1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chiến lược nhằm phát triển trang sức vàng bạc tp HCM 2000 2010

58 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 258,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua nhiều bước thăng trầm theo tốc độ phát triển kinh tế , hiện nay ngành trang sức vàng bạc đã khẳng định vị trí của mình trong ngành kinh tế quốc dân .So với các nước trong khu vực ASE

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngành trang sức vàng bạc phát sinh đã lâu đời , từ công việc thủ công , đơn giản đến giai đoạn công nghiệp hóa đan xen với nghệ thuật bán thủ công như ngày nay

Nền kinh tế – văn hóa xã hội ngày càng phát triển , nhu cầu đối với sản phẩm trang sức vàng bạc của con người ngày càng đa dạng , gia tăng cả số lượng lẫn chủng loại , mẫu mã , đồng thời yêu cầu về chất lượng ngày càng cao dần Do đó ngành trang sức vàng bạc luôn có nhiều cơ hội để phát triển sản xuất kinh doanh , đáp ứng nhu cầu , mong muốn của khách hàng trong và ngoài nước

Đặc biệt ngành trang sức vàng bạc Việt Nam cũng như các nước , luôn thu hút một lực lượng lao động xã hội đáng kể so với ngành khác ,kỹ năng của người lao động lại có thể đào tạo tại chỗ Đồng thời , đây cũng là ngành tạo ra thu nhập quốc dân đáng kể cho nền kinh tế nước ta nếu nhà quản trị các cấp tổ chức quản lý ngành ngày càng tốt hơn , có hiệu qủa hơn

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế Việt Nam , ngành trang sức vàng bạc của TP Hồ chí Minh gặp nhiều khó khăn trong qúa trình phát triển , các nguồn lực của ngành thuộc các thành phần kinh tế chưa được tận dụng đúng mức , sự liên kết của các doanh nghiệp trong ngành còn rời rạc chưa tạo thành sức mạnh , sự hổ trợ từ cơ quan quản lý nhà nước chưa thích đáng , khủng hoảng kinh tế khu vực ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành

Vì vậy củng cố và phát triển ngành trang sức vàng bạc TP Hồ chí Minh trong giai đoạn sắp tới là nhu cầu cần thiết nhằm góp phần phát triển nền kinh tế đất nước , tận dụng nguồn lao động tại chỗ và tạo ra nhiều của cải vật chất

Trang 3

cho xã hội

Mục đích của luận án nhằm đưa ra những giải pháp chiến lược nhằm phát triển ngành trang sức vàng bạc tại TP Hồ Chí Minh đến năm 2010 Qua đó các doanh nghiệp trong ngành , cơ quan quản lý ngành , cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế có liên quan có thể xem xét để tham khảo trong quá trình hoạt động

Để có thông tin làm nền tảng đề xuất những giải pháp , người nghiên cứu sử dụng những phương pháp cơ bản như : phương pháp phân tích và tổng hợp , phương pháp đọc tài liệu , phương pháp phỏng vấn , phương pháp điều tra (người tiêu dùng, các cơ sở kinh doanh sỉ và lẻ) , phương pháp quan sát , phương pháp thống kê và phân tích các số liệu thực tế của ngành trong phạm

vi TP Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định là ngành trang sức bằng vàng bạc trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000- 2010 :

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 : Cơ sở lý luận về định hướng chiến lược phát triển ngành trang

sức vàng bạc Thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 2 : Phân tích thực trạng của ngành – Môi trường hoạt động ngành

trang sức vàng bạc Thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 3 : Các giải pháp chiến lược nhằm phát triển ngành trang sức vàng

bạc TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn năm 2000-2010

KẾT LUẬN

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH TRANG SỨC VÀNG BẠC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Giới thiệu về ngành trang sức vàng bạc Việt Nam :

Từ trước Công nguyên , vàng bạc đã được coi trọng , chọn làm báu vật cúng tế, vàng bạc làm say mê lòng người từ thời thượng cổ đến nay và mãi mãi sau này , không biết đến bao giờ mới chấm dứt , và đặc biệt làø hàng trang sức bằng vàng bạc

1.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển ngành trang sức vàng bạc Việt

nam :

Ngành trang sức vàng bạc , một trong những nghề thủ công nổi tiếng của Việt nam đã ra đời cách đây khoảng 2000 năm Rất đáng tiếc , từ lâu lắm (trước công nguyên ) nước ta chưa có lịch sử thành văn , trong khi có lịch sử Trung Quốc ghi chép về nghề kim hoàn của Việt nam rất sơ sài , dẫn đến thiệt thòi cho lịch sử Tổ kim hoàn của người Việt bị thất truyền tên tuổi Căn cứ vào các di tích khảo cổ người ta đã phát hiện ra từ 200 năm trước công nguyên , người Việt Nam đã làm ra được đồ trang sức vàng bạc , đá qúy cao cấp với kỹ thuật rất cao , mạ vàng trên kim loại màu , đúc và chạm vàng , sơn và khảm nạm đá qúy Cổ sử Trung Hoa cho biết, những năm đầu thế kỷ thứ nhất (Sau công nguyên ) ở Việt Nam đã sử dụng đồ trang sức là vàng bạc đá qúy , lúc đầu chỉ phục vụ cho vua chúa phong kiến và giới qúy tộc , làm đẹp những cân đai và áo mão , trang trí nội thất cho các cung vương , phủ chúa Sau này sức sản xuất được giải phóng , mức sinh hoạt trong nhân dân tăng lên, nghề

Trang 5

kim hoàn mơí hòa mình vào cuộc sống đời thường , trở thành một nghề mỹ nghệ dân gian ở nước ta

Ở phía Bắc có những lò sản sinh ra những nghệ nhân làm nghề trang sức vàng bạc nổi tiếng như Đồng xân (Thái Bình ) , Châu khê (Hải Hưng ), Định công (Hà Nội ) , Kiêu kị ( Gia Lâm , Hà Nội ), với những tay nghề đậu chạm độc đáo

Tại Huế , ở làng Kế môn (Phong Điền ) có hai cha con ông Cai Đinh Bộ đã tạo dựng lên nghề trang sức vàng bạc từ 200 năm trước đây Ngày nay các thế hệ học trò của hai ông đã kế nghiệp một cách xuất sắc nghề tổ , tạo nên những đồ mỹ nghệ vàng bạc mang bản sắc của xứ Huế cung đình thơ mộng , làm đẹp cho nhân dân địa phương , làm vừa lòng các du khách trong và ngoài nước có dịp nghé thăm cố đô xưa Ở phía Nam , với đội ngũ hàng ngàn thợ kim hoàn kế tục nghề truyền thống , lại được tiếp thu phương pháp sản xuất công nghiệp hiện đại , có thể tạo ra những sản phẩm trang sức bằng vàng bạc vừa kết hợp tay nghề truyền thống tinh xảo vừa mang dáng dấp của công nghệ hiện đại , như những nhẫn , vòng , dây cổ là những sản phẩm sản xuất

ra bằng máy móc nhưng kết hợp tô điểm thêm chạm khắc bằng tay với quy mô khéo léo tinh xảo

Xét về mặt lịch sử , ngành trang sức bằng vàng bạc Việt nam (gọi chung là ngành mỹ nghệ kim hoàn ) có một lịch sử lâu đời , Việt nam được xem như cái nôi của ngành mỹ nghệ kim hoàn trong khu vực Đông Dương và kể cả Thái Lan.Nhưng trong vài thập kỷ trước đây , do ảnh hưởng của chiến tranh ,

do quan điểm hạn chế trong đường lối kinh tế đã làm cho ngành trang sức Việt Nam ngày càng mai một và đã có lúc gần như bị lãng quên Trong những năm gần đây , cụ thể là từ năm 1988 Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối

Trang 6

đổi mới kinh tế , ngành trang sức bằng vàng bạc được nhìn nhận như một ngành kinh doanh thực sự và theo đà phát triển của đất nước , ngành trang sức vàng bạc đã có nhiều chuyển biến đáng kể

1.1.2 Vị trí của ngành trang sức vàng bạc Việt Nam trong nền kinh tế

quốc dân

Qua nhiều bước thăng trầm theo tốc độ phát triển kinh tế , hiện nay ngành trang sức vàng bạc đã khẳng định vị trí của mình trong ngành kinh tế quốc dân So với các nước trong khu vực ASEAN , thì sản lượng vàng trang sức của Việt Nam vào năm 1998 đã đứng vào hàng thứ 5 sau Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Singgapore Trong thời gian qua ngành trang sức bằng vàng của Việt nam đã đạt khoảng 19 tấn /năm Tính bình quân đầu người đạt 0,24 g vàng trang sức /năm Tỷ lệ này còn khiêm tốn so với bình quân đầu người của thế giới là 0,55 g Nhưng nếu nhìn lại 10 năm qua thì chúng ta thấy rõ sự phát triển nhanh chóng của ngành vàng trang sức Việt nam Các nhà kinh tế cho biết trước năm 1990 , vàng trang sức của Việt nam chỉ đạt 1 tấn /năm , sang năm 1992-1993 đã tăng lên 10 tấn /năm và trong hai năm gần đây đạt 19-20 tấn /năm

Hiện nay cả nước đã có gần 6000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành , đồng thời cũng chiếm trên 1/3 số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành nghề khác , hàng năm đóng góp cho ngân sách quốc gia đáng kể Ngoài ra , nếu so với Thái Lan xuất khẩu mỗi năm 2 tỷ USD sản phẩm trang sức vàng bạc , tuy xuất khẩu của Việt nam không đáng kể nhưng cũng có những thay đổi qua các năm (Bảng 1)

Trang 7

Bảng 1: Giá trị xuất khẩu vàng trang sức thời kỳ 1995-1998

7,4 3,5 2,1 3,8 Nguồn : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Qua đó ta thấy ngành trang sức vàng bạc đóng một vai trò không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân nếu ta quan tâm và đề xuất các giải pháp chiến lược để phát triển ngành trong những năm sắp tới

1.1.3- Đặc thù của ngành trang sức vàng bạc Thành phố Hồ Chí Minh :

Trải qua bao bước thăng trầm , đặc thù của ngành trang sức vàng bạc vẫn là ngành sản xuất nhỏ , mang tính cha truyền con nối Các doanh nghiệp phát triển theo hướng tự phát ,rời rạc , sản xuất còn manh mún , chưa hình thành rõ nét các mặt hàng chủ lực , thiếu các cơ sở sản xuất theo kiểu chuyên môn hóa nên kỹ thuật và trình độ tinh xảo chưa cao Đội ngũ thợ kim hoàn Việt nam tuy cới gía nhân công thấp hơn nhưng do chưa được đào tạo đúng mức nên chưa theo kịp với yêu cầu để vận hành máy móc và công nghệ hiện đại , năng suất chưa cao Về mặt kỹ thuật, sản phẩm chưa đạt được độ tinh xảo , giá thành sản phẩm còn cao , chưa cạnh tranh được với hàng trang sức sản xuất bằng máy móc của các nước

Ngành trang sức vàng bạc Việt nam có truyền thống lâu đời , trình độ tay nghề dần dần hoàn chỉnh , được cập nhật với các mẫu mã mới , những kỹ thuật và thiết bị sản xuất mới , đã cho ra đời nhiều sản phẩm độc đáo Một sản phẩm trang sức vàng bạc có thể xem là một tác phẩm nghệ thuật , mà tác

Trang 8

phẩm nghệ thuật thì thường là sản phẩm của cá nhân Do vậy , một trong những đặc thù đầu tiên của sản xuất hàng trang sức là tính đơn chiếc , cá nhân Cần tạo điều kiện để tạo ra những sản phẩm tinh xảo đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật kim hoàn Việt nam kết hợp hình thành một ngành trang sức theo sản xuất công nghiệp , có như thế ta mới có những sản phẩm đạt chất lượng cao , được chấp nhận

1.2- Cơ sở lý luận về định hướng chiến lược phát triển ngành trang sức vàng bạc Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.1- Sự cần thiết phải định hướng chiến lược phát triển ngành trang sức vàng bạc Thành Phố Hồ Chí Minh

Theo số liệu thống kê của các tổ chức nghiên cứu dịch vụ khoáng sản quốc tế (GFMS) cho thấy có sự tăng trưởng trong việc tiêu thụ hàng trang sức vàng bạc Việt nam , từ 6,5 tấn năm 1993 đến 19 tấn năm 1997 , các doanh nghiệp trong ngành có doanh số kinh doanh trang sức vàng bạc từ 900 tỷ năm

1993 đã tăng lên 1800 tỷ năm 1997 , bình quân tăng 16% năm (nguồn từ Ngân hàng Nước Việt nam) Điều này phù hợp với việc gia tăng sức mua theo đà kinh tế đi lên của đất nước ta , chúng ta chứng kiến hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh ngành trang sức vàng bạc xuất hiện trên nhiều đường phố ở Hà Nội , thành phố Hồ Chí Minh với lượng hàng hóa phong phú , mẫu mã đa dạng , hiện đại Cùng với sự chuyển biến tích cực về tay nghề của đội ngũ thợ kim hoàn , và đặc biệt là trình độ nhạy bén tiếp thu kỹ thuật mới của anh em thợ trẻ tất cả những dấu hiệu đó cho phép kết luận , tại Việt nam đã hình thành một thị trường trang sức vàng bạc , tuy nhiên đó chỉ là những bước phát triển một cách tự phát , cần có những nổ lực phát triển ngành đúng hướng Sau đây ta phân tích thêm về sự phát triển của ngành trang sức vàng bạc

Trang 9

của các nước trong khu vực

Nền kinh tế càng phát triển , thu nhập đầu người càng cao thì mức độ

tiêu thụ hàng trang sức càng lớn Nếu trong thập kỷ 70 , trang sức vàng bạc

chiếm 58% lượng vàng tiêu thụ trên thế giới , thì qua thập kỷ 80 , con số này

lên đến 70% và ở thập kỷ 90 con số này đạt 83% (số liệu Hội Đồng vàng thế

giới) Năm 1997 , toàn thế giới đã sử dụng 3.328 tấn vàng làm đồ trang sức ,

tính bình quân chung toàn thế giới , hàng năm mỗi người dân sử dụng một

lượng vàng bằng 0,55 g làm đồ trang sức (Bảng 2)

Bảng 2: Số lượng vàng sử dụng để sản xuất nữ trang ở một số nước

trên thế giới năm 1997:

QUỐC GIA

kong

Italy

Trừ Việt Nam , sản lượng trang sức /đầu người của các quốc gia trên khá

cao , đặc biệt là Indonesia , Thái Lan Cần chú ý rằng 2 quốc gia trên thu

nhập bình quân đầu người không cao nhưng khối lượng vàng nguyên liệu cho

trang sức lại rất cao Lý do chính vì một lượng rất lớn hàng trang sức được

sản xuất để xuất khẩu ,vừa đem lại doanh thu và ngoại tệ cho đất nước , vừa

giải quyết một lượng lớn lao động (vấn đề quan trọng cho mọi quốc gia trên

thế giới) Một lý do chính là vì sản phẩm trang sức là một sản phẩm thâm

Trang 10

dụng lao động , nên đây là lợi thế cạnh tranh cho các nước có chi phí lao động thấp Trên thực tế , hàng trang sức vàng bạc của các quốc gia trên đây đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường nữ trang thế giới Nhằm tăng sức cạnh tranh của ngành trang sức vàng bạc , hướng tới xuất khẩu, qua đó ta có thể nhận định sự cần thiết phải có định hướng chiến lược phát triển ngành trang sức vàng bạc

1.2.2 – Cơ sở lý luận để định hướng chiến lược phát triển ngành trang sức

vàng bạc Thành phố Hồ chí Minh

1.2.2.1 – Quy trình hoạch định chiến lược :

Để có thể vạch ra các giải pháp chiến lược phù hợp với từng ngành , từng tổ chức hay từng doanh nghiệp cụ thể , nhà quản trị thực hiện việc hoạch định thông qua các bước chủ yếu sau :

1.2.2.1.1-Xác định quan điểm phát triển ngành :

Ngành trang sức vàng bạc với đặc trưng năng suất lao động cao, khả năng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu lớn sẽ là một ngành có tiềm năng trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam nếu được quan tâm đầu tư đúng mức

Ngành trang sức vàng bạc hiện tại vẫn là một nền sản xuất nhỏ, phân tán và chưa có định hướng rõ ràng Vì vậy, vẫn chưa tận dụng được các lợi thế cạnh tranh để phát triển sản xuất và kinh doanh, đem lại doanh thu lớn góp phần vào mục tiêu tăng GDP và toàn dụng lao động cho đất nước Để đưa ngành trang sức vàng bạc trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật trong cơ cấu kinh tế quốc dân, chúng ta phải có một chiến lược phát triển rõ ràng, đúng đắn để thúc đẩy sản xuất, khuyến khích tiêu thụ và mở rộng khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước Chỉ có một chiến lược đúng đắn đi kèm với những chính sách vĩ mô thích hợp mới làm cho các nhà sản xuất yên tâm đầu tư vào thiết

Trang 11

bị, công nghệ và nguồn nhân lực hầu đảm bảo sự phát triển vững chắc và lâu dài cho ngành

1.2.2.1.2- Phân tích môi trường hoạt động của ngành :

1 -Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô :

- Phân tích các yếu tố chính trị :các chính sách của Đảng , Nhà nước ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của ngành

- Phân tích các yếu tố kinh tế , gồm : tình hình kinh tế trong nước và thế giới , diễn biến các giai đoạn trong chu trình kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động của ngành

sống , quan niệm xã hội đối với ngành , dân số ,nguồn lao động

công nghệ , khả năng chuyển giao công nghệ mới , chi phí cho công tác khoa học kỹ thuật và phát triển công nghệ sản xuất

- Phân tích các yếu tố pháp luật :môi trường pháp lý cho hoạt động của

ngành

2– Các yếu tố thuộc môi trường vi mô :

nhóm khách hàng hiện nay và dự báo xu thế thay đổi nhu cầu trong thời gian sắp tới , để từ đó xác định ngành phải làm gì để tạo ra nhu cầu mới , phải mở rộng thêm ra như thế nào để đáp ứng nhu cầu mới , và phải dùng phương tiện hoặc công nghệ nào để phục vụ khách hàng tốt nhất

hiện hữu , cạnh tranh tiềm ẩn , cạnh tranh của sản phẩm thay thế

Trang 12

ngành để xác định mức độ nguồn lực có thể huy động cho các chiến lược phát triển sắp tới

- Quản lý của nhà nước đối với ngành : các cơ quan đầu mối quản lý ngành , các chính sách quản lý về chất lượng , chính sách thuế , tài chánh

1.2.2.1.3-Xác định nhiệm vụ và mục tiêu phát triển ngành :

Căn cứ vào thông tin môi trường kinh doanh , xác định nhiệm vụ cho ngành , doanh nghiệp tùy theo phạm vi quản lý Nội dung bản tuyên bố nhiệm vụ được xem là một định hướng tổng quát , là con đường cần phải đi để đạt các mục tiêu mong muốn , thông qua các giải pháp chiến lược , các chính sách và các chương trình hành động của doanh nghiệp

Khi xác định nhiệm vụ , cần chú ý các khía cạnh quan hệ chặt chẽ với nhau trong quản trị chiến lược kinh doanh là :

- Nhiệm vụ đối với khách hàng hiện tại và tương lai

- Nhiệm vụ đối với các tổ chức hữu quan , đối với nhà nước và xã hội Nội dung nhiệm vụ có tính ổn định lâu dài , tùy theo tình hình thực tế , nhiệm vụ có thể thay đổi hoặc bổ sung cho phù hợp với môi trường kinh doanh Xác định được nhiệm vụ rõ ràng , có tính khả thi tức nhà quản trị đã vạch ra được con đường đúng đắn để doanh nghiệp tiến lên phía trước vững chắc và thành công

Mục tiêu là kết qủa mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong kỳ ngắn hạn hoặc dài Xác định mục tiêu là cơ sở cho việc hình thành chiến lược Mục tiêu dùng để chỉ kết qủa cụ thể mà ngành mong muốn trong một giai đoạn nhất định

Mục tiêu đặt ra cần mang tính hiện thực , nó chỉ rõ điểm kết thúc của

Trang 13

các nhiệm vụ chiến lược , là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên trong phân bổ các nguồn lực

1.2.2.1.4- Xây dựng các phương án phát triển ngành :

Căn cứ vào các tiền đề đã được xác định , từ đó phác thảo các phương án chiến lược có tính khả thi

Các loại phương án chiến lược có thể chọn lựa như sau :

- Chiến lược tăng trưởng tập trung : đây là nhóm chiến lược chủ đạo đạt trọng tâm vào việc cải tiến sản phẩm hiện tại để bán trên thị trường hiện tại hoặc mới

- Chiến lược tăng trưởng hội nhập :Đây là nhóm chiến lược thích hợp với các doanh nghiệp đang kinh doanh các ngành kinh tế mạnh , còn khả năng tăng trưởng nữa nếu liên kết hay hội nhập với các ngành phù hợp với mục tiêu và các chiến lược dài hạn đang thực hiện Chiến lược này cho phép củng cố vị thế ngành hàng chủ chốt và phát huy đầy đủ hơn khả năng kỹ thuật của doanh nghiệp

+ Chiến lược hội nhập về phía sau +Chiến lược hội nhập hàng ngang + Chiến lược hội nhập về phía trước

- Chiến lược tăng trưởng đa dạng hóa sản phẩm

- Chiến lược thu hút nguồn nhân lực

- Chiến lược marketing

Tóm lại các phương án chiến lược trình bày trên đây thường được lựa chọn áp dụng , và có thể chọn lựa nhiều giải pháp chiến lược kết hợp đan xen trong cùng một thời kỳ

Nhiệm vụ tiếp theo là tiến hành đánh gía , so sánh các phương án được

Trang 14

phác thảo , chọn lựa để đưa ra các giải pháp thích hợp

1.2.2.1.5- Chọn lựa phương án phát triển ngành :

Sau khi đã đánh gía , so sánh các phương án chiến lược , quyết định lựa chọn các phương án có tính khả thi nhất các phương án này phù hợp với nhiệm vụ , mục tiêu phát triển của ngành , đồng thời phù hợp với môi trường bên ngoài và bên trong , phù hợp với nguồn lực của ngành

1.2.2.2- Sử dụng ma trận SWOT để lựa chọn phương án chiến lược phát triển ngành

Để lựa chọn chiến lược phát triển ngành khả thi ta cần tiến hành đánh gía những ưu điểm , nhược điểm , cơ hội và đe dọa của ngành trang sức vàng bạc Sử dụng ma trận SWOT , ta liệt kê đầy đủ những ưu điểm , nhược điểm ,

cơ hội , đe doạ , sau đó sẽ kết hợp yếu tố liên quan để tìm ra những gợi ý của chiến lược (Bảng 3)

Bảng 3 : Ma trận SWOT

OT

SW

O PPORTUNITIES Liệt kê các cơ hội

THREAT Liệt kê các đe dọa STRENGTHS

Liệt kê các điểm mạnh

S/O Sử dụng điểm mạnh chủ yếu ,khai thác cơ hội

S/T Sử dụng điểm mạnh chủ yếu đối phó những đe dọa

WEAKNESSES

Liệt kê các điểm yếu

W/O Vượt qua những điểm yếu để tận dụng cơ hội

W/T Vượt qua những điểm yếu để đối phó cơn nguy

Trang 15

Hiện nay , hầu hết các Công ty có tầm cỡ quốc tế , tồn tại và phát triển vững chắc đều định hướng chiến lược , dựa vào thông tin môi trường kinh doanh Do đó , các ngành trong nền kinh tế của Việt Nam nói chung , ngành trang sức vàng bạc nói riêng và các doanh nghiệp trong ngành cần phải hoạch định và tổ chức thực hiện các giải pháp chiến lược để nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh , phát triển ổn định và thích nghi với môi trường kinh doanh lâu dài

Trang 16

CHƯƠNG 2

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH - MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG NGÀNHTRANG SỨC VÀNG BẠC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1- Thực trạng sản xuất kinh doanh của ngành trang sức TP HCM (khảo sát từ năm 1975 đến nay):

Ngành công nghiệp trang sức TP Hồ Chí Minh có truyền thống lâu đời , nhiều làng nghề ở Việt nam đã có truyền thống trên nghìn năm với nhiều mẫu mã đặc sắc, thời vua chúa cũng đã dùng trang sức bằng vàng bạc để tô điểm thêm vẻ uy nghi lộng lẫy

Nước Việt Nam ta cùng với chiến tranh kéo dài , từ sau năm 1975 đến năm 1989 là thời kỳ bao cấp , hàng hóa không đủ để phân phối Do cuộc sống còn khó khăn , thu nhập đầu người còn thấp nên phần lớn thu nhập được chi dùng cho ăn , mặc, ở Vì vậy khối lượng trang sức sản xuất còn rất thấp và hàng trang sức vàng bạc chưa trở thành một nhu cầu đại chúng Ngành trang sức vàng bạc Việt nam vẫn mang tính sản xuất nhỏ , phân tán ,thủ công dẫn tới năng suất và chất lượng không đồng đều, chưa có sự quan tâm định hướng rõ nét của nhà nước nhằm khuyến khích và phát huy thế mạnh tiềm năng về tài nguyên đá qúy , sức lao động để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và tiến tới xuất khẩu thu ngoại tệ

Tuy nhiên , nhờ công cuộc cải cách kinh tế , nền kinh tế nước ta trong mười năm qua đã có tiến bộ vượt bậc GDP năm 1998 tăng 1,83 lần so với năm

1988 ( tức 22.130.343.936 USD) và GDP đầu người tăng 1,54 lần (288,24 USD

Trang 17

/người )

Trong những năm qua , sự tăng trưởng của TP Hồ Chí Minh đã đóng góp tích cực vào thành tưụ chung của nền kinh tế cả nước, tốc độ tăng GDP của TP HCM thường gấp 1,5-1,7 lần so với tốc độ tăng GDP chung của cả nước Do đó , để có thể tiếp tục phát huy vai trò tích cực này cần định hướng đầu tư cùng cơ chế , chính sách thích hợp sao cho vừa đảm bảo giữ được nhịp tăng trưởng cao , tạo được mối liên kết chặt chẽ bên trong , đồng thời tạo điều kiện để Thành phố mở rộng giao thương , phát triển thị trường , nâng cao sức cạnh tranh trong hợp tác đa dạng , đa phương , từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới , trong chính sách mở cửa của nước ta

Trong xu thế đó , công nghiệp nữ trang của Việt nam đã phát triển nhanh chóng Lượng vàng trang sức năm 1997 gấp 19 lần so với năm 1988 Và lượng vàng trang sức bình quân đầu người đã tăng 17 lần so với năm 1988 (Bảng 4)

Bảng 4 : Lượng vàng trang tiêu thụ so sánh từ năm 1988-1998

Lượng vàng trang sức tiêu thụ

tại VN

Lượng vàng trang sức bình

quân đầu người

g 0,014 0,24 0,3 0,345

Tuy vậy , so với mức độ sản xuất và tiêu thụ chung trên thế giới , con số này còn rất nhỏ và chưa biểu lộ hết tiềm năng về cung cũng như về cầu của ngành trang sức vàng bạc Việt nam Đặc biệt , tỷ trọng trang sức tham gia vào thị trường xuất khẩu còn qúa ít và trang sức vàng bạc Việt nam chưa có được

uy tín trên thị trường thế giới

Trang 18

Trang sức vàng bạc là nghề truyền thống thủ công của nước ta , nó mang nặng tính chất cha truyền con nối và lao động thủ công Trong những năm gần đây , sản xuất trang sức vàng bạc có nhiều bước tiến đáng kể nhưng cũng chỉ ở giai đoạn khởi đầu Tiềm năng và những thuận lợi của ngành chưa được Nhà nước và các doanh nghiệp quan tâm đầu tư khai thác và trọng dụng đúng mức Phải thực sự xem ngành trang sức vàng bạc là một ngành kinh tế kỹ thuật với đầy đủ ý nghĩa và tính chất của nó để có chính sách và giải pháp phù hợp đúng đắn

Ở Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 2500 doanh nghiệp (Bảng 5) tham gia trong ngành chiếm 65% trên tổng số các doanh nghiệp của cả nước ,trong đó trên 90 % là doanh nghiệp tư nhân

Bảng 5:Kết qủa hoạt động của ngành trang sức vàng bạc TP Hồ Chí Minh 1997-1998-1999

1- Lượng hàng TSVB tiêu thụ cả nước

2- Doanh số toàn ngành ở TPHCM

3- Doanh số của Công ty SJC và PNJ

4 –Các doanh nghiệp thuộc ngành trang

sức vàng bạc ở TPHCM

5- Lực lượng lao động tham gia trong

ngành

tấn Tỷ Tỷ

%

DN người

19 1.800

270

15 2.500 5.860

24 2.120

328 15,5 3.000 6.200

29,2 2.550

410 16,1 3.900 7.000

Nguồn : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Những doanh nghiệp Nhà nước tham gia trong ngành không nhiều Trong những năm đầu thập niên 90 , họ là lực lượng nòng cốt hổ trợ cho Nhà nước

Trang 19

trong việc can thiệp , điều tiết gía cả thị trường vàng , và tạo lập ra một mạng lưới các kênh phân phối vàng , chủ yếu là vàng miếng , vàng nguyên liệu đáp ứng nhu cầu vàng tiền tệ , còn việc đầu tư phát triển sản xuất trang sức vàng bạc bị coi nhẹ và không được quan tâm một cách đúng mức

Một bộ phận quan trọng tạo dựng thị trường ngành là các doanh nghiệp tư nhân với vai trò là mạng lưới bán lẻ đến tay người tiêu dùng

Từ khi có chính sách phát triển các thành phần kinh tế , và nhất là sau khi nghị định 63/CP của chính phủ ra đời năm 1993 , chính thức công nhận quyền hợp pháp về vàng của mọi tổ chức cá nhân ,các doanh nghiệp kinh doanh ngành trang sức vàng bạc phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như về chất lượng , năm 1988 chỉ mơí gần 200 doanh nghiệp thì mười năm sau con số này tăng lên gấp 15 lần (xem bảng 5 ) , và ngành trang sức vàng bạc phát triển nhanh chóng từ năm 1993 đến nay do nhu cầu của thị trường và do tỷ suất lợi nhuận khá cao của ngành làm hấp dẫn các nhà kinh doanh

Doanh số tiêu thụ toàn ngành cũng tăng lên nhanh chóng , tốc độ tăng bình quân từ 15-17% mỗi năm , trong đó xuất khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ , do đó chúng ta cần quan tâm phát triển hàng trang sức vàng bạc hướng tới xuất khẩu và đặc biệt là xuất khẩu tại chỗ

Doanh thu và lợi nhuận trong ngành : hệ thống quốc doanh có hai Công

Ty lớn là SJC và PNJ chiếm khoảng 15 % thị phần của ngành trong phạm vi cả nước , đóng góp cho ngân sách hàng năm hàng chục tỷ đồng Ngoài ra theo thống kê không đầy đủ , mỗi một doanh nghiệp tư nhân đóng thuế khoán bình quân 5 triệu một tháng, như vậy với 2500 doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ đóng góp cho ngân sách khoảng 150 tỷ đồng

Ngoài các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài đầu tư tại Thành Phố

Trang 20

Hồ Chí Minh như Pranda, Digise Internation được đầu tư từ năm 1994, 1995 có kỹ thuật công nghệ cao , hiện đại , còn có các doanh nghiệp quốc doanh như PNJ , SJC cũng quan tâm đầu tư máy móc thiết bị

Đại bộ phận các doanh nghiệp tư nhân ,phần lớn hoạt động với quy mô nhỏ, mang tính gia đình , tự phát , phân tán tản mạn , manh mún không tạo điều kiện cho việc tổ chức sản xuất lớn đại trà , khó khăn cho việc đầu tư áp dụng công nghệ sản xuất mới cũng như việc đào tạo thợ kỹ thuật thiết kế mẫu mã mới

Hiện nay khả năng trang bị máy móc , thiết bị mới nằm trong tầm tay của các doanh nghiệp lớn và một số thiết bị đã được chế tạo trong nước Nhưng cái thiếu lớn nhất của các doanh nghiệp trong ngành hiện nay là công nghệ mơí Vì vậy các doanh nghiệp trong ngành cần đầu tư nghiên cứu hoặc tìm cách chuyển qua các công nghệ tiên tiến và hiện đại của thế giới dưới nhiều hình thức thích hợp để nắm lấy và dưa vào sử dụng, nhằm nhanh chóng phát triển ngành

Lực lượng lao động trong ngành , với tay nghề khéo léo tinh xảo phù hợp với ngành đòi hỏi trình độ mỹ thuật và nghệ thuật , là nguồn lực tiềm năng của ngành trang sức vàng bạc Việt nam , Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 60% lực lượng lao động thợ , trong đó đa số là thợ trẻ có khả năng tiếp thu trình độ công nghệ nhanh và nhạy bén

Mặt khác hiện nay sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt trong hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành thuộc nhiều thành phần kinh tế , làm cho thị trường ngành trang sức vàng bạc ngày càng trở nên sôi động , đa dạng phong phú , sân chơi và luật chơi đã được thiết lập buộc các nhà kinh doanh phải có một chiến lược đúng đắn để phát triển và để thích nghi và tồn tại

Trang 21

Và hiện nay các nhà kinh doanh trong ngành có nhiều cơ hội tiếp cận với thị trường trang sức vàng bạc thế giới , nhận rõ khoảng cách khá xa về kỹ thuật giữa mình và các nước trong khu vực , từ đó đã có sự lượng gía và điều chỉnh cung cách quản lý điều hành và xây dựng chiến lược cho mình

Đánh giá khó khăn và thuận lợi của ngành trang sức vàng bạc :

- Ngành có tỷ suất lợi nhuận khá cao so với các ngành công nghiệp nhẹ khác như may , da giày

- Các nước trên thế giới và đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN đã phát triển ngành trước ta từ hơn hai mươi năm , do đó ta có cơ hội để học tập và rút kinh nghiệm từ các nước đi trước

- Định hướng phát triển ngành trang sức vàng bạc trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đất nước là chủ trương đúng đắn , nhưng chính sách và biện pháp cụ thể để đẩy nhanh tốc độ , trình độ của ngành thì chưa rõ nét

Trang 22

mực quốc tế

- Do chưa được định hướng chiến lược, do đó hiện nay ngành phát triển một cách tự phát ,manh mún , khó khăn cho việc công nghiệp hóa sản xuất trong ngành

- Chính sách Nhà nước chưa phân tách rõ ràng : vàng tiền tệ và trang sức bằng vàng để quản lý cho phù hợp

- Chính sách thuế còn nhiều bất cập , khiến các doanh nghiệp nhất là khối doanh nghiệp tư nhân không dám đầu tư công khai

Nói chung ngành trang sức của TP Hồ chí Minh còn chưa đủ tầm cỡ về quy mô và năng lực của ngành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của một đô thị trung tâm lớn của cả nước Nếu được trang bị thêm máy móc , công nghệ hiện đại kết hợp với đào tạo đội ngũ công nhân có tay nghề cao , thì mục tiêu vươn tới hàng năm khoảng 60 tấn vàng (bằng 45% Indonesia ) trong đó khoảng 50-60% dành cho xuất khẩu là một khả năng hiện thực

2.2- Phân tích môi trường hoạt động ngành trang sức vàng bạc TPHCM: 2.2.1- Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô :

2.2.1.1- Yếu tố chính trị :

Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc khối xã hội chủ nghĩa cũ đang chuyển sang quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường Tình hình chính trị ở Việt nam khá ổn định , định hướng phát triển kinh tế –xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam phù hợp với xu hướng của thời đại , có sức thu hút các nhà đầu

tư trong và ngoài nước Việt nam đã có quan hệ ngoại giao với 160 nước và có quan hệ mua bán với trên 100 nước , các Công ty của hơn 50 quốc gia đã đầu

tư trực tiếp vào Việt Nam Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế đã và đang dành cho Việt nam viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay để phát triển

Trang 23

Trong phần đánh gía tình hình , báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa 7 , tại đại hội 8 , phần nêu thành tưụ có ghi :”Chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị , độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới , tiếp tục thực hiện có kết quả việc điều chỉnh chiến lược quốc phòng , an ninh Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị , phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại với nhiều nước trên thế giới như :khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị , hợp tác nhiều mặt với Trung quốc , phát triển quan hệ với các nước trong khu vực , trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức ASEAN , củng cố quan hệ hữu nghị với nhiều nước truyền thống (Nga , các nước Đông âu ) , mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp phát triển , bình thường hóa quan hệ với Mỹ , thiết lập và mở rộng quan hệ với nhiều nước Nam Á , Nam Thái Bình Dương , Trung Đông , Châu Mỹ La tinh

Tháng 2 năm 1994 , lệnh cấm vận về phía Mỹ đối với Việt nam đã được bãi bỏ , hai nước nối lại quan hệ ngoại giao vào tháng 7-1995

Như vậy , sự ổn định chính trị ở Việt Nam đã giúp chính phủ nước ta thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia trên thế giới , giúp cho các doanh nghiệp Việt nam nói chung và doanh nghiệp ngành nữ trang nói riêng có cơ hội quan hệ thương mại với nước ngoài , đổi mới được công nghệ sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa

Tuy nhiên , tình hình này cũng làm cho các doanh nghiệp Việt nam phải đương đầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn , cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài

2.2.1.2-Yêú tố luật pháp :

Nhà nước Việt nam ban hành một số bộ luật kinh tế như : Luật công ty ,

Trang 24

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam , Luật khuyến khích đầu tư trong nước , Luật thương mại và gần đây nhất là luật doanh nghiệp , luật thương mại Trong đó đã tạo cơ hội để phát triển kinh tế nhiều thành phần , các nhà đầu

tư yên tâm lựa chọn ngành nghề để sản xuất - kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam Hệ thống luật pháp Việt Nam đang được hoàn chỉnh , bổ sung , sửa đổi dần đã tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp

Ngoài ra , nội dung luật thương mại có những điều kiện hổ trợ cho việc xúc tiến bán hàng của các doanh nghiệp Điều 6 – Luật thương mại :” Nhà nước bảo hộ quyền hoạt động thương mại hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân hoạt động Thương nhân được cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động Tuy nhiên , do thiếu văn bản hướng dẫn dưới luật nên việc áp dụng gặp nhiều khó khăn.Bên cạnh đó luật thuế còn nhiều bất cập , giữa doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân còn nhiều bất hợp lý khiến cạnh tranh không lành mạnh

Từ 1-1-1999 , luật thuế Gía trị gia tăng (VAT) được áp dụng nhằm khắc phục nhược điểm của Luật thuế doanh thu Về lý thuyết , luật thuế VAT có nhiều ưu điểm , nhưng cũng còn nhiều hạn chế cần chỉnh sửa như thuế chưa khuyến khích đầu tư sản xuất , ,việc áp dụng thuế khấu trừ và thuế trực tiếp còn nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp

Ngoài ra Việt nam còn công nhận nhiều văn bản luật pháp quốc tế như : Công ứơc Quốc tế về quyền con người , Luật hàng hải và hàng không quốc tế Đồng thời , trong quan hệ mua bán với các quốc gia nước ngoài , các doanh nghiệp Việt nam còn phải thi hành hệ thống luật pháp của mỗi quốc gia có quan hệ

Như vậy về mặt luật pháp , các doanh nghiệp Việt nam đã và đang được

Trang 25

hệ thống luật pháp bảo vệ quyền lợi mình , dù vậy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp là một đòi hỏi khách quan

2.2.1.3 – Yếu tố kinh tế :

Từ năm 1986 , nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý , tạo điều kiện cho các ngành , các doanh nghiệp phát triển thuận lợi Thực tế đã chứng minh điều này : sản phẩm cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước ngày càng đa dạng , chất lượng ngày càng nâng cao , tốc độ phát triển kinh tế gia tăng đáng kể và kéo theo thu nhập bình quân đầu người trong cả nước nâng cao dần Những điều này dẫn đến nhu cầu cần thiết trong đời sống kinh tế – xã hội ngày càng gia tăng Nhu cầu này tạo cơ hội kinh doanh cho nhiều ngành , nhiều đơn vị kinh tế trong cả nước , trong đó nhu cầu hàng trang sức tăng lên rõ rệt và thực tế nhu cầu trong nước còn rất cao (Phụ lục 1)

2.2.1.4-Yếu tố văn hóa xã hội :

Văn hóa xã hội tác động đến ngành trang sức vàng bạc gồm văn hóa xã hội

của Việt nam và văn hóa các nước có quan hệ mua bán hàng trang sức Việt nam.Đối với khách hàng nội địa , mức sống ngày càng được nâng cao , hiểu biết về thẩm mỹ ngày càng được hoàn thiện , mối giao lưu giữa thành thị và nông thôn , giữa các cộng đồng dân tộc ngày càng mở rộng nên con người quan tâm nhiều đến hình thức bên ngoài Những yếu tố này đã thúc đẩy nhu cầu hàng trang sức vàng bạc ngày càng đa dạng về chủng loại , về mẫu mã , và nhất là với nét truyền thống hàng chạm trỗ hoa văn tinh tuý dân tộc luôn được ưa chuộng Đối với thị trường nước ngoài , mỗi quốc gia có đặc điểm văn hóa xã hội khác nhau , thị trường Châu Á khác với thị trường Châu Âu , do đó các doanh nghiệo ngành trang sức vàng bạc cần nghiên cứu kỹ văn hóa của từng quốc gia để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp mang tính cạnh tranh

Trang 26

cao Ví dụ thị trường ở Malayxia chuộng hàng trang sức bằng vàng 22 K (91,6% hàm lương vàng ) có khắc chạm trỗ, thị trường Canađa chuộng hàng trang sức bằng bạc , cưa lộng nhiều Qua nghiên cứu những nét văn hóa dân tộc riêng có của hàng trang sức vàng bạc , từ đó có định hướng chung cho ngành

2.2.2- Yếu tố thuộc môi trường vi mô :

2.2.2.1 – Tiềm lực về cung ứng :

Cần phát triển và đảm bảo nguồn cung ứng đầu vào cho ngành trang sức vàng bạc Thành Phố Hồ Chí Minh bằng nhiều cách :

- Khác thác nguồn tài nguyên sẵn có : hiện nay nước ta có tới 45 mỏ và điểm quặng vàng đã và đang được khai thác Tuy nhiên phương thức khai thác của những mỏ này cũng chỉ ở dạng thủ công , bán cơ khí với sản lượng từ 15 –

công tác khai thác mỏ theo quy mô công nghiệp , Nhà nước đã thành lập các Tổng công Ty vàng đá qúy và Tổng Công ty khoáng sản Việt nam để thống nhất và tập trung các đầu mối khai thác mỏ từ trung ương đến địa phương Trong vài năm gần đây , nhà nước đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vào thăm dò , lập liên doanh khai thác mỏ kim loại quý

Hiện nay cục địa chất Việt nam đã và đang tiến hành công tác đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản kim loại qúy Tổng Công Ty đá qúy và vàng Việt nam đã bắt đầu đi vào quy hoạch , thực hiện các nhiệm vụ thăm dò các vùng quặng , tạo cơ sở thiết kế đề án khai thác các mỏ kim loạïi qúy có quy mô công nghiệp Nhìn chung , trong điều kiện hiện nay và trong những năm tới , vấn đề quy hoạch tổng thể cho chính sách khai mỏ kim loại qúy và phát triển tài

Trang 27

nguyên ở Việt nam ngày càng có nhiều thuận lợi Mối quan hệ giữa các ngành , các bộ , các tỉnh , thành đã trở nên thực sự gắn bó trong bộ máy trách nhiệm quản lý cuả Nhà nước

-Nhập khẩu vàng bạc nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng trang sức và nhất là phục vụ xuất khẩu được Nhà nước đang khuyến khích

- Nguyện liệu vàng bạc còn tồn trong dân , đã từ lâu nhân dân ta có truyền thống dùng vàng làm phương tiện cất trữ và thanh toán , do đó nguồn vàng có trong dân là nguồn khá lớn

2.2.2 2-Tiềm năng thị trường :

Một nhà nghiên cứu thị trường nước ngoài đã có nhận xét : “ Qua hàng thế kỷ, người dân VN đã thể hiện sự tin tưởng rất lớn vào vàng ” Thật vậy , đối với người dân Việt nam , dù cuộc sống khó khăn hay ổn định , dù trong binh lửa hay hòa bình, vàng vẫn là món hàng được ưa chuộng Lúc dư dả , nhiều người vẫn thích mua vàng hơn là bỏ tiền vào Ngân hàng , còn khi khốn khó phải chắt chiu tiền bạc cho từng ngày thì có được chút tiền dành dụm , người ta cũng lại sắm vàng

Trong những năm gần đây , tương ứng với những bước chuyển mình đi lên đáng kể của nền kinh tế , mức tiêu thụ vàng nữ trang tăng vọt Theo số liệu nghiên cứu của Hội đồng vàng thế giới , mặc dù hiểu rằng vàng luôn là một trong những mặt hàng được ưa chuộng nhưng ta vẫn phải ngạc nhiên nếu biết rằng khi được hỏi “Trong vòng 12 tháng qua , bạn đã mua gì “, thì số người trả lời mua vàng dẫn đầu khá xa chiếm đến 35% trong khi người mua vật dụng bếp núc chỉ đứng thứ nhì với 24% , còn xe gắn máy và đồ điện tử đứng thứ ba 20% Lượng vàng bán ra tại TPHCM ước tính chiếm 70% lượng vàng bán ra trong cả nước Theo nghiên cứu điều tra tâm lý tiêu dùng về nữ

Trang 28

trang , thì người Việt Nam đi dự tiệc sinh nhật có 37% số người mua nữ trang để làm qùa tặng vào dịp này , sau đó mua cho đám cưới 18% , ngày kỷ niệm

12 %

Thị trường trang sức vàng bạc Việt Nam là một thị trường mới có sức tiêu thụ lớn , nhu cầu đa dạng , có mối quan hệ quốc tế rộng Vơí dân số gần 80 triệu người , có thể nói đây là một thị trường nhiều triển vọng , có tương lai Qua nghiên cứu nhu cầu tiêu thụ trang sức vàng bạc trong các năm gần đây có mức tăng trung bình 20%, riêng năm 1999 hàng trang sức vàng bạc đã tăng 25% so cùng kỳ năm trước (Bảng 5)

2 2.2.3- Tiềm lực về thị trường xuất khẩu :

Hàng trang sức vàng bạc ngày càng được ưa chuộng và được phát triển theo sự phát triển của loài người Những số liệu thống kê trong mấy thập kỷ qua cho thấy rõ ở thập kỷ 70 tỷ lệ vàng dùng làm trang sức là 58% trong tổng số vàng được tiêu thụ ở trên thế giới , song đến thập kỷ 80 , tỷ lệ này tăng lên trên 70% và đến thập kỷ 90 đạt khoảng 84% (nguồn tạp chí MNKH số 41/99).Hàng năm Mỹ vẫn phải nhập hàng tấn hàng trang sức vàng bạc , những nước như Nhật , Anh , Pháp , Đức , Tây ban Nha , Phần lan cũng có mức tiêu thụ hàng trang sức mạnh , hàng năm các nước này phải nhập vài chục tấn hàng trang sức vàng bạc Qua đó hàng trang sức Việt nam ta có nhiều cơ hội để khai thác tìm thị trường xuất khẩu nếu ta có hướng đi và chiến lược đúng Việt nam

ta có nhiều cơ hội để xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch Tổng số khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam tăng lên theo từng năm , năm 1998 tăng 54% so năm 1997 , năm 1999 tăng 79% so năm 1998 (Bảng 6), và theo nguồn dự báo thì từ nay đến năm 2010 , con số này tăng lên gấp bốn lần

Trang 29

Bảng 6 : Số lượng khách du lịch nước ngoài vào Việt nam 1997-1999

6,2 1,1

9,6 1,496

17,2 2,390

Theo kế hoạch của ngành du lịch VN và du lịch TPHCM , vào năm 2000 con

số khách du lịch nước ngoài vào TPHCM (bảng 7)

Bảng 7: Dự kiến khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam 2000-2010

-Dự kiến khách du lịch

nước ngoài vào TPHCM

- Dự kiến khả năng xuất

khẩu tại chỗ

người

sản phẩm

1.800.000 90.000

3.000.000 150.000

4.000.000200.000

Nguồn : Uỷ Ban nhân dân Thành Phố Hồ chí Minh

2 2.2.4- Đối thủ cạnh tranh của ngành trang sức vàng bạc Việt nam :

Đối thủ cạnh tranh của ngành được xem xét trên nhiều lãnh vực như :

+Hàng trang sức các loại không phải là vàng bạc : hiện nay trên thị đã

xuất hiện rất nhiều hàng trang sức các loại bằng thau , đồng gọi là hàng thời

trang gía rẻ , có độ bền rất kém và chỉ sử dụng vài lần là xuống mầu và lỗi

thời , đặc biệt là không mua bán lại được chỉ thích hợp cho một số đối tượng

tiêu dùng là những người trẻ tuổi hay người có thu nhập thấp

+ Hàng trang sức nhập lậu :.Hàng trang sức vàng bạc không chính thức

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm