Chương I : Lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp 1.1/ Khái niệm, chức năng, vai trò của công tác kế toán: 1.1.1/ Khái niệm về kế toán: Theo Điều lệ tổ chức kế toán nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2Lời mở đầu:
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Từ sau giai đoạn đổi mới, việc phát triển kinh tế nhiều thành phần đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển nhanh chóng về số lượng trong các ngành, trên các miền đất nước Bên cạnh đó, công tác kế toán trong các doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh theo yêu cầu của luật Doanh nghiệp tư nhân và luật Công ty
Khoản 6 điều 25 luật Doanh nghiệp tư nhân (ngày 21/12/1990) quy định:
“ Chủ Doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ ghi chép sổ sách kế toán và quyết toán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính”
Khoản 5 điều 13 Luật Công ty ( ngày 21/12/1990) quy định:
“ Công ty có nghĩa vụ ghi chép sổ sách kế toán và quyết toán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính”
Do các yêu cầu trên, hầu hết các doanh nghiệp, công ty khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều thực hiện việc ghi chép sổ kế toán và lập các báo cáo kế toán định kỳ
Rõ ràng là yêu cầu của công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tư nhân đã được hình thành dưới sự tác động từ bên ngoài, chứ không xuất phát từ yêu cầu bên trong của doanh nghiệp
Do vậy, khi cơ quan thuế địa phương, cơ quan nhà nước tiếp xúc thường xuyên với doanh nghiệp, không chấp nhận mức thuế doanh nghiệp kê khai theo sổ sách, mà tiến hành thu thuế theo mức thuế khoán, thì công tác kế toán trong các doanh nghiệp này đã không còn cần thiết, và đã có một khoảng thời gian dài, hầu hết các doanh nghiệp nộp thuế khoán đều không tổ chức mở sổ sách kế toán theo quy định của Luật Doanh nghiệp cũng như Luật công ty
Tuy nhiên, khi luật Thuế Giá trị gia tăng được phổ biến và có hiệu lực thi hành từ thời điểm 01/01/1999 thì tình hình lại chuyển biến theo một hướng khác Một trong các yêu cầu để các doanh nghiệp có thể nhận hoá đơn giá trị gia tăng, cũng như được kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, đó là yêu cầu về ghi chép sổ kế toán và yêu cầu về báo cáo kế toán định kỳ
Dưới tác động điều chỉnh của Luật thuế Giá trị gia tăng, từ đầu năm 1999, đã có hàng loạt doanh nghiệp bắt đầu tổ chức ghi sổ kế toán Với quy mô nhỏ, nghiệp vụ kinh tế không phức tạp, công việc chủ yếu là lập các báo cáo thuế và báo cáo kế toán; hầu như các doanh
Trang 3nghiệp đều chỉ thuê một kế toán để làm công tác ghi sổ kế toán đối với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp Và đây chính là cơ sở hình thành mô hình kế toán một người trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
2/ Mục đích của đề tài:
Mô hình kế toán một người là một mô hình mới, và có xu hướng phát triển trong suốt giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa đất nước Mô hình này không được hình thành từ sự tự vận động của nền kinh tế thị trường, mà xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước, do vậy bản thân nó tồn tại nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu
Mục đích của đề tài này là phản ảnh các đặc trưng riêng có của mô hình kế toán một người, các ưu điểm và hạn chế của nó, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình theo hướng có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung, và cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nói riêng
3/ Yêu cầu của đề tài:
Do tính chất của đề tài là nghiên cứu về một mô hình đang có trong thực tế, do vậy chúng tôi sẽ không đi sâu vào lĩnh vực lý thuyết, hoặc đưa ra các dự báo tương lai Yêu cầu của đề tài trước hết là phản ảnh trung thực mô hình kế toán một người trong các doanh nghiệp hiện nay; đối chiếu với cơ sở lý luận truyền thống về kế toán để phân tích các ưu điểm, các hạn chế của mô hình Cũng từ đó, trên cơ sở một số lý thuyết kế toán mới, sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình, trên cơ sở phát huy các ưu điểm, khắc phục các hạn chế, từ đó tiếp tục định hướng cho mô hình phát triển phù hợp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
4/ Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài này sử dụng phương pháp lý luận duy vật Mác xít làm cơ sở; trong quá trình đánh giá thực trạng đã sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích hệ thống hóa; quá trình đề xuất giải pháp đã sử dụng phương pháp mô hình hóa
Do thời gian nghiên cứu đề tài không nhiều, quy mô nghiên cứu mang tính địa phương, kiến thức còn hạn chế Chắc chắn đề tài này sẽ không tránh khỏi một số thiếu sót nhất định Chúng tôi hy vọng sẽ nhận được những đóng góp quý báu của nhà trường, các cơ quan quản lý nhà nước địa phương, các chủ doanh nghiệp; nhằm bổ sung và hoàn chỉnh đề tài được tốt hơn, sâu sắc hơn, góp phần phục vụ thiết thực cho nhà trường và cho xã hội
Trang 4Chúng tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các ý kiến tham gia vào đề tài này
Nội dung luận án bao gồm :
Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức kế toán doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng của mô hình kế toán một người trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Định hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện mô hình kế toán một người trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trang 5Chương I : Lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp
1.1/ Khái niệm, chức năng, vai trò của công tác kế toán:
1.1.1/ Khái niệm về kế toán:
Theo Điều lệ tổ chức kế toán nhà nước thì khái niệm về công tác kế toán được xác định như sau:
“ Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn của nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp”
Hay” Kế toán là công việc tính toán, ghi chép bằng con số biểu hiện giá trị tiền tệ tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các đơn vị cơ quan xí nghiệp”
Theo sách giáo khoa “ Kế Toán Đại Cương” của Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM thì “ kế toán là sự ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh qua các tài khoản của kế toán:
- Ghi chép trên các chứng từ, tài liệu và sổ sách kế toán
- Ghi chép về những tình trạng thay đổi của các sự giao dịch, quan hệ với nhau
- Ghi chép, phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi đối với tài sản của doanh nghiệp”
Qua hai khái niệm trên, có thể thấy được một khái niệm chung nhất về kế toán như sau:
“ Kế toán là quá trình ghi chép, thu thập, xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng một ngôn ngữ riêng, từ đó cung cấp các thông tin cần thiết cho chủ doanh nghiệp, các
cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các bên có yêu cầu”
1.1.2/ Nhiệm vụ của kế toán:
Kế toán có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Giúp cho chủ doanh nghiệp bảo vệ tài sản của mình, thông qua việc phản ảnh trung thực, chính xác số thực có của tài sản, tiền vốn tại doanh nghiệp
- Phản ảnh tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế tài chính của doanh nghiệp, thông qua việc đối chiếu các số liệu kế hoạch với các báo báo kế toán tài chính định kỳ
Trang 6- Kiểm tra việc chấp hành chính sách, chế độ về kinh doanh thương mại, về kế toán tài chính, thông qua việc giám sát các chứng từ ban đầu ở đầu vào và đầu ra
- Phát hiện các tiềm năng của doanh nghiệp thông qua việc phân tích các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
1.1.3/ Vai trò của kế toán:
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, kế toán giữ một vai trò quyết định trong quá trình quản lý xí nghiệp, do bởi việc nắm giữ các thông tin tài chính chủ yếu của xí nghiệp quốc doanh Ngày nay, trong thời kỳ kinh tế thị trường, vai trò của công tác kế toán đã thu hẹp xoay quanh việc cung cấp các thông tin tài chính, xử lý và đánh giá thông tin, đồng thời đưa ra các dự báo về kết quả hoạt động kinh doanh khi có yêu cầu Về lĩnh vực này, vai trò của kế toán là hết sức quan trọng, do bởi các yếu tố sau:
- Thông tin do kế toán cung cấp giúp nhà quản lý ra quyết định đúng đắn, tính được hiệu quả công việc của mình và từ đó định hướng hoạt động cho tương lai
- Thông qua việc tổ chức công tác kế toán, kế toán giúp cho chủ doanh nghiệp nắm rõ tình hình tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những quyết định để điều hòa nguồn vốn trong kinh doanh theo hướng có lợi nhất, đảm bảo không bị thất thoát, tổn hại
- Cung cấp các thông tin ra bên ngoài, cho các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhà nước
1.2/ Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp:
Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp là tổ chức việc sử dụng các phương pháp kế toán để thực hiện việc ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh phù hợp với chính sách, chế độ hiện hành, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo tốt việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của kế toán
Tổ chức công tác kế toán một cách thích ứng với điều kiện về quy mô, về đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như gắn với những yêu cầu quản lý cụ thể tại doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tại doanh nghiệp
Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn với đặc thù của
Trang 7hạch toán kế toán, đảm bảo được tính linh hoạt, hiệu quả và đồng bộ; nhằm đạt tới mục tiêu chung là tăng cường được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3/ Các nguyên tắc tổ chức công tác kế toán
1.3.1/ Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với quy định hiện hành:
Việc ban hành chế độ, thể lệ kế toán của Nhà nước nhằm mục đích quản lý thống nhất công tác kế toán trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nên tổ chức công tác kế toán phải dựa trên cơ sở chế độ chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp, chế độ sổ sách kế toán, hệ thống báo cáo kế toán mà Nhà nước đã quy định để vận dụng một cách phù hợp với đơn vị mình
1.3.2/ Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý của doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm và điều kiện riêng Do đó không thể có một mô hình công tác kế toán chung cho tất cả các doanh nghiệp Để tổ chức tốt công tác kế toán doanh nghiệp, đảm bảo phát huy đầy đủ vai trò, tác dụng của kế toán đối với công tác quản lý doanh nghiệp thì việc tổ chức kế toán phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động và quy mô của doanh nghiệp, cơ chế và sự phân cấp quản lý của doanh nghiệp, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên kế toán
1.3.3/ Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả:
Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của công tác tổ chức nói chung và tổ chức công
tác kế toán nói riêng vì không thể tổ chức công tác kế toán “ với bất kỳ giá nào” Thực hiện
nguyên tắc này phải đảm bảo tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý, thực hiện tốt nhất các chức năng, nhiệm vụ của kế toán, chất lượng công tác kế toán đạt được mức cao nhất với chi phí tiết kiệm nhất
1.3.4/ Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp phải đảm bảo kết hợp tốt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị:
Kế toán tài chính và kế toán quản trị là hai loại kế toán có những điểm khác nhau về đối tượng sử dụng thông tin, đặc điểm của thông tin, phạm vi thông tin, kỳ báo cáo….Tuy nhiên, cả hai có điểm giống nhau là đều dựa trên cùng một cơ sở hạch toán ban đầu, đều thu thập, xử lý, cung cấp thông tin kinh tế của doanh nghiệp Do đó, khi tổ chức công tác kế toán phải
Trang 8nghiên cứu để kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị nhằm làm cho các loại kế toán cùng phát huy tác dụng một cách tốt nhất
1.4/ Nội dung tổ chức công tác kế toán
Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp là việc tổ chức thực hiện hạch toán ban đầu; phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng các phương pháp kế toán phù hợp Nội dung cụ thể của tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp bao gồm:
1.4.1/ Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán:
Hạch toán ban đầu là khâu đầu tiên, quan trọng của tổ chức công tác kế toán Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải lập chứng từ kế toán làm cơ sở cho việc ghi sổ kế toán
Chế độ chứng từ kế toán hiện hành được quy định bởi quyết định số TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính bao gồm 5 loại chứng từ:
1141 Chứng từ về lao động tiền lương 9 mẫu
- Chứng từ kế toán về hàng tồn kho 8 mẫu
- Chứng từ kế toán về tiền tệ 7 mẫu
- Chứng từ kế toán về tài sản cố định 5 mẫu
Các chứng từ kế toán được chia ra làm 2 loại:
Loại chứng từ kế toán bắt buộc là những chứng từ kế toán phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân Đối với các loại chứng từ này, Nhà nước quy định thống nhất về quy cách, mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh và phương pháp lập
Loại chứng từ kế toán hướng dẫn chủ yếu là những chứng từ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp Đối với hệ thống chứng từ kế toán này, Nhà nước chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu cơ bản Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện cụ thể mà các doanh nghiệp có thể thêm, bớt hoặc thay đổi thiết kế mẫu biểu
Tùy vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cụ thể, kế toán sẽ vận dụng hệ thống chứng từ kế toán cho phù hợp trong tất cả các bước: lập chứng từ, kiểm tra chứng từ, ghi sổ, bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán
1.4.2/ Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán:
Trang 9Trong chế độ kế toán doanh nghiệp, hệ thống tài khoản là nội dung quan trọng nhất Việc tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán có ý nghĩa lớn đối với toàn bộ công tác tổ chức kế toán trong doanh nghiệp
Theo chế độ kế toán hiện hành, có hai hệ thống tài khoản áp dụng cho doanh nghiệp, đó là:
- Hệ thống tài khoản áp dụng cho doanh nghiệp ban hành theo quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính và thông tư số 10-TC/CĐKT ngày 20/3/1997 của Bộ tài chính gồm 73 tài khoản phân thành 9 loại và 7 tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán
- Hệ thống tài khoản áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo quyết định số 1177-TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1996 gồm 32 tài khoản và 6 tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán
Dựa vào hệ thống tài khoản kế toán do Nhà nước ban hành, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động của doanh nghiệp, kế toán trưởng nghiên cứu, lựa chọn, xây dựng danh mục những tài khoản áp dụng ở doanh nghiệp và quy định rõ phương pháp vận dụng các tài khoản này Việc vận dụng hệ thống tài khoản phải đảm bảo phản ánh đầy đủ, cụ thể mọi nội dung đối tượng hạch toán, mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
1.4.3/ Tổ chức vận dụng hình thức kế toán:
Hình thức thức kế toán là hệ thống tổ chức sổ kế toán bao gồm số lượng sổ, kết cấu mẫu sổ, mối quan hệ giữa các loại sổ để thực hiện việc ghi chép, phản ánh, hệ thống hóa và tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán nhằm cung cấp những chỉ tiêu kế toán cần thiết cho việc lập các báo cáo tài chính theo trình tự và phương pháp nhất định
Có 4 hình thức kế toán đang được áp dụng trong các doanh nghiệp hiện nay:
- Hình thức kế toán Nhật ký sổ cái
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
- Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ
- Hình thức kế toán Nhật ký chung
Mỗi hình thức kế toán có một đặc điểm riêng, ưu và nhược điểm khác nhau, thích hợp với từng doanh nghiệp cụ thể có những đặc điểm, điều kiện riêng Kế toán trưởng căn cứ vào điều kiện áp dụng của từng hình thức kế toán và đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh
Trang 10nghiệp, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán, khả năng trang bị cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật tính toán và thông tin kinh tế của doanh nghiệp để lựa chọn vận dụng một hình thức kế toán phù hợp, đảm bảo phát huy được ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của hình thức kế toán mà doanh nghiệp lựa chọn
1.4.4/ Tổ chức lập báo cáo kế toán:
Báo cáo kế toán cung cấp những thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán Báo cáo kế toán là công việc cuối cùng trong quá trình xử lý các thông tin kế toán
Báo cáo kế toán được phân thành hai loại: báo cáo kế toán tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Đối với báo cáo kế toán tài chính phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, thường mang tính bắt buộc, kế toán phải lập định kỳ theo đúng mẫu biểu quy định
Đối với báo cáo kế toán quản trị phục vụ chủ yếu cho những người quản trị doanh nghiệp, kế toán phải xây dựng nội dung, chỉ tiêu và phương pháp tính thích hợp, phù hợp với yêu cầu thông tin về quản trị doanh nghiệp Việc lập các báo cáo kế toán quản trị phải đảm bảo các yêu cầu trung thực, khách quan, toàn diện, kịp thời
1.4.5/ Tổ chức bộ máy kế toán:
Tổ chức bộ máy kế toán bao gồm nhiều công việc khác nhau, liên quan chặt chẽ với nhau như: lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán, xác định các phần hành kế toán và phân công lao động kế toán Việc tổ chức bộ máy kế toán phải lấy chất lượng, hiệu quả công việc làm thước đo, sao cho thu thập thông tin vừa đầy đủ, kịp thời, chính xác, vừa tiết kiệm chi phí
Kế toán trưởng phải căn cứ vào đặc điểm về quy mô, trình độ và tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình phân cấp và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, điều kiện trang bị kỹ thuật, trình độ nghiệp vụ của nhân viên kế toán để lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán cho phù hợp Các mô hình tổ chức bộ máy kế toán hiện nay thường theo các dạng sau:
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung:
Theo mô hình này, toàn bộ công việc kế toán từ khâu thu nhận, xử lý, luân chuyển chứng từ, ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán… đều được tập trung thực hiện tại phòng kế toán của doanh nghiệp, các đơn vị phụ thuộc không có bộ phận kế toán riêng mà chỉ có một số nhân
Trang 11viên kinh tế làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra, tổng hợp, phân loại chứng từ phát sinh ở đơn vị phụ thuộc, sau đó gửi chứng từ về phòng kế toán đơn vị chính
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán:
Theo mô hình này, ở các đơn vị phụ thuộc đều có tổ chức bộ máy kế toán riêng, làm nhiệm vụ thu nhận, kiểm tra, xử lý chứng từ kế toán, thực hiện việc hạch toán tổng hợp, hạch toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị phụ thuộc theo sự phân cấp quản lý trong doanh nghiệp, định kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán doanh nghiệp Phòng kế toán doanh nghiệp thực hiện việc tổng hợp số liệu báo cáo của các đơn vị trực thuộc; hạch toán thêm các nghiệp vụ phát sinh chung của doanh nghiệp, lập báo cáo kế toán của toàn doanh nghiệp, kiểm tra kế toán trong toàn doanh nghiệp
- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán:
Theo mô hình này, trong doanh nghiệp sẽ có những đơn vị phụ thuộc có tổ chức kế toán riêng, nhưng cũng có những đơn vị không có kế toán riêng
Đối với những đơn vị phụ thuộc hoạt động tương đối toàn diện, ở xa trụ sở chính của doanh nghiệp, sẽ tổ chức kế toán riêng, hạch toán các nghiệp vụ phát sinh ở đơn vị mình, định kỳ lập báo cáo gửi về phòng kế toán doanh nghiệp Những đơn vị này thực hiện hạch toán mang tính chất phân tán
Đối với những đơn vị trực thuộc có quy mô nhỏ hoặc ở gần trụ sở chính của doanh nghiệp, sẽ không tổ chức kế toán riêng, chỉ bố trí một số nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu thập, xử lý, kiểm tra chứng từ sau đó gửi về phòng kế toán doanh nghiệp Những đơn vị này thực hiện hạch toán mang tính chất tập trung
Phòng kế toán doanh nghiệp có nhiệm vụ hạch toán các nghiệp vụ phát sinh tại các phòng ban của doanh nghiệp, các đơn vị phụ thuộc không có tổ chức kế toán riêng, cũng như tổng hợp báo cáo kế toán của các đơn vị phụ thuộc có tổ chức kế toán riêng, lập báo cáo kế toán toàn doanh nghiệp
1.4.6/ Tổ chức kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ:
Kiểm tra kế toán và kiểm toán là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức công tác kế toán Công việc kiểm tra kế toán thường do một bộ phận nhân viên kế toán tiến hành theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của kế toán trưởng nhằm kiểm tra toàn diện tất cả các khâu của quá trình hạch toán, tất cả các nội dung của tổ chức công tác kế toán.Kiểm toán nội bộ
Trang 12cũng nhằm mục đích kiểm tra xác nhận tính chính xác, trung thực, khách quan của số liệu kế toán Nhưng kiểm toán nội bộ không phải do nhân viên kế toán thực hiện mà có một bộ phận chuyên trách kiểm toán nội bộ, không thuộc phòng kế toán Bộ phận này trực thuộc và báo cáo trực tiếp kết quả kiểm toán cho giám đốc công ty (hay chủ doanh nghiệp)
Trên đây là các cơ sở lý luận truyền thống về tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp Đây chính là cơ sở lý luận nền tảng nhằm soi rọi và định hướng cho mô hình kế toán một người Trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu về thực trạng của mô hình kế toán một người trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
Trang 132.1.1/ Về quy mô:
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, do hạn chế bởi một số quy định về tổ chức bộ máy kế toán, nên không thể tổ chức theo mô hình kế toán một người Quá trình khảo sát các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cho thấy: không có doanh nghiệp nhà nước nào, kể cả doanh nghiệp làm kinh tế Đảng, áp dụng mô hình kế toán một người
Đối với các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 100% và các doanh nghiệp thuộc loại hình liên doanh giữa trong nước và nước ngoài, thì mô hình kế toán một người được áp dụng trong một số doanh nghiệp Đặc điểm chung của các doanh nghiệp nước ngoài khi áp dụng mô hình kế toán một người là:
- Có quy mô nhỏ ( nguồn vốn đầu tư dưới 10 triệu USD)
- Có phần mềm kế toán chuyên dụng
Tỷ lệ các doanh nghiệp nước ngoài áp dụng mô hình kế toán một người vào khoảng 2 – 5 % các doanh nghiệp có trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Có thể kể ra các doanh nghiệp áp dụng mô hình kế toán một người khá hiệu quả như: công ty liên doanh Sáng Tạo (Uùc), công ty RosTaint (Pháp), công ty Hiệp Đạt (Đài Loan)…
Tuy nhiên, mô hình kế toán một người tập trung phát triển trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
Như trên đã nêu, do yêu cầu của việc tổ chức kế toán tài chính tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là cung cấp thông tin cho bên ngoài, trước hết và chủ yếu nhất là cơ quan thuế; đồng thời phải đảm bảo chi phí quản lý ở mức thấp nhất; nên hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đều áp dụng mô hình kế toán một người
Các doanh nghiệp này đều có một số đặc điểm chung là nghiệp vụ kinh tế phát sinh đơn giản, cụ thể như: chủng loại vật tư, hàng hóa không nhiều; không có công nợ lớn; thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt; tài sản cố định ổn định, chi phí quản lý phát sinh đều đặn, thường xuyên…
Trang 14Các doanh nghiệp thương mại – dịch vụ, các doanh nghiệp sản xuất một loại sản phẩm, các doanh nghiệp làm đại lý phân phối sản phẩm đều tỏ ra thích hợp với mô hình kế toán một người
Mẩu khảo sát sau cho thấy quy mô của sự phát triển mô hình kế toán một người trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai
MẨU KHẢO SÁT CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
- Huyện Long Thành
- Huyện Long Khánh
2.1.2/ Về tốc độ phát triển:
Dưới tác động của Luật thuế Giá trị gia tăng, mô hình kế toán một người phát triển với một tốc độ khá cao, lan rộng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Hầu hết các doanh nghiệp áp dụng mô hình này trước thời điểm năm 1999, nay vẫn tiếp tục sử dụng, trên cơ sở cập nhật các phần mềm kế toán, làm công cụ phục vụ đắc lực cho doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp lần đầu tiên tổ chức ghi sổ kế toán, tất cả đều lựa chọn mô hình kế toán một người Đa số các công việc kế toán ban đầu đều được thực hiện bằng phương pháp thủ công Sau đó, khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều hơn; thì doanh nghiệp sẽ
Trang 15tăng cường hổ trợ công tác kế toán bằng máy vi tính, qua các phần mềm ứng dụng hoặc phần mềm kế toán chuyên biệt Chủ doanh nghiệp thường thiên về xu hướng tăng cường các trang bị kỹ thuật tin học cho công tác kế toán khi khối lượng công việc tăng lên, mà không chọn phương án tuyển thêm nhân sự về kế toán Tâm lý các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngại một bộ máy quản lý cồng kềnh, ngại thông tin bên trong doanh nghiệp bị tiết lộ, thích đơn giản và tiết kiệm chi phí
Hình thức này chỉ xuất hiện trong loại hình doanh nghiệp tư nhân, thuộc thành phần kinh tế tư nhân trong nước
2.1.3.2/ Giao khoán:
Đối với các doanh nghiệp không có khả năng tự làm, nhưng nghiệp vụ kinh tế phát sinh đơn giản, không nhất thiết phải thuê kế toán viên, mà chỉ thuê công việc kế toán hàng tháng Người được thuê không bắt buộc phải có mặt thường xuyên tại doanh nghiệp Các công việc được thuê cụ thể như sau:
- Lập chứng từ ban đầu: Chủ doanh nghiệp cung cấp hóa đơn đầu vào, hóa đơn đầu
ra, và các chứng từ bên ngoài Kế toán có trách nhiệm lập các chứng từ còn lại như: phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho nội bộ…
Định kỳ 10 ngày hoặc 15 ngày mỗi tháng, kế toán đến các doanh nghiệp để lập các chứng từ ban đầu Ở một số các doanh nghiệp, kế toán có thể đem các chứng từ, tài liệu do chủ doanh nghiệp cung cấp về vào sổ tại nhà, hôm sau mới giao lại cho doanh nghiệp
Trang 16- Ghi chép sổ sách kế toán: Căn cứ vào các chứng từ ban đầu đã lập, kế toán vào sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp theo định kỳ hàng tháng hoặc nữa tháng
- Lập báo cáo thuế, báo cáo kế toán, báo cáo thống kê: Định kỳ hàng tháng, quý, năm… Kế toán sẽ lập các báo cáo thuế, báo cáo kế toán, báo cáo thống kê theo yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước Thông thường, chủ doanh nghiệp sẽ thanh toán tiền lương hàng tháng sau khi kế toán viên đã lập xong các báo cáo theo yêu cầu
- Các công việc khác: Ngoài các công việc kê trên, người kế toán còn phải làm thêm một số công việc có liên quan khi các cơ quan quản lý nhà nước có yêu cầu như:
- Lập dự toán thu chi hàng năm
- Khai trên các phiếu kê khai, phiếu điều tra doanh nghiệp…
- Lập danh sách trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…
- Thảo công văn về các vấn đề kế toán, tài chính, thống kê trong doanh nghiệp trình các cơ quan quản lý nhà nước theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp
- Tiếp và giải trình về sổ sách kế toán đối với các đoàn kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền
Hình thức giao khoán kế toán này thường xuất hiện trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc thành phần kinh tế tư nhân trong nước
2.1.3.3/ Thuê kế toán:
Đây là hình thức kế toán cao nhất trong các hình thức tổ chức mô hình kế toán một người Trong trường hợp này, chủ doanh nghiệp sẽ giao các công việc cho kế toán tương tự như trường hợp giao khoán đã nêu ở trên Tuy nhiên người kế toán phải có mặt thường xuyên tại doanh nghiệp mỗi ngày Ở một số doanh nghiệp, kế toán còn được giao thêm việc lập các hóa đơn đầu ra và lập các báo cáo kế toán quản trị khác, do chủ doanh nghiệp yêu cầu
Hình thức này xuất hiện phổ biến trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nếu áp dụng mô hình kế toán một người, chỉ áp dụng theo hình thức này
Trang 17Mẫu khảo sát dưới đây cho thấy sự tồn tại của 3 hình thức tổ chức mô hình kế toán
một người trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:
Tự làm
Giao khoán công việc
Thuê kế toán
2.2/ Những ưu điểm của mô hình kế toán một người:
2.2.1/ Chi phí thấp:
Ưu điểm đầu tiên của mô hình kế toán một người là có chi phí thấp
Đây chính là ưu điểm lớn nhất, đủ để thu hút các chủ doanh nghiệp lựa chọn mô hình
kế toán một người Rõ ràng là sự trả công cho một lao động bao giờ cũng thấp hơn là sự trả
công cho hai lao động
Đối với các trường hợp giao khoán, mức trả công thông thường từ 300.000 đ/tháng –
600.000 đ/tháng; trong các trường hợp thuê kế toán trực tiếp, mức lương dao động từ 600.000
đ/tháng – 2.000.000 đ/tháng đối với các doanh nghiệp trong nước, và từ 1.500.000 đ/tháng đến
5.000.000 đ/tháng đối với các doanh nghiệp nước ngoài
2.2.2/ Bộ máy đơn giản:
Ưu điểm thứ hai của mô hình kế toán một người là sự đơn giản của bộ máy kế toán
Qua các hình thức tổ chức kế toán vừa nêu ở trên, có thể nhận ra ngay đây chính là
hình thức tối giản mà bộ máy kế toán có thể có Sự đơn giản trong tổ chức bộ máy chính là ưu
thế so với các mô hình tổ chức bộ máy kế toán khác, vì trong các doanh nghiệp trên địa bàn
Tỉnh Đồng Nai, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ, đều thích sự đơn giản trong bộ máy kế toán nói
riêng, cũng như bộ máy quản lý nói chung
Tính đơn giản của bộ máy còn giúp cho chủ doanh nghiệp có thể cải cách, thay đổi bộ
máy kế toán cho phù hợp với tình hình phát triển của doanh nghiệp
2.2.3/ Tính linh hoạt cao:
Trang 18Ưu điểm thứ ba của mô hình là tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao của bộ máy kế toán
Do chỉ có một kế toán, việc điều chỉnh, sửa chữa các bút toán khi phát hiện sai sót được thực hiện một cách nhanh chóng, nhất là trong điều kiện có máy vi tính hổ trợ Các yêu cầu điều chỉnh của chủ doanh nghiệp về mặt kế toán như: điều chỉnh dự toán, bổ sung nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thay đổi mức phân bổ định kỳ… đều được đáp ứng kịp thời
Khả năng thích ứng cao của mô hình còn thể hiện qua việc thay đổi các phương pháp kế toán dễ dàng tại thời điểm đầu năm tài chính Theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp, kế toán có thể lưạ chọn, thay đổi các phương pháp kế toán trong việc xác định vật tư, hàng hóa tồn kho (bằng phương pháp kê khai thường xuyên hoặc định kỳ); trong việc xác định giá vốn hàng bán (bằng phương pháp thực tế đích danh, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước hoặc bình quân gia quyền) cũng như các phương pháp xác định sản phẩm dở dang cuối kỳ; các phương pháp tập hợp, phân bổ chi phí và các phương pháp tính giá thành sản phẩm
2.2.4/ Trách nhiệm cụ thể:
Ưu điểm thứ tư của mô hình kế toán một người là việc chịu trách nhiệm cụ thể của bộ máy kế toán
Tất nhiên, trong mọi trường hợp, chủ doanh nghiệp sẽ là người chịu trách nhiệm chính về báo cáo tài chính cũng như các báo cáo khác của doanh nghiệp mình
Trách nhiệm ở đây được xác định trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, cụ thể là giữa chủ doanh nghiệp và kế toán Sau khi nhận các chứng từ đầu vào và đầu ra, kế toán có trách nhiệm hoàn thành các sổ sách và lập các báo cáo theo yêu cầu Các sai sót trong quá trình lập sổ sách cũng như các báo cáo kế toán, thống kê; các báo cáo thuế, thuộc về trách nhiệm của người kế toán, và duy nhất một người chịu trách nhiệm
Ưu điểm này còn thể hiện ở chỗ, người kế toán không biết, và không chịu trách nhiệm về các gian lận của doanh nghiệp, thường xuất hiện theo các chứng từ đầu vào hoặc đầu
ra Điều này thể hiện rõ trong các trường hợp giao khoán việc cho kế toán: chủ doanh nghiệp chịu toàn bộ trách nhiệm về tính hợp pháp của chứng từ ban đầu mà mình cung cấp Do vậy, khả năng gian lận của kế toán chắc chắn không thể xảy ra, trừ trường hợp có thỏa thuận với