1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển nhà cho người có thu nhập thấp ở nông thôn tỉnh cần thơ đến năm 2010 luận văn thạc sĩ

79 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 346,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

C gi Tuy nhiên cho đến nay nhà ở cho người có thu nhập thấp vùng nông thôn và đặc biệt vùng Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL vẫn chưa được chú trọng và phát triển.Cần Thơ là một tỉnh trun

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN HỮU HOÀNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÀ CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP Ở NÔNG THÔN TỈNH

CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số:

LUẬN ÁN CAO HỌC KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học : TS PHƯƠNG NGỌC THẠCH

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

trang

LỜI MỠ ĐẦU

CHƯƠNG1 : Các đặc điểm tự nhiên, kinh te,á xã hội

ảnh hưởng đến phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ… …………1

1.1 Các đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển nhà vùng nông Thôn tỉnh CầnThơ……… 1

1.1.1Vị trí địa lý……… 1

1.2.2 Đặc điểm khí hậu ……… 2

1.2.3 Hệ thống sông rạch ……… 3

Ï1.2.4 Sự phân bố và đặc tính các loại đất ………… ……….4

1.2 Các điều kiện kinh tế tác động đến việc phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ……… .4

1.3 Đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến việc phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ……… 7

CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển nhà ở nông thôn tỉnh CầnThơ 11

2.1 Tình hình phát triển nhà ở nông thôn Tỉnh Cần Thơ từ năm 1976 đến nay……… 11

2.1.1 Đánh giá thực trạng nhà ở nông thôn hiện nay……… 13

2.1.2 Đặc điểm phân bố nhà ở và kiểu nhà ở nông thôn……… .17

2.1.3 Quan hệ giữa thu nhập người dân nông thôn và nhà ở nông thôn……19

2.2 Đánh giá các giải pháp phát triển nhà ở nông thôn Cần Thơ trong những năm gần đây……… .21

2.2.1 Các dự án quy hoạch và phát triển các khu dân cư vùng nông thôn……… ……… 21

2.2.2 Giải pháp tín dụng ở nông thôn tỉnh Cần Thơ trong thời gian qua .22

2.2.3 Giải pháp tôn cao nền nhà để chống lũ 23

2.2.4 Các chính sách tác động đến sự phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ 24

CHƯƠNG 3 : Định hướng và giải pháp phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ đến năm 2010……… 26

Trang 3

3.1 Các nhân tố tác động đến việc phát triển nhà ở nông thôn tỉnh

Cần Thơ đến năm 2010……… 26

3.1.1 Nhân tố dân số tác động đến phát triển nhà ở ………26

3.1.2 Nhân tố kinh tế xã hội có tác động đến sự phát triển nhà ở nông thôn……… 26

3.1.3 Nhân tố cơ sở hạ tầng nông thôn ảnh hưởng đến xây dựng nhà ở ………… 27

3.2 Định hướng phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ đến 2010… …28

3.2.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển nhà ở nông thôn tỉnh 28

3.2.2 Luận chứng phát triển nhà ở nông thôn …… 29

3.3 Định hướng về phát triển nhà cho người có thu nhập thấp ở nông thôn tỉnh Cần Thơ đến năm 2000 - 2010……… ……33

3.4 Các giải pháp phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ở nông thôn tỉnh Cần Thơ đến năm 2010……… 36

3.4.1 Giải pháp về tạo vốn để phát triển nhà……… 36

3.4 2 Giải pháp về tín dụng phát triển nhà cho người có thu nhập thấp ở nông thôn tỉnh……… …37

3.4.3 Giaỉ pháp về đất đai dành cho xây dựng nhà ở nông thôn……… 40

3.4.4 Giải pháp thương mại hóa việc bán nhà 41

3.4.5 Giải pháp áp dụng các tiến bộ kỷ thuật ,vật liệu mới trong xây dựng nhà ở nông thôn……… 42

3.4.6 Giải pháp xây dựng mô hình bố trí nhà ở nông thôn… 45

3.4.7 Giải pháp xây dựng nhà cho các đối tượng chính sách , hộ thu nhập thấp ……… .47

3.4.8 Giải pháp xây dựng tránh ngập nhà khi muà mưa lũ……… 49

3.4.9 Xác định vai trò của nhà nước trong việc phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ở nông thôn tỉnh Cần Thơ……… ……51

KẾT LUẬN ……… .55

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………58 PHU LỤC……… 61- 73

Trang 4

Lời Mở Đầu:

ùng với sự tăng trưởng kinh tế, tăng dân cư trong những năm qua vấn đề nhà ở ổn định, lâu bền và đẹp trở thành nhu cầu ngày càng

a tăng trong mọi tầng lớp dân cư

C

gi Tuy nhiên cho đến nay nhà ở cho người có thu nhập thấp vùng nông thôn và đặc biệt vùng Đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL ) vẫn chưa được chú trọng và phát triển.Cần Thơ là một tỉnh trung tâm có vai trò quan trọng trong việc phát triển vùng ĐBSCL, riêng về điều kiện nhà ở nông thôn là một trong 5 tỉnh vùng ĐBSCL có tỉ lệ nhà ở đơn sơ ( Nhà đưọc làm bằng các loại vật liệu tranh,tre ,nứa ,lá ) hay còn gọi nhà tạm bợ ( vì thời gian sử dụng ngắn khoảng 3-5 năm ) cao nhất trong cả nước.Với dân số ở nông thôn của tỉnh chiếm tỉ lệ gần 80% và khu vực kinh tế nông thôn đóng góp hơn 40% thu nhập của tỉnh thì tỉ lệ hơn 60% nhà tạm bợ hiện nay và tình trạng yếu kém của cơ sở hạ tầng ở nông thôn thực sự là một vấn đề bức xúc không tương xứng với tiềm năng về kinh tế

Nhận thức được vấn đề , tỉnh Cần Thơ đã quan tâm và xây dựng các định hướng cho sự phát triển nhà ở vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ trong những năm gần đây.Tuy nhiên sự chuyển động về nhà ở vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ vẫn diễn ra một cách chậm chạp và mang tính tự phát

Đánh giá một cách thực chất hiện trạng nhà ở nông thôn, xây dựng các định hướng sát đúng và các giải pháp có tính khả thi và đồng bộ cho việc phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ( hầu hết những người này ở trong những căn nhà tạm bợ) vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ hiện nay là một việc quan trọng có

ý nghĩa trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa , hiện đại hóa góp phần cải thiện điều kiện kinh tế xã hội văn hóa và đặc biệt là điều kiện sống của người dân vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ

Trên suy nghĩ đó chúng tôi mạnh dạn viết luận án cao học kinh tế với đề tài: “Giải pháp phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp ở nông thôn tỉnh Cần

Trang 5

Thơ đến năm 2010 “ Rất mong đề tài sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển nhà ở vùng nông thôn nhằm đạt được mục tiêu cùa Tỉnh đề ra là có 70-80% nhà ở kiên cố và bán kiên cố vào năm 2010

GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

Lĩnh vực nhà ở nông thôn là một vấn đề lớn và phức tạp, do vậy việc giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là điều cần thiết Đề tài được viết trong giới hạn về việc phát triển nhà cho người có thu nhập thấp vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ ( phạm vi các xã ) và chú trọng vào việc tìm ra các giải pháp chủ yếu mang tính khả thi cho việc cải thiện chất lượng nhà ở đặc biệt là nhà tạm bợ nơi ở hầu hết của những người có thu nhập thấp vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ Những người có thu nhập thấp được hiểu là những người có mức thu nhập bình quân thấp hơn mức qui định hiện nay cùa Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội cho người dân sống ờ khu vực nông thôn vùng ĐBSCL

Có thể nói việc phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp vùng nông thôn Tỉnh Cần thơ thực chất cũng là việc phát triển nhà ở vùng nông thôn của tỉnh,vì số người có thu nhập thấp chiếm 60% số hộ sinh sống ở nông thôn và nhà

ở của họ là đối tượng chính yếu cần cải thiện Do vậy các giài pháp về phát triển nhà chủ yếu tập trung cho các hộ có thu nhập thấp

Có sự hạn chế về các tài liệu nhà ờ nông thôn tỉnh Cần Thơ cũng như các số liệu thu nhập bình quân đầu người,vì đây là một lỉnh vực mà trong một thời gian dài không được theo dõi đúng mức.Điều này đã làm hạn chế các giải pháp mang tính cụ thể

Trang 6

PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Hai phương pháp được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp mô tả nhằm thu thập một cách có hệ thống và đánh giá một cách khách quan về tình hình phát triển nhà ở nông thôn trong quá khứ, thu thập các thông tin về hiện trạng nhà hiện tại và các vấn đề có liên quan, phân tích các nguyên nhân tác động và dự báo khả năng phát triền nhà ở trong tương lai.Các số liệu thu thập chủ yếu dựa vào số liệu thống kê qua nhiều năm cùa Cục thống kê tỉnh Cần Thơ,các số liệu báo cáo cùa Trung tâm phát triền nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ,các tài liệu của các hội thảo về phát triển nhà vùng ĐBSCL và tỉnh Cần Thơ, tham khảo các tài liệu trên các báo và tạp chí có liên quan.Các số liệu được thu thập ,đánh gía mức độ chính xác từ sự đối chiếu nhiều tài liệu và có sự chỉnh lý cho phù hợp

Trang 7

CHƯƠNG 1 CÁC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN , KINH TẾ , XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN NHÀ Ở NÔNG THÔN TỈNH

0 – 0,6m, thời gian ngập ngắn, thoát nước nhanh Khu vực này có địa hình thuận lợi dễ dàng nhất cho xây dựng nhà ở so với các khu vực khác trong tỉnh

• Dạng địa hình bồn trũng: Do không được phù sa bồi đắp Khu vực bồn trũng này chủ yếu ở các huyện Phụng Hiệp, Vị Thanh, Long Mỹ và một phần của huyện Ô Môn, Châu Thành, thường bị ngập nước quanh năm với độ ngập nước từ 0,5 – 2m tùy theo từng vị trí và từng mùa Để xây dựng nhà ở người ta thường tôn cao nền nhà Một bồn trũng thứ hai có diện tích nhỏ hơn thuộc huyện Thốt Nốt là một bộ phận của bồn trũng Tứ giác Long Xuyên chịu ảnh hưởng lũ Những năm lũ lớn, Thốt Nốt dễ bị thiệt hại Để xây dựng nhà ở, người ta thường tôn cao nền hay làm nhà trên cọc

• Dạng địa hình chuyển tiếp: Phân bố ở huyện Ô Môn, Châu Thành, Thốt Nốt

Trang 8

Nền đất của tỉnh Cần Thơ thuộc dạng đất yếu Mặt cắt địa chất từ mặt đất xuống độ sâu 20 – 30m tuỳ nơi, hầu như chỉ thấy bùn sét chứa chất hữu cơ hoặc sét ở trạng thái mềm dẻo Hầu hết các loại đất đều có độ ẩm tự nhiên cao hơn giới hạn chảy Giá trị các chỉ tiêu cơ lý như hệ số rỗng, độ bão hòa, độ sệt, hệ thống nén lún đều rất cao Ngược lại cường độ kháng cắt, cường độ kháng nén đơn trụ có giá trị tuyệt đối thấp.Xây dựng nhà ở đòi hỏi gia cố nền móng

Với địa hình bằng phẳng, thấp trũng một số nơi, có vùng bị ảnh hưởng lũ, kết cấu tầng đất yếu có ảnh hưởng lớn đến công tác quy hoạch xây dựng nhà ở và các công trình trên địa bàn tỉnh trong đó có khu vực nông thôn

1.1.2 Đặc điểm khí hậu:

Cần Thơ cũng như ĐBSCL có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 Lượng mưa trung bình 1.600mm/năm Lượng mưa trung bình trong mùa mưa chiếm 92-97% lượng mưa cả năm.Lượng mưa tập trung cao kết hợp với nước sông dâng lên gây ngập lụt, ảnh hưởng quan trọng đến xây dựng nhà ở nông thôn

Thuận lợi cơ bản là khí hậu Cần Thơ khá ổn định, có ít thời tiết bất thường (giông, mưa đá, vòi rồng, bão ) Khó khăn đáng kể nhất là sự khô hạn trong mùa khô và dư thừa nước do sự trùng hợp giữa mùa mưa và mùa lũ của sông Hậu gây ngập úng ở vùng trũng

Điều kiên khí hậu cùa tỉnh quanh năm nóng ẩm, ít bị gió rét hay mưa kéo dài do vậy một căn nhà vững chắc chống chọi được các điều kiện khắc nghiệt lại có chi phí xây dựng quá cao đã trờ thành vấn đề quá khó khăn đối với nhiều người có thu nhập thấp ở nông thôn Nhiều người nông dân chỉ cần khung nhà bằng cây tre, tràm, cây so đũa hoặc các cây tạp khác mái nhà , vách nhà thì làm bằng lá dừa nước một loại cây mọc phổ biến vùng ĐBSCL là đã có một ngôi nhà có thể tạm chấp nhận được đối với họ , từ đó góp phần tạo tâm lý e ngại trong việc tích lũy làm nhà

Trang 9

Những năm gần đây thời tiết vùng Nam bộ cũng chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, gió lốc , bão và lũ lụt cộng với sự phát triển kinh tế xã hội văn hóa , đã thay đổi nhận thức của người dân , ý thức về một căn nhà vững chắc có thể chịu đựng được các yếu tố bất thường của thời tiết và đảm bảo cho sự an toàn các tài sản và các vật dụng trong gia đình là suy nghĩ của nhiều người dân vùng nông thôn ĐBSCL hiện nay

Điều kiện thời tiết cho thấy trong xây dựng có khả năng sử dụng các loại vật liệu nhẹ

1.1.3 Hệ thống sông rạch :

Hệ thống sông rạch tỉnh Cần Thơ bao gồm hệ thống sông tự nhiên và hệ thống kênh đào rất chằng chịt với tổng chiều dài lên đến 4.300km, mật độ sông khá lớn: 1,8 – 2km/km2

• Hệ thống sông tự nhiên có 4 sông lớn:

- Sông Hậu: Là một trong hai chi lưu của hệ thống sông MêKông, phần sông Hậu chảy qua tỉnh Cần Thơ từ xã Thới Thuận ( Thốt Nốt ) đến xã Phú Hữu (Châu Thành) dài khoảng 65km Chiều rộng mặt sông trung bình 800 – 1000m

- Sông Cần Thơ: Chảy qua các huyện Ô Môn, Châu Thành, thành phố Cần Thơ và đổ ra sông Hậu tại cửa Ninh Kiều

- Sông Cái Lớn: Sông Cái Lớn nối các kênh Xàno, Ô Môn, Quan Lộ, Phụng Hiệp, Nàng Mau, Lái Hiếu với biển Tây

-Sông Cái Bé: Nối các kênh Thốt Nốt, Thị Đội với Biển Tây Sông nhỏ và chạy rất ngoằn ngoèo

• Hệ thống kênh đào: Chỉ riêng các kênh lớn có chiều rộng 15m toàn tỉnh có khoảng 4000km Mật độ kênh lên đến 1,45km/km2

Ngoài ra trong phạm vi tỉnh có rất nhiều dòng chảy tự nhiên khác mà nhân dân địa phương gọi là rạch, sẻo, con lươn như rạch Thốt Nốt, rạch Ô

Trang 10

Môn, rạch Bình Thuỷ, rạch Cái Khế, rạch Đầu Sắn, rạch Cái Sâu, rạch Mái Giầm, rạch Nước Trong, rạch Sẻo Chít

Hệ thống sông rạch và các kênh có ảnh hưởng rất lớn đến tập quán cư trú và nhà ở của cư dân trong tỉnh Nhà ở dân cư nông thôn thường bố trí dọc kênh rạch

1.1.4 Sự phân bố về đặc tính các loại đất:

Với đặc trưng là đất phù sa sông Hậu bồi đắp cho nên tỉnh Cần Thơ có hai loại đất chính: đất phù sa nước ngọt, đất phù sa nhiễm phèn và một số ít đất

bị nhiễm mặn của biển Tây

Trong xây dựng nhà cửa và công trình, cần chú ý các đặc tính của đất Đặc biệt đất nhiễm mặn, nhiễm phèn có ảnh hưởng lớn đến một số vật liệu trong xây dựng

Điều kiện tự nhiên cho thấy trong xây dựng nhà cửa, cơ sở hạ tầng, vùng

cư trú gặp nhiều khó khăn do địa hình bị chia cắt nhiều bởi sông rạch, nhiều vùng bị úng ngập, kết cấu tầng đất đai yếu phải gia cố, các loại nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng lại không nhiều

1.2 Các điều kiện kinh tế tác động đến phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ:

Trong thời gian qua nền kinh tế tỉnh có những chuyển biến đáng khích lệ.Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh trong thời kỳ 1996-2000 trung bình năm đạt 8,10% (trong đó 3 năm 1996-1998 tăng bình quân 8,95%, dự báo 2 năm 1999-

2000 tăng bình quân 6,8% năm ) Như vậy so với mức tăng bình quân chung của cả nước (8,5% thời kỳ 1991-1997 và 5-6% thời kỳ 1998-1999 ) thì mức tăng trưởng Cần Thơ có cao hơn

Trang 11

Bảng 1.1 GDP tỉnh Cần Thơ tính theo giá hiện hành

ĐVT: tỷ đồng

tăng 96-20 GDP 5.075,6 5.875,7 6.546,2 8.024,9 8.570,6 9.153,4 8,10

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ 1998)

Bảng 1.2 Cơ cấu GDP tỉnh Cần Thơ

ĐVT: tỷ đồng

1996 1997 1998 Chỉ Tiêu Số lượng Cơ cấu % Số lượng Cơ cấu % Số lượng Cơ cấu %

( Nguồn niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ năm 1998)

Khu vực kinh tế nông thôn tỉnh đóng góp khoảng 40 % GDP tỉnh.Khu vực

kinh tế này gồm phần lớn là nông nghiệp, tiếp đến là các ngành thương mại dịch

vụ nông thôn, còn công nghiệp , tiểu thủ công nghiệp còn rất nhỏ

Sự tăng trưởng kinh tế tỉnh, trong đó có kinh tế nông thôn có liên quan với

tăng trưởng đầu tư cho tỉnh , đặc biệt là đầu tư vào nông nghiệp và thuỷ lợi

Bảng 1.3 Tổng vốn đầu tư cho toàn xã hội thời kỳ 1991-2000 tỉnh Cần Thơ

ĐVT: tỷ đồng

1991-2000 NGUỒN VỐN 1991-1995 1996-2000

SỐ LƯỢNG CƠ CẤU %

100,0011.323,55

9.251,672.071,88

Tổng số:

93,510.581,72

8.643,381.943,68

1/Vốn trong nước

60,76.868,13

5.896,04972,09

a)Vốn nhà nước

32,83.713,60

2.742,00971,60

b)Vốn ngoài QD

6,5741,64

613,44128,20

2/Vốn trong nước

( Nguồn: Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cần Thơ đến

năm 2010.UBND tỉnh Cần Thơ ,tháng 9/1999)

Trang 12

Từ kết quả đạt được trong tăng truởng kinh tế và đầu tư, nông thôn tỉnh có những biến đổi ngày càng lớn, đặc biệt là khi có Quyết định 99/TTg năm

1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn ĐBSCL, cơ sở hạ tầng và nhà ở nông thôn tỉnh có những chuyển biến tích cực như sau:

• Mạng lưới điện nông thôn : Đưa điện về đến trung tâm 100% xã, điện khí hoá 11 xã.Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện 60% còn 40% số hộ nông thôn chưa có điện

• Cung cấp nước sạch nông thôn: Đầu tư hệ thống cấp nước tập trung và giếng nước nông thôn cung cấp cho 60% hộ dân

• Cầu đường nông thôn: Xây dựng mới và nâng cấp 2.686 Km đường nông thôn, 1.100 cầu kiên cố được xây dựng , sửa chữa nâng cấp Hệ thống giao thông nông thôn hiện đã rải đá mặt và bê tông hóa 38% tuyến đường, có 53 xã chiếm tỉ lệ 72,60% có đường ô tô đến xã vào cuối năm 2000

• Về thủy lợi: Thực hiện khối lượng đào đắp gần 60 triệu mét khối đất với tổng vốn đầu tư khoảng 218.105 triệu đồng Đảm bảo 100% diện tích canh tác có đầu tư hệ thống thủy lợi cơ sở, diện tích tưới tiêu chủ động đạt 80.000-90.000 ha Xây dựng hệ thống tạo nguồn, hệ thống bờ bao ngăn lũ, hệ thống cống ngăn mặn và hệ thống thủy lợi nội đồng kết hợp phát triển giao thông nông thôn Việc phát triển thuỷ lợi kết hợp với giao thông và xây dựng nông thôn đã góp phần rất lớn hình thành các tuyến dân cư tạo điều kiện cho người dân sống ở vùng ngập lụt ổn định canh tác, thuận lợi giao thương và phát triển nhà ở trong vùng ngập

• Về phát triển nhà ở nông thôn: từ năm 1991 đến cuối năm 1999 đã phát triển 81.176 căn nhà chiếm tỉ trọng 28,75% tổng số nhà hiện có vùng nông thôn.Từ năm 1996 đến nay đã thành lập 30 dự án đầu tư xây dựng ở các cụm

Trang 13

kinh tế xã hội và trung tâm xã nhằm xây dựng các khu dân cư nông thôn theo đúng qui hoạch về cảnh quan, khoa học và môi trường

1.3 Đặc điểm xã hội ảnh hưởng đến phát triển nhà ở nông thôn:

• Dân số nông thôn tỉnh: là nhân tố quan trọng tác động đến phát triển

nhà ở nông thôn tỉnh.Nhà ở là một nhu cầu thiết yếu của con người trong mọi tầng lớp dân cư, đồng thời chỗ ở thích hợp và an toàn là điều kiện căn bản để phát huy nguồn lực của con người.Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/99, dân số toàn tỉnh là 1.811.140 ngưới với mật độ 611 người/km2 , dân số thành thị là 358.340 người chiếm tỉ lệ 21,28 % dân số tỉnh, dân số nông thôn là 1.425.800 người sống trên địa bàn 73 xã chiếm tỉ lệ 78,72% dân số toàn tỉnh Dân số nông thôn lớn nhất có huyện Thốt Nốt, tiếp đến là huyện Châu Thành, Ô Môn

Bảng 1.4 Dân số trung bình năm 1999 phân theo thành thi ,nông thôn

(Nguồn:Kết quả sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/99 tỉnh Cần Thơ)

• Mức sống dân cư : Mức sống dân cư có ảnh hưởng quan trọng đến

phát triển nhà ở cả về số lượng và chất lượng nhà ở.Chỉ tiêu quan trọng nhất thể

hiện mức sống dân cư là thu nhập bình quân /người

Trang 14

Bảng 1.5 Thu nhập bình quân/người tỉnh Cần Thơ (Giá hiện hành)

ĐVT: triệu đồng

9.265.1705.075.554

9.180.940-GDP/ người

5.016.3342.850.406

1.285.932

- Thu nhập B/Q người

2.607.7651.873.749

1.060.371Trong đó:Nông nghiệp

9.798.9785.371.294

1.982.301 Phi NN

3,70 2,80

1,87-Tỷ lệ PNN/NN

( Nguồn :Dư thảo qui hoạch tổng thể pháttriển KTXH tỉnh Cần Thơ đến năm 2010.UBND tỉnh Cần Thơ,tháng 9/99)

Thu nhập bình quân/ người tính theo sức mua tương đương ( qui USD ) năm

2000 gấp 2,2 lần năm 1990, từ 251 USD (1990) tăng lên 392US (1995)và 560USD(2000 ),tăng bình quân năm cả thời kỳ là 8,4% Mức sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện đáng kể, so với mức trung bình của ĐBSCL cao hơn 10-15% nhưng vẫn thấp hơn khoảng 20-25% so với mức trung bình của vùng Đông Nam bộ.Chênh lệch thu nhập giữa phi nông nghiệp và nông nghiệp có xu hướng tăng nhanh từ 1,87 lần (1991) lên 2,8 lần ( 1995) và 3,7 lần (2000)

Hình 1.1 CƠ CẤU NGUỒN

THU NHẬP CỦA CÁC HỘ DÂN (1996)

A: Thu nhập từ tiền công và tiền lương B: Thu nhập từ nông, lâm, thủy sản C: Thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp

Trang 15

Mức sống dân cư tăng đã tác động đến cơ cấu tiêu dùng dân cư, ngoài ăn

uống, học tập, người dân nông thôn quan tâm hơn đến chỗ ở của mình, trong cơ

cấu tiêu dùng năm 1992 của người dân sống ở nông thôn tỉnh Cần Thơ phần tiêu

dùng dành cho nhà ở chiếm 14,37% tổng số chi tiêu, đến năm 1996 phần chi tiêu

dành cho nhà ở đã được nâng lên đáng kể chiếm tỉ lệ 24,06% tổng chi tiêu,

ngoài ra người dân còn chú ý quan tâm hơn đến điều kiện điện nước sinh hoạt

và các điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường nơi mình sinh sống

Bảng 1.6 Tiêu dùng /người/tháng của người dân nông thôn tỉnh Cần Thơ

ĐVT: đồng

1992 1996 CHI TIÊU

Tiền Cơ cấu (%) Tiền Cơ cấu (%)

100,00168.070

100,0078.319

Tổng chi

53,7290.290

68,0453.289

1.Chi ăn uống

24,0640.446

14,3711.256

2.Chi nhà ở

19,2432.350

17,5813.774

3.Chi may mặc,giáo dục ,y

tế,giài trí

2,98

4948 0,01

2.0354.Chi khác

(Nguồn:Báo cáo tình hình đời sống,nhà ở từ năm 1986-1992.Ban khoa học kỹ

thuật tỉnh Cần Thơ,tháng8/1993 và Kết quả điều ta hộ đa mục tiêu 1996.Tổng cục

thống kê.)

Đánh giá chung :

Có thề nói Cần thơ là một tỉnh có những điều kiện tự nhiên kinh tế xả hội

thuận lợi cơ bản cho sự phát triển nhà ở trong tương lai đó là:

-Điều kiện khí hậu ôn hòa không quá khắc nghiệt tạo điều kiện cho việc

áp dụng các vật liệu nhẹ trong xây dựng để phù hợp với nền đất yếu.Mức độ

ngập úng trong mùa lũ không quá trầm trọng như một số tỉnh khác trong khu vực

ĐBSCL

Trang 16

-Mức độ thu nhập /người cao hơn các tỉnh khác trong khu vực ĐBSCL và bình quân chung của cả nước và hiện đang có bước phát triển tốt Đây là yếu tố quan trọng để tăng tích lũy cho việc đầu tư phát triển nhà trong dân cư

-Thành phố Cần Thơ tập trung rất nhiều các Ngân hàng và các Chi nhánh ngân hàng ,Các Công ty xây dựng và sản xuất VLXD nên có nhiều thuận lợi trong công tác huy động vốn ,tín dụng phát triển nhà cũng như trong thi công và cung ứng VLXD

Bên cạnh thuân lợi đó Cần thơ có những mặt hạn chế sau:

-Cơ sở hạ tầng nông thôn còn nhiều yếu kém ,nhiều xã chua có đường giao thông đến trung tâm xã, tỉ lệ cung cấp nước sạch và điện còn thấp

-Nền đất yếu ,các nguồn VLXD taiï chổ không nhiều ,việc vận chuyển vật liệu khó khăn đưa đến chi phí xây dựng nhà kiên cố tăng cao

-Dân số ở nông thôn chiếm gần 80% dân số toàn tỉnh ,đa số sống về nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông thôn chậm đổi mới ,công nghiệp ,tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn còn chậm phát triển góp phần làm tỉ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố còn thấp ở nông thôn

Trang 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHÀ Ở NÔNG THÔN TỈNH CẦN THƠ

2.1 Tình hình phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ từ 1976 đến nay:

Theo báo cáo về tình hình đời sống, nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ tháng 08/1993 của Ban Khoa học kỹ thuật tỉnh Cần Thơ và kết quả điều tra sơ bộ dân số và nhà ở 01/04/1999, có thể ghi nhận tình hình phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ từ trước năm 1976 đến nay như sau:

Về mặt số lượng nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ đã gia tăng từ năm 1976 –

1985 là 56.826 căn, bình quân 1 năm tăng 5.683 căn Từ năm 1986 – 1995 thì số lượng nhà gia tăng nhanh hơn, bình quân mỗi năm tăng 13.835 căn và từ năm

1996 đến nay gia tăng chậm, bình quân mỗi năm tăng 3.117 căn Tuy nhiên sự phát triển nhà từ trước năm 1996 trở về trước chủ yếu là phát triển nhà tạm, trong giai đoạn 1976-1985 số lượng nhà tạm phát triển chiếm tỉ lệ 72,93% và trong giai đoạn 1986-1995 số lượng nhà tạm phát triển chiếm tỉ lệ đến 84%.Từ năm 1996 đến nay có sự thu hẹp nhà tạm từ số lượng 181.039 căn (cuối năm 1995) đến năm 1999 chỉ còn lại 175.825 căn, giảm 5.214 căn, góp phần làm giảm tỷ lệ nhà đơn sơ là 79,06% năm 1995 chỉ còn lại 62,3% năm 1999

Nhà bán kiên cố tăng nhanh từ năm 1991 đến nay đặc biệt tăng nhanh giai đoạn 1996 –1999 bình quân tăng một năm 10.570 căn, điều này góp phần đáng kể vào việc cải thiện chất lượng nhà ở nông thôn, những nhà bán kiên cố phát triển nhanh trong thời gian gần đây có phần đóng góp đáng kể bởi thành quả trong sản xuất nông nghiệp, sự quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và các chương trình phát triển nhà ở Về nhà kiên cố năm 1995 là 10.337 căn đến năm 1999 chỉ còn lại 4.434 căn giảm 5.903 căn, lý do là tiêu chuẩn thống kê nhà kiên cố ở thời điểm 01/04/1999 có khác các tiêu chuẩn thống kê ở

Trang 18

các năm trước, nhiều nhà được thống kê là kiên cố trước đây phải chuyển sang nhà bán kiên cố

Bảng 2.1 Số lượng nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ

1985

1976- 1990

1986- 1995

1991- 1999

1996-Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố Nhà tạm

Chúng ta có nhận xét rằng sự phát triển nhà ở nông thôn từ năm 1976 đến nay chủ yếu là phát triển nhà tạm và nhà bán kiên cố Trong nhà bán kiên cố thì nhà khung gỗ lâu bền mái lá chiếm tỷ lệ hơn 50% (56,52%) Điều đó chứng tỏ

Trang 19

sự phát triển nhà trong giai đoạn vừa qua chưa cao về chất lượng, sự cải thiện chất lượng nhà mới diễn ra trong những năm gần đây

2.1.1/ Đánh giá thực trạng nhà ở nông thôn hiện nay

• Số lượng và chất lượng nhà ở nông thôn hiện nay:

Theo kết quả điều tra sơ bộ về dân số và nhà ở ngày 01/04/1999, tổng số nhà ở của tỉnh Cần Thơ là 359.374 căn nhà Trong đó nhà ở thành thị là 77.151 căn chiếm tỷ lệ 21,46%, nhà ở nông thôn là 282.223 căn chiếm tỷ lệ 78,54%, tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ dân số sống ở địa bàn nông thôn của tỉnh (78,72%)

Bảng 2.2 : Số lượng nhà ở tỉnh Cần Thơ năm 1999

Loại nhà Tổng số Thành thị Nông thôn Cơ cấu %

Trong đó nhà khung gỗ lâu

(Nguồn: Kiểm kê dân số ,nhà ở 1/4/1999.Cục thống kê tỉnh Cần Thơ)

Chất lượng nhà ở nông thôn hiện nay như sau: Nhà kiên cố có 4.434 căn, chiếm tỷ lệ 1,57% tổng số nhà ở nông thôn, tỷ lệ này là quá thấp Số lượng nhà bán kiên cố kể cả nhà có khung gỗ lâu bền mái lá là 101.964 căn chiếm tỷ lệ 36,12% tổng số nhà ở nông thôn Trong số nhà bán kiên cố này có 57.631 căn nhà thuộc loại khung gỗ lâu bền (có thời gian sử dụng trên 10 năm) và lợp mái lá (sử dụng 3 năm) chiếm 56,52% nhà bán kiên cố Nhà đơn sơ hay nhà tạm bợ là 175.825 căn chiếm tỷ lệ 62,31% số nhà ở nông thôn tỉnh Cần thơ

Bảng 2.3 Chất lượng nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ năm 1999

ĐVT: Căn

CHẤT LƯỢNG NHÀ Ở SỐ LƯỢNG CƠ CẤU %

Trong đó nhà khung gỗ lâu bền, mái lá (57.631 căn) (20,42)

Trang 20

(Nguồn: Kiểm kê dân số ,nhà ở 1/4/1999.Cục thống kê tỉnh Cần Thơ)

Tổng số nhà ở nông thôn là 282.233 căn, nhưng tổng số hộ lên đến 285.335 căn, số hộ/nhà ở nông thôn là 1,01 có 3.112 hộ ở nông thôn còn sinh hoạt chung với các hộ khác

Bảng 2.4 Số hộ nông thôn chia theo loại nhà ở

SỐ LƯỢNG HỘ

SỐ HỘ TÊN CHỈ TIÊU SỐ LƯỢNG NHÀ

CHƯA Ở RIÊNG

(Nguồn: Kiểm kê dân số ,nhà ở 1/4/1999.Cục thống kê tỉnh Cần Thơ)

Số nhà ở nông thôn nếu tính theo địa bàn thì huyện Thốt Nốt có số lượng cao nhất: 60.024 căn chiếm 21,26% tổng số nhà ở nông thôn, thành phố Cần Thơ có số nhà ở nông thôn thấp nhất 17.552 căn và là địa bàn có số nhà kiên cố và bán kiên cố chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nơi khác Về nhà tạm có số lượng cao nhất là huyện Thốt Nốt có 34.008 căn chiếm tỉ lệ 57,67% Nhà tạm nông thôn cao nhất trong các huyện là huyện Long Mỹ có 22.504 căn chiếm tỷ lệ 75,13% so với tổng số nhà ở nông thôn trong huyện.(Bảng 2.5)

Hiện nay chưa có số liệu nhà ở nông thôn của cả nước và các tỉnh để so sánh với tỉnh Cần Thơ Nếu lấy số lượng thống kê năm 1995 cho thấy số nhà tạm ở nông thôn là 79,06% thì Cần Thơ thuộc trong 5 tỉnh có tỷ lệ nhà tạm vùng nông thôn cao nhất nước và các tỉnh này cũng thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu) trong khi tỷ lệ nhà đơn sơ bình quân cả nước trong khu vực nông thôn là 42,47% Các tỷ lệ nhà kiên cố và bán kiên cố đạt tỷ lệ thấp so với tỷ lệ bình quân chung của cả nước

Trang 21

Thực trạng yếu kém về nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ là hậu quả trong một thời gian dài người dân ở vùng ĐBSCL nhất là vùng nông thôn không chú tâm dến việc xây dựng nhà cửa Cuộc sống đơn giản và mức sống chưa cao, thời tiết không khắc nghiệt đã tạo nên một tâm lý ỷ lại vào điều kiện thiên nhiên.Ngày nay dân số phát triển nhanh chóng ,các điều kiện thuận lợi tự nhiên đã không còn ,sự thay đổi thời tiết, dân trí và mức sống đưọc nâng cao, ý thức về nhà cửa của người dân vùng ĐBSCL đã thay đỗi , nhu cầu về một căn nhà ổn định và chắc chắn đang là yêu cầu của nhiều người dân sống ở vùng nông thôn ĐBSCL và người dân nông thôn tỉnh Cần Thơ

• Diện tích đất ở và nhà ở vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ:

Diện tích đất ở nông thôn là 6.654,09 ha, chiếm 82,47% diện tích đất thổ

cư toàn tỉnh (8.068,29 ha) và chiếm 2,65% so với đất nông nghiệp ( 250.303,51

ha ) Diện tích đất ở bình quân 1 căn nhà ở nông thôn là 235,8m2 trong đó ở Vị Thanh là thấp nhất 146m2, cao nhất là ở Phụng Hiệp 311m2 Diện tích đất ở bình quân đầu người ở nông thôn Cần Thơ là 46,66 m2 / người, diện tích đất ở bình quân trên một hộ là 233,20m2

Bảng 2.6 Diện tích đất ở bình quân một căn nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ

Diện tích đất ở bình quân/nhà

Số lượng nhà Diện tích đất ởTên T.P,Huyện

(M2)

240,0 1.440,57

60.024

1 H Thốt Nốt

232,0 1.238,25

53.537

2 H Châu Thành

267,0 1.353,20

50.682

3 H Ô Môn

311,0 1.438,99

46.270

4 H Phụng Hiệp

206,0 617,05

29.954

5 H Long Mỹ

126,0 304,51

24.168

6 H Vị Thanh

149,0 261,52

17.552

7 TP Cần Thơ

Trang 22

(Nguồn:Niên giám thống kê 1998 và Kiểm kê dân số ,nhà ở 1/4/1999.Cục thống kê tỉnh Cần Thơ)

Bảng 2.7 Diện tích nhà ở bình quân theo loại nhà ở nông thôn

(Nguồn:Niên giám thống kê 1998 và Kiểm kê dân số ,nhà ở 1/4/1999.Cục thống kê tỉnh Cần Thơ)

Tổng diện tích nhà ở nông thôn là 1.189,79 ha chiếm 17,88% diện tích đất

ở nông thôn,trong đó diện tích nhà kiên cố chỉ có 26,6 ha chiếm tỉ lệ rất thấp 2,20% diện tích nhà ở nông thôn tỉnh, diện tích nhà bán kiên cố là 530,21 ha chiếm tỉ lệ 44,56% diện tích nhà ở nông thôn và diện tích nhà tạm là 632,97 ha, chiếm tỉ lệ 53,2% diện tích nhà ở nông thôn Diện tích bình quân một căn nhà ở nông thôn là 42m2, diện tích nhà ở bình quân cho một người là 8,34m2 (diện tích nhà ở bình quân đầu người ở nông thôn cả nước là 7,5m2 – theo thống kê năm 1995) Diện tích bình quân một căn nhà đơn sơ là 36m2, nhà bán kiên cố là 52m2

và nhà kiên cố là 60m2

2.1.2 Đặc điểm phân bố nhà ở và kiểu nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ :

• Do địa hình thấp trũng bị chia cắt nhiều bởi sông rạch và ít có một địa hình bằng phẳng cao ráo để quần cư nên sự định cư mang tính truyền thống của dân cư vùng nông thôn vùng ĐBSCL nói chung và Cần Thơ nói riêng là cư trú theo tuyến, tức là sự cư trú trải dài theo hai bên sông rạch hay các tuyến đường bộ, tuyến đê bao, tuyến kinh, chỉ một bộ phận nhỏ sống phân tán theo ruộng vườn Nền kinh tế hàng hoá phát triển đã tách một bộ phận nông dân ra sinh

Trang 23

sống bằng nghề thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp Các hộ này chọn những điểm thuận lợi cho phát triển giao thông, giao lưu hàng hóa thuận tiện đó là các nút giao thông thủy bộ và phát triển các điểm nút này thành các điểm dân

cư thương mại Như vậy nối với các tuyến dân cư nông thôn sẽ có các điểm dân

cư thương mại nơi có sự giao lưu sinh sống tập trung và có mật độ dân cư cao hơn và một số các điểm dân cư thương mại sau này trở thành các trung tâm hành chính xã, thị trấn Quá trình này hoàn toàn tự phát vì sự quy hoạch dân cư chỉ mới có từ những năm gần đây Đến nay tại địa bàn dân cư tỉnh đã hình thành trên 148 điểm dân cư thương mại nối với các tuyến dân cư vùng nông thôn bao gồm: 73 trung tâm xã và 70 điểm dân cư thương mại ngoài trung tâm xã Hiện nay đã xác định được 28 cụm kinh tế xã hội, 44 khu trung tâm xã,73 cụm dân cư và 89 tuyến dân cư chính trong toàn tỉnh , trong số đó nhiều cụm kinh tế xã hội và trung tâm xã đã và đang tiến hành quy hoạch.Tỉnh Cần Thơ có khoảng 45% nhà phân bố trên địa bàn của hơn 40 xã trong 6 huyện bị ngập vào mùa mưa lũ, mức độ ngập từ 0,3 – 1,5m ,số hộ bị ngập khoảng 65.000 hộ vào năm 1994 Hiện nay số hộ ngập đã giảm, hơn 50% nhà thực hiện việc tôn cao nền nhà và làm nhà trên cọc để chống lũ Những địa bàn có nhà bị ngập lụt nhiều là Thốt Nốt,

Vị Thanh, Long Mỹ

• Nhà nông thôn ĐBSCL nói chung và Cần Thơ nói riêng rất đa dạng, nhà trên cạn hay trên cọc đều có thể quy nạp vào 5 loại nhà truyền thống sau đây:

- Nhà ba gian: có hoặc không thêm hai trái

- Nhà thảo bạt: nhà phụ liền kề sau nhà chính, hai sóng mái song song nhau, nối giữa hai nhà chính nhà phụ là máng xối

- Nhà bát dần: ngôi nhà chính được phát triển theo kiểu một, hai trái ở hai bên

- Nhà chữ đinh: nhà phụ đặt kề một bên nhà chính, hai sống mái nhà chính phụ vuông góc nhau

Trang 24

- Nhà xếp đọi: Nhiều nếp nhà nối tiếp nhau theo chiều sâu, tạo thành

nhiều nếp mái gấp khúc, mái nọ nối tiếp mái kia có máng xối

Nét đặc biệt trong bố cục nhà ở của người dân vùng ĐBSCL là sự gắn kết

chặt chẽ giữa nhà chính và nhà phụ tạo thành một khối, trong khi đa phần nhà ở

nông thôn miền Bắc là nhà chính, nhà phụ riêng biệt, các mái nhà ít khi nối tiếp

nhau Những nhà ở truyền thống của gia đình khá giả vùng nông thôn thường có

nền xây kiên cố, kết cấu khung nhà bằng gỗ tốt, tường xây hoặc tường gỗ mái

lợp ngói và kiểu mái thường nhà ba gian hai trái Những nhà có thu nhập thấp

thường làm nhà đơn sơ, vật liệu chủ yếu là tre, nứa, lá, mang tính tạm bợ, thường

là 3 – 4 năm phải thay vật liệu lợp lá hoặc vách

2.1.3 Quan hệ giữa thu nhập của người dân ở nông thôn và nhà ở nông

thôn tỉnh Cần Thơ:

Nhà ở của người dân ở nông thôn tỉnh Cần Thơ có liên quan nhiều đến thu

nhập của người dân Theo báo cáo về tình hình đời sống, nhà ở nông thôn tỉnh

của Ban khoa học kỹ thuật tỉnh Cần Thơ tháng 8/1993 và xác định chuẩn mực hộ

có thu nhập của Cục thống kê và Sở Lao động - Thương binh - Xã hội tỉnh Cần

Thơ tháng 5/1999, ta có số liệu về thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn

tỉnh Cần Thơ như sau:

Bảng 2.8 Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tỉnh Cần Thơ

ĐVT: đồng

1992 1996 THU NHẬP Tính theo

năm

Tính theo tháng Tính theo

năm

Tính theo tháng

- Chung toàn tỉnh 1.596.588 133.049 3.044.280 253.690

- Khu vực thành thị 1.851.348 145.279 3.623.160 301.930

- Khu vực nông thôn 1.522.188 126.849 2.897.760 241.480

(Nguồn : Báo cáo tình hình đời sống ,nhà ở 1986-1992,Ban khoa học kỹ thuật

tỉnh Cần Thơ,tháng 8/1993 và Xác định chuẩn mực hộ có thu nhập thấp,Cục

thống kê và Sở LĐTBXH Cần Thơ,tháng5/1999)

Trang 25

Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tỉnh Cần Thơ tăng khá nhanh từ 126.849 đồng/ tháng (1992) lên 241.480 đồng/ tháng (1996) Đối chiếu với số liệu của Tổng cục thống kê về điều tra hộ đa mục tiêu 1994 – 1997 cho thấy khu vực nông thôn cả nước thu nhập bình quân đầu người tính theo tháng là 141.140 đồng/ tháng (1994), 172.400 đồng/ tháng (1995), 187.833 đồng/ tháng (1996), như vậy thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tỉnh cao hơn khá nhiều so với thu nhập bình quân của nông thôn cả nước

Đối chiếu với sự phát triển nhà ở nông thôn tỉnh từ năm 1990 – 1996 cũng là giai đoạn phát triển nhà có số lượng cao và chất lượng cũng được cải thiện đáng kể Như vậy sự tăng nhanh thu nhập có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhà trong giai đoạn này

Với cách phân chia số hộ thành 5 nhóm thu nhập từ thấp lên cao (cực nghèo, nghèo, trung bình, khá và giàu) với số hộ bằng nhau theo thông lệ quốc tế (số hộ mỗi nhóm đều chiếm 20%) Thu nhập bình quân đầu người theo nhóm hộ ở nông thôn năm 1996 như sau:

Bảng 2.9 Thu nhập bình quân đầu người theo nhóm hộ tính theo tháng

ở nông thôn tỉnh năm 1996

ĐVT : đồng Thu nhập bình

quân/người

57.067 115.560

- Nhóm hộ cực nghèo

57.067 172.070

- Nhóm hộ nghèo

57.067 219.030

- Nhóm hộ trung bình

57.067 249.630

- Nhóm hộ khá

57.067 545.870

- Nhóm hộ giàu

Theo cách phân chia này thì tổng số hộ cực nghèo, nghèo, trung bình là 171.200 hộ, gần tương đương với số nhà ở đơn sơ hiện có là 175.825 căn ở nông

Trang 26

thôn Cần Thơ, và với số nhà kiên cố là 4.434 căn thì rất ít số hộ giàu sống trong những căn nhà kiên cố Như vậy số hộ khá và giàu chủ yếu sống trong những căn nhà bán kiên cố, trong đó còn hơn 50% nhà bán kiên cố còn ở chất lượng chưa cao

2.2 Đánh giá các giải pháp phát triển nhà ở nông thôn trong những năm gần đây:

2.2.1/ Các dự án quy hoạch và phát triển khu dân cư nông thôn:

Như đã đề cập, sự phân bố dân cư ở những vùng nông thôn Cần Thơ thường rải theo tuyến Nhược điểm của sự phân bố này là lấn chiếm hành lang

an toàn của các tuyến giao thông thủy bộ, cản trở và gây cản trở trong giao thông cũng như vệ sinh, môi trường sống Sự cư trú theo tuyến gây khó khăn rất lớn cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, nước sạch, chợ, trường học, trạm y tế Chính vì vậy từ năm 1996 đến nay, Sở Xây dựng tỉnh Cần Thơ đã lựa chọn các điểm dân cư có tiềm năng trên địa bàn tỉnh để triển khai quy hoạch thành các cụm kinh tế xã hội Điểm dân cư được chọn phần lớn là các trung tâm xã có các hộ sinh sống từ 500 – 1.000 hộ và diện tích từ 20 – 40 ha, có tiềm năng kinh tế và các cơ sở hạ tầng còn yếu kém

Tỉnh đã lựa chọn và triển khai quy hoạch 26 cụm kinh tế xã hội, đã hoàn thành và phê duyệt 13 cụm Các cụm kinh tế xã hội còn lại đang trong thời gian quy hoạch Nội dung quy hoạch là định hướng phát triển không gian, mở rộng chiều rộng của cụm và tiến hành quy hoạch, phân khu chức năng, quy hoạch các

cơ sở hạ tầng chủ yếu, quy hoạch xây dựng theo hướng đô thị hoá nông thôn

Việc quy hoạch và thực hiện các dự án quy hoạch cụm kinh tế xã hội ở địa bàn nông thôn đã góp phần đáng kể vào công tác phát triển nông thôn trong thời gian qua Trong các khu quy hoạch, nhà cửa được xây dựng là kiên cố và bán kiên cố Người dân thích được sống trong các khu quy hoạch vì hạ tầng cơ sở và các điều kiện dịch vụ văn hóa xã hội thuận lợi Tuy nhiên hiện nay số lượng

Trang 27

cụm văn hóa xã hội trên địa bàn tỉnh Cần Thơ được thực hiện còn rất ít (khu trung tâm xã Hòa Mỹ, Thái Thuận, Thạnh Xuân , Thạch Hòa, các khu phố chợ huyện Long Mỹ) Sở dĩ có nhiều khu quy hoạch đã không thực hiện được vì các lý do sau:

• Có sự bất cập giữa nhu cầu và khả năng tài chính cho đầu tư Nguồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng rất lớn và giá bán nền nhà cho dân vượt quá khả năng của người dân

• Quỹ đất công để xây dựng các khu quy hoạch là hầu như không có Muốn có, Nhà nước phải đền bù hoa màu và lợi ích của người dân ở khu vực bị giải tỏa

• Khả năng thu hút vốn đầu tư từ các nguồn khác rất thấp vì khả năng sinh lời kém

• Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn còn quá chậm, công nghiệp và dịch vụ kém phát triển nên người dân chưa chú tâm vào ở trong các cụm kinh tế xã hội

• Việc quy hoạch còn rất chung, thiếu một hệ thống giải pháp cụ thể khả thi, đặc biệt là giải pháp về nguồn vốn để thực hiện các dự án

2.2.2/ Giải pháp tín dụng ở nông thôn tỉnh Cần Thơ trong thời gian qua:

Từ năm 1996 đến năm 1998, Ngân Hàng Phát Triển Nhà ĐBSCL thông qua Sở Xây dựng Cần Thơ đã phát cho vay 169 hộ ở các xã Trường Xuân (huyện

Ô Môn), Vĩnh Viễn và Hòa Mỹ (huyện Phụng Hiệp) với mức vay 1,461 tỷ đồng để nâng cấp, sửa chữa nhà đơn sơ thành nhà bán kiên cố và kiên cố

Việc cho vay vốn để phát triển nhà vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ thực hiện rất chậm so với các tỉnh khác ở ĐBSCL vì các lý do sau:

• Trước năm 1999, Ngân Hàng Phát Triển Nhà ĐBSCL chưa có chi nhánh tại Cần Thơ

Trang 28

• Nhiều vùng đã quy hoạch nhưng tỉnh chưa có kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng nên Ngân hàng không thể đầu tư cho vay làm nhà, nhiều nơi dân có nhu cầu vay nhưng lại chưa được quy hoạch

• Giấy tờ cho vay còn rất phức tạp, có liên quan đến việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), hầu hết đất ở và đất canh tác nông nghiệp ở nông thôn tỉnh vẫn còn chung một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

• Lãi suất cho vay còn quá cao, từ 0,7% - 1% / tháng, thời gian cho vay ngắn

• Nhiều hộ có thu nhập quá thấp, ngân hàng không cho vay

2.2.3/ Giải pháp tôn cao nền nhà để chống lũ:

Đây là giải pháp kỹ thuật cho nhiều vùng bị ngập trũng về mùa mưa.Từ năm 1996 nhà nước có chương trình cho vay tôn cao nền nhà ở những nơi bị ngập trong muà lũ.Kết quả sau 3 năm 1996,1997,1998 tổng số hộ được vay tiền để tôn cao nền nhà là 37.185 hộ với tổng vốn vay là 138,39 tỷ đồng,bình quân một hộ vay 3,7 triệu đồng Tổng diện tích được tôn nền khỏi ngập lũ là 2,795 triệu mét vuông ,bình quân 75m2/hộ

Việc tôn nền nhà chống lũ đã góp phần rất lớn giải quyết tình trạng ngập lụt của các hộ dân cư sống ở vùng trũng, là cơ sở để dân có điều kiện cải thiện chất lượng nhà ở Hiện nay còn khoảng 28.000 căn nhà phải được tôn cao nền ở vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ

Có thể nói rằng các giải pháp phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ trong thời gian qua chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức Kết quả thực hiện chưa cao và còn nhiều lúng túng trong việc xây dựng các chương trình, chưa tạo được ngõ ra cho vốn xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, tiền đề quan trọng để thúc đẩy công tác phát triển nhà

Trang 29

2.2.4 Các chính sách tác động đến việc phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ:

Nhằm mục đích thúc đẩy tiềm năng kinh tế , văn hóa, xã hội vùng ĐBSCL,một vùng đất giàu có và đầy tiềm năng về nông nghiệp, đã góp phần to lớn trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp trong cả nước, năm 1996 Chính phủ đã có Quyết định số 99/TTg “Định hướng dài hạn về kế hoạch 5năm(1996-2000) phát triển giao thông thuỷ lợi và xây dựng nông thôn vùng ĐBSCL” Đặc biệt chương trình “ Chung sống với lũ” thực hiện kết hợp thủy lợi,giao thông và xây dựng các tuyến dân cư tạo điều kiện cho 292.000 hộ dân cư sống trong vùng ngập lũ của ĐBSCL được có đất ở và được vay vốn tôn cao nền nhà để an toàn trong muà lũ Đối với Cần Thơ chương trình giúp cho 37.185 hộ sống trong vùng ngập lũ của tỉnh được vay vốn tôn cao nền nhà

Có thể nói quyết định 99/TTg đã góp phần rất lớn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn ,đặc biệt là thủy lợi và giao thông tạo tiền đề cơ bản để thúc đẩy công tác phát triển nhà ở cho người dân vùng ĐBSCL Qua 4 năm thực hiện chỉ thị này đã gây một ấn tượng rất lớn cho người dân vùng ĐBSCL vì nó góp phần thúc đẩy làm thay đồi nhanh chóng các điều kiện kinh tế xã hội vùng nông thôn ĐBSCL

Tiếp đến để tạo vốn và tín dụng cho sự phát triển nhà ở vùng ĐBSCL tạo điều kiện cho người có thu nhập thấp là tầng lớp dân cư chiếm đa số ở vùng ĐBSCL có điều kiện vay vốn trung và dài hạn cho phát triển nhà ở vững chắc và an toàn, năm 1997 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 769/TTg ngày 18/9/1997 thành lập Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL(MHB) với vốn điều lệ là

600 tỷ đồng.Ngày 8/4/1998 Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL đi vào hoạt động với mục tiêu:Khai thác,huy động,tập trung các nguồn vốn tài trợ trong và ngoài nưóc để đầu tư phát triển nhà ở Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần xóa bỏ tình trạng nhà tạm (nhà làm bằng tre,lá hoặc gỗ tạp), ổn định nhà cho nông dân,

Trang 30

nhất là nông dân vùng lũ lụt, góp phần nâng cao ý thức tiết kiệm để dành tiền xây dựng nhà trong dân cư

Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL đã cho vay 169 hộ nông thôn tỉnh xây cất nhà với số vốn 1,461 tỷ đồng trong những năm 1997,1998

Các chính sách trên của Chính phủ có thể nói đã và đang góp phần rất quan trọng mở ra sự chuyển động về nhà ở vùng ĐBSCL và tỉnh CaÀn Thơ từ năm 1996 đến nay

Đánh giá chung:

Thực trạng phát triển nhà ở nông thôn cho thấy:

-Việc phát triển nhà ở về số lượng đã gia tăng nhanh chóng nhất là trong thời gian 1986-1995, tuy nhiên đa số nhà phát triển trong giai đoạn này là nhà tạm bợ,với tỉ lệ nhà tạm trên 60% và tỉ lệ nhà bán kiên cố với khung gỗ lâu bền và mái lá chiếm trên 20% có thể nói chất lượng nhà ở nông thôn hiện nay còn thấp Hầu hết nhà ở nông thôn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, chủ quyền nhà

-Trong một thời gian dài việc phát triển nhà ở nông thôn diễn ra hoàn toàn tự phát , thiếu quy hoạch nên cở sở hạ tầng các khu dân cư nông thôn rất thấp kém, nhiều nhà phân bố trên các tuyến kênh và trục lộ giao thông bộ vi phạm hành lang an toàn giao thông, gây ô nhiễm môi trưởng, cảnh quan

-Vấn đề thu nhập của dân cư có ảnh hưởng đến công tác phát triển nhà,đa số những hộ có thu nhập thấp cư ngụ trong những căn nhà tạm, nhiều nhà được đánh giá khá và giàu cư ngụ chủ yếu trong những nhà bán kiên cố

-Những năm gần đây nhà nước có đưa ra những chính sách quan trọng để phát triển nhà ở vùng ĐBSCL đã góp phần thúc đẩy công tác phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ, tuy nhiên sự phát triển nhà Cần thơ còn rất chậm và lúng túng vì thiếu những giải pháp đồng bộ mang tính thực tiễn

Trang 31

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO

NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP VÙNG NÔNG THÔN TỉNH CẦN

THƠ ĐẾN NĂM 2010

3.1 Các nhân tố tác động đến phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ đến

2010 :

3.1.1 Nhân tố dân số vùng nông thôn tỉnh tác động đến phát triển nhà ở :

Sự phát triển dân số vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ có liên quan chặt chẻ đến nhu cầu nhà ở trong tương lai Hiện nay dân số vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ là 1.425.000 người với mức tăng dân số tự nhiên hiện nay là 1,79% Dự báo mức tăng dân số tự nhiên vào năm 2005 là 1,32% và năm 2010 có mức tăng dân số tự nhiên là 1,15% thì dân số vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ sẽ có vào năm

2005 là khoảng 1.567.000 người và vào năm 2010 sẽ có khoảng 1.644.940 người, như vậy dân số tăng bình quân cả thời kỳ là 19.900 người/năm với tỉ lệ tăng tự nhiên là 1,44%

Bảng 3.1 Dự báo dân số vùng nông thôn đến năm 2010

ĐVT: người

2001-2010 (%)

3.1.2 Nhân tố kinh tế xã hội tác động đến phát triển nhà ở nông thôn:

Sự phát triển nhà ở cho những người có thu nhập thấp vùng nông thôn Tỉnh Cần Thơ gắn liền với sự thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của Tỉnh Các mục tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh giai đọan 2001 – 2010 có liên quan đến cuộc sống của người dân vùng nông thôn như sau:

Trang 32

• Tốc độ phát triển kinh tế từ 9,5-10%/năm trong suốt thời kỳ

• GDP bình quân đầu người đạt 560USD (năm2000) , 800USD (năm 2005) và 1250USD (năm 2010) gấp 2,5 lần so với năm 2000

• Thu ngân sách đạt 1400 tỷ đồng (năm 2005) và 2400 tỷ đồng (năm 2010)

• Thu phí và lệ phí : 1300 tỷ đồng (năm 2005) và 2350 tỷ đồng (năm 2010)

• Tồng vốn đầu tư cho toàn xã hội cả thời kỳ là 51.550 tỷ đồng trong đó thời kỳ 2001-2005 là 16.910 tỷ đồng và thời kỳ 2006-2010 là 34.640 tỷ đồng

• Giảm tỉ lệ thất nghiệp từ 6,75% xuống 5% năm 2005 và 3% năm 2010

• Giữ mức tăng dân số tự nhiên năm 2005 là 1,32% và năm 2010 là 1,15%

• Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng : đến năm 2010 có 95% số hộ sử dụng điện và nuớc sạch, 100% các xã có đường ô tô đến trung tâm xã

• Giảm tỉ lệ nghèo từ dưới 8% năm 2000 xuống còn 3% năm 2005 và chấm dứt cơ bản vào năm 2010

Có thể nói chỉ tiêu phát triển nhà là chỉ tiêu kết quả của các chỉ tiêu về phát triển kinh tế xã hội trong đó chỉ tiêu về thu nhập/ người và giảm tỉ lệ hộ nghèo có ảnh hưởng một cách trực tiếp đến công tác phát triển nhà ở tỉnh Cần Thơ.Với tích lũy bình quân đạt 16% thu nhập như hiện nay thì khả năng tích luỹ bình quân /người đạt 128 USD (năm 2005) và đạt 200USD (2010) ,việc tích luỹ này sẽ góp phần rất lớn làm cho nhiều hộ dân cư có khả năng tạo dựng nhà cửa một cách thuận lợi hơn với sự trợ giúp của công tác tín dụng

3.1.3 Nhân tố cơ sở hạ tầng nông thôn ảnh hưởng đến xây dựng nhà ở :

Cơ sở hạ tầng nông thôn có ảnh hưởng lớn đến công tác phát triển nhà ở nông thôn trong thời kỳ tới Nhà ở nông thôn và các điểm dân cư nông thôn của tỉnh thường nằm trên các tuyến giao thông gắn với điện, nước ,trường học , bệnh viện, chợ .Dự kiến các mục tiêu chủ yếu về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn tỉnh Cần Thơ đến năm 2010 như sau:

Trang 33

• Về thủy lợi:Phát triển thủy lợi kết hợp với phát triển giao thông thủy bộ tạo địa bàn để phân bố lại dân cư , hạn chế lũ đầu vào, tiêu thoát nhanh lượng lũ đầu ra Nhà ở, kho tàng , trường học , trạm y tế và các công trình dịch vụ ở cao độ vượt trên mức lũ năm 1996 từ 0,2-0,3m Các tuyến đường liên tỉnh, liên huyện mang tính chất cứu hộ , phục vụ an ninh quốc phòng và đi lại của dân

cư ở cao độ vượt mức lũ năm 1996 từ 0,3-0,5m

• Giao thông nông thôn Xã, Aáp : Xây dựng nâng cấp 200km đường nông thôn, trãi mặt cứng bêtông hoặc nhựa Xây dựng kể cả nâng cấp 3000 cầu nông thôn với chiều dài 34.000m, 100% Xã có đường ô tô đến vào năm 2010

• Về điện :đến năm 2010 có 85% hộ nông thôn sử dụng điện lưới

• Nước sạch nông thôn: Đảm bảo cung cấp 180lít/người/ngày ở các cụm kinh tế xả hội và 140 lít/người/ngày ở các tuyến cụm dân cư khác vào năm 2010 Có 95% hộ gia đình nông thôn được cung cấp nước sạch vào năm 2010

• Phổ cập trung học 50% số Xã vào năm 2005 và 100% vào năm 2010

• Về Y tế: 100% số Xã có 2 bác sĩ ở trạm y tế và có nhân viên sức khỏe cộng đồng vào năm 2010

• Chợ nông thôn: 100% các xã có hình thành chợ nông thôn và các điểm dân cư thương mại

3.2 Định hướng phát triển nhà ở nông thôn tỉnh Cần Thơ đến năm 2010: 3.2.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển nhà ở nông thôn tỉnh

Phấn đấu mọi người ở nông thôn tỉnh có được chỗ ở thích hợp , an cư lạc nghiệp, góp phần vào việc nâng cao mức sống nông thôn , phát huy nguồn nhân lực nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn tỉnh

Phát triển nhà ở nông thôn phải gắn liền với nhu cầu và điều kiện thu nhập, tích lũy của các tầng lớp dân cư, tăng nhanh số lượng và chất lượng nhà

Trang 34

nhằm đảm bảo nhà ở cho các đối tượng dân cư có thu nhập khác nhau ở những nơi khác nhau

-Đối với các tầng lớp dân cư có thu nhập cao ( giàu và khá ) có nhu cầu xây dựng mới nhà cửa, cải tạo hoặc nâng cấp nhà hiện có hay đang ở các khu quy hoạch cần giải tỏa phải bố trí ở các khu dân cư ổn định

-Những hộ dân cư có thu nhập thấp có tích lũy một phần nhưng chưa đủ tiền để xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp nhà thành nhà ở kiên cố hoặc bán kiên cố, có thu nhập ổn định và có khả năng thanh toán khi có được vay vốn làm nhà Đối với những hộ này cần có những chính sách tín dụng với lãi suất và thời gian cho vay hợp lý để họ có khả năng trả nợ được

-Đảm bảo nhà ở cho những hộ gia đình chính sách và những người có thu nhập qúa thấp hiện đang ở những nhà lụp xụp rách nát

-Có chính sách nhà ở cho các cán bộ công nhân viên chức công tác ở địa bàn nông thôn

-Tạo dựng qũy đất và xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn để phát triển nhà ở nông thôn

Cụ thể là :

Phải có 70-80% nhà ở kiên cố và bán kiên cố vào năm 2010.Trên cơ sở đó, tăng tỉ trọng nhà ởø kiên cố và bán kiên cố từ 5-7% mỗi năm, trong đó nhà ở

do dân tự bỏ vốn đầu tư xây dựng có tỉ trọng tăng 2-3% mỗi năm, nhà ở với sự hỗ trợ về tài chính, tín dụng có tỉ trọng tăng bình quân hàng năm từ 3-5% mỗi năm

3.2.2 Luận chứng phát triển nhà ở nông thôn :

• Phát triển nhà ở :

Diện tích nhà ở nông thôn Tỉnh Cần Thơ hiện nay là 11.897.900 m2, diện tích nhà ở bình quân trên đầu người vùng nông thôn là 8,34 m2 Dự kiến nâng diện tích sử dụng nhà ở lên 6-8 m2/người vào năm 2010 ở khu vực đô thị so với

Trang 35

hiện nay là 4,9 m2 , và nâng diện tích sử dụng nhà ở bình quân đầu người vùng nông thôn lên 8-12m2 vào năm 2010

Theo định hướng trên thì diện tích nhà ở nông thôn tỉnh vào năm 2010 là 16.449.400 m2 (tính bình quân 10m2 /người) tăng 4.552.040 m2 so với hiện nay.Trong đó diện tích bình quân nhà kiên cố vùng nông thôn tỉnh là 70m2, nhà bán kiên cố là 55 m2 và nhà tạm là 45 m2 vào năm 2010 Số nhà cần có khu vực nông thôn tỉnh vào năm 2010 là 304.300 với tỉ trọng nhà kiên cố là 7,39 %, nhà bán kiên cố là 68,96% và nhà tạm là 23,65% ( phù hợp với mục tiêu đề ra là 70-80% nhà ở là nhà kiên cố và bán kiên cố vào năm 2010 ).Nhu vậy theo định hướng này số nhà ở vùng nông thôn của Cần Thơ sẽ tăng 22.077 căn so với hiện nay ( 282.223 căn nhà ), bình quân tăng mỗi năm là 2.208 căn trong suốt thời kỳ và theo tỉ trọng trên thì số nhà kiên cố và bán kiên cố phảøi có vào năm 2010 là 223.062 căn nhà tăng 116.664 căn nhà so với hiện nay (106.398 ) và số lượng nhà tạm sẻ còn là 86.238 căn nhà giảm 89.587 căn nhà so với hiện nay

Nếu số người bình quân trong một nhà ở nông thôn tỉnh là 5 người/nhà thì diện tích nhà ở kiên cố bình quân trên đầu người ở nông thôn sẽ là 13m2,nhà bán kiên cố là 11m2 và nhà tạm là 9m2

Theo định hưóng này, thì vào năm 2010 số nhà ở nông thôn ở tỉnh Cần thơ gia tăng không nhiều so với hiện nay ( tăng 7,8% ),tuy nhiên về chất lượng

Bảng 3.2 Dự kiến nhà ở nông thôn Tỉnh Cần Thơ năm 2010

TÊN CHỈ TIÊU DIỆN TÍCH SỐ LƯỢNG NHÀ CƠ CẤU

nhà ở có thay đổi đáng kể so với hiện nay Để có được tỉ lệ nhà kiến cố và bán kiên cố là 76,35% vào năm 2010 theo như dự kiến thì số lượng nhà kiên cố và

Trang 36

bán kiên cố phải tăng so với hiện nay là 116.664 căn, bình quân một năm tăng 11.666 căn trong suốt cả thời kỳ thì rõ ràng đây là con số không nhỏ Số lượng nhà tạm sẽ giảm 89.587 căn so với hiện nay (175.825căn ) bình quân một năm giảm 8.959 căn Nhìn vào định hướng này cho thấy rõ quá trình phát triển nhà ở vùng nông thôn giai đoạn 2000-2010 chủ yếu là quá trình cải thiện và nâng cao chất lượng nhà ở vùng nông thôn.Thực tế cho thấy định hướng này là hoàn toàn đúng đắn vì sự thiếu hụt nhà ở vùng nông thôn là không đáng kể chỉ có 3112 hộ còn sinh hoạt chung với các hộ khác và tất nhiên trong số này có nhiều hộ vì nhiều lý do cần thiết phải sinh hoạt chung, hơn nữa việc tạo dựng một căn nhà tạm ở vùng nông thôn Cần Thơ không phải là điều quá khó khăn

• Phân bố nhà ở :

Nhằm khắc phục tình trạng phát triển nhà theo tuyến một cách tự phát gây ảnh hưởng rất lớn đến hành lang an toàn giao thông thủy bộ, ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường và khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng

Cần hạn chế phát triển điểm dân cư nông thôn trong vùng ngập sâu,đưa

cơ giới vào thay sức người trong sản xuất,chấp nhận bán kính đi làm xa không bố trí đồng đều gắn với ruộng

Các tuyến dân cư ổn định được xác định trên cơ sở kết hợp với giao thông thủy lợi Chuyển dần các hình thức tuyến dân cư phân tán kéo dài rải rác trên nhiều sông rạch, kênh mương sang tuyến điểm trên một số sông rạch và kênh mương chính, đặc biệt là kênh cấp một và kênh cấp hai

Bố trí các khu dân cư tập trung ổn định khai thác các vùng xung quanh theo kiểu một chốn đôi quê Xây dựng các khu dân cư là cụm kinh tế xã hội và các trung tâm xã với quy mô từ 500-1000 hộ dân tạo cơ sở phát triển ngành nghề và dịch vụ nông thôn Các khu dân cư tập trung cần có quy mô tối thiểu

200 hộ hay 1000 dân đảm bảo đủ quy mô để xây dựng các công trình phúc lợi và giảm chi phí đầu tư trong xây dựng

Trang 37

Bố trí các điểm dân cư trên các tuyến giao thông kết hợp với bờ đê vượt lũû, các mô đất cao.Trước mắt là đưa các hộ sống lẻ tẻ ngoài đồng vào các tuyến điểm dân cư dự kiến phát triển lâu dài.chọn các gò, giồng cao để xây dựng các khu dân cư tập trung, tạo các gò nhân tạo hoặc xây dựng các khu dân cư tập trung có đê bao nhằm tái định cư trở lại các hộ dân sống trong vùng Chấp nhận hình thức giao lưu giữa các điểm dân cư trong vùng bằng ghe xuồng khi mùa ngập lũ

• Nhu cầu vốn cho phát triển nhà ở nông thôn tỉnh:

Sự phát triển nhà ở vùng nông thôn tỉnh Cần Thơ gắn liền với việc quy hoạch cacù cụm kinh tế xã hội, các khu vực trung tâm xã, các khu dân cư, các tuyến dân cư và việc xây dựng cơ sờ hạ tầng vùng nông thôn Việc này đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn Hiện tại quỹ đất ở nông thôn tỉnh Cần Thơ ø rất ít và không đáng kể, trong khi theo tính toán để có đủ diện tích đất ở là 12.920 ha vào năm

2010 thì mỗi năm cần phát triển một diện tích đất ở là 630 ha Để có được diện tích đất ở này chi phí bình quân cho 1 ha là 600 triệu đồng để bồi thường hoa màu , san lấp mặt bằng Như vậy vốn để tạo quỹ đất và xây dựng cơ sở hạ tầng hàng năm là 378 tỷ đồng Nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển nhà ở được dự kiến như sau:

• Vốn huy động từ dân cư dự kiến chiếm khoảng 30% :112 tỷ đồng

• Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước chiếm khoảng 50%:189 tỷ đồng

• Vốn ngân sách nhà nước chiếm khoảng10% :38 tỷ đồng

• Vốn trợ giúp các tồ chức,cá nhân trong và nngoài nước cho chương trình nhà ở chiếm khoảng 5%: 19 tỷ đồng

• Vốn các đơn vị đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và nhà ở chiếm 5%:19 tỷ đồng

Trang 38

Về vốn để xây dựng nhà vùng nông thôn , với số nhà kiên cố và bán kiên cố hàng năm cần xây dựng là 11.666 căn nhà, nếu tính bình quân một căn nhà kiên cố và bán kiên cố là 28 triệu đồng với diện tích bình quân 56m2 ( 500.000 đồng/m2) thì số vốn đầu tư phát triền nhà ở vùng nông thôn tỉnh Cân Thơ hàng năm là 326,648 tỷ đồng chiếm 19,33% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh bình quân thời kỳ 2000-2005 và chiếm 9,44% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh bình quân thời kỳ 2005-2010 Dự kiến nguồn vốn phát triển nhà như sau:

• Vốn tích lũy của hộ dân cư phải đạt tối thiểu từ 30-40% (100-130 tỷ đồng)

• Vốn đầu tư phát triền nhà hàng năm và vốn tín dụng từ các ngân hàng chiếm khoảng 50-60% (160-200 tỷ đồng)

• Vốn từ các chủ đầu tư khoảng 10-15% (30-50 tỷ đồng) và vốn ngân sách trong đó có một phần từ quỹ phát triển nhà chiếm khoảng 5% (15 tỷ đồng)

Bảng 3.3 Nhu cầu vốn cho phát triển nhà ở nông thôn Cần Thơ

Tổng cộng

100-130

112 212-242

1.Vốn từ dân cư

160-200

189 372-442

2.Vốn từ tín dụng

30-50

19 49-69

3.Vốn từ chủ đầu

15

38 53

4.Vốn ngân sách

19 19

5.Vốn trợ giúp

3.3 Định hướng phát triển nhà cho người có thu nhập thấp vùng nông thôn tỉnh đến năm 2010:

Để có cơ sở trong việc cho vay làm nhà cho các đối tượng dân cư có thu nhập thấp vùng ĐBSCL, ngày 7 tháng 7 năm 1999 Bộ Lao động Thương Binh và Xả Hội đã có công văn số 2286/LĐTBXH gửi cho Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Uûy Ban nhân dân các tỉnh ĐBSCL , Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL quy định mức chuẩn hộ gia đình có thu nhập thấp , nhưng có khả năng hoàn vốn vay

Trang 39

làm nhà cho ngân hàng, với lãi suất ưu đãi vùng ĐBSCL.Mức chuẩn cụ thể như

Mức chuẩn trên được áp dụng trong giai đoạn1999-2000

Theo mức chuẩn này thì có khoảng 171.201 hộ gia đình ở vùng nông thôn

tỉnh Cần Thơ thuộc vào diện có thu nhập thấp nghĩa là có thu nhập dưới 220.000

đồng/người/tháng, số hộ này chiếm tỉ lệ 60% số hộ dân sống ở vùng nông thôn

tỉnh Cần Thơ.Số hộ này cũng gần tương đương với số nhà tạm hiện có ở nông

thôn tỉnh Cần Thơ (175.825 căn).Theo Sở Xây dựng tỉnh Cần Thơ trong số hộ có

thu nhập thấp ở nông thôn có khoảng 34.000 hộ rất nghèo có thu nhập đầu người

/ tháng từ 75.000 đồng đến 120.000 đồng Những hộ này khó có khả năng tích

lũy vốn theo qui định về vay vốn làm nhà cũng như khó có khả năng trả nợ cho

ngân hàng khi vay vốn

Việc tích lũy vốn trong dân cư phụ thuộc lớn vào chi tiêu.Theo báo cáo

của Cục thống kê tỉnh Cần Thơ năm1999 (báo cáo này dựa vào số liệu điều tra

hộ đa mục tiêu của tỉnh năm 1996) , chi tiêu của hộ gia đình bình quân ở nông

thôn tỉnh Cần Thơ như sau:

Bảng 3.4 Cơ cấu tiêu dùng bình quân /người/tháng năm 1996 của người dân

nông thôn tỉnh Cần Thơ

1Chi cho ăn uống và

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w