển tiết kiệm của họ từ tài sản vật chất sang tài sản tài chính và chuyển từ tài sản nước ngoài sang tài sản nội địa

Trang 19

Ngược lại, ở nhiều nước có lãi suất thực âm sẽ không khuyến khích việc giữ tài sản tài chính (WB 89)

Theo McKinnon (1973), ở các nước đang phát triển, có sự bổ trợ nhau giữa tiền rộng (broad money), bao gồm tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn và vốn Bởi vì người có tiết kiệm , chính họ cũng là nhà đầu tư , phải tích lũy tiết kiệm của họ cho đến khi đủ vốn để đầu tư vào các dự án Vì vậy lãi suất tiền gửi cao hơn sẽ khuyến khích quá trình tích lũy vốn đối người có tiết kiệm hơn

Ngoài ra có nhiều yếu tố tác động đến tỷ lệ tiết kiệm như tốc độ gia tăng thu nhập, phản ứng của người có tiết kiệm đối với lãi suất cao hơn, những giới hạn về tính thanh khoản và tính thận trọng của người có tiết kiệm, cơ cấu tuổi tác của dân số

Sự phát triển tài chính mang lại lãi suất cao hơn sẽ làm cho tiết kiệm tăng lên nếu và chỉ nếu người có tiết kiệm quyết định hoãn tiêu dùng hiện tại Nói cách khác, phản ứng của người có tiết kiệm đối với lãi suất cao hơn là đáng kể Phản ứng của người có tiết kiệm đối với lãi suất sẽ tăng cùng với tốc độ tăng thu nhập của một nước Ở giai đoạn đầu của sự phát triển, tỷ lệ tiết kiệm sẽ tăng cùng với mức tăng thu nhập thực tế Tỷ lệ tiết kiệm tăng mạnh khi một nước chuyển từ mức thu nhập thấp sang nước mức thu nhập trung bình Và tiết kiệm sẽ càng nhạy hơn với sự thay đổi của lãi suất thực khi một nước trở nên giàu có hơn Thực tế cho thấy ở các nước đang phát triển nghèo nàn có mức tiêu dùng thấp hay chỉ một số ít là trên mức đủ sống thì sự phát triển tài chính không thể làm cho tiết kiệm cao hơn, bởi vì phản ứng của người có tiết kiệm đối với lãi suất thấp Ngân hàng thế giới (1989) đã nghiên cứu những vấn đề này và cho kết quả là : xét về trung bình, các nước đang phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng

thấp hơn (Bảng 1.1) Những nước có tỷ lệ tăng trưởng cao (trên 7%/năm), tỷ số

GNS/GDP là 28%, trong khi đó các nước có tỷ lệ tăng trưởng thấp (thấp hơn 3%/năm) tỷ số này là 19% Tỷ số quan trọng dùng để đánh giá sự phát triển tài chính là M2/GDP được sử dụng cùng với GNS/GDP Tỷ số M2/GDP là 43% và 23,8% tương ứng đối với các nước có tốc độ tăng trưởng cao và các nước có tốc độ tăng trưởng thấp

Những giới hạn về tính thanh khoản và thái độ thận trọng của người có tiết kiệm có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tiết kiệm theo khuynh hướng ngược lại với tốc độ gia tăng thu nhập và phản ứng của người có tiết kiệm đối với lãi suất cao Với những người tiêu dùng nghèo khó, họ luôn phải đối phó với vấn đề thu nhập không ổn định và khó mà vay tiền của các định chế tài chính Vì vậy nhu cầu của họ về tiết kiệm có tính thanh khoản và tính thận trọng sẽ tăng Tỷ lệ tiết kiệm có thể tăng bởi những ảnh hưởng của giới hạn về tính thanh khoản và thái

Trang 20

độ thận trọng của người có tiết kiệm ở các nước đang phát triển, vì ở đó vẫn tồn tại tình trạng thu nhập không ổn định và tự tài trợ

1.3.3 Nâng cao hiệu quả việc phân bổ vốn

Huy động đủ vốn cho đầu tư là điều kiện cần để một nền kinh tế cất cánh Tuy nhiên, chất lượng của việc phân bổ vốn vào các dự án đầu tư là một yếu tố quan trọng không kém Như đã phân tích ở phần trên, sự phát triển tài chính làm cho lãi suất thực tăng lên có thể không làm cho tỷ lệ tiết kiệm cao hơn, nhưng nó có thể nâng cao hiệu quả của việc phân bổ vốn thông qua các trung gian tài chính Các trung gian tài chính phân bổ vốn hiệu quả hơn trong việc chọn lựa các dự án đầu tư khả thi và có khả năng sinh lời cao, và vì vậy tăng hiệu suất đầu tư bình quân và sự tăng trưởng sản lượng

Việc thiết lập cơ cấu tài chính trung gian nhằm giải quyết những khó khăn trong việc phân bổ vốn đầu tư Như thế sẽ nâng cao hiệu suất đầu tư

Thế thì thông qua cơ chế gì mà các trung gian tài chính tác động tích cực đến sự gia tăng vốn và hiệu suất sử dụng vốn?

Thứ nhất, các trung gian tài chính có thuận lợi trong việc giải quyết khó

khăn về phân bổ vốn chẳng hạn những rủi ro về hiệu suất, sự thiếu thông tin về tỷ suất thu hồi vốn của dự án đầu tư và khả năng quản lý của doanh nghiệp

Rủi ro về hiệu suất (Productivity risks), do sáng chế kỷ thuật không hoàn hảo, và những rủi ro liên quan đến việc mở rộng nhu cầu sản xuất trong tương lai có ảnh hưởng ngược lai đối với việc phân bổ vốn Các nhà đầu tư sợ rủi ro sẽ không dám đầu tư vì vậy các nhà đầu tư có khả năng đầu tư (các nhà đầu tư tiềm tàng)có khuynh hướng giữ một phần đáng kể tài sản của họ dưới hình thức những tài sản có tính thanh khoản, như vậy sẽ ít rủi ro nhưng hiệu suất thấp Và các nhà đầu tư có khuynh hướng lựa chọn công nghệ không hiệu quả, vì thế những rủi ro về tỷ suất thu hồi vốn có thể đuợc khắc phục bằng cách đa dạng hóa công nghệ, sự chuyên môn hóa và cải tiến khả năng sản xuất Một các gián tiếp, các trung gian tài chính ngân hàng sẽ ngăn chặn những rủi ro bởi vì họ giúp các nhà đầu tư đầu tư vào nhiều tổ chức kinh doanh khác nhau Nhờ sự đa dạng hóa danh mục đầu tư của trung gian tài chính ngân hàng, ngân hàng cung cấp cho các chủ tài khoản một sự bảo đảm về tỷ suất thu hồi vốn đầu tư của họ Những rủi ro vì vậy được phân nhỏ Khả năng đa dạng hóa những rủi ro khuyến khích những người có tiết kiệm giữ một phần lớn hơn trong tài sản của họ (trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ngân hàng) dưới hình thức vốn sản xuất Điều này trở lại đóng góp trực tiếp đến sự tích lũy phục vụ tăng trưởng Thêm vào đó, với một hệ thống tài chính phát triển sẽ tạo sự thuận tiện cho việc tiếp cận với thị

Trang 21

trường tài chính quốc tế Giả định là các công nghệ có rủi ro cao hơn sẽ có khả năng sinh lời kỳ vọng cao hơn Điều đó sẽ thúc đẩy sự hợp nhất các thị trường vốn, làm cho các nhà đầu tư ở mỗi nước có thể đầu tư vào các dự án đầu tư có rủi ro cao ở mức độ quốc tế Kết quả là nguồn vốn đầu tư sẽ được phân bổ vào những loại dự án đầu tư kích thích sự phát triển toàn cầu

Ngoài ra sự phát triển của hệ thống tài chính còn giúp giảm thiểu ảnh hưởng của những rủi ro về thu hồi vốn với sự lựa chọn kỷ thuật thông qua việc

đa dạng hóa những đầu tư, cùng lúc họ chọn lựa công nghệ chuyên môn hóa với năng suất cao hơn Berthelemy và Varoudakis (1996) tường thuật lại tác phẩm của Sait-Paul (1993) rằng trong các nước đang phát triển, nơi mà mức độ phát triển của khu vực tài chính kém thì không thể nào đa dạng hóa rủi ro về mặt hiệu suất cũng như về mặt công nghệ

Thứ hai, việc thiết lập trung gian tài chính có thể giảm rủi ro về tính thanh

khoản Trong thực tế các dự án đầu tư sản xuất thì không có tính thanh khoản, cũng có nghĩa là bất kỳ một sự mua bán tài sản của những dự án này trước hạn cho phép đều làm giảm lợi nhuận mà những dự án này lẽ ra sẽ mang lại Bởi vì những đầu tư không thể hủy bỏ mà cần một khoảng thời gian nhất định để những qui trình công nghệ thực sự hoạt động và phát huy hiệu quả, và có thể mang lại lợi nhuận Với một đầu tư được chuyển đổi thành tiền trước hạn, lợi nhuận mang lại ít hơn so với lợi nhuận do những tài sản có tính thanh khoản mang lại, mà thông thường những tài sản có tính thanh khoản thường có lợi nhuận thấp Khách hàng có một sự chọn lựa giữa đầu tư có tính thanh khoản và đầu tư không có tính thanh khoản Thực tế là có vài khách hàng bị sốc về tính thanh khoản sau khi thực hiện một đầu tư khởi đầu có tính thanh khoản , nhưng thực tế chỉ do họ không nhận biết được đầy đủ mà thôi Điều gì sẽ xảy ra nếu thay vào đó họ quyết định đầu tư vào những dự án đầu tư có tính thanh khoản Các trung gian tài chính có thể làm giảm những rủi ro về tính thanh khoản thông qua việc cho phép các nhà đầu tư đã trãi qua những cú sốc như thế có thể thực hiện những trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp với các nhà đầu tư khác không bị buộc phải bán tài sản sản xuất của họ Một cách trực tiếp, ngân hàng cũng chịu những rủi ro về tính thanh khoản trong phạm vi là các chủ tài khoản đang bị thiếu hụt tiền mặt buộc phải rút tiền gửi hàng loạt Các trung gian tài chính có thể quản lý những rủi ro về tính thanh khoản này hiệu quả hơn trong toàn bộ nền kinh tế nhờ định luật số đông Theo định luật này, tại một thời điểm không phải tất cả các chủ tài khoản đều gặp phải tình trạng thiếu hụt tiền mặt, vì thế tình trạng ngân hàng phải đối phó với những rủi ro về tính thanh khoản thấp hơn so với so với các cá nhân khách hàng Vì vậy, ngân hàng có thể giữ một phần trong danh sách các khoản đầu tư của họ dưới hình thức những tài sản có tính thanh khoản ít hơn so với các cá nhân khách hàng phải giữ Điều này dẫn đến sự tăng

Trang 22

phần trăm vốn đầu tư vào khu vực sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế Kết quả là các trung gian tài chính có ảnh hưởng tích cực đối với sự tăng trưởng thông qua việc cung cấp phương cách điều khiển những rủi ro về tính thanh khoản tốt hơn

Thứ ba, các trung gian tài chính có một vai trò trong việc theo dõi sự cạnh

tranh của các doanh nghiệp và/hoặc tỷ suất thu hồi vốn đầu tư Tỷ suất thu hồi vốn đầu tư của các dự án không chỉ bị ảnh hưởng bởi những rủi ro về hiệu suất mà còn bởi các nhân tố khác do chất lượng thật sự của các dự án hay kỷ năng của các doanh nhân chịu trách nhiệm điều hành dự án này Việc đánh giá các loại dự án phải liên hệ với số lượng những thông tin về chất lượng của các dự án Việc đánh giá này rất quan trong vì nó ảnh hưởng đến quyết định chọn lựa đầu tư Vẫn rất có khả năng là đầu tư vào các dự án không lợi nhuận mặc dù những rủi ro về hiệu suất đã được đa dạng hóa Và toàn bộ chi phí của việc đánh giá dự án bao gồm chủ yếu là chi phí cố định Mà chi phí này rất cao, làm cho các nhà đầu tư tư nhân không muốn thực hiện những nghiên cứu, thăm dò dự án như thế Điều này làm tăng xác suất đầu tư vào các dự án có nhiều rủi ro, làm giảm hiệu quả sản xuất của đầu tư và có ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Nói cách khác, các nhà đầu tư tư nhân không thể có sự chọn lựa giữa đầu tư sản xuất lợi nhuận thấp nhưng không có rủi ro và đầu tư lợi nhuận cao nhưng nhiều rủi ro về công nghệ do sự thiếu thông tin về tỷ suất thu hồi vốn của những dự án đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư không nhận thấy được những ảnh hưởng của sốc trên những đầu tư của họ Vì vậy việc thiết lập các định chế chuyên môn hóa trong việc thu thập và xử lý thông tin về những dự án đầu tư là cần thiết Hệ thống các trung gian tài chính có thể được xem là một mạng lưới liên kết số đông các nhà đầu tư Như vậy chi phí cố định được chia đều cho các nhà đầu tư liên quan Việc chia nhỏ chi phí này cũng có nghĩa là chi phí thăm dò dự án cao hơn vẫn có thể được thực hiện, do vậy làm giảm việc đầu tư vào các dự án có rủi ro xấu Các dự án đầu tư có hiệu suất sản xuất cao hơn, và điều này đương nhiên có ảnh hưởng tích cực với sự tăng trưởng Thêm vào đó, việc thiết lập một mạng lưới như thế là một lựa chọn hấp dẫn bởi vì thông tin trở nên sẳn có Nó sẽ giúp các trung gian tài chính bảo đảm mang lại lợi nhuận cao hơn nhờ nâng cao hiệu quả việc phân bổ vốn đầu tư : (i) các trung gian tài chính có thể đầu tư trực tiếp vào các dự án có lợi nhuận tương đối cao hơn nhờ có nhiều thông tin hơn và sự phân tích chi tiết những cú sốc, (ii) giám sát những sốc hệ thống giúp việc đa dạng hóa rủi

ro tốt hơn trong các dự án đầu tư tư nhân Điều này có thể đưa đến sự gia tăng phần vốn đầu tư vào sản xuất dù rủi ro nhưng hiệu suất cao, nhờ vậy góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

Trang 23

Nói chung, thông qua việc trình bày những ảnh hưởng trên, hệ thống tài chính đóng vai trò trọng tâm trong việc gia tăng vốn huy động và tăng mức độ đầu tư , và nó có ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh những ảnh hưởng trên, phát triển tài chính sẽ tạo cơ hội cho chính phủ quản lý tốt hơn nền kinh tế Chính phủ thường sử dụng hệ thống tài chính để phục vụ không những mục đích phát triển mà còn những mục tiêu khác của đất nước Chính phủ có thể vay một cách dể dàng để tài trợ cho việc chi dùng xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục, và các công trình công cộng khác … cần thiết cho sự phát triển kinh tế Ví dụ: ở các nước công nghiệp, sự thâm thụt ngân sách đuợc tài trợ chủ yếu thông qua việc phát hành và bán chứng khoán cho công chúng ; ở các nước đang phát triển sự thâm thụt ngân sách thường được tài trợ thông qua vay mượn ngân hàng Thông qua chính sách tín dụng cho các khu vực ưu tiên (thường là hổ trợ lãi suất), chính phủ có vai trò trực tiếp trong việc phân bổ vốn đầu tư, hay thông qua chính sách tiền tệ( kiểm soát việc phát hành tiền, áp đặt lãi suất trần cho vay đối với NHTM, dự trử bắt buộc, lãi suất chiết khấu, chính sách tỷ giá hối đoái, công cụ thị trường mở,…) Nhà nước có thể kiểm soát cung tiền tệ và tín dụng Vì thế, có thể sử dụng chính sách tiền tệ để điều khiển lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô và khuyến khích tăng trưởng kinh tế bằng cách kích cầu

Kết luận :

Phát triển TTTC đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Lập luận chính là phát triển TTTC cải thiện được mối quan hệ giữa người có tiết kiệm và nhà đầu tư Một hệ thống tài chính hiệu quả có thể chuyển vốn từ người có tiền tiết kiệm sang người vay, và vốn được chuyển trực tiếp đến các dự án đầu tư hiệu quả hơn và có lợi nhuận cao hơn, nhờ đó đưa đến sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn TTTC phát triển cũng cung cấp những phương tiện thanh toán và những dịch vụ thanh toán khác Chính điều này tạo ra một môi trường cho thị trường tài chính hoạt động ổn định và nhanh chóng nhằm giảm chi phí và rủi ro, tăng tính hiệu quả và thu nhập Ngoài ra khu vực tài chính còn cung cấp những dịch vụ và công cụ tài chính giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thương mại và nhà nước đạt được các mục tiêu chính sách, mục tiêu phát triển

Trang 24

Chương 2: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

VỚI VAI TRÒ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát về quá trình thay đổi cơ cấu và phát triển hệ thống ngân hàng

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, nay là NHNN Việt Nam, được thành lập theo sắc lệnh số 15/SL ngày 6/5/1951 Trước 1988, hệ thống tài chính là hệ thống ngân hàng một cấp, trong đó NHNN vừa đóng vai trò ngân hàng trung ương vừa có chức năng NHTM cung cấp tín dụng cho chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó còn có hai ngân hàng chuyên doanh bao gồm : Ngân hàng ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV) Tuy nhiên, các ngân hàng này hoạt động hoàn toàn khác với chức năng trung gian tài chính của NHTM trong nền kinh tế thị trường Điều đó có nghĩa là chức năng của Ngân hàng ngoại thương là chuyên kinh doanh về tín dụng và các dịch vụ ngân hàng về đối ngoại, hối đoái và quản lý việc dự trữ ngoại tệ Trong khi đó Ngân hàng đầu tư và phát triển chỉ có chức năng cung cấp vốn dài hạn cho các dự án cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng Hệ thống ngân hàng Việt Nam trong thời kỳ này được tổ chức trên khắp địa bàn hành chính tới cấp huyện, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương Trong giai đoạn này các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không được phép thành lập ngân hàng Hệ thống ngân hàng bao gồm NHNN và các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố, quận, huyện, và các hợp tác xã tín dụng (còn được gọi là Quỹ tiết kiệm) nối liền hệ thống NHNN và các khách hàng ở vùng nông thôn, các tổ chức sản xuất công nghiệp ở thành thị

Đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng là một trong những vấn đề của đổi mới quản lý kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 quan tâm Tuy nhiên cho đến 1988, hệ thống ngân hàng mới có những thay đổi nhỏ và một hệ thống tài chính hạn chế vẫn được duy trì Việt Nam vẫn tồn tại một hệ thống tài chính yếu kém và môi trường kinh tế vĩ mô vẫn còn chưa ổn định Để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện nền kinh tế, hệ thống ngân hàng đã có những cải cách nhất định Sự can thiệp của chính phủ trong việc phân bổ vốn giảm dần và có khuynh hướng chuyển sang phân bổ vốn theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Theo đó hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu đổi mới vào 1988 thay thế hệ thống ngân hàng một cấp bằng hệ thống ngân hàng hai cấp, đổi mới

cơ bản hoạt động của toàn bộ hệ thống theo khuynh hướng phát triển các kênh sẳn có để thu hút nguồn vốn trong nước và phát huy tính cạnh tranh NHNN dần cắt giảm các chức năng của NHTM và vai trò của ngân hàng trung ương là thi hành chính sách tiền tệ (thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân; thực hiện độc quyền phát hành

Trang 25

tiền, tổ chức thanh toán trong nền kinh tế, thực hiện một số hoạt động kinh doanh tổng hợp trong hệ thống ngân hàng) nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế thông qua việc kiểm soát lạm phát Hơn nữa, sự tách rời NHNN ra khỏi sự chi phối của Kho bạc nhà nước và Bộ tài chính đã tạo được sự độc lập cho NHNN trong việc quản lý cung tiền tệ Kết quả là Ngân hàng công thương (Incombank) và Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam (Agribank) được thành lập tách ra từ các chi nhánh NHNN ở các tỉnh, thành phố Một hệ thống ngân hàng chuyên doanh gồm 4 ngân hàng do Nhà nước quản lý được thành lập để cung cấp tín dụng theo kế hoạch của Chính phủ (Nghị định 53/HĐBT, ngày 26/3/1988) Hai ngân hàng, Ngân hàng ngoại thương và Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, vẫn thực hiện các dịch vụ truyền thống của nó Ngân hàng công thương Việt Nam cung cấp vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại, Ngân hàng nông nghiệp cho vay trực tiếp phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, trong thực tế NHNN vẫn không thực sự chuyển giao chức năng kinh doanh thương mại Nó vẫn còn tiếp tục cung cấp tín dụng cho ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ 1988-1990 Để thấy hệ thống ngân hàng một cấp hoàn toàn chúng ta nghiên cứu hệ số tạo tín dụng (Tỷ số giữa tổng tín dụng trong nước và tín dụng ngân hàng trung ương cấp cho các NHTM) Hệ số này bằng một trong trường hợp hệ thống ngân hàng một cấp hoàn toàn, bởi vì NHTM thất bại trong chức năng huy động vốn hay nói đơn giản là chức năng này không tồn tại Hệ số này càng lớn chứng tỏ rằng hệ thống NHTM hoạt động độc lập với ngân hàng trung ương Với Việt Nam, hệ số này trong những năm cuối thập niên 80 ở vào khoảng 1,5 và hầu như gần bằng 1, một con số rất nhỏ so với các nước khác Năm 1989 hệ số này gần bằng 1,7 mặc dù đã có bốn NHTM quốc doanh, nhưng các ngân hàng này đã thất bại trong

chức năng huy động vốn, chuyển giao vốn từ các khu vực phi tài chính (Bảng

2.1)

Sau hơn hai năm hoạt động theo yêu cầu đổi mới nền kinh tế nước ta, được xem là bước thử nghiệm, đã rút ra nhiều kinh nghiệm cho quá trình tiếp tục đổi mới hệ thống ngân hàng Đổi mới căn bản và toàn diện hoạt động của hệ thống ngân hàng là mũi nhọn đột phá, góp phần tích cực đưa nền kinh tế xã hội

ra khỏi khủng hoảng, từng bước ổn định và hội nhập với cộng đồng quốc tế Tháng 5/1990 Hội đồng Nhà nước ban hành hai pháp lệnh ‘Pháp lệnh về ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính’ có hiệu lực thi hành từ 1/10/1990 Theo hai pháp lệnh này, NHNN là ngân hàng trung ương có chức năng quản lý nhà nước, sử dụng các công cụ vĩ mô để kiểm soát hệ thống tiền tệ và kinh doanh tiền tệ với các biện pháp kiềm chế lạm phát và thanh tra hoạt động của hệ thống NHTM, chẳng hạn, công cụ dự trữ bắt

Trang 26

buộc, tham gia vào thị trường mở, kiểm soát việc dự trữ ngoại tệ, xây dựng một hệ thống quản lý và giám sát NHTM và các tổ chức tín dụng, … Điều này đã tạo

ra động lực cho các NHTM được phép kinh doanh tiền tệ và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật để tạo ra lợi nhuận Đồng thời NHNN kiểm soát cung tiền tệ dựa trên các lý thuyết tạo tiền hiện đại và các công cụ như dự trữ bắt buộc, hạn mức tín dụng

Các NHTM quốc doanh đã thực hiện tốt các chức năng ‘kinh doanh’ qua việc kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ ngân hàng để tối đa hóa lợi nhuận đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của chúng Trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước qua tín dụng bị xóa bỏ, lãi suất thực chuyển dần từ âm sang dương, và không có sự phân biệt lãi suất đối với chương trình hay dự án được cấp vốn từ NSNN và các dự án không được cấp vốn Nói cách khác tín dụng được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế kể cả thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và dân

cư chứ không chỉ dành riêng cho thành phần kinh tế quốc doanh Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại đã được đa dạng hóa và phát triển thông qua việc phát triển các công cụ huy động vốn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng Hơn thế, chức năng và nhiệm vụ mới của NHTM cũng được qui định trong hai pháp lệnh này Ví du ï: các công ty tài chính , NHTM và các tổ chức tín dụng khác được phép phát hành lệnh phiếu, kỳ phiếu, tiền gửi tiết kiệm hay trái phiếu Các tổ chức tín dụng có thể tham gia vào việc mua cổ phần để trở thành cổ đông của các doanh nghiệp NHTM và các công ty tài chính không chỉ cho vay mà còn mở ra nhiều hoạt động khác phục vụ khách hàng như dịch vụ thuê mua, tư vấn đầu tư , kinh doanh mua bán chứng khoán, … Từ những năm 90 trở

đi, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã mở rộng, bao gồm : NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng và ngân hàng phát triển nhà,…

Trước sự phát triển của nền kinh tế đặt ra yêu cầu hệ thống pháp luật ngân hàng phải được hoàn chỉnh hơn cho phù hợp Ngày 26/12/1997 Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng đã được công bố và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1998 Trên cơ sở nâng hai pháp lệnh thành hai luật, ngoài việc phát huy những tiến bộ và khắc phục những hạn chế của hai pháp lệnh, hai luật còn đưa ra những điều khoản nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của hệ thống ngân hàng ngày càng hiệu quả hơn phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Đến nay hệ thống ngân hàng bao gồm :

Ngân hàng nhà nước : là ngân hàng trung ương có chức năng quản lý nhà

nước đối với hệ thống ngân hàng Bộ máy NHNN được tổ chức từ Trung ương

Trang 27

NHNN trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ, quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và thực thi chức năng ngân hàng của các ngân hàng

Hệ thống các tổ chức tín dụng : thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và

dịch vụ ngân hàng Bao gồm : hệ thống các NHTM quốc doanh (Ngân hàng công thương, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn , Ngân hàng đầu

tư và phát triển, Ngân hàng ngoại thương), ngân hàng chính sách (Ngân hàng phục vụ người nghèo, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, …), các NHTM cổ phần đô thị và nông thôn, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và ngân hàng liên doanh, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính

Nói chung, đã có sự thay đổi lớn trong việc đa dạng hóa các thể chế và sở hữu cũng như cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Những thay đổi này đã làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn trong phân bổ tín dụng và nó giữ vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2.2 Ngân hàng Việt Nam với vai trò trung gian tài chính

Trong những năm gần đây Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Nó được xem là kết quả của cải cách tài chính, mà chủ yếu là những đổi mới của hệ thống ngân hàng đã làm cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp thay đổi thái độ tiết kiệm và đầu tư cuả họ theo khuynh hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế Vấn đề đặt ra là hệ thống ngân hàng Việt Nam đã thực hiện chức năng trung gian tài chính như thế nào để góp phần phát triển TTTC và thúc đẩy sự phát triển kinh tế

2.2.1 Hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trước cuộc đổi mới

Cơ cấu của hệ thống ngân hàng chi phối hoạt động của nó Nét nổi bật của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn này chính là sự can thiệp quá sâu của chính phủ Hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động với vai trò chủ yếu như nhà quản lý quỹ tiền tệ của Nhà nước, phục vụ cho khu vực kinh tế quốc doanh và bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước NHNN ban hành các quyết định tài chính theo kế hoạch của chính phủ Vì vậy việc huy động và phân bổ vốn đều dựa vào kế hoạch trung ương thông qua tài chính công không theo cơ chế của nền kinh tế thị trường Theo cơ chế của nền kinh tế thị trường thì các đơn vị vay vốn từ khu vực tài chính và vốn được phân phối dựa vào khả năng sinh lời của các dự án đầu tư có thể mang lại, kể cả các dự án đầu tư công cộng Hạn chế tài chính được thể hiện rỏ thông qua việc NHNN thực hiện vai trò trung gian tài chính như thế nào ?

Trang 28

Trên lĩnh vực tiền gửi, NHNN huy động vốn từ hai nguồn: tiền gửi tiết

kiệm của dân chúng và tài khoản tiền gửi của các doanh nghiệp nhà nước

Để thực hiện chức năng này, một hệ thống quỹ tiết kiệm XHCN được thành lập để huy động vốn trong dân chúng Hệ thống quỹ tiết kiệm này hoạt động theo luật lệ và sự giám sát của NHNN NHNN không chỉ quy định lãi suất cho các trung gian tài chính mà còn quy định cả các thủ tục gửi tiền vào quỹ tiết kiệm Ngoài các động lực kinh tế, các biện pháp chính trị cũng được áp dụng để khuyến khích người dân gởi tiết kiệm Các khoản tiết kiệm này được đưa vào quỹ tiết kiệm XHCN

Ngoài ra, theo nguyên tắc quản lý tài chính của cơ chế kế hoạch tập trung, các DNNN phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN mà không được hưởng lãi suất bởi vì họ không còn ‘sở hữu’ số tiền này Tài khoản tiền mặt của DNNN

do Nhà nước kiểm soát và quyết định chi tiêu vào mục đích gì Nói cách khác, số tiền gửi này được gửi vào NSNN và được phép sử dụng theo kế hoạch chi tiêu của Nhà nước

Trên lĩnh vực tín dụng, chính sách tín dụng trực tiếp được áp dụng Tín

dụng là nguồn tài trợ chủ yếu cho các tổ chức kinh tế, được phân phối đến các đơn vị theo kế hoạch tín dụng với sự hướng dẫn của NHNN Tín dụng chủ yếu được phân phối đến các khu vực kinh tế ưu tiên, đặc biệt ngân hàng đã có những điều kiện ưu đãi trong việc cấp tín dụng cho ngành công nghiệp nặng Trong giai đoạn này, DNNN và các HTX là khách hàng duy nhất của ngân hàng, trong khi đó khu vực tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp, các hộ

nông dân các thể không được ngân hàng quan tâm (Bảng 2.2)

Hơn thế , DNNN được chính phủ trợ cấp dưới dạng cung cấp tín dụng với lãi suất thấp mà không quan tâm cân bằng cung cầu của nguồn tài chính, hiệu quả sử dụng khoản tín dụng này hay những rủi ro tài chính Lãi suất cho vay này còn được cố định ở mức thấp để giảm chi phí về vốn nhằm khuyến khích đầu tư Bên cạnh đó, chính sách đa lãi suất quy định các mức lãi khác nhau cho các khu

vực kinh tế khác nhau cũng được áp dụng (Bảng 2.3)

Như vậy, chính phủ đã quản lý cả lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và chính sách tín dụng Trong thực tế, hệ thống ngân hàng hoạt động như người giữ tiền của chính phủ và như nhà tổ chức quản lý hành chánh thực hiện kế hoạch từ trung ương Chế độ tài chính hạn chế gây ra những ảnh hưởng gì đến nền kinh tế Việt Nam, và nó có còn thích hợp với nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hay không ?

Trang 29

2.2.1.1 Hệ thống thanh toán

Trong thời kỳ này, hầu hết các giao dịch trên thị trường hàng hóa người tiêu dùng đều sử dụng tiền mặt và các nhà sản xuất thực hiện chuyển khoản qua ngân hàng (Các đơn vị phải có tài khoản tiền gửi ở ngân hàng bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng và chấp hành các qui định về thanh toán, thu, chi, vận chuyển tiền mặt) Vì thế tính thanh khoản ở đây chủ yếu là cung cấp tiền mặt và việc chuyển khoản qua ngân hàng Để quản lý tiền tệ và thanh toán không dùng tiền mặt, cái gọi là kế hoạch tiền mặt và chính sách tín dụng được thiết lập Các chính sách này bị chi phối bởi yêu cầu của ngân sách Chính sách tiền tệ và các mục tiêu của nó gắn liền với kế hoạch tín dụng Mà kế hoạch tín dụng lại dựa trên nhu cầu tài chính của ngân sách và các DNNN hơn là độc lập trong quyết định Đó là chính sách phát hành tiền giấy và quản lý tiền mặt trong nền kinh tế Một cách trực tiếp, hệ thống ngân hàng Việt Nam tài trợ cho ngân sách thông qua việc cho vay để bù đắp thiếu hụt ngân sách, và một cách gián tiếp là cung cấp tiền mặt và tín dụng nhằm đáp ứng những mục tiêu kế hoạch sản xuất của DNNN Các công cụ tài chính thì nghèo nàn, hệ thống thanh toán trì trệ, lạc hậu

2.2.1.2 Huy động tiết kiệm

Một trong những mục tiêu chính của Việt Nam là tỷ số GDS/GDP tăng lên, nó là điều kiện để Việt Nam có thể đạt được và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao Bảng 2.5 cho thấy GDS/ GDP tăng lên từ năm 1986-1988, mặc dù tỷ số này vẫn còn rất thấp so vơí các nước khác Tuy nhiên trong thời kỳ này tiết kiệm tài chính giảm do sự mất ổn định kinh tế vĩ mô thể hiện qua lạm phát phi mã, thâm hụt ngân sách … Thực tế là tiết kiệm trong nước được ước đoán là rất

thấp (Bảng 2.5)

Hệ thống ngân hàng Việt Nam mất khả năng thu hút tiền gửi từ các cá

Hình 2.1 GDS/GDP của các nước Châu Á đang phát triển (%)

Trang 30

nhân và các DNNN trong giai đoạn 1986-1988 Đây chính là do lãi suất thực âm, nguyên nhân là do tỷ lệ lạm phát tăng nhanh trong khi lãi suất không được điều chỉnh kịp với sự biến động của tỷ lệ lạm phát

Lãi suất thực âm làm giảm sức mua của giá trị tiền gửi ngân hàng, lại thêm thái độ quan liêu gây phiền hà cho khách hàng nên các hộ gia đình thay thế tiết kiệm của họ dưới hình thức tiền gửi ngân hàng bằng bất động sản, vàng, dolla Mỹ, hàng hóa tiêu dùng, lương thực thực phẩm Đối với DNNN, tiết kiệm bắt buộc dưới hình thức tài khoản tiền gửi ngân hàng không được duy trì chặt chẽ do sự quản lý lỏng lẽo của ngân hàng hay do ‘sự gian lận’ của các doanh nghiệp Hơn thế, do tỷ lệ lạm phát nhanh các doanh nghiệp giữ tiền lại để mua hàng hóa dự trữ Làm như thế, các doanh nghiệp có thể kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá bán và giá mua Kết quả là số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng của các doanh nghiệp giảm

Quy định của chính phủ về mức lãi suất quá thấp do đó đã không thu hút việc gửi tiền tiết kiệm của các hộ gia đình và các doanh nghiệp Một mặt, tỷ suất lợi nhuận của các tài sản tài chính quá thấp đã khuyến khích tăng mức tiêu dùng hiện tại Mặt khác, lãi suất thực của tiền gửi tiết kiệm âm và sự thiếu lòng tin của nhân dân vào hệ thống ngân hàng đã chuyển tiền tiết kiệm từ khu vực tài chính chính thức sang những tài sản chống lạm phát không thuộc lĩnh vực sản xuất như bất động sản, vàng, ngoại tệ, hàng hóa Điều này được phản ánh thông qua việc giảm tỷ số M2/GDP từ 25% năm 1986 xuống dưới 21% vào cuối năm

1988 (IMF, 1995) Điều này làm giảm nguồn vốn cho các đầu tư mới, vì vậy làm chậm lại tốc độ tăng đầu tư

2.2.1.3 Phân bổ đầu tư

Ở Việt Nam, nguồn vốn trong nước cho đầu tư bị hạn chế Định hướng tín dụng nhằm phân bổ hiệu quả nguồn vốn khan hiếm cho các dự án đầu tư trong các khu vực ưu tiên có vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy sự thành công của chương trình tín dụng trực tiếp tài trợ cho xuất khẩu Ở giai đoạn đầu của chương trình khuyến khích xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc cung cấp tín dụng ngắn hạn với lãi suất trợ cấp mà không đòi hỏi phải thế chấp Các nhà xuất khẩu thành công cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia các hoạt động liên quan đến xuất khẩu đã được tạo nhiều điều kiện thuận lợi đối với các khoản vay ngân hàng

Như đã đề cập ở phần trên, ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp nặng được hưởng những điều kiện ưu đãi nhất phục vụ cho sự phát triển của

Trang 31

ngành này thông qua những khoản trợ cấp từ ngân sách nhà nước, ưu tiên được vay ngân hàng với lãi suất thấp Nhưng trong giai đoạn này ngành công nghiệp Việt Nam mà chi phối là ngành công nghiệp nặng kém phát triển và sử dụng nhiều vốn, có tỷ suất sinh lời rất thấp so với các ngành khác Vì vậy đầu tư vào công nghiệp nặng là không hiệu quả Mặt khác, định hướng tín dụng đã hạn chế tín dụng dành cho các ngành không thuộc diện ưu tiên, chẳng hạn như các ngành công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (công nghiệp nhẹ, thủ công mỹ nghệ…), ngành nông nghiệp, thương mại và dịch vụ Hậu quả của nó là một sự khan hiếm hàng tiêu dùng và dịch vụ, nạn thất nghiệp tăng lên

Hệ thống ngân hàng cơ bản được xem như một vụ, cục phân phối tín dụng mà không quản lý, điều hành hệ thống các trung gian tài chính theo nguyên lý kinh doanh của thị trường Vì thế lãi suất cho vay không phải là giá cả tín dụng mà được chính phủ qui định ở mức rất thấp để khuyến khích đầu tư chứ không dựa vào cân bằng cung và cầu tín dụng Như đã đề cập ở phần trên, lãi suất thực âm trong thời kỳ này và mức lãi suất cho vay thấp so với lãi suất huy động vốn Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp đua nhau vay vốn ngân hàng để kiếm lợi nhuận, không phải lợi nhuận do tăng đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất và cải tiến kỷ thuật Kết quả là cầu giả tạo về tín dụng tăng nhanh trong khi đó cung tín dụng từ tiền gửi giảm bởi vì lãi suất thực ngân hàng âm không thể huy động vốn của dân chúng

Điều tra về tiền tệ 1986-1988 cho thấy tổng tín dụng trong nước tăng hơn

300%/ năm (Bảng 2.2) Phần lớn tín dụng cung cấp cho ngân sách và các DNNN với mức lãi suất thực âm hay rất thấp (Bảng 2.3 và bảng 2.6) Để bù đắp cho

khoản chênh lệch giữa cầu tín dụng và tiền gửi tiết kiệm, NHNN thường chọn giải pháp là phát hành tiền Trong khoảng thời gian 1986 – 1988, tiền giấy được

in và đưa ra lưu thông, tăng từ 12.300 triệu VNĐ vào cuối năm 1985 đến 55.000 triệu VNĐ vào cuối năm 1986 và đạt tới 83.300 triệu VNĐ năm 1987 Năm

1988, tăng 13,5 lần so với trước (Võ Đại Lược, 1992) Vì thế lạm phát là không tránh khỏi

Hơn thế, hàng hóa trong lưu thông có thể trở nên khan hiếm hơn bởi vì các khoản vay ngân hàng lại được các doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động kinh doanh buôn bán, dự trữ hàng hóa dưới hình thức hàng tồn kho và bán ra khi giá cả của hàng hóa tăng lên hay kiếm lợi nhuận từ khoản chênh lệch giữa giá chính thức và giá thị trường.1

1 Xét về tổng thể, giá cả thị trường tự do có khuynh hướng cao hơn nhiều lần giá chính thức Chẳng hạn, giá chính thức của gạo là 50 VNĐ/kg vào tháng 6/1988, thì giá ở thị trường tự do là 450 VNĐ Giá chính thức của phân Urê là 190 VNĐ, nhưng giá thị trường tự do là 500 VNĐ Giá thị trường của dolla trước năm 1989 cao gấp 5 đến 10 lần tỷ giá chính thức (Adam Florde, 1996)

Trang 32

Lãi suất cho vay rất thấp và âm đã không mang lại động lực cho ngân hàng tối đa hóa lợi nhuận Ngân hàng phân phối tín dụng dựa trên việc đánh giá xem các dự án đầu tư của người vay có phù hợp với kế hoạch nhà nước hay không chứ không dựa vào các đặc tính của dự án, tính kinh tế, hiệu quả về tài chính và kỷ thuật Điều này làm cho việc phân bổ vốn hiệu quả là không thể thực hiện được

Kết luận.:

Hệ thống ngân hàng Việt Nam trước cuộc đổi mới là mô hình ngân hàng một cấp, với tính chất tài chính hạn chế hoạt động trong nền kinh tế bao cấp và kế hoạch tập trung Hệ thống ngân hàng không thể thực hiện vai trò trung gian tài chính thực sự Nguồn vốn được huy động và phân bổ theo kế hoạch từ trung ương thông qua tài chính công, mà chủ yếu là dựa vào việc phát hành tiền Chính sách tín dụng trực tiếp vẫn được tiếp tục áp dụng, các doanh nghiệp không thuộc diện ưu tiên rất ít có cơ hội nhận được tín dụng từ ngân hàng như là các doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên Điều này đã hạn chế sự cạnh tranh và tính sáng tạo của các doanh nghiệp Nó cũng dẫn đến một sự lãng phí nguồn vốn khan hiếm và việc cho vay thất bại do đầu tư không hiệu quả Ngoài ra, đó cũng là nguyên nhân chính đưa đến tỷ lệ lạm phát cao, khủng hoảng kinh tế và sự mất ổn định của kinh tế vĩ mô trong những năm 1980 Hậu quả là thu nhập trên đầu người thấp, mức huy động tiết kiệm thấp

2.2.2 Vai trò của hệ thống ngân hàng giai đoạn từ đổi mới đến nay

Cho đến năm 1988, Việt Nam vẫn tồn tại một hệ thống tài chính yếu kém và môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, mà chủ yếu là do sự can thiệp quá sâu vào hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng kế hoạch tín dụng và bù đắp thiếu hụt ngân sách Từ 1986 – 1990, NHNN cung cấp tín dụng bù đắp trên 50% thiếu hụt ngân sách (Flord, 1996), hay một hệ thống tài chính thắt chặt trong cơ chế kế hoạch tập trung Đây là một trong những chướng ngại vật thách thức kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi Vì vậy, để duy trì và bảo đảm cho quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế được phát huy toàn diện, bảo đảm cho nền kinh tế Việt Nam chuyển sang thời kỳ mới một cách ổn định, một yêu cầu tất yếu, không thể bỏ qua là phải đổi mới triệt để hoạt động ngân hàng chuyển sang cơ chế thị trường Như vậy sự đổi mới khu vực tài chính là cần thiết

∗ Đổi mới hệ thống ngân hàng

Năm 1988, hệ thống ngân hàng thực hiện đổi mới Mục đích của cuộc đổi mới là cải thiện khả năng của ngân hàng thông qua các cải cách thuộc về thể

Trang 33

chế, thay đổi cơ chế hoạt động và cải cách các chính sách Nội dung cơ bản về đổi mới cơ chế hoạt động ngân hàng có thể được tóm tắt như sau :

Đổi mới mô hình tổ chức hệ thống ngân hàng : hệ thống ngân hàng một cấp đã được thay thế bằng hệ thống ngân hàng hai cấp (phần 2.1.1, chương 2) Và sự tách rời NHNN khỏi sự chi phối của Kho bạc và Bộ tài chính đã tạo được sự độc lập cho NHNN trong việc quản lý cung tiền tệ, một thước đo có tính chất quyết định để thiết lập hệ thống tài chính thích hợp với một nền kinh tế đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường

Cùng với cải cách thuộc về thể chế, trên lĩnh vực chính sách tiền tệ cũng đã có những thay đổi đáng kể Nay chính sách tiền tệ được xem như là một công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế NHNN được độc lập tương đối trong điều hành chính sách tiền tệ để ổn định giá cả và giá trị của đồng tiền Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tích lũy và tập trung vốn phục vụ chiến lược kinh tế và những mục tiêu xã hội, khuyến khích các thành phần kinh tế khác nhau tận dụng tối đa nguồn lực tiềm tàng của nền kinh tế nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế Những đổi mới trong chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư , vai trò trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn này được thực hiện

Việc đổi mới chính sách lãi suất, một công cụ điều hành chính sách tiền tệ, được thực hiện như là một phần của chương trình ổn định kinh tế vĩ mô trong 1989-1990 Mục đích của đổi mới chính sách lãi suất là: (i) điều chỉnh lãi suất phù hợp với sự thay đổi giá cả thị trường sao cho lãi suất thực dương, (ii) áp dụng các mức lãi suất thống nhất đối với các thành phần kinh tế khác nhau, (iii) trả lãi cho tất cả vốn huy động và hưởng lãi khi cho vay

Tuy nhiên, vẫn có vài vấn đề chưa được áp dụng Trong thực tế, cơ cấu của lãi suất cho vay vẫn chưa thay đổi nhiều mặc dù đã có những thay đổi đáng kể trong chính sách lãi suất tiền gửi Lãi suất cho vay hổ trợ vẫn được tiếp tục duy trì Lãi suất cho vay vẫn thấp so với lãi suất tiền gửi và lạm phát Khoảng cách âm giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay đã đẩy các NHTM vào tình trạng tài chính rất xấu do sự thua lỗ trầm trọng, khoảng 0,5% GDP hàng năm trong thời kỳ 1989 – 1991 Sự thua lỗ này được bù đắp bởi NHNN thông qua việc in tiền Việc tiếp tục bơm tiền vào lưu thông một lần nữa tạo thành sức ép lạm phát

Năm 1993, có một sự thay đổi hơn nữa trong chính sách lãi suất, nó đặc biệt quan tâm đến lãi suất cho vay Cơ cấu lãi suất mới đã xóa bỏ yếu tố bao cấp các khu vực ưu tiên Lãi suất cho vay phân biệt các thành phần kinh tế được xóa bỏ, thay đó là lãi suất cho vay được phân biệt theo thời hạn cho vay Hơn thế,

Trang 34

chính sách lãi suất được điều chỉnh theo : (i) đảm bảo lãi suất ương, nghĩa là lãi suất cho vay cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm, (ii) NHNN chỉ quy định lãi suất sàn tiền gửi và lãi suất trần cho vay, trên cơ sở đó các ngân hàng xác định mức lãi suất cụ thể của mình Đây chính là một bằng chứng của tự do hóa tài chính, (iii) xóa bỏ hệ thống đa lãi suất phân biệt theo thành phần kinh tế và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, và áp dụng chính sách lãi suất như nhau đối với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là lãi suất thống nhất giữa thành phần kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh Vì vậy, đổi mới chính sách lãi suất góp phần kiềm chế lạm phát thông qua hai ảnh hưởng : (i) tập trung một lượng lớn tiền mặt vào ngân hàng, giúp NHNN cắt giảm một lượng tiền mặt trong lưu thông và điều hành chính sách tiền tệ, (ii) hàng hóa dự trữ được đưa ra bán trên thị trường, tránh tình trạng khan hiếm hàng hóa Vì vậy giá cả hàng hóa giảm xuống

Cùng với đổi mới lãi suất còn có những đổi mới về giá, tỷ giá và thương mại Sự thay đổi này được xem như là công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo sự ổn định vĩ mô nền kinh tế và khuyến khích xuất khẩu, làm cho khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và không chính thức thu hẹp dần

Cải cách giá của hầu hết các loại hàng hóa được quyết định thông qua cơ chế cung - cầu Cải cách thương mại đã xóa bỏ rào chắn giữa các vùng trong nước và mở cửa hoạt động thương mại với nước ngoài Bên cạnh đó, cải cách trong chính sách tỷ giá với hệ thống tỷ giá cố định và đa tỷ giá (tỷ giá do nhà nước quy định và tỷ giá thị trường tự do) được thay thế bằng hệ thống tỷ giá linh hoạt và duy nhất Hệ thống tỷ giá trợ cấp cho hoạt động ngoại thương bị hủy bỏ Chế độ tỷ giá hoạt động theo cơ chế thị trường được từng bước thiết lập thông qua phá giá tiền tệ Điều đó có nghĩa là tỷ giá chính thức gần bằng với tỷ giá thị trường, nó đã loại bỏ tính hai mặt của thị trường ngoại hối Một tỷ giá hối đoái hợp lý phản ánh sức mua thực sự sẽ làm tăng nguồn thu ngoại tệ và phát triển thương mại quốc tế Nó cũng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và sự phát triển kinh tế Kết quả là thị trường ngoại hối ngày càng ổn định hơn Sự biến động tỷ giá hối đoái giảm dần Thực tiễn trong những năm 1990 - 1991 tỷ giá hối đoái biến động 50% - 60%, năm 1992 là 12,7%, và khoảng 5,1% và 1,1% tương ứng các năm 1993 và 1994, năm 1996 chỉ khoảng 0,2% Nói chung từ 1992 trở lại đây tỷ giá hối đoái ổn định (có biến động nhưng ở mức có thể chấp nhận được) có ý nghĩa rất lớn trong việc phối hợp để giữ ổn định giá trị đồng Việt Nam và chống lạm phát, góp phần tạo thế ổn định cho sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu

Ngoài ra, có những thay đổi đáng kể trong kiểm soát cung tiền tệ nhằm tối thiểu hóa những méo mó trong phân bổ vốn thông qua sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ như công cụ tái cấp vốn (qua hình thức tái chiết khấu), công

Trang 35

cụ dự trữ bắt buộc, công cụ trần lãi suất (nghiệp vụ thị trường mở chưa phát triển

ở Việt Nam)

Để duy trì một hệ thống tài chính hiệu quả, hệ thống quản lý và giám sát hoạt động hệ thống ngân hàng được xây dựng nhằm giúp hệ thống ngân hàng tránh được những rủi ro của nền kinh tế thị trường

Tất cả những đổi mới trên cho thấy Việt Nam đã xây dựng một hệ thống ngân hàng phục vụ cho nền kinh tế đang chuyển sang kinh tế thị trường Yếu tố bao cấp trong cơ chế kế hoạch được dần dần thay thế bởi nguyên lý thị trường trong hoạt động của khu vực tài chính Công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam sẽ được đánh giá thông qua nâng cao tính hiệu quả của vai trò trung gian tài chính trong phần sau

2.2.2.1 Huy động tiết kiệm

Để đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả của việc huy động vốn, hệ thống tài chính Việt Nam, mà chi phối chủ yếu là hệ thống ngân hàng, đã đưa ra một vài hình thức tài sản tài chính sẳn có như tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm, trái phiếu kho bạc, … Việt Nam đã có thị trường chứng khoán và các định chế tài chính khác, tuy nhiên chỉ ở giai đoạn mới hình thành và chưa phát triển Các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí,… hoạt động trong giới hạn

nhất định Vì thế ‘ảnh hưởng danh mục đầu tư’ (‘portfolio effect’) không đáng kể

trong việc huy động tiết kiệm trong nước Người Việt Nam thường suy nghĩ là có nên gửi tiết kiệm của họ vào ngân hàng dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn hay giữ ở nhà, hay là cho vay trên thị trường không chính thức Tuy nhiên, đổi mới hệ thống ngân hàng đã mở rộng hoạt động của ngân hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng góp phần tăng tiền gửi tiết kiệm trong những năm gần đây

Tiền gửi tiết kiệm trong các tổ chức tín dụng tăng lên do hai nguồn : (i) sự chuyển từ tài sản phi tài chính sang tài sản tài chính, (ii) động lực để tiết kiệm

Đổi mới hệ thống ngân hàng có tác động đến hành vi tiết kiệm ở Việt Nam như thế nào ? Một điều dể nhận thấy là có một sự thay đổi đáng kể trong thành phần của tiền gửi tiết kiệm Đây có thể là kết quả của đổi mới chính sách lãi suất năm 1989, một yếu tố quyết định động lực tiết kiệm Lãi suất tiền gửi được điều chỉnh từ lãi suất âm sang lãi suất dương đã làm cho tiền gửi tiết kiệm

trở nên hấp dẫn nhất trong danh mục tiết kiệm (savings portfolio) Lãi suất thực

của tiền gửi đạt đến một mức cao không ngờ là 51,6%/năm vào 1989 Với lãi suất tiền gửi cao như thế, không chỉ thái độ tiết kiệm các cá nhân mà tiết kiệm của các DNNN cũng thay đổi, kết quả là một lượng lớn tiền nhàn rỗi chảy vào

Trang 36

ngân hàng Tổng tiền gửi tiết kiệm của các hộ gia đình gửi vào ngân hàng tăng 630% trong thời kỳ 3/1989 – 1/1990, đặc biệt là tiền gửi có kỳ hạn tăng nhanh hơn tiền gửi thanh toán Trong thời kỳ này, tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp cũng lên đến 214 tỷ VNĐ, 43 tỷ VNĐ tương ứng từ 0

vào 3/1989 Tổng cộng tiền gửi tăng 335% (Bảng 2.7) Việc các doanh nghiệp

gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng hơn là đầu tư kinh doanh có thể được giải thích là do lãi suất dương hấp dẫn, và họ ngại phải đối phó với những khó khăn khi kinh doanh trong cơ chế thị trường Vì vậy tỷ trọng của tiền gửi có kỳ hạn trong tổng tiền gửi đồng VN trên 50% Không còn nghi ngờ gì nữa, lãi suất cao có vai trò quan trọng trong việc thu hút tiền tiết kiệm chuyển sang tài sản tiền gửi tiết kiệm mà tiền gửi bằng đồng VN là chủ yếu

Tuy nhiên trong giai đoạn 1990 – 1991, lãi suất lại thực âm (là do lãi suất được điều chỉnh chậm hơn tỷ lệ lạm phát) cộng với sự sụp đổ của các tổ chức tín dụng đã phá hủy niềm tin vào hệ thống ngân hàng Điều này làm cho khuynh hướng dự trữ của người có tiết kiệm chuyển tiết kiệm của họ từ tài sản tài chính sang tài sản thực Kết quả là tỷ lệ tăng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn giảm từ 74,2% năm 1990 còn 19,3% năm 1991

Năm 1992, lãi suất tiền gửi lại dương nhưng thái độ tiết kiệm của dân chúng vẫn không thay đổi nhiều Cuộc điều tra mức sống ở Việt Nam (VLSS) cho thấy vẫn có nhiều tiết kiệm tài chính ngoài hệ thống ngân hàng dưới hình thức giữ ngoại tệ, vàng, bất động sản, trong đó vàng vẫn được xem là hình thức giữ tiền tiết kiệm ưa thích nhất, chiếm 44% trong tổng tiết kiệm Lượng vốn này được đầu tư vào khu vực sản xuất khá thấp, trong khi đó đầu tư động sản tăng lên Tại sao ? Bởi vì giá cả bất động sản tăng đều đặn do có cơn sốt nhu cầu về bất động sản năm 1992 - 1993 Vì vậy đầu tư vào bất động sản trở nên hấp dẫn nhất bởi vì nó mang lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong danh mục đầu tư 2

Năm 1994, tiền gửi tiết kiệm ngân hàng lại trở nên hấp dẫn Bởi vì kinh tế vĩ mô đã ổn định với tỷ lệ lạm phát thấp, cộng với thị trường bất động sản đạt đến trạng thái cân bằng và các tài sản tài chính khác như vàng và dolla thì tương đối ổn định Vì thế, tiền gửi có kỳ hạn ở Việt Nam tăng lên 63,5% vào năm 1993

- 1994 Đặc biệt, tỷ lệ tăng của tiền gửi ngoại tệ chuyển sang dương lên đến

2 Cuối năm 1992 – đầu năm 1993, giá cả xây dựng tăng lên hằng ngày Trong 6 tháng, giá bất động sản

Trang 37

10,6% từ âm trong năm 1990 - 1993 Nhưng tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ giảm còn 41% năm 1994 từ tỷ trọng cao 62% năm 1991 Đây có thể là nhân tố góp phần làm tăng mạnh lãi suất thực của tiền gửi đồng VN so với lãi suất đang thịnh hành trên thế giới Tự do hóa chế độ thương mại và tỷ giá hối đoái làm giảm nhu cầu cất giữ tiền gửi ngoại tệ Tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn trong tổng tiền gửi tăng liên tục, tỷ số tiền gửi không kỳ hạn/tiền rộng, tỷ số tiền ngoài ngân

hàng/tiền rộng và tỷ số của tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn vẫn thấp hơn

so với các nước Châu Á (khoảng 20%) Điều này cho thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn bị hạn chế trong huy động tiết kiệm Tỷ lệ tăng cao tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống ngân hàng và vẫn được duy trì trong năm 1995, tăng 52,9%

so với năm 1994 mặc dù lãi suất tiền gửi được điều chỉnh xuống

Thực chất hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở giai đoạn kém phát triển nếu xét tỷ số tiền gửi / GDP Chúng ta có thể nhận thấy qua tỷ số tiền gửi trung bình /GDP chỉ 16,57% vào 1989 – 1995, là mức thấp nhất so với các nước Châu

Á khác như Indonesia 34,64%, Malaysia 47,14%, Philipine 30,97%, Singapore 51,09%, Thái Lan 65,9%, Trung quốc 46,63%, Hàn Quốc 35,07% Bảng 2.8 cho thấy mặc dù tiền gửi tiết kiệm (hay tiền gửi định kỳ) tăng lên, tỷ số tiền gửi /GDP giảm từ năm 1989, từ 22,1% vào năm 1989 còn 15% năm 1992, 13,2% năm 1993 Các tỷ số một lần nữa cho thấy có một sự chuyển dịch sang đầu tư bất động sản bởi vì tỷ suất lợi nhuận là cao nhất trong danh mục đầu tư trong thời kỳ

1992 – 1993

Sau đó tỷ số tiền gửi /GDP lại tăng nhưng chỉ 14,3% vào năm 1994 và 15,1% năm 1995 Đây có thể là kết quả của hai nhân tố khác được đề cập tới triển vọng của việc nâng cao khả năng huy động vốn là tăng tầm quan trọng của việc giữ chứng khoán chính phủ và tăng sự thành công của các ngân hàng ngoài quốc doanh trong việc huy động tiết kiệm Chứng khoán chính phủ (mà nó được

Trang 38

xem như một công cụ nợ) được phát hành vào năm 1991 và đã tăng đến 13% trong tài sản tài chính, bằng khoảng 28% trong tổng tiền gửi ngân hàng Người có tiết kiệm giữ chứng khoán chính phủ chiếm giá trị lớn hơn tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm ngân hàng Cho đến cuối năm 1994, chứng khoán chính phủ mà chủ yếu là trái phiếu kho bạc Lãi suất của trái phiếu kho bạc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn Vào tháng 6/1995 trái phiếu kho bạc được đưa vào thị trường tiền tệ Cũng trong năm này NHNN bắt đầu phát hành trái phiếu, mà theo nguyên tắc là để các NHTM giảm việc dự trử tiền mặt vượt quá quy định Lãi suất trái phiếu kho bạc được quyết định bởi các cuộc đấu giá Theo Bộ Tài Chính và Kho bạc Nhà nước, chính phủ đã phát hành hơn 90 triệu USD trái phiếu để bù đắp thiếu hụt ngân sách Các DNNN và các ngân hàng là người mua trái phiếu lớn nhất

Với Nghị định 72/CP ngày 26/7/1994, NHNN đã tổ chức 4 cuộc đấu giá trái phiếu kho bạc Các thành phần tham gia trực tiếp vào cuộc đấu giá và bán trái phiếu kho bạc là 34 thành viên bao gồm NHNN, các công ty tài chính, các quỹ bảo hiểm Tổng cộng mệnh giá phát hành là 250 tỷ VNĐ Sau khi đấu giá, lãi suất giảm xuống từ 18% còn 17,2%/ năm Ngoài ra trên thị trường vốn có sự lưu thông của trái phiếu ngân hàng thương mại, trái phiếu kho bạc nhà nước , trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu công trình Năm 1994, thu nhập của Kho bạc Nhà nước đã đạt đến hơn 20.000 tỷ VNĐ, tăng 35% so với năm 1993, và gấp

8 lần 1991

Cùng với chứng khoán chính phủ, ngân hàng ngoài quốc doanh cũng đã thành công hơn trong huy động tiết kiệm Thực tế tỷ trọng tiền gửi của ngân hàng ngoài quốc doanh tăng lên đến 14% năm 1996 từ 6,5% năm 1991 Đặc biệt tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ tăng gấp hai và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tăng bốn lần, đạt đến 19%

Trang 39

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đã đi vào hoạt động từ năm 1994 Cuối năm 1995, tổng cộng giao dịch bằng ngoại tệ trên thị trường này tính trung bình là 200 triệu USD mỗi tháng

Với các chứng cứ trên cho thấy là những đổi mới đó đã có ảnh hưởng tích cực đến tiết kiệm tài chính ở Việt Nam Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa tự do hóa tài chính dẫn đến tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế cao, bởi vì NHNN vẫn đang duy trì sự hạn chế tài chính vì nó có kết quả thuộc về kinh tế vĩ mô quan trọng Những méo mó này bao gồm :

(i) Kiểm soát lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay : lãi suất trần và lãi suất sàn tiền gửi tiết kiệm Hệ thống lãi suất bị giới hạn giữa ‘sàn’ lãi suất tiền gửi tiết kiệm và ‘trần’ lãi suất cho vay là 0,35% vì thế đã không thiết lập môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng

(ii) Kiểm soát tiền tệ thông qua sử dụng hạn mức tín dụng

(iii) Kiểm soát tín dụng định hướng và hổ trợ tín dụng cho các khu vực ưu tiên

(iv) Dự trữ bắt buộc cao và tính thuế đối với các giao dịch tài chính; Dự trữ bắt buộc quy định cho các NHTM là 10%

(v) Hệ thống luật quản lý, giám sát kém phát triển và hạn chế trong giao dịch với ngân hàng

Tất cả những hạn chế này đã làm giảm sự linh hoạt của hệ thống ngân hàng trong việc huy động tiết kiệm Một vấn đề cần đặt ra là hệ thống ngân hàng Việt Nam đã huy động tiết kiệm trong nước cao hơn hay chỉ tiết kiệm tài chính mà thôi

Trang 40

Như đã đề cập trước đó, tỷ số M2/GDP và tiền gửi /GDP giảm xuống từ sau năm 1989 mặc dù tiết kiệm trong nước tăng Theo tôi nghĩ, tiết kiệm trong nước tăng bởi vì những nguyên nhân sau :

Thứ nhất, công cuộc đổi mới nền kinh tế đã thu được những thành tựu

quan trọng, sản lượng tăng từ năm 1989 Tốc độ tăng GDP đạt đến 8,5% so với 4,1% năm 1986, 3,7% năm 1987 và 5% năm 1988

Ngành nông nghiệp, lĩnh vực chi phối ở Việt Nam, đã có những thay đổi đáng kể trước tự do hóa giá cả và xóa bỏ tập thể hóa nông nghiệp Đã có nhiều tiến bộ từ năm 1989, theo đó mức thu nhập của nông dân được cải thiện – yếu tố quyết định tổng tiết kiệm Ngoài ra, trong lĩnh vực nông nghiệp do có tính không đều đặn bởi sự hoạt động đa dạng và sự phổ biến rộng rãi của đổi mới nên người nông dân có khuynh hướng tiết kiệm cao Điều này góp phần tăng tổng tiết kiệm Mặt khác, các ngành dịch vụ và công nghiệp cũng tăng trưởng khá nhanh Tốc độ tăng trưởng nhanh như thế đã nâng cao mức sống của người dân thành thị, và vì vậy dẫn đến khả năng tiết kiệm cao hơn

Tóm lại, tốc độ tăng trưởng GDP nhanh có lẽ dẫn đến tiết kiệm nhiều hơn trong nền kinh tế

Thứ hai, sự phân phối thu nhập bất bình đẳng ở Việt Nam tương đối thấp

và có khuynh hướng giảm dần

Thứ ba, các DNNN có quyền chủ động hơn trong kinh doanh, và sự xuất

hiện hoạt động của thành phần tư nhân đã nâng cao tiết kiệm của DNNN và doanh nghiệp tư nhân

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w