1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp tăng cường hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bà tỉnh kiên giang

68 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 507,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trên thực tế, bên cạnh một số ngân hàng hoạt độâng có hiệu quả và đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thì trong những năm gần đây nhiều quan chức và cán bộ của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐOÀN ĐÌNH BA

TP H ồ Chí Minh – Năm 2001

Trang 2

Ký hiệu viết tắt

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 NHTM : Ngân hàng thương mại

2 TCTD : Tổ chức tín dụng

3 NHNN : Ngân hàng Nhà nước

4 NHCT : Ngân hàng công thương

5 NHĐT&PT : Ngân hàng đầu tư và phát triển

6 NHNT : Ngân hàng ngoại thương

7 NHNo : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

8 DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

9 DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

10 CIC : Trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro của NHNN

11 SXKD : Sản xuất kinh doanh

12 AMC : Công ty quản lý nợ

13 SIBOR : Lãi suất bình quân liên ngân hàng tại Singapore

14 LSCB : Lãi suất cơ bản

Trang 3

1.1.1 Khái niện tín dụng

1.1.2 Nguồn vốn tín dụng

1.1.3 Các hình thức tín dụng phổ biến của NHTM

1.1.4 Lãi suất tín dụng

1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế - xã hội

1.3 Tình hình hoạt động tín dụng ngân hàng của cả nước trong thời gian

gần đây

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC

NHTM TRÊN ĐỊA BÀN KIÊN GIANG 2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn

tỉnh

2.2 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn Kiên Giang

2.2.1 Tình hình huy động vốn

2.2.2 Tình hình cho vay vốn

2.2.3 Mô hình tổ chức ngân hàng

2.2.4 Đánh giá chung những thành tựu và tồn tại trong hoạt động tín dụng

phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG TÍN

DỤNG CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐIA BÀN KIÊN GIANG 3.1 Bối cảnh chung tác động đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng

trên địa bàn tỉnh

3.1.1 Thuận lợi

3.1.2 Khó khăn

3.2 Quan điểm mục tiêu tăng cường tín dụng cho mục tiêu phát triển kinh

tế – xã hội

Trang 4

Mục lục

3.2.1 Dự báo triển vọng thị trường tín dụng trên địa bàn giai đoạn 2001 –

2010

3.2.2 Quan điểm mục tiêu tăng cường tín dụng cho mục tiêu phát triển

kinh tế – xã hội

3.3 Các nhóm giải pháp tăng cường hoạt động tín dụng của các NHTM tỉnh

3.3.1 Nhóm giải pháp đẩy mạnh công tác thông tin – tiếp thị và nghiên

cứu thị trường

3.3.2 Nhóm giải pháp về công tác huy động vốn tạo nguồn cho hoạt động

tín dụng

3.3.3 Nhóm giải pháp về công tác cho vay vốn

3.3.4 Nhóm giải pháp về an toàn vốn vay

3.4 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước, chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh và

các ngành liên quan

3.4.1 Kiến nghị với NHNN trung ương và địa phương

3.4.2 Kiến nghị với Chính phủ, UBND tỉnh và các ban ngành liên quan

Trang 5

Mở đầu

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Chính vì lẽ đó mà mọi hoạt động kinh doanh tín dụng ngân hàng cũng như các loại hình kinh doanh khác, đều nhằm mục đích trước tiên là phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và qua đó không quên mục tiêu lợi nhuận, và sự lớn mạnh không ngừng của bản thân từng doanh nghiệp để có điều kiện quay lại phục vụ nền kinh tế đất nước phát triển ở tầm cao hơn Tuy nhiên trên thực tế, bên cạnh một số ngân hàng hoạt độâng có hiệu quả và đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thì trong những năm gần đây nhiều quan chức và cán bộ của một số NHTM đã không tuân thủ những quy định của ngành ngân hàng, cũng như yếu kém về mặt nghiệp vụ đã cho vay và không thu hồi được nợ làm thất thoát hàng trăm đến hàng ngàn tỷ đồng của nhà nước và nhân dân trong các vụ án kinh tế lớn như vụ án Epco - Minh Phụng, Vạn lộc, Kiên Tân, Ngọc Thảo, … Từ những vụ án này đã dẫn đến hệ quả là nhiều NHTM co cụm hoạt động tín dụng, không dám đầu tư tín dụng cho các doanh nghiệp cần vốn và một nghịch lý xảy ra "Ngân hàng thì thừa vốn trong khi các doanh nghiệp, các cá nhân thì thiếu vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh" Và hậu quả nghiêm trọng hơn là làm cho nền kinh tế Việt Nam không phát triển như mong muốn Tất nhiên sự trì trệ của nền kinh tế Việt Nam còn do nhiều nguyên nhân khác như bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực Châu Á năm 1997 -

1998 vừa qua, việc quản lý và sử dụng vốn tín dụng không hiệu quả, giá cả thế giới của các mặt hàng dầu lửa, nông hải sản, … dao động theo xu hướng bất lợi

Trong khi mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2001 – 2010) được đề cập trong Văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ IX có nêu : “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rỏ rệt chất lượng đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân Tạo nền tảng đến 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Và “ Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp đôi so với năm 2000; chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50% Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 7 – 8%/năm” Để đạt được mục tiêu đòi hỏi như trên Việt Nam phải huy động và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả: nguồn lực con người, nguồn lực khoa học - công nghệ, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về vốn (tài chính) Theo như tính toán của một số nhà kinh tế hàng đầu của Việt Nam và nước ngoài thì để đạt được mục tiêu đã được đưa ra, Việt Nam cần một nguồn vốn đầu tư hàng năm khoảng trên dưới 30%/GDP của quốc gia Ngoài nguồn vốn vay ODA và đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn tích luỹ của các nhà doanh nghiệp thì nguồn vốn cấp tín dụng của các NHTM cũng rất là lớn và rất quan trọng

Như vậy vấn đề đặt ra: làm sao đẩy mạnh hoạt động tín dụng của các NHTM phục vục hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 6

Mở đầu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ở đây đề tài được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu là hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở của định hướng kế hoạch chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng cùng các văn bản dưới luật khác hiện hành mới nhất

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở vận dụng những lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học ứng dụng vào nghiên cứu đối tượng là hoạt động tín dụng của các NHTM tại Kiên Giang với mong muốn đề xuất những giải pháp cụ thể, hợp lý giúp cho các NHTM trên địa bàn tăng cường hoạt động tín dụng có hiệu quả nhằm góp phần vào phát triển kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm trên địa bàn và không quên mục tiêu lợi nhuận của mình

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận có tính chất xuyên suốt trong luận văn này là phương pháp biện chứng, vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể trong trạng thái luôn vận động và phát triển Với phương pháp này cho phép kiểm soát được mối quan hệ giữa đẩy mạnh hoạt động tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường hoạt động tín dụng của các NHTM nhằm mục tiêu phát trển kinh tế - xã hội trong điều kiện cụ thể của tỉnh Kiên Giang

Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như : Phương pháp diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, kết hợp nghiên cứu chọn lọc những kiến thức lý luận đã được đút kết rút ra từ thực tiển xây dựng và phát triển ngành ngân hàng của các nước cũng như tại Việt Nam, mà bản chất của vấn đề vẫn là tìm ra những biện pháp tối ưu cho việc đẩy mạnh hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh

Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm những nội dung chính như sau :

Mở đở đầu

Chương I : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

Chương II : Thực trang hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Kiên

Giang Chương III : Một số giải pháp tăng cường hoạt động tín dụng có hiệu quả của

các NHTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 7

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ

HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM

1.1 Một số lý thuyết về hoạt động tín dụng

1.1.1 Khái niệm tín dụng - các loại hình tín dụng cơ bản

Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là một quan hệï vay mượn giữa hai chủ thể, trong đó người cho vay chuyển giao tiền hoặc tài sản cho người đi vay sử dụng trong một thời hạn với mức lãi cụ thể được thỏa thuận nhất định Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tín dụng là sự vận động của các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu

Có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau : Tín dụng là mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời hạn nhất định Từ khái niệm nêu trên cho thấy trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời hạn nhất định Người đi vay không có quyền sở hữu số vốn ấy và phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến thời hạn đã thõa thuận Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn được tăng lên dưới hình thức lợi tức

Các loại hình tín dụng cơ bản :

- Tín dụng thương mại : Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà SXKD được thực hiện dưới hình thức mua - bán chịu hàng hoá

Trong quan hệ tín dụng thương mại, hai bên mua bán chịu sẽ ký kết với nhau giấy nhận nợ gọi là kỳ phiếu thương mại và nó được xem là một công cụ của tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại mang ba đặc điểm :

+ Cho vay dưới dạng hàng hoá

+ Các chủ thể trong quan hệ tín dụng này đều là các nhà doanh nghiệp trực tiếp hoạt động trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh

+ Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá

Sự ra đời của tín dụng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, qua đó phát triển sản xuất Đứng trên qui mô toàn bộ nền kinh tế thì tín dụng đã tham gia vào quá trình điều tiết vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, giúp cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục Ngoài ra, với sự ra đời của kỳ phiếu thương mại đã góp phần đa dạng các phương tiện thanh toán, từ đó, có tác dụng tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông

Trang 1

Trang 8

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

- Tín dụng ngân hàng : Đây là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các TCTD với các nhà SXKD, các tầng lớp dân cư, v.v được thực hiện dưới hình thức cung ứng vốn tín dụng bằng tiền

Tín dụng ngân hàng mang 3 đặc điểm sau :

+ Cho vay dưới dạng tiền tệ : Nguồn vốn tín dụng mà các ngân hàng đem ra cho vay hình thành từ những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội mà ngân hàng huy động được từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế, đoàn thể,

+ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người đi vay là các nhà doanh nghiệp, các cá nhân còn người cho vay là các ngân hàng, các TCTD

+ Tín dụng ngân hàng với đối tượng cho vay là tiền tệ nên sự vận động không

bị ngăn cản về mặt phương hướng, nghĩa là có thể cho vay đối với bất kỳ một ngành kinh tế nào Mặt khác với quy mô lớn về vốn, ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vay ở mọi quy mô cũng như thời hạn vay (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn) phù hợp với nhu cầu sử dụng và hoàn trả vốn của người đi vay

Như vậy, tín dụng ngân hàng với những ưu điểm vốn có về quy mô vốn tín dụng, thời hạn cho vay và sự đa dạng phạm vi hoạt động đã khắc phục dần những hạn chế của tín dụng thương mại Từ đó, tín dụng ngân hàng đã là một trong những nhân tố quan trọng quá trình phát triển kinh tế và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu của hệ thống tín dụng Tuy nhiên hình thức tín dụng thương mại vẫn giữ vai trò cơ sở tạo điều kiện cho tín dụng ngân hàng mở rộng hoạt động, điều này được thể hiện qua nghiệp vụ cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp trên cơ sở chiết khấu hoặc cầm cố kỳ phiếu thương mại Nói cách khác, tín dụng thương mại vẫn là khâu liên hệ trực tiếp đến quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá là nền tảng phát triển của toàn bộ hệ thống tín dụng

- Tín dụng nhà nước : Đây là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các tổ chức và dân cư ở trong nước, giữa nhà nước với các chính phủ nước khác được thực hiện dưới hình thức nhà nước phát hành công trái (ngắn hạn và dài hạn) và các hiệp định vay nợ quốc tế để huy động vốn cho ngân sách nhà nước Tín dụng nhà nước ra đời nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu ngân sách trong điều kiện nguồn thu không đủ đáp ứng nguồn chi

Công trái nhà nước phát hành có nhiều loại, nếu căn cứ vào thời hạn công trái bao gồm :

+ Loại ngắn hạn : Còn gọi là công khố phiếu hay tín phiếu, thời hạn vay dưới một năm nhằm giải quyết nhu cầu chi tiêu tạm thời của ngân sách trong trường hợp nguồn thu chưa huy động đủ theo kế hoạch đã dự trù Loại này nhà nước sẽ nhận được tín dụng chủ yếu từ ngân hàng trung ương

+ Loại dài hạn : Gọi là công trái hay trái phiếu nhà nước, thời hạn vay thường từ một năm trở lên phát sinh trong trường hợp ngân sách cần thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội, các công trình có tính chất phúc lợi chung… Đòi hỏi nguồn vốn

Trang 9

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

lớn mà khả năng nguồn thu ngân sách không đủ đáp ứng Đối với loại tín dụng này nhà nước sẽ huy động vốn từ đại bộ phận các tầng lớp dân cư, các ngân hàng, các tổ chức kinh tế trong xã hội Với khối lượng lớn như vậy để giảm bớt những căng thẳng cho ngân sách khi đến hạn thanh toán, bên cạnh loại trái phiếu có kỳ hạn là 5 hay 10 năm chính phủ các nước còn phát hành loại trái phiếu vĩnh viễn không ghi thời hạn hoàn trả và sẽ tổ chức thu hồi dần theo định kỳ tùy vào khả năng của ngân sách và tình hình lưu thông tiền tệ Ngoài ra trong điều kiện thị trường vốn các nước được quốc tế hoá nhà

nước còn có thể phát hành loại công trái huy động vốn ngoại tệ ở nước khác

- Tín dụng tiêu dùng : Đây là loại tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư trong xã hội như mua sắm phương tiện phục vụ sinh hoạt, xây dựng nhà

ở, …

Người đi vay sẽ nhận được khoản tín dụng dưới hai hình thức :

+ Hình thức tín dụng bằng tiền : Người cho vay là các ngân hàng, các TCTD + Hình thức tín dụng bằng hàng hoá : Người cho vay là các công ty, xí nghiệp, tổ chức bán hàng trả góp cho nhân dân

Mục đích của tín dụng tiêu dùng nhằm từng bước cải thiện đời sống vật chất và sinh hoạt của các thành viên trong xã hội Mặt khác khuyến khích nhân dân tiêu thụ hàng hoá trong điều kiện năng suất lao động xã hội nâng cao Ngoài ra còn giúp cho ngân hàng gia tăng doanh số cho vay và thu thêm lợi nhuận từ hoạt động này

Tóm lại : Quan hệ tín dụng dù vận dụng ở phương thức sản xuất nào, đối tượng vay mượn là hàng hoá hay tiền tệ thì tín dụng cũng mang 3 đặc điểm cơ bản:

- Người cho vay chuyển giao một lượng giá trị do mình sở hữu cho người đi vay được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định Giá trị có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc thiết bị, bất động sản, …

- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời hạn được thõa thuận giữa người cho vay và người đi vay Người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay sau khi hết thời hạn tín dụng

- Người sở hữu vốn tín dụng được nhận một phần thu nhập dưới hình thức lợi tức

1.1.2 Nguồn vốn tín dụng

Vai trò nguồn vốn tín dụng

Nguồn vốn tín dụng là điều kiện để tồn tại và phát triển trong hoạt động kinh doanh của các NHTM

Vốn tín dụng là chất liệu để kinh doanh Nó cũng giống như vật tư, nguyên vật liệu, giống như quỹ hàng hoá trong kinh doanh Với nguồn vốn dồi dào, NHTM phát triển mở rộng thêm khả năng hoạt động kinh doanh của mình Sự phát triển này là kết quả tất yếu của việc tăng trưởng nguồn vốn tín dụng hiện có Như vậy, rõ ràng bảo

Trang 3

Trang 10

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

toàn và tăng trưởng vốn nguồn tín dụng là điều kiện tồn tại và phát triển mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Trước đây theo cơ chế bao cấp thì hệ thống ngân hàng Việt Nam hoạt động theo cơ chế một cấp Ngân hàng vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng chủ yếu hình thành từ nguồn vốn ngân sách, phát hành tiền và một phần rất nhỏ từ huy động vốn tiết kiệm của dân cư để cấp phát tín dụng chủ yếu cho các đơn vị kinh tế nhà nước và tập thể Việc cấp phát tín dụng được chỉ định theo kế hoạch của nhà nước nên công tác hạch toán kinh doanh và hạn chế rủi ro không được thực hiện

- Từ khi ngân hàng hai cấp hình thành và hoạt động theo cơ chế thị trường thì kinh doanh tiền tệ chịu sức ép tác động từ nhiều phiá : (1) Sức ép cạnh tranh, (2) Sự giám sát, quản lý và kiểm soát của ngân hàng nhà nước để định hướng kinh doanh cho các NHTM, (3) Sự đòi hỏi về nhu cầu và khả năng cung ứng nguồn vốn và các dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao của nền kinh tế, (4) Yêu cầu tăng tích luỹ cải thiện đời sống của cán bộ, nhân viên ngân hàng, … Các yêu cầu bức xúc phải giải quyết đó, phát sinh và phát triển thường xuyên cả về quy mô và mức độ đòi hỏi mỗi NHTM phải vận hành để tự thích nghi Và sự thích nghi hiệu nghiệm nhất trong vận hành kinh doanh chính là lợi nhuận Do vậy, việc tăng cường hạch toán kinh doanh, cải thiện chất lượng hoạt động tín dụng, tập trung vốn huy động, bảo toàn tăng trưởng vốn cấp phát tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu đảm bảo cho NHTM tồn tại và phát triển đúng hướng

Cơ cấu của nguồn vốn tín dụng ngân hàng :

Trên thực tế, nguồn vốn tín dụng của ngân hàng chủ yếu được hình thành từ các nguồn vốn sau :

Vốn điều lệ và quỹ ngân hàng :

Vốn điều lệ là số vốn đầu tư ban đầu khi thành lập TCTD, số vốn này tối thiểu phải bằng một hạn mức cụ thể do NHNN quy định Ví dụ vốn điều lệ tối thiểu hiện nay để thành lập một NHTM cổ phần ở thành thị là 70 tỷ đồng Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít là phụ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng đó Vốn này chủ yếu để mua sắm, xây dựng trụ sở cơ quan, máy móc thiết

bị phục vụ nghiệp vụ ngân hàng, xe cộ, hùn vốn và liên doanh, mua cổ phần của các TCTD khác, ngân có thể cho vay từ nguồn này

Quỹ ngân hàng bao gồm :

- Các quỹ được trích từ lợi nhuận ròng của ngân hàng như :

+ Quỹ dự trữ : được hình thành bằng cách trích 5% lợi nhuận ròng hàng năm để bổ sung vốn điều lệ

+ Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng

+ Quỹ khen thưởng

Trang 11

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

+ Quỹ phúc lợi

- Các quỹ không hình thành từ lợi nhuận ngân hàng như :

+ Quỹ khấu hao TSCĐ và sửa chữa lớn

+ Quỹ dự bù đắp rủi ro : quỹ này dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình kinh doanh của ngân hàng như tiền bị giảm giá, các khoản vay không thu được do nguyên nhân khách quan, … Quỹ này được trích lập và được đưa vào chi phí

+ Các quỹ khác theo quy định của pháp luật

Nguồn vốn tự có của ngân hàng thường thì chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng nó là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, thu hút các nguồn khác vốn như vốn huy động, vốn vay, …

Nguồn vốn tiền gởi của khách hàng :

Vốn tiền gởi là nguồn vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng Theo luật định, các NHTM không được phép huy động vượt quá 20 lần vốn tự có và quỹ ngân hàng

- Tiền gởi không kỳ hạn : loại tiền gởi mà người gởi có thể rút ra để sử dụng vào bất kỳ thời điểm nào Loại này gồm có tiền gởi tạm thời của các tổ chức kinh tế, tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn của dân cư Mục đích của người gởi nhằm sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng, không nhằm mục đích hưởng lãi tiền gởi cao Nguồn tiền gởi không kỳ hạn thì thường biến động lớn tuỳ thuộc vào nhu cầu thanh toán của người gởi, nên ngân hàng chỉ có thể sử dụng nguồn vốn này để cho vay ngắn hạn là chính

- Tiền gởi có kỳ hạn : là loại tiền gởi mà người gởi chỉ được rút ra khi tới hạn, hoặc muốn rút trước hạn thì phải báo trước cho ngân hàng Loại này bao gồm tiền gởi của các TCKT, của các nhà kinh doanh tiền tệ và tiền gởi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, … Tiền gởi có kỳ hạn là nguồn vốn tương đối ổn định nên ngân hàng có thể sử dụng chúng để cho vay ngắn hạn, trung – dài hạn

Nguồn vốn đi vay :

Loại nguồn vốn này thường bao gồm :

- Vốn vay của NHNN : đây là nguồn nhận được từ việc NHNN nhận cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM

- Vốn vay của các NHTM và các TCTD khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng

- Vốn vay của các tổ chức tài chính và ngân hàng nước ngoài

- Vốn huy động từ việc phát hành các loại chứng chỉ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gởi của ngân hàng, … nhằm bổ sung vốn hoạt động của ngân hàng khi vốn tự có và vốn tiền gởi chưa đáp ứng đủ yêu cầu kinh doanh

Nguồn vốn nhận uỷ thác :

Trang 5

Trang 12

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

Đây là những nguồn vốn mà các NHTM nhận uỷ thác từ các tổ chức trong hoặc ngoài nước, từ NSNN để thực hiện các chương trình và dự án có mục tiêu của các tổ chức uỷ thác này

Ngoài ra cũng còn có một số nguồn vốn nhỏ không đáng kể khác được hình thành trong quá trình hoạt động của nhân hàng như làm đại lý dịch vụ thanh toán, thu hộ, bán chứng phiếu có giá …

Sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng :

Nguồn vốn tín dụng ngân hàng chủ yếu được đưa vào đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh thương mại như xây dựng các cơ sở sản xuất, đổi mới thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ, đầu tư thu mua nguyên liệu chế biến xuất khẩu, đầu tư nhập khẩu nguyên nhiên liệu, vật tư máy móc thiết bị và phụ tùng thay thế phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước, … Bên cạnh đó, nguồn vốn tín dụng cũng được đưa vào đầu tư phục vụ và nâng cao đời sống cho nhân dân như cho vay sửa chữa và xây dựng nhà ở, cho vay mua các tư liệu sinh hoạt, xây dựng phát triển giáo dục và y tế, …

Việc sử dụng hợp lý nguồn vốn tín dụng sẽ mang lại hiệu quả trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Bởi lẽ :

- Về mặt kinh tế, hiệu quả tín dụng là sự điều hoà, phân phối vốn trong nền kinh tế vừa làm lợi cho các chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi và chủ thể tạm thời thiếu vốn cần có nhu cầu bù đắp Làm cho nguồn vốn nhàn rỗi trở nên có ích hơn và chính vì thế mà kích thích kinh tế phát triển tạo ra các năng lực mới trong quản lý và phát triển SXKD

- Về mặt xã hội, tín dụng khuyến khích tiết kiệm, sắp xếp bố trí lại lao động, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, hình thành các quan hệ ngân hàng lành mạnh trên nền tảng kinh tế phát triển

Hiệu quả tín dụng có tính tổng hợp, có tác động tích cực đến sự phát triển lành mạnh về kinh tế - xã hội Song để đạt được điều đó yếu tố cơ bản trong cơ chế vận hành tín dụng là sự vận động hợp lý của "nguồn vốn tín dụng" Sự vận động và đem lại hiệu quả thiết thực của nguồn vốn tín dụng chính là yếu tố quyết định tín dụng Nguồn vốn tín dụng vận động theo cơ chế vận hành tín dụng và đạt được các mục đích phát triển kinh tế – xã hội tức tín dụng có hiệu quả

1.1.3 Các hình thức tín dụng phổ biến của NHTM

Tuỳ thuộc vào căn cứ để phân loại, chúng ta có các hình thức tín dụng sau :

- Căn cứ vào thời hạn tín dụng thì chia làm 3 loại hình thức tín dụng :

+ Tín dụng ngắn hạn : có thời hạn cho vay dưới 1 năm, chủ yếu cho vay bổ sung vốn kinh doanh thiếu hụt tạm thời hoặc cho vay phục vục tiêu dùng cá nhân

Trang 13

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

+ Tín dụng trung hạn : có thời hạn cho vay từ 1 - 5 năm, đối tượng cho vay bao gồm mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, có thời gian thu hồi vốn nhanh

+ Tín dụng dài hạn : có thời hạn cho vay trên 5 năm, được sử dụng chủ yếu cho vay xây dựng cơ bản, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài

- Căn cứ vào đối tượng tín dụng thì chia làm 2 loại :

+ Tín dụng vốn lưu động : là loại tín dụng chủ yếu cho vay hình thành vốn lưu động của các doanh nghiệp Loại tín dụng này chủ yếu cho vay dưới hình thức ngắn hạn và được chia làm các loại sau : Cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu thương phiếu

+ Tín dụng vốn cố định : là loại tín dụng chủ yếu cho vay hình thành vốn cố định của doanh nghiệp Loại tín dụng được thực hiện cho vay dưới hình thức trung và dài hạn

- Căn cứ vào mục đích sử dụng thì được chia làm 2 loại :

+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá : là loại tín cho các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác vay để tiến hành sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá

+ Tín dụng tiêu dùng : là loại tín dụng chủ yếu cho vay mua sắm hàng hoá tiêu dùng để nâng cao đời sống cho dân cư Thời hạn tín dụng có thể là ngắn hạn, trung - dài hạn tuỳ thuộc vào loại hàng hoá tiêu dùng

- Căn cứ vào chính sách ưu tiên của nhà nước thì có 2 hình thức tín dụng :

+ Tín dụng ưu đãi : là loại tín dụng ưu đãi về lãi suất hoặc các điều kiện khác được cấp cho các thành phần, ngành nghề mà nhà nước khuyến khích phát triển do điều kiện kinh doanh khó khăn hoặc có tính then chốt và tính xã hội cao

+ Tín dụng không ưu đãi : là loại tín dụng mà lãi suất tín dụng được sử dụng phổ biến cho thành phần kinh tế, mọi ngành kinh tế không có tính đến ưu đãi lãi suất

- Căn cứ vào vật đảm bảo thì có 2 hình thức tín dụng :

+ Tín dụng có tài sản đảm bảo : là hình thức tín dụng chỉ được cấp khi người vay có tài sản được làm vật đảm bảo cho khoản vay Thông thường giá trị khoản cho vay chỉ bằng 70% giá trị tài sản thế chấp cấm cố

+ Tín dụng tín chấp (cho vay tín chấp) : là hình thức tín dụng chủ yếu dựa trên

uy tín và khả năng sử dụng hiệu quả vốn vay của người vay Hoặc có sự bảo lãnh bằng

uy tín của người hoặc tổ chức thứ ba

1.1.4 Lãi suất tín dụng

Khái niệm

Lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm tính theo một thời hạn xác định (ngày, tuần, tháng, quý, năm) dùng làm căn cứ để tính toán số lợi tức tín dụng mà chủ thể đi vay

Trang 7

Trang 14

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

phải trả cho chủ thể cho vay để điều hoà các lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng

Lãi suất tín dụng là một phạm trù kinh tế phức tạp có liên quan đến mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội Sự hình thành khung lãi suất tín dụng dựa trên nhiều nhân tố : (1) Quan hệ cung cầu vốn tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ; (2) Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế; (3) Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh doanh; (4) Chính sách kinh tế của nhà nước

Vai trò của lãi suất

- Lãi suất phải đảm bảo được sự duy trì và phát triển của hoạt động ngân hàng Điều đó có nghĩa là lãi suất nhất thiết phải đảm bảo bù đắp được mọi chi phí (hợp lý) và có lãi Đã nói đến kinh doanh ngân hàng phải hiểu rằng chi phí và lợi nhuận là hai phạm trù có liên quan tỷ lệ nghịch với nhau Chính vì vậy buộc các nhà kinh doanh ngân hàng phải quan tân đến việc tiết kiệm chi phí cho hoạt động kinh doanh và tổ chức hợp lý bộ máy tổ chức và lao động của đơn vị mình

- Điều tiết khối lượng tín dụng và qua đó điều chỉnh quan hệ cung cầu vốn trên thị trường

Lãi suất là vũ khí sắc bén để cạnh tranh giữa các ngân hàng Ngân hàng nào có lãi suất linh hoạt, thõa đáng, thì một mặt, sẽ huy động được nhiều vốn, mặt khác, tăng được khối lượng tín dụng đối với nền kinh tế Ngân hàng như vậy sẽ ngày càng có uy tín đối với khách hàng, càng tạo được ưu thế cạnh tranh

- Lãi suất là yếu tố thúc đẩy việc kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệp Doanh nghiệp vay vốn ngân hàng phải hoàn trả cho ngân hàng đúng hạn cả gốc và lãi Vì vậy, muốn đảm bảo có nguồn trả nợ cho ngân hàng, các doanh nghiệp vay vốn phải thực sự quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh của mình

Như vậy, để lãi suất tín dụng thực hiện được vay trò là đòn bẩy kích thích và mở rộng các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì lãi suất tín dụng đảm bảo được kiểm soát trong khung gới hạn : Tỷ lệ lạm phát < Lãi suất huy động < Lãi suất cho vay < Tỷ suất lợi nhuận bình quân

Các loại lãi suất tín dụng

- Nếu đứng trên giác độ huy động vốn thì có các loại lãi suất tín dụng sau :

+ Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn

+ Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn

+ Lãi suất tiền gửi từ các đơn vị, tổ chức kinh tế

+ Lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ các tầng lớp dân cư

+ Lãi suất của các loại chứng từ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu

- Nếu đứng trên giác độ sử dụng vốn thì có các loại lãi suất tín dụng sau :

Trang 15

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

+ Lãi suất cho vay bằng tiền Loại này nếu phân ra theo kỳ hạn sẽ bao gồm : Lãi suất cho vay ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn

+ Lãi suất cho vay cầm cố

+ Lãi suất chiết khấu các chứng từ có giá

- Nếu đứng trên giác độ điều tiết vốn giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ, lãi suất tín dụng có các loại chủ yếu sau :

+ Lãi suất tái chiết khấu : Là lãi suất do ngân hàng trung ương áp dụng đối với các ngân hàng thương mại, khi ngân hàng trung ương với tư cách là người cung cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại và qua nghiệp vụ tái chiết khấu các thương phiếu, hoặc các chứng từ có giá khác

+ Lãi suất liên ngân hàng : Là loại lãi suất cho vay lẫn nhau giữa các ngân hàng được hình thành trên thị trường liên ngân hàng

1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế - xã hội

Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế là rất lớn, có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của các đơn vị và cá nhân sản xuất kinh doanh Dưới đây là một số vai trò chủ yếu của tín dụng ngân hàng :

(1) Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình tuần hoàn luân chuyển vốn của các đơn vị SXKD, đáp ứng vốn cho quá trình SXKD được thực hiện liên tục

Quá trình sản xuất kinh doanh phải được tiến hành liên tục, nhưng vấn đề tuần hoàn và luân chuyển vốn đã tạo ra sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa vật tư hàng hoá phục vụ cho SXKD với việc tiêu thụ Sự không ăn khớp này đã tạo ra hiện tượng thừa và thiếu vốn tạm thời tại các doanh nghiệp Tín dụng đóng vai trò trung gian để giải quyết sự ứ đọng vốn tạm thời và bù đắp sự thiếu vốn tạm thời ở các doanh nghiệp, góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn

(2) Tín dụng ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế và ổn định giá cả Tín dụng thực hiện việc huy động vốn tiết kiệm của cá nhân, của các đơn vị, tổ chức kinh tế, của ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu đầu tư Mỗi khoản tiết kiệm đều có mục đích nhất định, như các cá nhân thì tiết kiệm để xây dựng nhà cửa, mua sắm phương tiện đi lại, nhà kinh doanh tiết kiệm để mở rộng sản xuất, … Trong thời gian chưa thực hiện được mục tiêu nhất định, những chủ sở hữu vốn này có thể gởi nó vào ngân hàng để lấy lãi Trong trường hợp này tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, thông qua tín dụng ngân hàng

Ngoài ra với chức năng tập trung và tận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng ngân hàng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu

Trang 9

Trang 16

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

thông Lượng tiền dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh hưởng xấu đến tình hình lưu thông tiền tệ dẫn đến mất cân đối trong quan hệ hàng - tiền và hệ thống giá cả biến động là điều không thể tránh khỏi Do đó trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát

Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không dùng tiền mặt Đây là một trong những nhân tố tích cực tiết giảm việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế là bộ phận lưu thông tiền mà nhà nước rất khó quản lý và lại dễ bị tác động của quy luật lưu thông tiền tệ

Từ phân tích nêu trên, cho thấy tín dụng ngân hàng đã đóng góp không nhỏ trong việc tập trung vốn cho đầu tư phát triển và ổn định tiền tệ tạo điều kiện để ổn định giá cả và là tiền đề quan trọng để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá

(3) Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế chậm phát triển, các ngành kinh tế then chốt và các ngành kinh tế mũi nhọn góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn

Trong nền kinh tế thị trường việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư là quyền của mỗi doanh nghiệp và chịu sự tác động điều tiết rất lớn của cơ chế thị trường Dưới gốc độ từng doanh nghiệp, việc tập trung đầu tư vào các lĩnh vực, các ngành nghề mà điều kiện kinh doanh thuận lợi, lợi nhuận cao là điều hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cần có sự cân đối trong cơ cấu kinh tế, cần phải có sự đầu tư vào các ngành kinh tế kém phát triển, bên cạnh đó các ngành kinh tế then chốt, các ngành kinh tế mũi nhọn cũng cần đẩy mạnh tư để tạo điều kiện lôi kéo sự phát triển của ngành khác Với chức năng phân phối lại các nguồn tài nguyên, quan trọng nhất là vốn, cũng như thông qua chính sách tài trợ mà quan trọng nhất là lãi suất tín dụng sẽ kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho từng thời kỳ hợp lý hơn

(4) Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội

Vai trò này của tín dụng có thể nói là hệ quả tất yếu của ba vai trò nêu trên Nền kinh tế phát triển trong một môi trường ổn định về tiền tệ là điều kiện nâng cao dần đời sống của các thành viên trong xã hội, là điều kiện thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội Từ đó rút ngắn chênh lệch giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư góp phần thay đổi cấu trúc xã hội

Hoạt động tín dụng không chỉ đáp ứng cho nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư Các NHTM sẳn sàng cung cấp nhu cầu vay vốn hợp lý của các cá nhân như phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh hoạt v.v với mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó, góp phần ổn định trật tự xã hội

Trang 17

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

(5) Tín dụng ngân hàng góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh của các đơn vị sản xuất kinh doanh sử dụng vốn vay

Đặc trưng của tín dụng là người đi vay phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi đúng thời hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, Nếu vi phạm quy định này thì đơn vị sẽ bị ngân hàng phạt lãi suất hoặc các biện pháp chế tài khác Bằng biện pháp chế tài như vậy đòi hỏi các đơn vị sử dụng vốn vay thường xuyên phải quan tâm đến hạch toán kinh doanh giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đó cũng chính là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho đơn vị kinh doanh

(6) Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh chiến lược kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và đẩy lùi lạm phát

Nhà nước thông qua công cụ tài chính tín dụng ngân hàng, nhằm khai thác mọi tiềm năng của đất nước để điều hoà và dịch chuyển cơ cấu kinh tế phát triển theo xu hướng ngày càng hiện đại hơn

Thông qua công cụ lãi suất, ngân hàng sử dụng nó một cách đúng đắng, linh hoạt phù hợp với những điều kiện kinh tế trong từng thời kỳ nhất định sẽ có tác dụng trực tiếp và quan trọng đến việc kiểm soát, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, kích thích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Dự trữ bắt buộc là công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia mang tính truyền thống, có thể làm thay đổi khả năng tạo tiền của các NHTM Vì vậy tuỳ tình hình tiền tệ trong lưu thông mà ngân hàng nhà nước trung ương tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NHTM, nghĩa là tăng hay giảm khối lượng tiền tệ cung ứng cho lưu thông Từ đó có khả năng hạn chế và kiểm soát lạm phát

(7) Tín dụng ngân hàng góp phần phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài Trong điều kiện hiện nay, cùng với sự phân công và hợp tác quốc tế ngày một sâu rộng thì quá trình điều tiết vốn không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà hình thành các quan hệ tín dụng quốc tế

Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng ngân hàng đóng vay trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn vốn tín dụng bên ngoài để CNH, HĐH nền kinh tế Như vậy, tín dụng ngân hàng góp phần phát triển các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài

Tóm lại : Trong nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vai trò của tín dụng ngân hàng càng được cũng cố và tăng cường, làm cho hoạt động tín dụng trở thành một trong những lĩnh vực hoạt động có vai trò to lớn tác động tích cực đến hoạt động SXKD và phát triển kinh tế - xã hội

Từ những vấn đề trình bày trên có thể nói vai trò của tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế, góp phần thúc đẩy việc thu hút vốn từ nước ngoài và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế Tín dụng ngân hàng góp phần

Trang 11

Trang 18

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

điều tiết số lượng tiền tệ nhàn rỗi và bổ sung hoặc rút bớt lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng thực hiện tốt vai trò của mình, phần lớn phụ thuộc vào chính sách tín dụng, có nghĩa là phụ thuộc vào các hoạt động chủ quan của các cơ quan quản lý trước hết là ngân hàng Chính sáùch tín dụng ngân hàng đúng đắng, phản ánh đúng quy luật khách quan thì hoạt động tín dụng mới đem lại hiệu quả, bằng không sẽ đem lại hậu quả tai hại cho nền kinh tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế đất nước

1.3 Tình hình hoạt động tín dụng ngân hàng của cả nước trong thời gian qua 1.3.1 Tình hình huy động vốn

Bảng 1 : Huy động vốn Năm Doanh số huy động (tỷ đồng) Tỷ lệ tăng giảm so với năm trước

1998

1999

115.379 146.200

25,9%

27,4%

(Nguồn : Báo cáo hoạt động ngành ngân hàng)

Kể từ khi hai Luật ngân hàng đi vào cuộc sống đã khắc phục được những mặt hạn chế của hoạt động tín dụng ngân hàng vốn có trước đây Doanh số huy động và cho vay hàng năm đều tăng so với năm trước Năm 1998 doanh số huy động đạt 115.397, tăng 25% so với năm 1997 thì đến năm 1999 doanh số huy động lên đến 146.200 tỷ đồng, tăng đến 27,4%

19,0%

12,4%

(Nguồn : Báo cáo hoạt động ngành ngân hàng)

Tính đến ngày 31/12/1998 tổng dư nợ cho vay đạt 117.000 tỷ đồng, tăng 19% so với 31/12/1997, thấp hơn mức tăng 27,1% của năm 1997 Năm 1999 tổng dư nợ cho vay đạt 138.200 tỷ, chỉ tăng 12,4% so với năm 1998, thấp hơn mức tăng 19% của năm

1998 Như vậy tốc độ dư nợ cho vay từ năm 1997 đến 1999 liên tục giảm

Năm 1999, trong tổng dư nợ cho vay, dư nợ cho vay tiền đồng tăng 15% trong khi đó

dư nợ cho vay ngoại tệ không tăng hoặc tăng rất ít Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh tiền đồng tăng 4.600 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 28%, thì dư nợ cho vay ngoại tệ chỉ tăng 484 tỷ đồng (quy ra VNĐ) với tỷ lệ tăng 3% so với năm 1998 Điền này phản ánh xu hướng chuộng vay tiền đồng hơn vay ngoại tệ vì lãi suất cho vay tiền đồng giảm thấp và tỷ giá

Trang 19

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

của đồng Việt Nam đối với ngoại tệ luôn đang biến động theo hướng giảm giá trị đồng Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng tín dụng của những năm gần đầy liên tục giảm là do :

+ Tình hình kinh tế cả nước đang gặp khó khăn, năng lực sản xuất dư thừa so với nhu cầu có khả năng thanh toán, sản phẩm có khả năng cạnh tranh kém dẫn đến tình trạng hàng hoá ứ đọng không tiêu thụ được, trong khi đó các NHTM lại khó tìm được các dự án đầu tư cho vay khả thi

+ Các NHTM đang trong quá trình chấn chỉnh để nâng cao chất lượng tín dụng, khả năng sinh lời, khắc phục về khả năng tài chính nên quy trình xét duyệt cho vay được thực hiện chặt chẽ, chú trọng đến tính pháp lý và hiệu quả của đầu tư hơn trước

1.3.3 Cơ cấu cho vay

Các NHTM đã chú trọng đến cho vay trung – dài hạn để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước Tỷ lệ cho vay ngắn hạn từ 85% và trung – dài hạn 15% ở năm

1991 thì đến năm 1994 đã thay đổi 67% và 33% Đến năm 1999, tỷ lệ cho vay ngắn hạn chỉ còn 64% và dư nợ cho vay trung – dài hạn đã tăng lên 36%

Trong thời gian qua, dư nợ cho vay không còn tập trung chủ yếu vào khối kinh tế quốc doanh, tính đến năm 1999, tỷ trọng dư nợ cho vay khối kinh tế quốc doanh chỉ còn 74,4% (trong khi tỷ lệ này vào năm 1991 là 90% và vào năm 1992 là 80%) Như vậy, so với giai đoạn trước đây tín dụng đã phản ánh sự bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế, đây chính là động lực phát triển kinh tế đất nước

1.3.4 Lãi suất

Sau một thời gian thực hiện 4 trần lãi suất với mức khống chế đầu vào đầu ra là 0,35%/tháng, đến 21/01/1998 NHNN đã ban hành Quyết định số 39/1998/NHNN1 xoá bỏ sự cách biệt về lãi suất cho vay giữa thành thị và nông thôn chỉ còn quy định 3 trần lãi suất và không quy định chênh lệch 0,35%/ tháng Quy định này có tính tích cực ở chỗ giảm sự chênh lệch về lãi suất cho vay ở thành thị so với nông thôn nhằm khuyến khích nông dân vay vốn phát triển nông nghiệp Tuy nhiên nông thôn lại thiếu vốn và không đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, nhất là các TCTD nông thôn

Ngày 05/08/2000 NHNN đã chuyển sang thực hiện điều hành lãi suất theo lãi suất

cơ bản

+ Đối với lãi suất cho vay đồng Việt Nam : Lãi suất cho vay của TCTD cao nhất

= LSCB + tỷ lệ % Như vậy, lãi suất kinh doanh của các TCTD được hình thành trên cơ sở cung – cầu vốn trên thị trường nhưng vẫn có sự khống chế mức độ của NHNN Thời điểm hiện nay, NHNN công bố lãi suất cơ bản là 0,65%/tháng, biên độ trên đối với lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,3%/tháng, biên độ trên đối với lãi suất cho vay trung – dài hạn là 0,5%/tháng Lãi suất cơ bản và biên độ dao động được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết NHNN sẽ công bố điều chỉnh kịp thời

Trang 13

Trang 20

Chương 1 : Khái quát một số vấn đề về hoạt động tín dụng của NHTM

+ Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ : Lãi suất cho vay USD ngắn hạn của các TCTD không vượt quá mức SIBOR kỳ hạn 3 tháng + 1,0%/năm; lãi suất cho vay trung - dài hạn không vượt quá mức SIBOR kỳ hạn 6 tháng + 2,5%/năm Cho vay bằng ngoại tệ khác do chiếm tỷ lệ nhỏ trong dư nợ tín dụng nên NHNN cho phép các TCTD xem xét quyết định lãi suất trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu về vốn tín dụng của loại ngoại tệ này trên thị trường trong nước

1.3.5 Nợ quá hạn

Gần đây, trong cuộc trả lời phỏng vấn tại cuộc họp Đại biểu Quốc hội tháng 11/2000, Thống đốc NHNN Việt Nam Lê Đức Thuý đã cho biết rằng, hiện nay số nợ xấu của cả hệ thống NHTM Việt Nam chiếm 11,7%/tổng dư nợ cho vay, mặc dù đã giảm 2% so với năm 1999, nhưng vẫn còn ở mức quá cao so với mức an toàn cho phép (5% tổng dư nợ)

Tóm lại, tình hình hoạt động tín dụng ngân hàng của Việt Nam trong vài năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực Dư nợ huy động và cho vay liên tục tăng (tuy vẫn còn ở mức thấp) đã cung ứng một lượng vốn lớn cho các thành phần kinh tế, lượng vốn này đã là tiền đề rất quan trọng để các thành phần kinh tế, các TCTD giữ vững, đẩy mạnh, mở rộng SXKD góp phần không nhỏ để tăng trưởng GDP cả nước Chính sách lãi suất tín dụng đã từng bước chuyển dần sang một chính sách lãi suất theo thị trường tiền tệ tài chính, với những bước đi thích hợp, thận trọng, với điều kiện thực tế của Việt Nam, từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất, quốc tế hoá hoạt động tài chính trong nước, đồng thời nâng cao được năng lực tài chính và năng lực điều hành của các TCTD Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn còn một số những tồn tại như khả năng tạo tiền của các NHTM thấp do các doanh nghiệp vay bằng tiền mặt là chủ yếu, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt chiếm tỷ trọng thấp, nguồn vốn huy động trung – dài hạn để đầu tư dài hạn vẫn còn quá nhỏ, trong quá trình cho vay các ngân hàng còn quá chú trọng đến TSTC để cho vay, chưa đánh giá đúng điều kiện quan trọng để cho vay là hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng Nợ quá hạn, nợ xấu của các TCTD còn ở mức quá cao, các tài sản xiết nợ, TSTC chưa được đẩy mạnh khai thác và phát mãi thu hồi nợ

Trang 21

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA

CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN KIÊN GIANG

2.1 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM trên địa bàn tỉnh

Đến nay, ngoài Chi nhánh NHNN làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh đã có tất cả 8 NHTM và chi nhánh NHTM, bao gồm :

- 4 chi nhánh NHTM quốc doanh : Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương, Chi nhánh Ngân hàng Công thương, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư phát triển, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- 1 chi nhánh NHTM cổ phần Đông Á

- 3 NHTM cổ phần nông thôn : NHTM cổ phần Tân Hiệp, NHTM cổ phần Kiên Long, NHTM cổ phần Sông Kiên

- Ngoài ra còn có Hệ thống 45 Quỹ tín dụng nhân dân rãi khắp tỉnh để hổ trợ cho vay nông nghiệp nông thôn

Kể từ khi thành lập đến nay, các NHTM trên địa bàn đã không ngừng phát triển và lớn mạnh Chất lượng các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng ngày càng được nâng cao Đặc biệt, đối với các chi nhánh NHTM quốc doanh đã từng bước xoá bỏ hình thức hoạt động kiểu kế hoạch cấp phát sang hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường Ngân hàng đang thực sự trở thành những tổ chức trung gian tài chính thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi và tài trợ vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ngân hàng đã quan hệ giao dịch với tất cả mọi thành phần kinh tế, cho vay phát triển kinh doanh và cho vay tiêu dùng nâng cao đời sống

Đa số các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng đã chuyển từ thủ công sang thực hiện bằng máy vi tính nối mạng hiện đại trên phạm vi của từng hệ thống ngân hàng và phạm vi cả nước Ngoài ra, hầu hết các NHTM quốc doanh đã tham gia vào mạng hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT

Cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nên hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng có nhiều thay đổi Các NHTM đã coi trọng các dịch vụ ngân hàng, thay đổi cung cách phục vụ, xây dựng chính sách tín dụng, lãi suất hợp lý và linh động hơn

Bảng 3 : Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2000 của một số NHTM

Đơn vị tính : tỷ đồng

1 Tổng thu nhập 23,88 18,29 31,74

Trong đó, thu về hoạt động cho vay 23,04 15,90

2 Tổng chi phí 14,02 11,77 24,48

Trong đó, chi về hoạt động huy động vốn 9,26 8,71

3 Lợi nhuận trước thuế 9,86 6,52 7,26

(Nguồn : Báo các tổng kết của các NHTM trên địa bàn) Trang 15

Trang 22

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Tính đến cuốn năm 2000, tất cả các NHTM trên địa bàn đều kinh doanh có lãi Kết quả kinh doanh của đa số các ngân hàng chủ yếu do đóng góp của hoạt động tín dụng Cụ thể: NHNT Kiên Giang năm 2000 có tổng thu nhập là 18, 3 tỷ đồng thì trong đó thu từ hoạt động tín dụng là 15,9 tỷ chiếm 86,9%, còn thu nhập từ dịch vụ chỉ có 1,3 tỷ đồng chiếm 7,1% Trong khi tổng chi là 11,8 tỷ thì trong đó chi cho trả lãi huy động vốn hết 8,8 tỷ chiếm 74,6% NHCT cả năm có tổng thu nhập là 23,9 tỷ thì trong đó thu nhập từ lãi cho vay là 23 tỷ chiếm 96,46% tổng thu nhập Trong khi tổng chi phí cả năm là 14 tỷ thì trong đó trả lãi huy động vốn chỉ có 9,3 tỷ chiếm 66,43%

Tuy rằng, các ngân hàng đã đa dạng hoá các nghiệp vụ hoạt động nhưng thu nhập chủ yếu vẫn từ hoạt động nghiệp vụ cho vay và chiếm khoảng trên dưới 80% thu nhập của ngân hàng Vì vậy có thể nói, trong điều kiện kinh doanh hiện nay, hoạt động tín dụng là hoạt động chính của các NHTM trên địa bàn Kiên Giang

2.2 Tình hình hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 2.2.1 Tình hình huy động vốn

Huy động vốn nói chung

Hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn trong những năm gần đây có những biến chuyển rõ rệt Nghiệp vụ huy động vốn ngày càng hoàn thiện và thu được những thành tựu đáng kể trong việc thu hút vốn nhàn rỗi từ nhiều nguồn để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Ngoài nguồn vốn huy động tại địa bàn, các NHTM còn sử dụng nguồn vốn điều chuyển trong hệ thống và vay các TCTD khác ngoài địa bàn

Bảng 4 : Tình hình tăng trưởng nguồn vốn huy động

Đơn vị tính: tỷ đồng

Tỷ lệ tăng, giảm %

Chỉ tiêu 1998 1999 2000

99/98 00/99

Tổng nguồn vốn huy động 1548,3 1881,3 2176,9 21,5 15,7 Trong đó :

- Vốn huy động tại chỗ 480,4 767,2 1021,5 59,7 33,1

- Vốn điều chuyển trong HT 1067,9 1114,1 1155,4 4,3 3,7 và vay các TCTD khác

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Trang 23

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Biểu đồ : Tình hình huy động vốn

Xét trên cơ cấu của nguồn vốn huy động thì chúng ta thấy nguồn vốn huy động tại chỗ tăng nhanh trong thời gian qua Năm 1998 cả hệ thống NHTM trên địa bàn chỉ huy động được 480,4 tỷ đồng thì đến cuối năm 1999 nguồn vốn huy động tại chỗ đạt 767,2 tỷ đồng, tăng 59,7% và đến cuối năm 2000 nguồn vốn huy động đã lên đến 1.021,5 tỷ đồng, tăng 2,13 lần so với năm 1998, tăng 33,1%

Kết quả huy động vốn trên địa bàn của hệ thống NHTM tăng nhanh và liên tục trong thời gian qua xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, chủ yếu là một số lý do sau :

- Các NHTM đã ý thức được tầm quan trọng của vai trò tạo vốn, sử dụng nhiều biện pháp để gia tăng nguồn vốn như đa dạng hoá các loại tiền gởi đáp ứng được nhu cầu của người gởi tiền, cải tiến cung cách phục vụ, mở rộng mạng lưới huy động, cung cấp các dịch vụ thanh toán thuận tiện cho khách hàng

- Lãi suất huy động đảm bảo thực dương, khoảng chênh lệch giữa lãi suất tiền gởi và tỷ lệ lạm phát ngày càng thu hẹp, người gởi tiền đảm bảo có nguồn thu nhập từ việc gởi tiền hơn là để tại nhà

Trang 17

Trang 24

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

- Thu nhập của đa số dân cư trên địa bàn có xu hướng tăng, dân chúng có khoản tích luỹ, các lĩnh vực chuyển tải vốn từ tiết kiệm sang đầu tư hoạt động chưa hữu hiệu,

vì vậy gởi tiền vào ngân hàng gần như là cách duy nhất mà dân chúng sử dụng tiền nhàn rỗi của họ kiếm lời

Bảng 5 : Vốn huy động tại chỗ so với dư nợ cho vay của các NHTM qua các năm

Đơn vị tính: 1 tỷ đồng

1 Dư nợ cho vay 891 1326 1764 2037

2 Vốn huy động tại chỗ 398,5 480,4 767,2 1021,5

3 Tỷ lệ vốn huy động tại

chỗ trên dư nợ

44,7 36,2 43,5 50,1

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Nguồn vốn huy động tại chỗ mặc dù tăng nhanh trong các năm qua nhưng chỉ mới đáp ứng được khoảng 44% dư nợ tín dụng đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn Bảng số liệu trên cho thấy năm 1997 vốn huy động tại chỗ chỉ đáp ứng được 44,7% dư nợ tín dụng, năm 1998 đáp ứng 36,2%, năm 1999 là 43,5%, đến năm 2000 thì nguồn vốn huy động này đáp ứng được 50,1% dư nợ cho vay Do đó, nguồn vốn điều chuyển trong hệ thống của các NHTM và vay các TCTD khác cũng rất là quan trọng đối với các NHTM trên địa bàn trong hoạt động tài trợ tín dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương

Bảng 6 : Tỷ trọng vốn huy động trong tổng nguồn vốn của các NHTM qua các năm

Đơn vị tính: tỷ đồng

Ngân hàng Vốn

huy động trên địa bàn

Tổng vốn huy động

Tỷ trọn

g %

Vốn huy động trên địa bàn

Tổng vốn huy động

Tỷ trọng

%

Vốn huy động trên địa bàn

Tổng vốn huy động

Tỷ trọng

Trang 25

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Đối với từng NHTM, theo bảng 6 cho thấy Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và NHTM cổ phần có nguồn vốn huy động tại chỗ chiếm một tỷ trọng hơi cao trong tổng nguồn vốn huy động và cao hơn các NHTM khác còn lại Ngân hàng Công thương là ngân hàng có tỷ lệ nguồn vốn huy động tại chỗ, kể từ năm 1999 trở đi, cao nhất khoảng trên dưới 60% tổng nguồn vốn huy động; kế đến là Ngân hàng Nông nghiệp, NHTM cổ phần Tuy nhiên, để đủ vốn cho hoạt động tín dụng tất cả các NHTM trên địa bàn đều phải sử dụng vốn điều chuyển trong hệ thống là chủ yếu Vốn huy động tại chỗ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với vốn điều chuyển Điều này chứng tỏ các NHTM trên địa bàn còn phụ thuộc rất lớn về vốn từ bên ngoài địa bàn Nếu quá trình điều chuyển vốn trong hệ thống ngân hàng bị trục trặc như không đáp ứng kịp thời về mặt thời gian, số lượng vốn thì các NHTM trên địa bàn sẽ khó có thể đẩy mạnh hoạt động tín dụng cũng như các các hoạt động kinh doanh khác Mặt khác lãi suất vay điều chuyển này thường cao hơn lãi suất huy động bình quân tại chỗ từ 0,1 đến 0,2%/tháng, làm cho hiệu quả hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn thấp, hạn chế việc đẩy mạnh cho vay vốn Ngoài ra, tỷ lệ huy động tại chỗ của các NHTM thấp còn cho chúng ta thấy rằng khả năng huy động vốn tại chỗ của các NHTM còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được những nguồn vốn nhàn rỗi tiềm năng còn lớn trong dân cư; đặc biệt, lượng tiền kiều hối do thân nhân nuớc ngoài gởi về cho người thân trong tỉnh không thông qua hệ thống ngân hàng là rất lớn Vì vậy các ngân hàng phải có những biện pháp huy động vốn hấp dẫn và hiệu quả để thu hút ngày càng nhiều vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế trên địa bàn nhằm nâng cao tính tự chủ và hiệu quả trong hoạt động tín dụng của ngân hàng mình

Huy động vốn tại chỗ

Bảng 7 : Tình hình huy động vốn các loại trên địa bàn

Đơn vị tính: tỷ đồng

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

Chỉ tiêu 1998 1999 2000 99/98 00/99

1 Tiền gởi thanh toán 125,5 350,0 361,4 178,9 3,3

- Không kỳ hạn 120,4 339,1 347,1 181,6 2,4

- Có kỳ hạn 5,1 10,9 14,4 114,4 31,7

2 Tiền gởi tiết kiệm 228,0 282,3 293,5 23,8 4,0

- Không kỳ hạn 25,3 21,4 26,3 -15,4 22,8

- Có kỳ hạn 202,7 260,9 267,2 28,7 2,4

3 Tiền gởi kỳ phiếu, trái phiếu 39,6 11,4 32,0 -71,1 180,0

4 Tiền gởi khác 87,2 123,5 334,6 41,6 171,0 Tr.đó : TG Kho bạc nhà nước 84,4 109,2 331,5 29,3 203,7

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Trang 19

Trang 26

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Bảng 8 : Cơ cấu nguồn vốn huy động tại chỗ

Đơn vị tính : %

Chênh lệch

Chỉ tiêu 1998 1999 2000 99/98 00/99

1 Tiền gởi thanh toán 26,1 45,6 35,4 19,5 -10,2

2 Tiền gởi tiết kiệm 47,5 36,8 28,7 -10,7 -8,1

3 Tiền gởi kỳ phiếu, trái phiếu 8,2 1,5 3,1 -6,8 1,6

4 Tiền gởi khác 18,2 16,1 32,8 -2,1 16,7 Trong đó: TG Kho bạc Nhà nước 17,6 14,2 32,4 -3,3 18,2

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Nguồn vốn huy động tại chỗ chủ yếu hình thành từ tiền gởi thanh toán của các doanh nghiệp, tiền gởi tiết kiệm và tiền gởi kỳ phiếu, trái phiếu của dân chúng, tiền gởi khác như tiền ký quỹ thanh toán, tiền gởi chuyên dùng, tiền gởi của tổ chức tài chính (ở đây chủ yếu là của Kho bạc nhà nước địa phương)

- Tiền gởi thanh toán : Hình thành chủ yếu từ tiền gởi không kỳ hạn trên các tài khoản thanh toán của các doanh nghiệp nhà nước Tiền gởi thanh toán có xu hướng ngày càng tăng, năm 1997 đạt 125,5 tỷ đồng thì đến năm 1998 số tiền gởi này đã lên đến 350 tỷ đồng, tăng 178,9% nhưng đến năm 2000 thì tốc độ tăng của tiền gởi thanh toán đã chậm lại, chỉ tăng 3,3% Tiền gởi thanh toán trong thời gian qua liên tục tăng là do nghiệp vụ thanh toán của các NHTM đã ngày càng được hoàn thiện, nhanh chóng và chính xác đáp ứng được nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng cao của các doanh nghiệp Tính đến cuối năm 2000, thì nguồn tiền gởi thanh toán này đã chiếm 35,4% nguồn vốn huy động trên địa bàn Đây là một tỷ lệ khá lớn và đã làm cho chi phí huy động vốn của các NHTM giảm đáng kể, do lãi suất huy động nguồn vốn thanh toán này thấp hơn nhiều so với lãi suất huy động tiền gởi tiết kiệm và phát hành các giấy tờ có giá khác

- Tiền gởi tiết kiệm : Tiền gởi tiết kiệm của dân cư cũng liên tục tăng nhưng tốc độ tăng có phần chậm lại, năm 1999 tăng 23,8% thì năm 2000 chỉ tăng 4% Xét về cơ cấu nguồn vốn huy động thì tỷ trọng nguồn vốn tiết kiệm cũng giảm liên tục, năm

1998 chiếm 47,5% nguồn vốn huy động tại chỗ, năm 1999 là 36,8% (giảm 10,7%), đến năm 2000 chỉ còn chiếm 28,7% (giảm 8,1%) Nguồn vốn tiền gởi tiết kiệm chủ yếu là tiền gởi có kỳ hạn dưới 12 tháng, còn tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Mặc dù nguồn vốn tiền gởi tiết kiệm có chi phí lãi suất tiền gởi cao hơn tiền gởi thanh toán nhưng bù lại, hiện nay, nguồn vốn này lại có số dư tiền gởi khá ổn định, giúp ngân hàng chủ động trong cho vay ngắn hạn, cũng như trích một tỷ lệ hợp lý chuyển sang cho vay trung hạn

Trang 27

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

- Tiền gởi kỳ phiếu, trái phiếu : Loại tiền gởi này vẫn còn chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn, năm 1998 huy động được 39,6 tỷ đồng, chiếm 8,2%; năm 1999 là 11,4 tỷ đồng, chiếm 15%; năm 2000 là 32 tỷ đồng, chiếm 3,1% Hiện tại, chỉ có Ngân hàng Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công thương phát hành các loại chứùng từ có giá này và loại hình nguồn vốn huy động này thường phải dùng lãi suất huy động cao hơn các loại hình khác nên các ngân hàng chỉ phát hành khi đã có các dư án đầu tư

Tình hình huy động vốn của các ngân hàng trên địa bàn liên tục tăng theo thời gian Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động vẫn ở mức thấp, chỉ đáp ứng một phần vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn và phải sử dụng nguồn vốn điều chuyển và vay các TCTD khác từ địa bàn khác Theo đánh giá của một số nhà kinh tế, thì lượng vốn nhàn rỗi của dân cư trên địa bàn là rất lớn chủ yếu nằm dưới dạng vàng, ngoại tệ mạnh, và các loại tài sản có giá khác mà các ngân hàng chưa thu hút được bởi nhiều lý do :

- Hình thức huy động vốn của các NHTM chưa được phong phú, chưa có hình thức huy động mới hấp dẫn như Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, Hợp đồng tín thác, Hợp đồng hưu bổng, tiết kiệm trẻ vị thành niên, …

- Dân chúng còn thiếu niềm tin vào ngân hàng, hệ thống thanh toán của ngân hàng đã cải tiến rất nhiều song vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi cao về thanh toán (nhanh lẹ, chính xác, thuận lợi) của các doanh nghiệp và dân chúng Mặt khác tâm lý, thói quen thanh toán bằng tiền mặt còn quá phổ biến trong công chúng nên nhiều công cụ thanh toán hiện đại khác chưa được công chúng sử dụng, đã hạn chế việc thu hút tiền gởi thanh toán qua ngân hàng

- Vấn đề bảo hiểm tiền gởi chưa được các ngân hàng quan tâm đúng mức

- Đồng tiền VN mất giá dần, đồng dollar giữ vị trí ưu thế cũng làm cho huy động vốn khó khăn

2.2.2 Tình hình cho vay

Tình hình tín dụng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Bảng 9 : Tổng dư nợ tính dụng của hệ thống NHTM trên địa bàn qua các năm

Tổng dư nợ tín Mức tăng năm sau Tốc độ tăng so với

Năm dụng (tỷ đồng) so với năm trước năm trước (%)

Trang 28

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Biểu đồ : Tình hình tổng dư nợ tín dụng

Tổng dư nợ tín dụng

Qua bảng số liệu và sơ đồ trên cho thấy quy mô tín dụng ngày càng được mở rộng, tổng dư nợ của các NHTM liên tục tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn này là 31,6%/năm

- Năm 1996 tổng dư nợ đạt 707 tỷ đồng

- Năm 1997 tổng dư nợ đạt 891 tỷ đồng, tăng 184 tỷ (26%) so với năm 1996

- Năm 1998 tổng dư nợ đạt 1.326 tỷ đồng, tăng 435 tỷ đồng (48,8%) so với năm

1997

- Năm 1999 tổng dư nợ đạt 1764 tỷ đồng, tăng 438 tỷ đồng (33%) so với năm 1998

- Năm 2000 tổng dư nợ đạt 2037 tỷ đồng, tăng 273 tỷ đồng (15,5%) so với năm

1999

Kể từ năm 1999 trở đi tốc độ tăng trưởng tín dụng trên địa bàn có xu hướng giảm, phù hợp với thực trạng tăng trưởng kinh tế chậm của cả nước nói chung và trên địa bàn Kiên giang nói riêng (năm 1998 tăng trưởng GDP là 5,8%/9,31%; năm 1999 là 4,8%/7,86%; năm 2000 là 6,7%/7,26%)

Tổng dư nợ tín dụng tăng là biểu hiện tích cực trong hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa phản ánh được tình hình sử dụng vốn huy động và phân bổ tín dụng của các NHTM

Trang 29

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Tình hình phân bổ tín dụng theo thời hạn vay của các NHTM trên địa bàn

Bảng 10 : Phân bổ tín dụng theo thời hạn vay

Đơn vị tính : tỷ đồng

Tỷ lệ tăng, giảm

Các chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000

98/97 99/98 00/99

Tổng dư nợ 891 1326 1764 2037 48,8 33,0 15,5

- Dư nợ ngắn hạn 728 786 1283 1391 8,0 63,2 8,4

- Dư nợ trung, dài hạn 163 540 481 646 231,3 -11,0 34,3

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Xét theo cơ cấu tín dụng ở bảng 10 cho thấy :

- Tín dụng ngắn hạn : Còn chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ (bình quân trên 70,5%) và có xu hướng giảm dần tỷ trọng, song vẫn còn ở mức cao (trên 68%) Dư nợ ngắn hạn liên tục tăng Đặc biệt, cuối năm 1998 và 1999 tốc độ tăng rất cao; dư nợ ngắn hạn năm 1998 là 786 tỷ đồng, chiếm 59,3% tổng dư nợ, thì đến cuối năm 1999

dư nợ ngắn hạn lên đến 1.283 tỷ đồng chiếm 72,7% tổng dư nợ, tăng 63,2% so với năm

1998 (số tuyệt đối là 497 tỷ đồng) Cuối năm 2000, dư nợ ngắn hạn đạt 1.391 tỷ đồng, chiếm 68,3% tổng dư nợ và tăng 8,4% so với năm 1999 (số tuyệt đối là 108 tỷ đồng) Tín dụng ngắn hạn chủ yếu được tài trợ cho vay các hộ nông dân, các doanh nghiệp tư nhân cá thể, các Cty chế biến kinh doanh xuất khẩu gạo, kinh doanh xăng dầu v.v…

Những năm gần đây thiên tai lũ lụt liên tục đe doạ đồng bằng sông Cửu Long, nhất là cơn lũ lớn của năm 2000, làm cho sản xuất nông nghiệp đình đốn và mất mùa Nhưng khi nông dân được mùa thì bị rớt giá (do giá cả những mặt hàng nông sản của thế giới liên tục rớt giá), ngược lại giá cả vật tư hàng dùng cho sản xuất như xăng dầu, vật tư phân bón lại tăng rất cao làm cho nông dân bị thua lỗ Trước tình hình này nhà nước chỉ đạo các NHTM gia hạn nợ, giãn nợ và tiếp tục cho vay mới để các hộ nông dân có vốn tiếp tục sản xuất Và đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm tăng dư nợ tín dụng ngắn hạn tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp nhưng hiệu quả đóng góp cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn vẫn ở mức thấp

- Tín dụng trung - dài hạn : chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu dư nợ tín dụng (bình quân khoảng 29,5%) và có xu hướng tăng dần nhưng vẫn ở mức rất thấp

Riêng năm 1998 thì tốc độ tăng dư nợ cho vay dài hạn có tính đột ngột (231,3%), bởi lẽ đây là giai đoạn mà các NHTM quốc doanh giải ngân cho vay sửa chữa, đóng

Trang 23

Trang 30

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

mới tàu cá theo chỉ định của chính phủ nhằm khôi phục ngành khai thác hải sản do hậu quả cơn bão số 5 trong năm 1997 gây ra

Tín dụng trung - dài hạn trong những năm gần đây tăng là do chủ yếu đầu tư cho vay khắc phục cơn bão số 5, cho vay đóng mới tàu cá công suất trên 500 cv của chương trình đánh bắt hải sản biển đông xa bờ và cho vay đầu tư xây dựng nhà máy đường Bến Nhất, xây dựng nhà máy chế biến khóm cô đặc Các dự án này đã đi vào hoạt động tạo được nhiều công ăn việc làm nhưng hiệu quả kinh tế từ nguồn vốn tín dụng tài trợ này chưa cao, khả năng thu hồi nợ thấp

Phải nói rằng tín dụng trung - dài hạn thời gian qua đã tăng nhanh theo hướng tăng tỷ trọng dư nợ trong tổng dư nợ tín dụng Tuy nhiên con số này so với nhu cầu đầu

tư phát triển kinh tế của tỉnh còn quá nhỏ, khả năng đáp ứng của các ngân hàng còn rất hạn chế Hiện nay, ngân hàng mới chỉ đủ sức đáp ứng khoảng 20 - 25% so với nhu cầu đầu tư trong tỉnh Có thể nói khả năng đáp ứng vốn trung - dài hạn cho đầu tư trong tỉnh là rất khiêm tốn Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau :

+ Đứng trên giác độ an toàn vốn, cho vay ngắn hạn an toàn hơn cho vay trung - dài hạn trong môi trường kinh tế chưa ổn định

+ Ngân hàng thiếu vốn để cho vay trung dài hạn, hiện nay nguồn vốn chủ yếu các ngân hàng cho vay trung - dài hạn vẫn dựa vào tỷ lệ trích từ nguồn vốn huy động ngắn hạn Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn các ngân hàng lâm vào tình trạng rủi ro về thanh khoản, do đó chỉ có thể sử dụng nguồn vốn này ở mức giới hạn cho phép

+ Chưa có sự kết hợp đồng bộ giữa cơ quan chủ quản, chủ dự án đầu tư và ngân hàng trong quá trình thiết lập và thẩm định dự án tiền khả thi, khả thi cũng như hạn chế về mặt trình độ nghiên cứu thẩm định làm cho các ngân hàng rất e ngại khi tham gia đầu tư

Cơ cấu đầu tư tín dụng giữa các ngành vẫn còn bất hợp lý Vốn trung dài hạn chưa được tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại cho các ngành kinh tế mũi nhọn như ngành nuôi trồng và chế biến hải sản, lương thực xuất khẩu, ngành sản xuất và nghiền xi măng Hiện tại, đa số các công nghệ, máy móc thiết bị của các ngành chủ lực này của tỉnh đang xuống cấp nghiêm trọng, cho nên sản lượng sản xuất chế biến và chất lượng sản phẩm không đủ sức cạnh tranh và chủ yếu xuất hàng chế biến dạng sơ chế, kim ngạch xuất khẩu đạt thấp Kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh năm 1990 đạt 77,5 triệu USD thì đến năm 1998 lại giảm nghiêm trọng chỉ đạt 57,8 triệu USD, năm 2000 mới đạt 74 triệu USD

Các NHTM còn tư tưởng phân biệt đối xử khi cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế, đặc biệt là cấp tín dụng trung - dài hạn Thực trạng cấp tín dụng trung- dài hạn cho khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế khác chủ yếu theo chỉ định của chính phủ, còn cấp tín dụng dạng thông thường theo yêu cầu mở rộng và đổi mới công nghệ,

Trang 31

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

máy móc của các thành phần kinh tế này chiếm một tỷ trọng quá khiêm tốn so với tiềm lực và những đóng góp của họ

Tình hình phân bổ tín dụng theo thành phần kinh tế :

Bảng 11 : Phân bổ tín theo thành phần kinh tế

Đơn vị tính : tỷ đồng

1997 1998 1999 2000 Thành phần kinh tế

Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Cơ cấu nguồn vốn của các NHTM không giống nhau, quy mô và phạm vi về nghiệp vụ không đồng đều, do vậy có sự khác biệt giữa các ngân hàng thương mại và giữa các thành phần kinh tế trong chính sách tín dụng và lãi suất

Các NHTM quốc doanh ngoài việc tập trung vốn đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư theo chủ trương chính sách kinh tế của nhà nước, ngân hàng đã mở thêm nhiều hình thức cho vay đối với các khu vực kinh tế tư nhân, cho vay các hộ kinh tế cá thể, cho vay sản xuất tiêu dùng, … Còn các NHTM cổ phần nông thôn do nguồn vốn thấp khả năng huy động vốn khó khăn nên chủ yếu đầu tư cho vay các hộ sản xuất nông nghiệp, kinh tế cá thể mua bán nhỏ, cho vay trả góp tiêu dùng và thường cho vay lãi suất cao hơn NHTM quốc doanh

Qua Bảng 11 phản ánh phân bổ tín dụng thấy rằng :

+ Tín dụng đối với khu vực kinh tế nhà nước :

Trong số khách hàng có quan hệ tín dụng thì các DNNN vẫn là khách hàng quan trọng của các NHTM quốc doanh hiện nay Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng và nâng cao chất lượng quan hệ tín dụng giữa các NHTM với các doanh nghiệp là một vấn đề bức xúc quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của DNNN với ngân hàng Việc đổi mới quan hệ tín dụng giữa NHTM với DNNN cũng là khâu quan trọng trong tiến trình chấn chỉnh và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước

Trang 25

Trang 32

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Trở lại tình hình dư nợ của các DNNN ta thấy mức tăng dư nợ hiện nay còn rất cao so với tăng vốn tự có của các doanh nghiệp này Ví dụ tại thời điểm cuối năm

2000, Cty thương mại Kiên Giang vốn lưu động tự có chỉ là 12,3 tỷ trong khi vay vốn ngắn hạn đến 104,6 tỷ đồng; Cty xuất nhập khẩu Kiên Giang thì vốn lưu động tự có là 13,3 tỷ, lại vay vốn ngắn hạn đến 107 tỷ đồng; Cty xi măng Hà Tiên Kiên Giang thì vốn lưu động tự có là 4 tỷ lại vay vốn ngắn hạn 21,8 tỷ đồng ∗

Qua đó sự gia tăng số dư nợ qua các năm chưa phản ánh được sự phát triển của sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng về vốn của các DNNN

Trước tình hình này cần phải cũng cố chấn chỉnh lại tổ chức và hoạt động của các DNNN để đáp ứng yêu cầu cần thiết trên thị trường vốn Song trên thực tế chưa thực hiện tốt và các NHTM phải chấp nhận thực tế này, cho vay vốn với các điều kiện không đảm bảo, áp dụng các điều kiện có tính cá biệt cho riêng DNNN, chẳng hạn như không đòi hỏi thế chấp, đảm bảo tài sản trong cho vay vốn, cho vay không đòi hỏi nhiều về vốn lưu động tự có Điều phân biệt này thể hiện sự không nhất quán, không bình đẳng trong thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần

+ Tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân và cá thể nông thôn :

Trong những năm qua nhiều DNTN ra đời và hoạt động có hiệu quả ở nhiều ngành nghề đa dạng Vốn tín dụng tài trợ cho thành phần kinh tế này ngày càng có xu hướng tăng lên nhưng còn chậm và vẫn còn có sự phân biệt đối xử Ở góc độ khác, khu vực kinh tế tư nhân ít được cho vay trung - dài hạn đầu tư đổi mới máy móc công nghệ, mà hầu hết chỉ được cho vay vốn ngắn hạn Thành phần kinh tế tư nhân đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn khá lớn Song việc phân bổ tín dụng cho các thành phần kinh tế còn chưa căn cứ vào yếu tố mức đóng góp vào GDP của mỗi thành phần kinh tế, xu hướng, vốn hoạt động, cũng như tính năng động của các thành phần kinh tế

Như vậy cho tới thời điểm hiện nay, mặc dù có sự đổi mới trong chính sách tiền tệ tín dụng, ngân hàng, chính sách cho vay đối với các doanh nghiệp nhưng các NHTM quốc doanh chưa thực sự bước vào thị trường tín dụng đầy tiềm năng này Điều này được giải thích bằng sự nghèo nàn, đơn điệu trong việc áp dụng các chiến lược, loại hình cho vay đối với các DNTN

Hiện nay, hầu hết các NHTM chủ yếu thực hiện cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp tư nhân, còn cho vay trung - dài hạn nếu có thì rất thấp Mặt khác, trong lĩnh vực cho vay ngắn hạn, ngân hàng cũng chưa có phương thức cho vay linh hoạt thích hợp với từng nhu cầu cụ thể, cũng như với từng doanh nghiệp cụ thể Cách cho vay duy nhất hiện nay các ngân hàng áp dụng đối với doanh nghiệp tư nhân là cho vay thông thường (cho vay theo món) Việc xét duyệt mức cho vay, hầu hết các ngân hàng

Trang 33

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

đều căn cứ vào tài sản thế chấp, cầm cố để tính toán mức cho vay chứ không căn cứ vào uy tín và hiệu quả kinh doanh cũng như những chỉ tiêu tiềm năng của từng doanh nghiệp Về lãi suất, NHTM thường căn cứ vào mức lãi suất quy định của nhà nước cộng với phần lãi cho phù hợp với tình hình huy động vốn cụ thể, chưa có chính sách lãi suất linh động cho thành phần kinh tế này

Đối với khu vực kinh tế cá thể nông thôn, đây là khu vực kinh tế có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển đổi kinh tế nông nghiệp, nông thôn sang kinh tế thị trường thông qua hình thành các trang trại tư nhân, kinh tế hộ gia đình Sự chuyển đổi đó làm cho nhu cầu về vốn của các hộ sản xuất tăng lên Hiện tại, trên địa bàn tỉnh thì ngân hàng nông nghiệp cùng với mạng lưới chi nhánh huyện rộng khắp và 3 NHTM cổ phần nông thôn và

45 quỹ tín dụng cơ sở giữ trò chính trong việc cung cấp tín dụng cho khu vực nông thôn Kể từ năm 1991 NHNNo chuyển đổi việc tài trợ cho các DNNN sang hướng tài trợ cho hộ gia đình và kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp NHNo đã vận dụng hình thức cho vay theo tổ (tổ tín chấp), hình thức này đem lại hiệu quả tốt, phù hợp vói tập quán làng xã Các tổ nhóm đi vay gồm hội viên hội phụ nữ, hội nông dân v.v… cam kết hoàn trả các khoản vay vốn trước khi vay mới Việc cho vay theo tổ nhóm đã cải thiện rất đáng kể tình hình thiếu vốn ở nông thôn Dư nợ cho vay hộ sản xuất nông nghiệp từ năm 1991 đến nay đã tăng lên, gắn phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn với quá trình CHN, HĐH Tuy nhiên, đến nay nền nông nghiệp trong địa bàn tỉnh về cơ bản vẫn còn là sản xuất nhỏ với kỹ thuật thủ công, chậm đổi mới nên năng suất và hiệu quả kinh tế thấp Hiện nay, nhu cầu vốn của nông dân để sản xuất là rất lớn Các ngân hàng cần có biện pháp tích cực để huy động thêm nguồn tín dụng cho hộ nông dân, tăng lượng vốn vay, coi trọng tín dụng trung - dài hạn đối với nông dân Tóm lại : Các NHTM, bên cạnh việc tiếp tục duy trì đầu tư vào thành phần kinh tế quốc doanh, cần tăng cường mở rộng thị trường sang các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế hộ nông nghiệp tăng dư nợ cho vay, tăng cho vay trung dài hạn, tạo động lực phát triển kinh tế đa dạng trên địa bàn, vì trong tương lai thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ phát triển mạnh về số lượng và qui mô sản xuất kinh doanh

Tình hình phân bổ tín dụng theo ngành SXKD :

Thế mạnh của Kiên Giang là sản xuất nông nghiệp, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây dựng (chủ yếu xi măng) Song trên thực tế, thế mạnh này chưa được đầu tư khai thác hợp lý

Trang 27

Trang 34

Chương 2 : Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trên địa bàn iên Giang

Bảng 12 : Cho vay theo ngành kinh tế

Đơn vị tính : 1 tỷ đồng

(Nguồn : NHNN tỉnh Kiên Giang)

Qua số liệu (Bảng12) phản ánh phân bổ tín dụng theo ngành kinh tế cho thấy rằng :

+ Tín dụng đối với ngành sản xuất nông nghiệp :

Dư nợ cho vay đầu tư vào ngành sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 40 – 42%) và liên tục tăng qua các năm Tuy nhiên, dư nợ vay này chủ yếu là dư nợ vốn lưu động ngắn hạn phục vụ cho cây lúa nên hiệu quả kinh tế không cao và thiếu ổn định Để ngành kinh tế nông nghiệp phát triển có tính bền vững, các NHTM cần mạnh dạn cho vay vốn trung – dài hạn để nông dân chuyển đổi giống cây trồng vật nuôi, áp dụng khoa học – công nghệ, cải tạo vườn tạp, xây dựng kênh mương, đê bao nội đồng chống ngập lũ, chủ động trong sản xuất thì về lâu dài nông nghiệp tỉnh phát triển bền vững, người nông dân mới có thu nhập ổn định, ngân hàng cũng nâng cao được hiệu quả kinh doanh

+ Tín dụng đối với ngành hải sản :

Tuy thế mạnh của tỉnh là ngành hải sản, đặc biệt là tiềm năng nuôi trồng hải sản nhưng vốn đầu tư cho phát triển ngành này còn rất thấp, và chiếm tỷ trọng khoảng 16 – 18% tổng dư nợ Hiện nay, Chính phủ đã đồng ý cho Kiên Giang chuyển đổi nhiều vùng không thích hợp cho cây lúa sang nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi tôm sú, diện tích mở rộng cho nuôi trồng lên đến 50.000 ha Đây chính là cơ hội cho các NHTM đầu

tư đẩy mạnh chuyển cơ cấu cho vay theo chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh, phát triển mạnh ngành nuôi trồng hải sản tăng thu nhập cho tỉnh

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w