Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Nhận thức được những lợi ích quan trọng trong việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong hơn 10 năm trở lại đây Việt Nam đã thực sự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TP H ồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TP H ồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 3MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4 Bố cục của luận văn CHƯƠNG I VẤN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1.1 VẤN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1 1.1.1 Xu thế toàn cầu hóa kinh tế 1 1.1.2 Sự cần thiết và tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế 2
1.1.3 Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (Worl Trade Organization–WTO) 3 – Bước tiến lớn trên đường hội nhập của các quốc gia : 1.2 TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (Worl Trade Organization – WTO) 6
1.2.1 Lịch sử hình thành WTO : 6 1.2.1.1 Từ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) đến Tổ chức 6
Thương mại Thế giới (WTO) : 1.2.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO : 8 1.2.2 Cơ cấu tổ chức của WTO : 8 1.2.2.1 Các cơ quan lãnh đạo và ra quyết định : 8 1.2.2.2 Cơ quan giám sát thực hiện các hiệp định thương mại đa phương 8
1.2.2.3 Cơ quan thực hiện chức năng hành chính – thư ký : 9
1.2.3 Các hiệp định cơ bản trong khuôn khổ WTO 9
1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản của WTO 10
1.2.4.1 Tự do hóa thương mại dần dần thông qua đàm phán 10
1.2.4.2 Luật lệ chính sách thương mại minh bạch và có thể dự đoán trước 11
1.2.4.3 Chống phân biệt đối xử 12
1.2.4.4 Khuyến khích cạnh tranh bình đẳng 12
1.2.4.5 Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế 12
1.2.5 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 13
Trang 41.2.6 Điều kiện và thủ tục gia nhập WTO 13
1.3 KINH NGHIỆM ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA MỘT SỐ NƯỚC 14
1.3.1 Về mở cửa thị trường và giảm thuế quan 15
1.3.2 Về các biện pháp phi quan thuế 15
1 .3.3 Về kiểm soát giá cả và trợ cấp xuất khẩu 15
1 3.4 Về doanh nghiệp quốc doanh và quyền kinh doanh xuất nhập khẩu 15
1.3.5 Về thương mại dịch vụ 16
1.3.6 Về mở cửa cho đầu tư nước ngoài 16
1.3.7 Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 16
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM 18
–THỰC TRẠNG, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC 2.1 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM 18
2.1.1 Những thành tựu đã đạt được trong quá trình hộâi nhập kinh tế quốc tế 18
2.1.1.1 Về thành quả thiết lập các quan hệ quốc tế 18
2.1.1.2 Thành tựu về phát triển kinh tế 21
2.1.2 Những kết quả đạt được trong quá trình đàm phán gia nhập WTO 23
2.1.3 Những điểm trong chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam chưa phù 25 hợp với quy định và nguyên tắc của WTO–Trở ngại của tiến trình gia nhập 2.1.3.1 Về nguyên tắc Không phân biệt đối xử 25
2.1.3.2 Về nguyên tắc Bảo hộ thông qua thuế quan 26
2.1.3.3 Về nguyên tắc tự do hóa, các ràng buộc cắt giảm thuế quan 27
2.1.3.4 Về quy định hoạt động hải quan 27
2.1.3.5 Về Thương mại dịch vụ 28
2.1.3.6 Về quyền sở hữu trí tuệ 28
2.2 NHỮNG CƠ HỘI CHO VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 29
2.2.1 Nâng cao vị thế của Việt Nam trên chính trường và thương trường 29
2.2.2 Tăng cường xuất khẩu, mở rộng thị trường 30
2.2.3 Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài 31
2.2.4 Hệ thống chính sách thương mại sẽ được hoàn thiện hơn 31
2.2.5 Tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo 31
đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh năng động sáng tạo 2.2.6 Cơ hội từ vị thế một nước đang phát triển 32
2.3 NHỮNG THÁCH THỨC KHI GIA NHẬP WTO 32
Trang 52.3.1 Về sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ 33
2.3.2 Về khả năng của các doanh nghiệp 35
2.3.3 Về hệ thống pháp luật về kinh tế thương mại 35
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH 36
VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 3.1 NHÓM GIÁI PHÁP NHẰM RÚT NGẮN CÁCH BIỆT VỀ CHÍNH 36
SÁCH LUẬT LỆ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ
3.1.1 Cắt giảm thuế quan trên cơ sở bảo hôâï hợp lý sản xuất trong nước 37
3.1.2 Thực hiện tốt nguyên tắc Không phân biệt đối xử 39
3.1.3 Bãi bỏ dần các biện pháp phi thuế quan 39
3.1.4 Bãi bỏ bảng giá tối thiểu, áp dụng cách tính trị giá tính thuế của WTO 40
3.1.5 Hoàn chỉnh hệ thống pháp lý và nâng cao tính thực thi của chúng trong 41
lĩnh vực thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ 3.1.6 Nâng cao tính minh bạch và có thể dự đoán trước của hệ thống 41
chính sách, luật lệ liên quan đến thương mại và đầu tư 3.2 NHÓM GIÁI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC ĐÀM PHÁN 42
3.2.1 Tạo sự thống nhất quan điểm về vấn đề gia nhập WTO từ các cấp 43
lãnh đạo Trung ương, các ngành đến các địa phương và doanh nghiệp 3.2.2 Xây dựng một chiến lược tổng thể về hội nhập 44
3.2.3 Kiện toàn đội ngũ cán bộ đàm phán 44
3.2.4 Hỗ trợ đàm phán bằng các nỗ lực ngoại giao 44
3.3 NHÓM GIẢI PHÁP VỀ ĐÓN BẮT CÁC CƠ HỘI KHI GIA NHẬP WTO 45 3.3.1 Xác định các mặt hàng xuất khẩu chủ lực 45
3.3.2 Không ngừng mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu 47
3.3.3 Tăng cường công tác xúc tiến thương mại 48
3.3.4 Chú trọng phát triển thương mại điện tử 48
3.3.5 Đón bắt cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài 49
3.4 NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA QUỐC GIA 50
3.4.1 Cải thiện các điều kiện về yếu tố sản xuất 51
3.4.2 Cải thiện thị trường trong nước 51
3.4.3 Nâng cao năng lực của doanh nghiệp, và tạo môi trường 52
cạnh tranh lành mạnh, quyết liệt 3.4.4 Chú ý xây dựng các ngành sản xuất hỗ trợ và liên quan 52 PHẦN KẾT LUẬN
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Nhận thức được những lợi ích quan trọng trong việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong hơn 10 năm trở lại đây Việt Nam đã thực sự đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới và hiện tại đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái bình dương – APEC, ký hiệp định khung về hợp tác Việt Nam và Liên minh Châu Aâu – EU …
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một trong những mục tiêu cao nhất của Việt Nam là gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO) Đây là một tổ chức quốc tế có quy mô toàn cầu, được thành lập để thúc đẩy thương mại quốc tế và hỗ trợ phát triển kinh tế Với 143 quốc gia thành viên, trong đó có mặt hầu hết các cường quốc về thương mại quốc tế, có thể nói nền thương mại thế giới đang diễn ra trong môi trường WTO Nói cách khác, với vai trò điều hành nền thương mại quốc tế, WTO có thể coi như một "Liên hiệp quốc về kinh tế và thương mại" Chính vì vậy, một quốc gia khó có thể phát triển khi tách mình ra khỏi môi trường rộng lớn đó
Tuy nhiên, WTO là một tổ chức với những nguyên tắc và quy định nghiêm ngặt về điều kiện kết nạp thành viên cũng như đối với hoạt động của các thành viên chính thức Để trở thành một thành viên của WTO, các quốc gia, tổ chức đều phải trải qua một quá trình đàm phán gia nhập rất khó khăn, kéo dài qua nhiều năm và đòi hỏi quốc gia đó phải đưa ra các cam kết về cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ rào cản thương mại theo yêu cầu của các thành viên khác và nỗ lực điều chỉnh hàng loạt các chính sách về kinh tế thương mại phù hợp với yêu cầu của WTO Mặt khác, gia nhập WTO không có nghĩa là các quốc gia sẽ hưởng lợi ngay, bởi lẽ cùng với những cơ hội mở ra thúc đẩy sự phát triển kinh tế thương mại luôn tồn tại những khó khăn, thách thức mà nếu không có sự chuẩn bị thấu đáo để vượt qua thì kết quả của việc gia nhập sẽ theo chiều ngược lại
Hiện nay, trên đường gia nhập WTO, Việt Nam đã đi được một chặng đường khá dài, về tiến trình đàm phán gia nhập cũng như sửa đổi các chính sách, luật lệ theo hướng phù hợp với các yêu cầu của WTO Song, chặng đường sắp tới còn rất nhiều khó khăn do việc điều chỉnh chính sách quản lý cũng như đưa
ra các cam kết về kinh tế thương mại không thể trên cơ sở duy ý chí, tuân theo
Trang 7một cách máy móc đòi hỏi của các thành viên của WTO mà phải trên cơ sở đánh giá một cách chính xác, khoa học về hiện trạng, thế mạnh, điểm yếu của nền kinh tế trong nước Từ đó, cùng với nỗ lực để nhanh chóng gia nhập WTO, chúng ta cần có những giải pháp sẵn sàng tận dụng các cơ hội và đối phó với những thách thức sẽ đến khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại toàn cầu này
Đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy Việt Nam trên đường hội nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” được thực hiện với mong muốn đáp ứng
được phần nào sự cần thiết nêu trên
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu nhất định, đề tài nhằm mục đích giải quyết các vấn đề sau :
- Tìm hiểu về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), lịch sử ra đời, cơ cấu tổ chức, những nguyên tắc và quy định cơ bản của tổ chức này
- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam
- Những cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam khi trở thành thành viên chính thức của WTO
- Những khoảng cách giữa chính sách kinh tế thương mại của Việt nam và nguyên tắc, quy định của WTO ngăn trở tiến trình đàm phán gia nhập của Việt Nam
- Đề xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy tiến trình đàm phán gia nhập WTO và các biện pháp tận dụng cơ hội, hạn chế các tác động tiêu cực của những thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các nguyên tắc và Hiệp định
cơ bản nhất của WTO, hệ thống các chính sách của Việt Nam điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực đầu tư và thương mại quốc tế (gồm thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ), sở hữu trí tuệ, các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngoại thương như thuế xuất nhập khẩu, hoạt động hải quan, các rào cản thương mại, bảo hộ sản xuất trong nước, chính sách đầu tư v.v cùng những điểm mấu chốt trong công tác đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam
Đề tài không nghiên cứu các hiệp định WTO quy định chi tiết trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể (hiệp định về nông nghiệp, hiệp định về dệt may ) hay những hiệp định mà Việt Nam không hoặc chưa tham gia trong khuôn khổ cho phép của WTO ( hiệp định về mua sắm của Chính phủ ) cũng như loại trừ các yếu tố về mặt kỹ thuật đàm phán
Trang 83 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống lý luận của học thuyết Mác – Lê nin, các lý thuyết về khoa học kinh tế vĩ mô, lý thuyết về lợi thế so sánh tương đối và lợi thế so sánh tuyệt đối, lý thuyết cạnh tranh cùng quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế theo đường lối đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp lịch sử, phân tích – tổng hợp, thống kê, so sánh – đối chiếu, phương pháp hệ thống và dự báo
Số liệu sử dụng trong đề tài là nguồn số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê, báo cáo về tình hình kinh tế Việt Nam của các chuyên gia thuộc các tổ chức tài chính, thương mại quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, Quỹ Tiền tệ Quốc tế – IMF, Ngân hàng thế giới – Worldbank, báo cáo của các chuyên viên Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế Quốc tế, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và một số báo, tạp chí và tài liệu nghiên cứu chuyên ngành khác
4 Bố cục của luận văn
Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương với nội dung như sau :
Chương I : Trình bày xu thế tất yếu và sự cần thiết của hội nhập kinh tế quốc tế, giới thiệu về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) : lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, nội dung các hiệp định cơ bản và những nguyên tắc của WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp, thủ tục gia nhập và kinh nghiệm của một số nước trong quá trình đàm phán gia nhập WTO
Chương II : Phân tích những thành tựu kinh tế Việt Nam theo đường lối đổi mới, thành tựu về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và tiến trình cụ thể trên đường gia nhập WTO của Việt Nam Phân tích các cơ hội, thách thức khi gia nhập WTO, khoảng cách cần thu hẹp giữa các chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam và nguyên tắc, quy định của WTO
Chương III : Đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình đàm phán gia nhập
WTO và các giải pháp tận dụng các cơ hội, hạn chế tác động tiêu cực của những thách thức khi Việt Nam gia nhập tổ chức này
Trang 9CHƯƠNG I - VẤN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
VÀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Chính sách đổi mới của Đảng ta đưa ra vào năm 1986,ø đến nay đã tạo ra những thay đổi lớn lao về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nước ta Đây là chính sách đổi mới toàn diện về kinh tế và xã hội, mà trọng tâm về mặt kinh tế là : Thực hiện tự do hóa thị trường trong tầm quản lý của Nhà nước và thực hiện chính sách mở cửa về thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài và viện trợ phát triển chính thức Đó cũng chính là nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế trong
xu thế toàn cầu hóa
Xuất phát chính sách đó, Việt Nam đã từng bước mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, thiết lập quan hệ với các quốc gia, tổ chức trong khu vực và trên thế giới Kế tiếp những thành quả tốt đẹp đã đạt được nhờ chính sách hội nhập, từ 1994, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đưa ra chủ trương Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) Đây là một chủ trương lớn, phù hợp với xu thế của thời đại và sẽ có ảnh hưởng làm thay đổi diện mạo nền kinh tế nước ta
Để hiểu rõ chủ trương lớn này, trước khi đi sâu nghiên cứu thực trạng tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam và đề ra một số biện pháp thúc đẩy tiến trình đó, trong chương này, chúng ta sẽ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau :
- Vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế : xu thế toàn cầu hóa, sự cần thiết và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế, ý nghĩa của việc gia nhập WTO
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) : Lịch sử hình thành, các Hiệp định và nguyên tắc cơ bản, cơ cấu tổ chức và quy trình thủ tục tham gia WTO
- Kinh nghiệp đàm phán gia nhập WTO của một số nước
1.3 VẤN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.3.1 Xu thế toàn cầu hóa kinh tế
Trang 10Trong các giai đoạn phát triển kinh tế tiền Tư bản chủ nghĩa, khi trình độ của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội còn thấp kém, giao thông chưa phát triển, việc sản xuất và trao đổi hàng hóa bị giới hạn trong các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, manh mún, năng suất thấp, còn bó hẹp trong phạm vi địa phương, dân tộc, chưa có thị trường thế giới theo nghĩa hiện đại Sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất TBCN, đánh dấu bằng các cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong đời sống kinh tế các quốc gia Tình trạng tự cấp, tự túc và bế quan tỏa cảng của các địa phương, dân tộc trước đó được thay thế bằng sản xuất và tiêu dùng mang tính quốc tế Đặc biệt từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 và nhất là trong khoảng 1/4 thế kỷ trở lại đây,
do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học-kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng đã tạo ra những điều kiện vật chất mang tính quyết định thúc đẩy các hoạt động kinh tế lan ra toàn cầu Đó là : Những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, giao thông, những bước phát triển của thị trường hàng hóa đã tạo điều kiện mở mang giao lưu buôn bán giữa các quốc gia, rút ngắn thời gian giao tiếp giữa các vùng lãnh thổ thế giới, những thành tựu của ngành công nghệ thông tin đã tạo nên mạng thông tin liên hoàn toàn cầu
Sự gia tăng mạnh mẽ khối lượng trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các dòng tài chính, việc hình thành và phát triển mạnh mẽ các công ty đa quốc gia cũng như sự xuất hiện của nhiều thể chế kinh tế – thương mại quốc tế là những biểu hiện rõ nét của xu thế toàn cầu hóa Về thương mại, trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tăng nhanh hơn thu nhập của các quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển và đã đạt 48% GDP của các nước này năm 1997 so với 37% năm 1989 Về tài chính, số lượng vốn trên thị trường chứng khoán tăng 3 lần trong 10 năm qua, từ 4.700 tỷ USD lên 15.200 tỷ USD, số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng từ 115 tỷ USD năm 1990 lên 640 tỷ năm 1998 (1) Theo thống kê của Liên hiệp quốc, hiện có khoảng 60.000 công ty đa quốc gia, chiếm 25% tổng giá trị sản xuất thế giới, 64% kim ngạch mậu dịch quốc tế, 70% tổng đầu tư nước ngoài trực tiếp, 90% công nghệ cao và hơn 70% hoạt động chuyển giao công nghệ (2) Các công ty đa quốc gia đã và đang có ảnh hưởng tác động thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế thế giới Từ năm 1990 đến nay trên thế giới đã xuất hiện thêm 82 tổ chức hợp tác quốc tế ở nhiều cấp độ, so với 75 tổ chức thành lập trong thời gian 1955–1989,
Trang 11
trong đó nổi lên là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) với 143 thành viên, chiếm trên 90% thương mại quốc tế (3)
Tóm lại, toàn cầu hóa kinh tế là xu thế của quá trình phát triển mới của phân công lao động và hợp tác sản xuất vượt ra khỏi biên giới quốc gia vươn tới qui mô toàn thế giới, đạt trình độ chất lượng mới, trong đó nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thể, mỗi quốc gia là một bộ phận, có quan hệ tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú
1.3.2 Sự cần thiết và tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tế cho thấy không một quốc gia nào có thể tự mình sản xuất tất cả những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu cầu của mình, chưa kể đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường v.v mà chỉ riêng một quốc gia, dù là hùng mạnh nhất cũng không thể giải quyết được mà phải có sự hợp tác, liên kết của nhiều nước
Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, nhu cầu hội nhập kinh tế xuất hiện là một tất yếu khách quan Đó là quá trình thiết lập các mối quan hệ giữa trong nước với bên ngoài mà trọng tâm là mở cửa nền kinh tế, tham gia phân công quốc tế nhằm kết hợp một cách có hiệu quả giữa các nguồn lực trong và ngoài nước, mở rộng không gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể được trong quan hệ kinh tế quốc tế Đây vừa là đòi hỏi khách quan của kinh tế quốc tế nói chung, vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế mỗi quốc gia
Thực tiễn cho thấy những quốc gia theo đuổi chính sách mở cửa hội nhập kinh tế có mức tăng trưởng cao hơn những nước thực hiện chính sách đóng cửa Một nghiên cứu của Quỹ Tiến tệ Quốc tế (IMF) với số liệu thu thập trong một số nước đang phát triển, giai đoạn 1974 – 1985 và 1986 – 1992, cho thấy những nước có chính sách kinh tế hướng nội có mức tăng trưởng GDP/đầu người hàng năm thấp hơn nhiều so với các nước có chính sách kinh tế hướng ngoại và trong
giai đoạn sau mức chênh lệch còn lớn hơn giai đoạn trước (Đồ thị 1.1)
Trang 12Đồ thị 1.1 : Tăng trưởng GDP thực theo đầu người hàng năm
của một số nước đang phát triển
(Nguồn : World Economic Outlook, May 1993, International Monetary Fund, p.76)
Hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm các quan hệ song phương, đa phương và quan hệ mở rộng trên phạm vi toàn cầu với nội dung chủ yếu là thiết lập các quan hệ về thương mại, đầu tư, khoa học–kỹ thuật với từng nước, từng khu vực hoặc từng tổ chức kinh tế cấp đa phương hay toàn cầu Có thể gọi các mối quan hệ đó là quan hệ cạnh tranh và hợp tác Ở khía cạnh hợp tác, nó cho phép phát huy các thế mạnh, bổ khuyết các thế yếu của nền kinh tế quốc gia trong cạnh tranh toàn cầu, còn ở khía cạnh cạnh tranh, nó chứa đựng những nguy cơ, đặc biệt đối với các quốc gia chậm phát triển là nguy cơ lệ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào một nền kinh tế khác Việc thiết lập các quan hệ như vậy không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả cho các bên mà luôn hàm chứa hai mặt lợi ích và khó khăn Để đảm bảo hội nhập có hiệu quả, mỗi quốc gia phải “biết người, biết ta”, nghĩa là phải thông hiểu tình hình, các nguyên tắc hoạt động, mục đích của các đối tác muốn đặt quan hệ, các tổ chức muốn tham gia, đồng thời phải hiểu rõ nội lực của chính mình, từ đó thấy được những cơ hội và thách thức để đổi mới các luật lệ, chính sách quốc gia một cách thích ứng, nhằm mục đích nâng cao sức cạnh tranh, phát huy hiệu quả của hội nhập đồng thời đảm bảo tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế quốc gia
Mặc dù luôn chứa đựng những khó khăn, thách thức, sự cần thiết và tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế là điều không thể phủ nhận Một quốc gia tự đặt mình ngoài xu thế chung, bám theo chính sách tự chủ kinh tế một cách cứng nhắc, không biết tận dụng ưu thế của phân công lao động quốc tế
Trang 13sẽ không tránh khỏi tình trạng tụt hậu để rồi rơi vào trạng thái kinh tế phụ thuộc, dẫn đến nguy cơ lệ thuộc cả về chính trị–xã hội Cự tuyệt hay khước từ toàn cầu hóa kinh tế, né tránh hội nhập tức là tự gạt mình ra ngoài lề của sự phát triển
1.3.3 Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (Worl Trade Organization –
WTO) – Bước tiến lớn trên đường hội nhập của các quốc gia :
Các bước đi cụ thể của mỗi quốc gia trên con đường hội nhập kinh tế chính là quá trình tạo lập, tham gia các quan hệ kinh tế song phương, đa phương thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại song phương với các quốc gia khác (Hiệp định thương mại Việt–Mỹ …), tham gia các hiệp định hay gia nhập các tổ chức quốc tế với quy mô, cấp độ khác nhau, từ cấp khu vực (Khu vực mậu dịch tự do Asean ), liên khu vực (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á–Thái bình dương ) hay toàn cầu (Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế …), với mục đích là những lợi ích quốc gia đạt được khi tham gia các mối quan hệ đó
Ở cấp độ toàn cầu, hiện nay thế giới có 3 tổ chức : Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund–IMF), Ngân hàng thế giới (World Bank–WB) và Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization– WTO) Tuy nhiên, IMF và WB là những định chế tài chính quốc tế chủ yếu tác động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ và tín dụng Mục đích của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế, điều chỉnh quan hệ tiền tệ gtiữa các nước thành viên và giúp đỡ các nước có thâm hụt cán cân thanh toán bằng các khoản cho vay ngắn hạn và trung hạn Đối với Ngân hàng Thế giới, một trong những chức năng chính là cung cấp tài chính theo những điều kiện hợp lý cho các dự án phát triển kinh tế của các nước thành viên Quan hệ trong các định chế tài chính này chủ yếu là quan hệ giữa quốc gia thành viên với tổ chức
Tổ chức Thương mại Thế giới–WTO, mà tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại–GATT hình thành từ năm 1947, đến 1995 trở thành Tổ chức Thương mại Thế giới–WTO, là một tổ chức mang tính thể chế của hệ thống thương mại đa phương, là cơ quan quốc tế duy nhất giải quyết vấn đề các quy định thương mại giữa các quốc gia với nhau, tạo ra cơ chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế–thương mại quốc tế mang tính toàn cầu
Trọng tâm của WTO là các hiệp định được đàm phán và ký kết bởi phần lớn các quốc gia trong nền thương mại thế giới Đây là các văn bản nền tảng pháp lý cho thương mại quốc tế, là các giao kết có tính ràng buộc các quốc gia nhằm duy trì chính sách thương mại của mình trong giới hạn đã thỏa thuận
Trang 14Mục tiêu bao trùm của WTO là giúp hoạt động thương mại và đầu tư diễn
ra một cách tự do tối đa Tạo một “sân chơi” bình đẳng đối với mọi quốc gia trong lĩnh vực thương mại quốc tế Với mục tiêu đó, hoạt động chủ yếu của WTO là dỡ bỏ các rào cản thương mại như cắt giảm thuế quan, bãi bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan (hạn ngạch, giấy phép, trợ giá ) đồng thời đảm bảo cho các thể nhân, công ty, các chính phủ nắm bắt được các quy định về thương mại hiện hành trên thế giới, hạn chế những thay đổi đột ngột về chính sách, các quy định chính sách đều mang tính minh bạch và có thể tiên liệu được
Do các thỏa ước được dự thảo và ký kết bởi một cộng đồng các quốc gia, thường là sau một quá trình tranh cãi, thương thảo, nên một trong những chức năng quan trọng nhất của WTO là diễn đàn cho đàm phán thương mại
Khía cạnh quan trọng thứ ba đối với WTO là việc giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên Trong khuôn khổ WTO, mọi thành viên đều bình đẳng trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp Việc giải quyết tranh chấp luôn thông qua một thủ tục mang tính trung lập, dựa trên nền tảng pháp lý đã được các bên nhất trí
Thành quả lớn nhất của GATT/WTO là việc cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu, với mức cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ GATT – từ
thuế suất 38% vào năm 1947 đến còn khoảng 4% năm 1994 (Đồ thị 1.2)
Đồ thị 1.2 : Mức độ giảm thuế trong lịch sử phát triển của GATT/WTO
Trang 15là 7%, hiện nay tỷ trọng đó là 23% Trong nửa đầu của thế kỷ trước GATT (1900 – 1948), thương mại thế giới chỉ tăng gần 2 lần thì trong nửa sau của thế kỷ sau GATT (1950–1991) thương mại thế giới tăng gấp 50 lần, với tốc độ tăng trung bình của thương mại là 11,2%/năm, gấp 3 lần tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm của thế giới (từ 1991–2000, con số này là 6,8% so với 2,3%) Từ 1948 -
1997, trong khi sản xuất của thế giới chỉ tăng 5,5 lần thì thương mại hàng hóa tăng 14 lần Trong vòng 10 –15 năm qua, tỷ trọng thương mại của các nước đang phát triển trong thương mại toàn cầu đã tăng từ 20 – 25%, khu vực chế biến tăng gấp đôi (từ 10–20%) và với xu thế này có thể vượt 50% vào năm 2020 (1)
Tất cả những ghi nhận trên đây đều thể hiện khả năng các nước có thể buôn bán với nhau và được hưởng lợi từ thương mại Điều đó giải thích sự tăng lên nhanh chóng số lượng các thành viên của GATT từ 23 nước khi mới ký kết (1947) lên 128 nước vào thời điểm thành lập WTO (1995) và nay là 143 nước trong số đó gần đây nhất, hai nền kinh tế rất mạnh là Trung quốc và Đài loan
vừa chính thức trờ thành thành viên WTO (Đồ thị 1.3) Ngoài ra, hơn 30 quốc gia
và vùng lãnh thổ khác cũng đang tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức này,
trong đó có các nền kinh tế lớn như Nga, Ucraina, Ả rập Saudi (Xem phụ lục 1
: Danh sách các nước, tổ chức thành viên, quan sát viên và các nước đang đam
phán gia nhập WTO)
1955- 1961
1960- 1967
1963- 1979
1973- 1994
Trang 16
quả tổng hợp của lợi ích thu được của từng quốc gia thành viên – như đã phân tích trên đây, cho phép chúng ta kết luận : gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO thực sự là bước tiến lớn trên đường hội nhập, thể hiện sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của mỗi quốc gia vào nền thương mại chung toàn thế giới
1.4 TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (Worl Trade Organization–WTO)
Trong phần trên, chúng ta đã nêu khái quát tôn chỉ, mục đích, phương thức hoạt động cũng như những đóng góp của Tổ chức Thương mại Thế giới đối với nền thương mại thế giới, qua đó thấy được ý nghĩa quan trọng đối với một quốc gia khi gia nhập tổ chức này Trong phần tiếp theo dưới đây, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu cụ thể hơn về quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, các nguyên tắc, quy định cũng như thủ tục gia nhập của tổ chức này Đây là việc làm không thể thiếu được trước khi gia nhập bất cứ một tổ chức nào
1.4.1 Lịch sử hình thành WTO :
1.4.1.1 Từ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) đến Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) :
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 song nó là sự kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của hệ thống các quy định về thương mại đã có từ hơn nửa thế kỷ nay (từ 1948 đến 1994), đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariff and Trade - GATT)
Tháng 7/1944 , tại hội nghị thành lập hai tổ chức Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế diễn ra tại Bretton Woods tháng với sự tham dự của 50 quốc gia, ý tưởng thành lập một cơ quan chuyên ngành của Liên hợp quốc (United Nations–UN) để giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế quốc tế, gọi là
“Tổ chức Thương mại Quốc tế “ (International Trade Organization–ITO) được hình thành Trên cơ sở đó, từ năm 1946–1948, dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc đã diễn ra các cuộc đàm phán để soạn thảo văn kiện thành lập ITO có tên gọi là “Hiến chương La Havana” Bên cạnh đó, với việc Chiến tranh thế giới lần
2 vừa kết thúc, 23 trong số 50 nước tham dự đàm phán thành lập ITO, do muốn nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch và sửa đổi các biện pháp bảo hộ thương mại hàng hóa vốn duy trì từ đầu những năm 30, đã tiến hành đàm phán để cắt giảm và ràng buộc thuế quan Nghĩa là trong cùng khoảng thời gian đã diễn ra hai cuộc đàm phán hương mại nhiều bên Cuộc đàm phán thứ nhất nhằm
Trang 17đi đến thành lập một “Tổ chức thương mại quốc tế” và cuộc đàm phán thứ hai chuyên về cắt giảm thuế quan
Kết quả cuộc đàm phán thứ hai là 45.000 nhượng bộ về thuế quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỷ USD, gần 1/5 tổng thương mại thế giới lúc đó Kết hợp kết quả này với một số quy định về chính sách thương mại trong Dự thảo Hiến chương La Havana, ngày 30/10/1947, 23 nước đã ký Nghị định thư áp dụng tạm thời Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), có hiệu lực từ 01/01/1948 và mặc dù chỉ có tính tạm thời, GATT là công cụ duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế giới từ 1948 đến khi WTO thành lập vào tháng 1/1995, bởi lẽ Hiến chương La Havana gặp khó khăn trong việc phê chuẩn của các nước và “Tổ chức thương mại quốc tế” đã không bao giờ được hình thành
Trong 47 năm tồn tại của GATT, có thêm một số hiệp định được đưa vào dưới dạng hiệp định “nhiều bên" (plurilateral) và các nỗ lực cắt giảm thuế quan vẫn tiếp tục thông qua các vòng đàm phán thương mại đa biên Những bước tiến lớn trong tiến trình tự do hoá thương mại đều được thực hiện qua các vòng đàm phán này, cụ thể là 8 vòng đàm phán thương mại lớn về mậu dịch và thuế quan Các vòng đàm phán càng về sau càng tăng cả về quy mô,thời gian, số nước tham
gia và lĩnh vực đàm phán (Xem phụ lục 2–Tóm tắt các vòng đàm phán của
GATT)
Sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, GATT đã làm tốt vai trò bảo vệ các nguyên tắc thương mại tự do và thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thương mại quốc tế Song, với xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, việc đóng khung trong phạm vi thương mại hàng hóa trong khi những lĩnh vực không được GATT điều chỉnh như đầu tư, buôn bán các sản phẩm trí tuệ, thương mại dịch vụ, đã trở thành lợi ích cơ bản của ngày càng nhiều các nước, đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế khiến GATT ngày càng bộc lộ những hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu thực tế như trong thập niên
40 nữa Đây là nhân tố thúc đẩy nỗ lực mới nhằm mở rộng hệ thống thương mại
đa biên, đi đến kết quả là có Vòng Đàm phán Uruguay, Tuyên bố Marrakesh và việc thành lập tổ chức WTO
1.4.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO :
Khai mạc ngày 20/9/1986 tại Hội nghị cấp Bộ trưởng của các nước thành viên GATT họp tại Punta del Este (Uruguay), vòng đàm phán Uruguay kéo dài
Trang 18gần 8 năm với sự tham gia của 125 quốc gia Có tất cả 15 chủ đề, bao gồm hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế được đưa vào chương trình nghị sự của vòng
đàm phán này
Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại được sự cải tổ lớn nhất đối với hệ thống thương mại thế giới trong hầu hết các lĩnh vực : công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, dệt may, sở hữu trí truệ, chống bán phá giá, trợ giá, các rào cản kỹ thuật
… (Xem phụ lục 3 – Tóm tắt những thành quả của vòng đàm phán Uruguay)
Cùng với những thành quả đạt được của vòng đàm phán Uruguay, trước yêu cầu cần có sự cải tổ GATT, lập ra một tổ chức mới mang tính chất toàn diện hơn, với quy chế tổ chức hợp lý và hữu hiệu hơn, ngày 01/01/1995 tại Geneva, các nước tham gia đàm phán đã ký thỏa ước thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Như vậy, sau 47 năm tồn tại và phát triển, GATT với tư cách là một cơ quan quốc tế tạm thời, không còn tồn tại nữa và được thay bằng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), riêng GATT với tư cách là một hiệp định thì vẫn
hiện diện như một trong số hiệp định cơ bản của WTO (Xem phụ lục 4–Những
khác biệt cơ bản giữa GATT và WTO)
1.4.2 Cơ cấu tổ chức của WTO :
1.4.2.1 Các cơ quan lãnh đạo và ra quyết định :
* Hội nghị Bộ trưởng WTO : Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của WTO, họp ít nhất 2 năm 1 lần, gồm đại diện cấp Bộ trưởng của các thành viên WTO Hội nghị Bộ trưởng thực hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết định mọi vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ một hiệp định đa phương nào của WTO
* Đại hội đồng WTO : Là cơ quan đảm nhiệm các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng WTO trong thời gian giữa các khóa họp của Hội nghị Bộ trưởng Thành viên của Đại hội đồng là đại diện cấp Đại sứ của chính phủ tất cả các thành viên Đại hội đồng có quyền thành lập các Ủy ban giúp việc và báo cáo trực tiếp lên Đại hội đồng như : Uûy ban về thương mại và phát triển, Uûy ban về các hạn chế cán cân thanh toán, Uûy ban về ngân sách, tài chính và quản trị
* Cơ quan giải quyết tranh chấp và kiểm điểm chính sách thương mại :
Ngoài việc thực hiện các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng giữa hai khóa họp, các Hiệp định thương mại đa phương cũng trao trực tiếp cho Đại hội đồng WTO chức năng giải quyết tranh chấp và kiểm điểm chính sách thương mại Vì vậy Cơ
Trang 19quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại của WTO chính là Đại hội đồng WTO
1.4.2.2 Cơ quan giám sát thực hiện các hiệp định thương mại đa phương
WTO thành lập các hội đồng, với sự tham gia của đại diện tất cả các nước thành viên, để giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương Các Hội đồng có quyền thành lập các cơ quan trực thuộc để giúp thực hiện các chức năng kỹ thuật như : “Uûy ban về trợ giá nông nghiệp” và các “Nhóm công tác” (Working Group) thành lập trên cơ sở tạm thời, giải quyết những vấn đề cụ thể, chẳng hạn các “Nhóm công tác về việc gia nhập WTO” của một số nước và báo cáo trực tiếp công việc của mình lên Đại hội đồng
1.4.2.3 Cơ quan thực hiện chức năng hành chính – thư ký :
* Tổng giám đốc WTO : do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm và giao quyền hạn, trách nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm Có vai trò điều hành hoạt động của Ban thư ký, dẫn dắt các cuộc đàm phán thương mại đa biên và giải quyết tranh chấp
* Ban thư ký WTO: Đứng đầu là Tổng giám đốc WTO, có nhiệm vụ phục vụ các cơ quan chức năng của WTO liên quan đến các cuộc thương lượng và giám sát thực thi các hiệp định, trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển như : cung cấp thông tin thương mại, các phân tích về chính sách thương mại, cách hiểu các hiệp định, quy định của WTO,tư vấn và cung cấp các thủ tục cần
thiết liên quan đến đàm phán gia nhập WTO cho các thành viên mới (Xem sơ đồ
cơ cấu tổ chức WTO ở trang sau)
1.4.3 Các hiệp định cơ bản trong khuôn khổ WTO
WTO quản lý và giám sát việc thực thi các quy định pháp lý có phạm vi điều chỉnh rất rộng lớn, bao trùm hầu hết các lĩnh vực trong thương mại quốc tế, với khối lượng các văn kiện đồ sộ, bao gồm : Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, 20 hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa, 4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, kiểm điểm chính sách thương mại, 4 hiệp định nhiều bên về hàng không dân dụng, mua sắm chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò, 23 tuyên bố và quyết định liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thỏa thuận trong các hiệp định đa phương và nhiều bên Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài xin đề cập đến các hiệp định cơ bản sau :
Trang 20- Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Tariff and Trade – GATT) : Quy định về chế độ tối huệ quốc, các nhượng bộ thuế quan, định ra các nguyên tắc, quy chế và tiêu chuẩn pháp lý để điều chỉnh hệ thống chính sách thương mại, các thủ tục liên quan đến hoạt động của GATT,ø các biện pháp ưu đãi đối với các nước đang pháp triển
- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services - GATS) : Với mục tiêu tự do hóa thương mại dịch vụ, GATS thiết lập các quy định khung cho các nguyên tắc thương mại bình đẳng, không phân biệt đối xử : quy chế tối huệ quốc, quy chế đãi ngộ quốc gia (cho các ngành có cam kết), lập các quy định đặc biệt cho dịch vụ tài chính, viễn thông, vận tải đường không và dịch chuyển lao động Ngoài ra trong GATS, từng nước đều có cam kết về việc mở cửa thị trường được thể hiện trong lộ trình cam kết của mỗi quốc gia
- Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (Agreement
on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights -TRIPS) : Quy định các nguyên tắc cơ bản là đãi ngộ quốc gia và tối huệ quốc, các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu, thời hạn bảo hộ, các biện pháp kinh doanh hạn chế,những đảm bảo thực hiện quyền sở hữu công nghiệp và thỏa thuận về thời kỳ chuyển tiếp để thực hiện các quy định cấp quốc gia
- Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Trade-Related Investment Measures Agreement – TRIMS) : Quy định các nước không được đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài giới hạn số lượng nhập khẩu đầu vào bằng với số lượng xuất khẩu hàng sản xuất tại địa phương, không được giới hạn quyền trao đổi ngoại tệ của nhà đầu tư nước ngoài, không được đòi hỏi nhà đầu tư bán một phần sản phẩm tại thị trường nội địa Các nước đang phát triển có quyền không áp dụng các quy định trên trong một số trường hợp nhất định
1.4.4 Các nguyên tắc cơ bản của WTO :
Từ hệ thống các hiệp định, các quyết định, các văn bản pháp lý của WTO, có thể rút ra các nguyên tắc cơ bản của tổ chức này như sau :
1.4.4.1 Tự do hóa thương mại dần dần thông qua đàm phán
GATT thực hiện mục tiêu thúc đẩy thương mại quốc tế bằng cách giảm thiểu các rào cản thuế quan và phi quan thuế - những công cụ chính được các
Trang 21quốc gia sử dụng để hạn chế nhập khẩu Sau 8 vòng đàm phán do GATT tổ chức, thuế suất tại các nước công nghiệp phát triển đã giảm từ 40% năm 1948 xuống còn khoảng 3% năm 1995 Việc đàm phán để cắt giảm thuế quan được thực hiện dựa trên nguyên tắc có đi có lại, nghĩa là từng nước sẽ đưa ra các mức cắt giảm sao cho có thể đạt mức cân bằng mà các bên cùng chấp nhận Tuy vậy, GATT không bảo đảm đạt mức thỏa thuận nhất định nào mà chỉ bảo vệ những kết quả đã đàm phán được Các vòng đàm phán lúc đầu chỉ tập trung vào cắt giảm thuế quan đánh vào hàng hoá nhập khẩu, từ thập niên 80, đã
mở rộng sang các lĩnh vực khác như hàng rào phi thuế quan, dịch vụ và sở hữu trí tuệ GATT không cho phép các nước thành viên sử dụng các hạn chế về số lượng (quota, giấy phép …) và các rào cản phi thuế quan khác đối với việc xuất khẩu sang hoặc nhập khẩu từ các nước thành viên khác, trừ một số ngoại lệ cho phép hạn chế về số lượng đối với một số mặt hàng nông thủy sản trong một số trường hợp khẩn cấp, hạn chế số lượng nhằm mục đích cải thiện cán cân thương mại và đối với hàng dệt may Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương
Quá trình mở cửa thị trường luôn đòi hỏi các nước cần một số điều chỉnh về chính sách Do đó các hiệp định của WTO cho phép thay đổi từ từ thông qua
"tự do hoá từng bước" Các nước đang phát triển thường được phép có khoảng thời gian lâu hơn để thực hiện các nghĩa vụ của mình
1.3.4.2 Chống phân biệt đối xử
Yêu cầu của nguyên tắc này là cấm sự phân biệât đối xử giữa các quốc gia thành viên trong giao dịch thương mại và giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nước, thể hiện qua hai quy tắc : tối huệ quốc và đối xử quốc gia
Quy tắc tối huệ quốc (Most Favour Nations – MFN)
Theo quy tắc này, các nước thành viên phải trao cho nhau ngay lập tức và không điều kiện mọi ưu đãi, đặc quyền đặc lợi hoặc miễn trừ mà đã hoặc sẽ trao cho bất kỳ một nước thứ ba nào về các vấn đề liên quan đến thuế quan, thuế nội địa và các quy định về bán hàng trong nội địa Tuy nhiên, GATT vẫn dành một số ngoại lệ (được quy định ngay trong hiệp định) và miễn trừ (do Đại hội đồng thông qua trong từng trường hợp cụ thể) Chẳng hạn : quy định các nước thành viên trong các hiệp định thương mại khu vực (các khu vực mậu dịch tự do hoặc liên minh thuế quan) có thể dành cho nhau sự đối xử ưu đãi hơn mang tính phân biệt đối xử đối với các nước thứ ba Các nước đang phát triển cũng được dành những miễn trừ nhất định Miễn trừ thứ nhất là việc thiết lập “Hệ thống ưu đãi phổ cập” (GSP), cho phép các nước phát triển dành một số mức thuế ưu đãi hoặc
Trang 22miễn thuế cho một số nhóm hàng xuất xứ từ các nước đang phát tiển mà không có nghĩa vụ áp dụng mức thuế ưu đãi đó cho các nước phát triển khác Miễn trừ thứ hai là “Đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển” cho phép các nước này có quyền dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan mà phải áp
dụng cho hàng hóa đến từ các nước phát triển (Phụ lục 5:Chi tiết chế độ đãi ngộ
tối huệ quốc–MFN)
Quy tắc Đối xử quốc gia (National Treatment - NT)
Theo quy tắc này, các quốc gia thành viên không được phân biệt đối xử giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu về các loại thuế và phí nội địa, các luật lệ, quy định và yêu cầu ảnh hưởng đến việc bán hàng, chào bán hàng trong nội địa, việc vận chuyển, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm và các quy định về số lượng đòi hỏi phải pha trộn chế biến hoặc sử dụng sản phẩm theo một số lượng hoặc tỉ lệ cụ thể nào đó Về bản chất, điều này có nghĩa là khi hàng hóa đã thông quan (đã đóng thuế nhập khẩu và thỏa mãn mọi điều kiện nhập khẩu khác) thì phải được đối xử giống như sản phẩm sản xuất trong nước
Tương tự MNF, quy tắc NT cũng có một số ngoại lệ GATT cho phép không áp dụng quy tắc này đối với trường hợp mua sắm của chính phủ (không nhằm mục đích thương mại), trợ giá cho các nhà sản xuất nội địa và quy định về
thời gian chiếu phim dành cho phim điện ảnh nội địa (Xem phụ lục 6 : Chế độ
đãi ngộ quốc gia – NT)
1.3.4.3 Luật lệ chính sách thương mại minh bạch và có thể dự đoán trước
Điều X, phần II của GATT quy định các nước thành viên phải công bố ngay mọi luật lệ, quy định, phán quyết của tòa án và các quyết định hành chính có liên quan đến thuế quan, đến việc xuất nhập khẩu, thanh toán, phân phối, vận chuyển, bảo hiểm, lưu kho, giám định cũng như các hiệp ước về thương mại giữa các nước v.v để các chính phủ và các nhà kinh doanh được biết
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi chính sách, quy định, điều luật liên quan đến thương mại trong nước và đa biên đều phải rõ ràng và có thể dự đoán trước nhằm ngăn cản những thay đổi tùy tiện và thất thường của các chính phủ, nhất là những thay đổi về thuế quan, các điều cấm và về các hàng rào bảo hộ mậu dịch khác Mọi quy định luật pháp liên quan đến các thương mại đều phải rõ ràng, minh bạch, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải thông báo cho các cơ quan hữu quan của WTO để chuyển tới các thành viên khác
Trang 23Việc kiểm tra, xem xét thường xuyên hệ thống chính sách thương mại quốc gia thông qua cơ chế rà soát chính sách là một công cụ hữu hiệu nhằm tăng cường tính minh bạch cả ở trong nước và trên phương diện đa biên
1.3.4.4 Khuyến khích cạnh tranh bình đẳng
Hai nội dung quan trọng thể hiện nguyên tắc khuyến khích cạnh tranh bình đẳng của WTO là quy định về việc chống bán phá giá và hạn chế trợ cấp
Hành vi bán hàng được coi là bán phá giá khi giá hàng xuất khẩu thấp hơn giá bán bình thường trong nước, giá xuất khẩu sang nước này thấp hơn giá cao nhất xuất sang nước thứ ba bất kỳ, hoặc khi giá hàng xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất + chi phí bán hàng + lợi nhuận hợp lý WTO không cấm nhưng lên án bán phá giá và cho phép các thành viên được áp dụng thuế suất cao hơn thuế suất đã thỏa thuận để chống lại hàng bán phá giá Ngoài ra, WTO cũng có quy định rõ thủ tục điều tra, mức thuế trừng phạt, và thời hạn trừng phạt đối với hành
vi bán phá giá Để tránh việc các nước lạm dụng quyền chống bán phá, GATT cũng quy định thuế chống phá giá không được vượt quá biên độ phá giá và thời hạn trừng phạt không quá 5 năm, trừ phi cơ quan điều tra xác định rằng nếu ngừng trừng phạt thì việc phá giá và thiệt hại sẽ tái diễn
Đối với việc một số nước thường sử dụng biện pháp trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khích dùng hàng nội địa nhằm tạo lợi thế bất bình đẳng cho các
doanh nghiệp của mình, GATT cho phép sử dụng thuế bù trừ để chống lại những
lợi thế bất bình đẳng đó Thủ tục và mức độ trừng phạt đối với hành vi trợ cấp cũng tương tự như đối với chống bán phá giá Tuy nhiên, GATT cũng dành một số ngoại lệ, các trợ cấp không bị xem là tạo ra lợi thế bất bình đẳng gồm : trợ cấp đối với hàng nông sản, trợ cấp cho nghiên cứu, cho các vùng bị thiệt thòi, và cho việc nâng cấp các cơ sở cho phù hợp với các quy định về môi trường
1.3.4.5 Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế
Hơn 3/4 thành viên WTO là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi Các hiệp định của WTO luôn dành cho các nước kém phát triển nhất một khoảng thời gian chuyển đổi Chẳng hạn: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại có thời gian đối với các nước phát triển là 2 năm, nước đang phát triển là 5 năm và nước kém phát triển là 7 năm Ngoài ra, WTO còn cho phép các nước này được hạn chế nhập khẩu nhằm cải thiện cán cân thanh toán và bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ WTO cũng kêu gọi các nước phát triển ưu tiên cắt giảm thuế và rào cản thương mại với các sản phẩm quan
Trang 24trọng đối với nước đang/kém phát triển WTO quy định các nước không áp dụng thuế bù trừ nếu thị phần nhập khẩu của một sản phẩm từ nước đang/kém phát triển dưới 3% tổng giá trị nhập khẩu của sản phẩm đó vào nước đó Chính sách này nhằm giúp các nước đang/ kém phát triển có thời gian dài hơn để thực hiện các thay đổi chính sách, tạo điều kiện phát triển và cải cách kinh tế
1.3.5 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Một trong những chức năng rất quan trọng của WTO là giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích các hiệp định WTO Nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO là : công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp Các thành viên không được đơn phương đưa ra biện pháp trả đũa khi cho rằng thành viên khác vi phạm quy tắc thương mại, mà phải sử dụng hệ thống thương mại đa biên để giải quyết tranh chấp
Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có quyền thành lập các Nhóm chuyên gia để xem xét vụ tranh chấp, chấp nhận hay từ chối các kiến nghị của Nhóm chuyên gia hay các kết quả kháng nghị, giám sát việc thực hiện các quyết nghị và đề nghị cũng như có quyền cho phép hành động trả đũa khi một nước không tuân thủ một quyết nghị
Các giai đoạn giải quyết tranh chấp theo quy định của WTO bao gồm các giai đoạn : hòa giải (các bên tự giải quyết), xem xét vụ việc (nếu không hòa giải thành), ra quyết nghị, phúc thẩm (nếu có kháng nghị của các bên tranh chấp), ra quyết định cuối cùng Thời gian thực hiện từng giai đoạn cũng đuợc quy định rõ và tổng thời gian giải quyết một vụ tranh chấp là 1 năm nếu không có kháng nghị và 1 năm 3 tháng trong trường hợp có kháng nghị
1.3.6 Điều kiện và thủ tục gia nhập WTO :
Bất kỳ quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào có toàn bộ chủ quyền về quan hệ ngoại thương và các vấn đề khác quy định trong các Hiệp định của WTO đều có thể xin gia nhập WTO trên cơ sở các điều kiện do quốc gia đó và WTO thỏa thuận Cụ thể các điều kiện chính như sau :
- Phải có nền kinh tế thị trường, cho dù phát triển theo mô hình nào
- Phải có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của thành viên, đó là : công khai rõ ràng về chế độ và các quy định trong buôn bán quốc tế, công khai các số
Trang 25liệu kinh tế cơ bản, xóa bỏ các phân biệt đối xử, các rào cản phi thuế quan, từng bước làm cho hệ thống luật lệ của mình phù hợp với những quy định của WTO
- Phải được 2/3 số thành viên bỏ phiếu tán thành
Ngoài các thành viên của GATT sau khi ký vào hiệp định cuối cùng của vòng đàm phán Uruguay năm 1994 trở thành thành viên ban đầu của WTO, các nước muốn trở thành thành viên WTO đều phải qua một trình tự thủ tục nhất định Bao gồm các giai đoạn sau :
- Giai đoạn 1 – Nộp đơn xin gia nhập : Chính phủ nước xin gia nhập phải nộp đơn xin gia nhập Đại hội đồng sau khi xem xét đơn sẽ thành lập Nhóm công tác về việc gia nhập của nước xin gia nhập, với sự tham gia của nhiều đại diện của các nước thành viên WTO quan tâm đến thị trường nước xin gia nhập
- Giai đoạn 2 – Gửi “Bị vong lục về chế độ ngoại thương : Tiếp theo đơn xin gia nhập, chính phủ nước xin gia nhập phải gửi tới Nhóm công tác một bản bị vong lục (hay còn gọi là bản ghi nhớ) trình bày tất cả các khía cạnh về chế độ thương mại và pháp luật của mình và cung cấp các thông tin theo biểu mẫu quy định của WTO về nhiều vấn đề khác
- Giai đoạn 3 – Làm rõ chính sách : Trên cơ sở bị vong lục, các thành viên sẽ đặt các câu hỏi yêu cầu nước xin gia nhập trả lời nhằm hiểu rõ chính sách, bộ máy quản lý và thực thi chính sách của nước đó Nhóm công tác sẽ tiến hành kiểm tra tính xác thực của bị vong lục và các câu trả lời, sau đó sẽ tổ chức các phiên họp đa phương đánh giá tình hình chuẩn bị của nước xin gia nhập
- Giai đoạn 4 – Đàm phán song phương : Song song với sự kiểm tra của Nhóm công tác, chính phủ nước xin gia nhập phải tiến hành các cuộc đàm phán song phương với các nước thành viên của WTO có quan tâm đến các nhân nhượng và cam kết về hàng hóa và dịch vụ trong giao thương với mình
- Giai đoạn 5 – Giai đoạn hoàn tất : Kết thúc 4 giai đoạn trên, 3 văn bản hoàn tất tiến trình gia nhập thể hiện kết quả các cuộc đàm phán đa phương và song phương sẽ được xác lập, bao gồm : Báo cáo của Nhóm công tác về tiến trình chuẩn bị và các điều kiện gia nhập, Nghị định thư gia nhập, lịch trình cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ của nước xin gia nhập
Trang 26- Giai đoạn 6 – Chấp thuận : Các văn bản xác lập trong giai đoạn hoàn tất được trình lên Đại hội đồng hoặc Hội nghị Bộ trưởng để chấp thuận, thể hiện bằng 2 văn bản : Quyết định của Đại hội đồng và Nghị định thư gia nhập
- Giai đoạn 7 – Ký và phê chuẩn Nghị định thư gia nhập : Sau khi được chấp thuận, nước xin gia nhập sẽ ký Nghị định thư gia nhập và sau khi Nghị định thư gia nhập được quốc hội nước xin gia nhập phê chuẩn, nước này sẽ chính thức trở thành thành viên của WTO
1.4 KINH NGHIỆM ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Hiện nay, ngoài 143 quốc gia thành viên chính thức, hơn 30 quốc gia và lãnh thổ đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Trong quá trình đó, mỗi nước có những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nên cách làm cũng khác nhau Tuy nhiên, với cùng mục tiêu và bị chi phối bởi cùng một hệ thống các quy định của WTO, kinh nghiệm của mỗi nước trong quá trình đàm phán gia nhập đều cần thiết cho các nước khác, nhất là với các nước có điều kiện gia nhập tương tự như nhau Dưới đây là kinh nghiệm về một số vấn đề chủ yếu rút ra trong quá trình đàm phán của một số nước có điều kiện gia nhập tương tự Việt Nam (đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi) như : Nga, Trung quốc, Đài loan, Mông cổ…), trong đó Trung quốc và Đài loan vừa được công nhận là thành viên chính thức của WTO tháng 11/2001
1.3.8 Về mở cửa thị trường và giảm thuế quan
Trong quá trình đàm phán, tất cả các nước xin gia nhập đều phải cắt giảm thuế quan để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước thành viên WTO Đối với yêu cầu này, các nước xin gia nhập luôn cố gắng cắt giảm thuế quan trong nhiều lĩnh vực để chứng tỏ quyết tâm mở cửa Tuy nhiên, nước xin gia nhập có thể chọn một số lĩnh vực cần thiết, một số mặt hàng cần bảo hộ để tăng thuế trong một thời gian nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm tăng thu cho ngân sách nhà nước trong thời gian chuyển tiếp và được WTO chấp thuận Vấn đề là nước xin gia nhập phải tự quyết định những lĩnh vực và đưa ra được lý do chính đáng cho việc bảo hộ hoặc việc tăng thuế phải được đưa ra trước khi bước vào đàm phán và phải có lịch trình cắt giảm thuế phù hợp với các yêu cầu của WTO Việc cắt giảm thuế phải được thực hiện một cách từ từ trong từng giai đoạn để tránh gây
ra những bất ổn cho sự phát triển kinh tế, đạt lợi ích cao nhất nhưng vẫn được các thành viên WTO chấp nhận
Trang 271.3.9 Về các biện pháp phi quan thuế
Ngoài việc giảm thuế, trong quá trình đàm phán, các nước xin gia nhập cũng bị yêu cầu phải giảm hoặc bãi bỏ các biện pháp phi quan thuế để tạo thuận lợi cho việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước thành viên WTO Nhìn chung, các nước gia nhập đều phải bãi bỏ dần các biện pháp phi quan thuế và chuyển sang thuế quan hóa để đáp ứng các yêu cầu của WTO Tuy nhiên, đối với những biện pháp ít gây tác động đến sự phát triển kinh tế thì có thể xem xét bãi bỏ ngay hoặc chuyển sang thuế quan hoá, những biện pháp khác còn cần thiết thì đưa vào một lịch trình cắt giảm để có thời gian điều chỉnh Nghĩa là ở một chừng mực nào đó, nước xin gia nhập vẫn có thể duy trì một số biện pháp để bảo hộ sản xuất trong nước, đồng thời cũng cần tính đến một số biện pháp hỗ trợ cho các lĩnh vực bị tác động do việc bãi bỏ các biện pháp phi quan thuế
1.3.10 Về kiểm soát giá cả và trợ cấp xuất khẩu
Trong đàm phán, các nước xin gia nhập cũng được yêu cầu phải bãi bỏ các biện pháp quản lý và kiểm soát gía cả để cho thị trường quyết định nhằm tránh sự bóp méo về giá hàng tại thị trường nội địa Nước xin gia nhập phải đưa
ra được lộ trình giảm dần trong từng giai đoạn cho phù hợp với qui định của WTO Tuy nhiên, trong quá trình thương lượng gia nhập WTO, các nước vẫn có thể duy trì một số biện pháp để hỗ trợ cho sản xuất và xuất khẩu của đất nước và phải có lộ trình được các thành viên chấp thuận để gắn vào phần phụ lục của Nghị định thư gia nhập
1.3.11 Về doanh nghiệp quốc doanh và quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
WTO yêu cầu phải tạo ra một "sân chơi công bằng" trong sản xuất và kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh (State-own Enterprises – SOE) và doanh nghiệp tư nhân Nước xin gia nhập phải có cam kết cụ thể bảo đảm nguyên tắc công khai, không phân biệt đối xử giữa các SOE và công ty tư nhân, giữa công ty trong nước và công ty nước ngoài trong hoạt động kinh doanh Kinh nghiệm cho thấy nước xin gia nhập thường cam kết giảm dần vai trò của các SOE, còn đối với một số lĩnh vực cần giữ lại sự độc quyền của nhà nước thì phải có lộ trình bãi bỏ và thông báo cho các thành viên WTO Để tạo thuận lợi cho đàm phán và dễ được các thành viên chấp nhận, nước xin gia nhập phải chuẩn bị danh mục các lĩnh vực kinh doanh mà các SOE nắm vai trò chủ đạo, đồng thời đưa ra công khai thời gian và mức độ ưu đãi dành cho các SOE theo hướng loại bỏ dần
Trang 281.3.12 Về thương mại dịch vụ
Mở cửa thị trường cho các dịch vụ nước ngoài là một trong những vấn đề quan trọng được các thành viên WTO quan tâm Trong đàm phán, nước xin gia nhập thường bị yêu cầu phải mở cửa thị trường dịch vụ và dành qui chế đãi ngộ quốc gia cho các dịch vụ nước ngoài, phải đưa ra cam kết về mức độ mở cửa thị trường dịch vụ của mình Đối với yêu cầu này nước xin gia nhập thường cam kết mở cửa những lĩnh vực dịch vụ mà mình có lợi thế so sánh, với những lĩnh vực có sức cạnh tranh kém hơn thì thường duy trì thời gian chuyển tiếp dài nhất có thể để bảo hộ và tăng dần sức cạnh tranh của các công ty trong nước nhằm ổn định nền kinh tế trước áp lực cạnh tranh của bên ngoài
1.3.13 Về mở cửa cho đầu tư nước ngoài
Các nước xin gia nhập thường đuợc yêu cầu phải đưa ra các cam kết về mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc bãi bỏ một số hạn chế Nhìn chung, do cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nước xin gia nhập thường thực hiện giảm dần các trở ngại Tuy nhiên, Hiệp định về Các biện pháp Đầu tư Liên quan đến Thương mại (TRIMs) chỉ cấm một số biện pháp về tỷ lệ nội địa, tỷ lệ xuất khẩu và cân bằng thương mại, nên trong quá trình đàm phán, nước xin gia nhập thường tìm kiếm những ưu đãi để kéo dài việc thực hiện các biện pháp trên trong giai đoạn chuyển tiếp và vẫn áp dụng một số biện pháp không trái với quy định của WTO như quy định về chuyển lợi nhuận về nước và chuyển giao công nghệ
1.3.14 Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một trong những yêu cầu của WTO mà các thành viên phải thực hiện Trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO, nước xin gia nhập phải ban hành và tăng cường hệ thống luật pháp trong nước cho phù hợp tiêu chuẩn của Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS) Đây không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc mà còn mang lại lợi ích cho các nước xin gia nhập Một nước có chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh sẽ góp phần không nhỏ vào việc thu hút đầu tư nước ngoài
Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm rút ra từ cách làm trong quá trình đàm phán gia nhập của một số nước, trong một số lĩnh vực cụ thể của WTO Trong thực tiễn, các quy chế và quy định của WTO rất chi tiết và chặt chẽ, đòi hỏi của các nước thành viên WTO đối với từng nước xin gia nhập là khác nhau và mỗi nước xin gia nhập cũng có cách làm riêng phù hợp với điều kiện phát triển kinh
Trang 29tế của mình nên quá trình đàm phán gia nhập WTO rất phức tạp, kinh nghiệm
trong đàm phán rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, từ thực tiễn của các nước,
có thể rút ra một số kinh nghiệm chung sau :
- Về nguyên tắc, trong đàm phán gia nhập luôn luôn khẳng định quyết tâm đổi mới và chuyển đổi sang cơ chế thị trường, điều này đặc biệt quan trọng với các nền kinh tế chuyển đổi
- Cố gắng chỉ đưa cam kết cao trong những lĩnh vực mạnh và quan tâm nhất của mình và cam kết thấp trong những lĩnh vực có năng lực cạnh tranh thấp Để làm như vậy cần xác định rõ năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng
- Có sự phối hợp chặt giữa các ngành trong nước và thống nhất lập trường trước đàm phán Trong đàm phán nên có nhiều phương án, kể cả phương án "lùi" tối thiểu
- Các nước nhỏ nên tranh thủ các tổ chức khu vực mà mình tham gia để tăng cường vị thế đàm phán
- Trong các vòng đàm phán và tại bộ máy liên bộ, những vấn đề quan trọng phải có người của Bộ chủ quản đảm nhiệm để nắm sâu và có thẩm quyền xử lý
- Người đàm phán phải liên tục bám quá trình và có đủ thẩm quyền thương lượng, vì vừa phải dàn xếp giữa các cơ quan quan trọng trong nước vừa phải đấu tranh với bên ngoài
- Chú trọng cử người có năng lực làm việc tại các địa bàn quan trọng như Bắc Mỹ, EU, Geneva để học hỏi thêm
- Tăng cường đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu về WTO
- Phải dung hoà được lợi ích của các ngành/lĩnh vực trong nước Đây chính là quá trình điều chỉnh cơ cấu sâu rộng và không được nóng vội mà gia nhập trong điều kiện chưa chuẩn bị đầy đủ vì có thể xuất hiện những tổn thất khó lường về sau
- Vấn đề cải cách trong nước và gia nhập WTO có quan hệ chặt chẽ với nhau Theo Trung Quốc, cần chủ động điều chỉnh cơ cấu trong nước theo các quy định của WTO chứ không nên vào rồi mới điều chỉnh
- Về thuế quan, nên công bố mức trần thuế cao hơn mức áp dụng thực tế để khi cần bảo hộ thì có thể nâng thuế lên Làm như vậy sẽ luôn chủ động trong đàm phán và hạn chế được phản ứng của các nước
- Trong đàm phán song phương cần đặc biệt cảnh giác với Mỹ, EU, Nhật và Canada Đa số những thành viên này chỉ đưa ra nhân nhượng vào phút chót Đồng thời, cả bốn thành viên này thường cùng tiến hành đàm phán song phương với nước xin gia nhập cùng thời điểm nên họ có thể cùng lúc gây sức ép mở cửa trên hầu hết các lĩnh vực của4 nước xin gia nhập
Trang 30- Cần tranh thủ tối đa sự hỗ trợ kỹ thuật cũng như sự ủng hộ của các nước trong quá trình gia nhập
- Có chiến lược hội nhập rõ ràng và đối với nền kinh tế chuyển đổi, cần có kế hoạch phát triển khu vực kinh tế quốc doanh phù hợp với quy định của WTO
(Xem phụ lục 7 : Dẫn chứng về kinh nghiệm trong đàm phán của một số nước)
Trang 31CHƯƠNG II
- QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM – THỰC TRẠNG, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Thực hiện đường lối đối ngoại mở cửa và hội nhập kinh tế của Đảng, trong những năm qua chúng ta đã từng bước chủ động tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đã đạt những thành tựu nhất định về cả lượng và chất Về lượng, đó là những thành tựu trong việc thiết lập các quan hệ quốc tế bao gồm gia nhập các tổ chức kinh tế, tài chính chủ yếu của khu vực và thế giới, thiết lập các mối quan hệ song phương với nhiều quốc gia, trong đó có các quốc gia có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế thế giới Về chất, đó là những thành
tựu về phát triển kinh tế được các nhà kinh tế học thế giới đánh giá là “đầy ấn
tượng và đáng ngạc nhiên” Những thành tựu đó cho phép chúng ta đặt những mục tiêu lớn hơn trên đường hội nhập, cụ thể là từ 1995 tới nay, mục tiêu phấn đấu của Việt Nam là gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đã đi được một chặng khá dài tiến tới mục tiêu này Tuy nhiên, trong tiến trình gia nhập WTO, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm Để có thể xác định những việc cần làm nhằm thúc đẩy tiến trình đó, chúng ta cần đánh giá thực trạng của quá trình gia nhập WTO của Việt Nam mà nội dung cụ thể sẽ được giải quyết trong chương này, bao gồm
- Điểm qua những thành tựu hội nhập kinh tế nói chung, bao gồm hai mặt : thành tựu về thiết lập các quan hệ quốc tế và thành tựu về phát triển kinh tế với mốc thời gian trong 10 năm trở lại đây
- Những bước đi đã thực hiện trong quá trình đàm phán gia nhập WTO
- Xác định những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi gia nhập WTO
2.4 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM
2.4.1 Những thành tựu đã đạt được trong quá trình hộâi nhập kinh tế quốc tế 2.4.1.1 Về kết quả thiết lập các quan hệ quốc tế
Trang 32Hợp tác đa phương – Tham gia các tổ chức kinh tế tài chính quốc tế
Trong quan hệ hợp tác đa phương, Việt Nam đã thiết lập được mối quan hệ với các tổ chức lớn trong khu vực và thế giới như : trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN (1995), ký hiệp định khung về hợp tác Việt Nam và Liên minh Châu Aâu – EU (7/7/1995), gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái bình dương – APEC (11/1998) …
Quan hệ Việt Nam – Asean : ngoài sự hợp tác toàn diện trên tất cả các mặt : an ninh, chính trị, văn hóa, các hoạt động kinh tế, thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, công, nông, lâm nghiệp, giao thông vận tải, sở hữu trí tuệ v.v hoạt động quan trọng nhất trong khuôn khổ ASEAN nhằm tự do hóa thương mại là tiến tới hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), với công cụ chủ yếu là Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), theo đó Việt Nam sẽ phải tham gia thực hiện lịch trình cắt giảm thuế nhập khẩu của mình xuống còn 0 – 5% trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1.1.1996 và hoàn thành vào 1.1.2006 Cho đến nay quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN đã và đang phát triển khá mạnh Về thương mại, kim ngạch buôn bán hai chiều ở mức 3,5 tỷ USD vào năm 1995, đến nay đã đạt trên 7 tỷ USD (tăng hơn 2 lần) Vốn đầu tư trực tiếp của ASEAN vào Việt Nam từ mức chỉ chiếm 17,25% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam tính đến tháng 7/1995, nay đã tăng lên 25,56%
với tổng vốn đăng ký hơn 9 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 1995
Quan hệ Việt Nam – EU, Hiệp định khung được ký kết đã tạo điều kiện phát triển quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại giữa Việt Nam và EU Về thương mại, hai bên dành cho nhau chế độ tối huệ quốc, không phân biệt đối xử Kim ngạch buôn bán hai chiều Việt Nam và EU năm 1999 tăng lên 2 lần so với năm 1995, trong đó xuất khẩu của Việt Nam tăng lên 3 lần Về hợp tác đầu tư, tính đến nay tổng đầu tư của EU vào Việt Nam đạt khoảng 4 tỷ USD Trong qun hệ hợp tác phát triển, vốn ODA của EU cung cấp cho Việt Nam đã tăng từ 80 triệu euro năm 1995 lên 250 triệu euro năm 1999
Quan hệ Việt Nam - APEC : APEC là tổ chức hợp tác kinh tế bao gồm 21 nền kinh tế vùng lòng chảo Châu Á – Thái bình dương, trong đó có các nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ, Nhật, Úùc, Canada Việt Nam cũng đã có các thỏa thuận về chế độ Tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia trong thương mại và đầu tư, thỏa thuận cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, đặc biệt là đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật để hỗ trợ nhau phát triển Trong quan hệ với APEC, về chế độ thuế quan, Việt nam đang tiến hành các bước chuyển sang chế độ thuế suất : thuế suất trung bình được áp dụng là 11,9%, trong đó 26% miễn thuế, 25%
Trang 33áp dụng thuế suất từ 0 – 5%, thuế suất từ 0 – 6% có 25 biểu thuế và sẽ còn giảm xuống dưới 15 biểu Việt Nam cũng cam kết giảm thuế suất nhằm đạt mục tiêu tự do hóa thương mại vào năm 2020
Quan hệ Việt Nam với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế : năm 1993, Việt Nam đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Các chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật cũng như nguồn vốn vay của các tổ chức này đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam trong việc xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội cũng như thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế Quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế cũng đã góp phần đáng kể vào qua trình xử lý nợ nước ngoài (nợ chính phủ và nợ doanh nghiệp) của Việt Nam
Hợp tác song phương
Cùng với các hoạt động hợp tác đa phương và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, trong thời gian qua các hoạt động hợp tác song phương trong hội nhập kinh tế quốc tế cũng có tầm quan trọng đặc biệt Cho đến nay, chúng ta đã có quan hệ buôn bán với hơn 150 nước ttên thế giới, trong đó phải kể đến quan hệ với một số đối tác chủ yếu như :
Quan hệ Việt Nam – Trung quốc : đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác, trong đó quan trọng nhất là Hiệp định hợp tác kinh tế và Hiệp định Thương mại Việt – Trung và nhiều hiệp định khác về các lĩnh vực : hợp tác khoa học kỹ thuật, đầu
tư, du lịch, giao thông vận tải v.v Kim ngạch buôn bán hai chiều đã vượt mức
2 tỷ USD, Trung quốc hiện là một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam
Trung quốc vừa kết thúc tiến trình đàm phán gia nhập WTO và trở thành thành viên của WTO vào ngày 10/11/2001 vừa qua Điều này sẽ vừa tạo những thuận lợi nhất định song cũng sẽ gây khó khăn cho chúng ta vì Trung quốc vừa là đối tác quan trọng trong quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam, vừa là đối thủ cạnh tranh đáng gờm của chúng ta trên thị trường thế giới
Quan hệ Việt Nam – Nhật bản : Kể từ khi nối lại viện trợ phát triển cho Việt nam năm 1992 tới nay, Nhật bản là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam với tổng vốn ODA cam kết cho đến năm 1999 đã đạt mức 6 tỷ USD, chiếm 40% tổng ODA mà cộâng đồng quốc tế cam kết cung cấp cho Việt Nam Về thương mại, Nhật bản là bạn hàng song phương lớn nhất của ta với kim ngạch buôn bán hai chiều mỗi năm đạt trên 3 tỷ USD Nhật bản là đối tác có tiềm năng rất lớn
Trang 34với nhiều thế mạnh về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và hiện là một trong những nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam
Quan hệ Việt Nam – Mỹ : quan hệ hợp tác kinh tế Việt – Mỹ bắt đầu phát triển tuy chưa đạt được những kết quả lớn Mậu dịch song phương giữa hai nước đã tăng từ 224 triệu USD năm 1994 lên 1,2 tỷ USD năm 2000 Hai bên đã ký kết các Hiệp định về hoạt động của cơ quan đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC), Hiệp định khung về hoạt động và bảo lãnh tín dụng của Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ (EXIMBANK) để hỗ trợ các hoạt động đầu tư và thương mại Trong hợp tác phát triển, Mỹ đã hỗ trợ Việt Nam thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan phát triển Thương mại Mỹ (TDA) và các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Điểm mốc quan trọng nhất trong quan hệ kinh tế song phương Việt – Mỹ là Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ được ký kết ngày 13.7.2000 Một khi Hiệp định được phê chuẩn, hàng hóa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ sẽ có mức thuế nhập khẩu trung bình là 3%, thay vì 40% (1)như hiện nay Đây sẽ là nhân tố mới mở đường cho kim ngạch xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Mỹ tăng nhanh vào những năm tới Đặc biệt Hiệp định thương mại Việt – Mỹ có ý nghĩa thiết thực cho Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO vì bản thân nội dung Hiệp định được đàm phán trên các nguyên tắc và quy định của tổ chức này và bản thân Mỹ là một cường quốc về thương mại, có vai trò lớn trong WTO
Trong hệ thống các mối quan hệ song phương, một bước tiến quan trọng phải kể đến là việc Việt Nam cho đến nay đã ký hiệp định thương mại song phương với 57 nước và có thỏa thuận Tối huệ quốc với 72 nước trên thế giới Hiện tại, theo thỏa thuận tối huệ quốc, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam từ 72 nước nói trên sẽ được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi là mức thuế thấp hơn thuế suất
nhập khẩu thông thường, tính theo công thức : Thuế NK thông thường = Thuế
NK ưu đãi x 150% Điều này cũng có nghĩa là hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đến các nước nói trên cũng sẽ được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi của các nước đó Các quan hệ trên cơ sở ký kết Hiệp định thương mại cũng như thoả thuận Tối huệ quốc về cơ bản được thiết lập dựa trên các nguyên tắc của WTO do đó là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này
2.4.1.2 Thành tựu về phát triển kinh tế
Trang 35
Đường lối đổi mới của Đảng được khởi xướng từ 1986, nhưng sự đổi mới thực sự sâu rộng và chuyển hóa thành những kết quả cụ thể từ hơn 10 năm trở
lại đây (Xem phụ lục 8– Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu giai đoạn 1990–
số này là 376 USD/người (Đồ thị 2.1)
Đồ thị 2.1 : Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
(Nguồn : Niên giám Thống kê và Tính toán của UNDP)
0
186 221 290 339
5.1
6
8.6 8.1 8.8
8.1
5.8 4.7
GDP theo đầu người Tỷ lệ tăng trưởng GDP
Tuy mức thu nhập này vẫn rất thấp so với thế giới song đã cải thiện đáng kể mức sống của người dân, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo từ mức khoảng 70% vào giữa thập kỷ 80 xuống còn 58% năm 1993 và còn khoảng 37% năm 1998(1) Tỷ lệ lạm phát giảm mạnh từ hơn 67% vào năm 1990–1991 xuống còn 5,2%
năm 1993 và dao động quanh mức bình quân 7,4% từ 1994–1999
Về cơ cấu GDP, trong khi từng ngành đều tăng trưởng qua các năm, tỷ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP dịch chuyển theo hướng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nông nghiệp ngày càng giảm, cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang dần thoát ra khỏi tình trạng một nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu để hướng tới một nền kinh tế công nghiệp hiện đại (Đồ thị
2.2, bảng 2.1)
Trang 36
Đồ thị 2.2 : Tỷ trọng GDP các ngành
(Nguồn : Niên giám Thống kê)
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
Bảng 2.1 : Dịch chuyển tỷ trọng các ngành trong GDP
Tỷ trọng trong GDP (%) Ngành
được cân bằng cán cân xuất nhập khẩu (Đồ thị 2.3)
Đồ thị 2.3 : Thương mại Quốc tế
(Nguồn : Tổng cục Hải quan)â
Trang 37Thực hiện đường lối mở cửa, Việt Nam đã thực thi các biện pháp cải cách đóng góp đáng kể vào việc tự do hóa thương mại như : Ban hành Luật thương mại, giảm các rào cản thuế quan, mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp và áp dụng một biểu thuế quan thống nhất Các biện pháp này đã thúc đẩy sự phát triển thương mại của Việt Nam Tỷ trọng xuất khẩu so với GDP tăng từ 24% năm 1990 lên 40% năm 1999 là một chỉ số minh chứng cho sự mở cửa ngày càng tăng của nền kinh tế Trong cùng thời gian , giá trị nhập khẩu so với GDP cũng tăng từ 26,9% lên đến 40,4%
Chính sách mời gọi đầu tư nước ngoài thông qua Luật đầu tư nước ngoài, được đánh giá là khá thông thoáng, từ khi ban hành đến nay đã thu hút hơn 38 tỷ USD vốn đăng ký với hơn 2400 dự án của hàng trăm công ty từ hơn 70 nước và
lãnh thổ, vốn thực hiện đạt gần 16 tỷ USD (Đồ thị 2.4) Bên cạnh đó, chính sách
cải cách kinh tế của Việt Nam theo định hướng thị trường đã góp phần giải phóng năng lực sản xuất trong nước đồng thời cũng là điều kiện tốt để nối lại quan hệ viện trợ với cọâng đồng quốc tế Tổng trị giá hiệp định viện trợ phát triển (ODA) từ 1990 – 1999 là 10,5 tỷ USD, trong đó đã giải ngân hơn 7 tỷ USD
Đồ thị 2.4 : FDI, tăng trưởng xuất khẩu và GDP
(Nguồn : Tổng cục thống kê)
Từ những số liệu trên có thể thấy đường lối đổi mới mà Đảng ta đề ra đã làm thay đổi diện mạo của nền kinh tế nước ta Từ một nước nông nghiệp lạc lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, bị bao vây cấm vận kinh tế, bị trì trệ bởi
cơ chế quản lý quan liêu bao cấp và bị khủng hoảng bởi sự sụp đổ của Liên xô cũ và các nước XHCN Đông Aâu Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, đặc biệt vào những năm 1994 – 1997 Từ 1998 đến nay, kinh tế nước
ta có dấu hiệu chững lại Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục rà soát và sửa đổi các chính sách phát triển kinh tế ngày càng phù hợp hơn với tình hình mới, đồng thời đẩy nhanh hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 382.4.2 Những kết quả đạt được trong tiến quá trình đàm phán gia nhập WTO
Tuy đã đạt được những thành tựu về kinh tế và hội nhập như đã nêu trên, Việt Nam vẫn chưa thoát ra ngoài danh sách các quốc gia nghèo của thế giới Trong thương trường quốc tế, Việt Nam vẫn chịu sự đối xử không công bằng, bị chèn ép Chính vì vậy, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Và, như đã phân tích
ở những phần trên, việc tham gia WTO mới thực sự là bước hội nhập mang tính toàn diện nhất, đầy đủ nhất vào thị trường thế giới
Giai đoạn 1 : Nộp đơn xin gia nhập
Ngày 01/ 01/1995, Việt Nam đã đệ đơn xin gia nhập lên Tổng giám đốc WTO theo Điều 12 của Hiệp định WTO Điều đó đã khẳng định mong muốn của Chính phủ Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới và đã chứng tỏ rằng Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Sau khi Tổng giám đốc WTO nhận được đơn xin gia nhập chính thức, ngày 30/ 01/1995, Đại hội đồng WTO đã thành lập Nhóm công tác về việc gia nhập của Việt Nam, với sự tham gia của nhiều thành viên WTO quan tâm đến thị trường Việt Nam, có trách nhiệm tổ chức các cuộc đàm phán về gia nhập WTO và chuẩn bị Nghị định thư gia nhập Nhóm công tác cũng có trách nhiệm kiểm tra các chính sách và thực tiễn hoạt động thương mại của Việt Nam
Giai đoạn 2 : Gửi "Bị Vong lục về Chế độ Ngoại thương”
Ngày 26/08/1996, Việt Nam hoàn thành "Bị Vong lục về Chế độ Ngoại
thương của Việt Nam" và gửi tới Ban Thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Nhóm Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO Bản Bị Vong lục giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, và cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách liên quan đến thương mại hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ, đề cập chi tiết đến tất cả các công cụ thương mại như thuế quan, các hạn chế phi thuế quan, các quy định về xuất nhập khẩu, kiểm soát ngoại hối, chính sách đầu tư và quá trình tự do hoá thương mại trong tương lai được quy định trong các luật và các quy định của Việt Nam Cơ chế ngoại thương càng minh bạch rõ ràng thì Việt Nam càng có cơ hội tốt hơn trong việc thúc đẩy quá trình gia nhập
Giai đoạn 3 : Làm rõ chính sách thương mại
Sau khi nghiên cứu "Bị Vong lục về Chế độ Ngoại thương", nhiều thành viên WTO, trong đó có Mỹ, EU, Nhật bản, Australia đặt các câu hỏi yêu cầu
Trang 39Việt Nam trả lời nhằm hiểu rõ chính sách, bộ máy quản lý và thực thi chính sách của Việt Nam, cụ thể là các vấn đề liên quan đến chính sách kinh tế, thương mại, dịch vụ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, vấn đề đầu tư liên quan đến thương mại, môi trường Ngoài việc trả lời các câu hỏi, Việt Nam cũng phải cung cấp nhiều thông tin khác theo các biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ nông nghiệp, trợ cấp công nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu
tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ,
Nhóm Công tác cho đến nay đã tổ chức được 4 phiên họp (Phiên 1 : ngày
27 – 28/7/1998 ; Phiên 2 : ngày 3/12/1998; Phiên 3 : ngày 22-23/7/1999; Phiên 4 : ngày 29/11 – 3/12/2000) để Việt Nam trực tiếp giải thích, làm minh bạch chính sách ngoại thương của mình cũng như cung cấp thông tin về phương hướng phát triển của chính sách đó Trong 4 phiên họp này, phía Việt nam đã thực hiện việc minh bạch hóa một cách tổng thể, toàn diện và sâu sắc thực trạng hệ thống và diễn biến chính sách thương mại của Việt Nam về hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng đã đưa ra chương trình thể chế hóa pháp luật Tính đến tháng 2/2000, Việt nam đã nhận được 1.376 câu hỏi của các nước thành viên WTO quan tâm đến Việt nam và đã trả lời 1.216 câu hỏi, được đánh giá là nghiêm túc và có chất lượng cao Các câu còn lại cũng đang được các Bộ, ngành tích cực hoàn chỉnh
Hiện nay, Việt Nam đang chuẩn bị cho các phiên đàm phán sắp tới Cùng với việc tiếp tục minh bạch hóa chính sách, bản chào ban đầu (Initial Offer) cho quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam đang được Bộ Thương mại, Bộ Tài chính và một số cơ quan hữu quan xây dựng, bao gồm các phương án cắt giảm gần 8.000 dòng thuế khi đàm phán gia nhập, cùng tiến trình thực hiện hạn chế dần các biện pháp phi quan thuế Việt Nam cũng đang tích cực chuẩn bị cho đàm phán song phương với một số thành viên WTO có quan tâm như : EU, Thụy sỹ, Hoa kỳ, Argentina, Hàn quốc, Úc
Như vậy, Việt Nam đang ở vào giai đoạn thứ 3 và chuẩn bị bước sang giai đoạn thứ 4 trong 7 giai đoạn của thủ tục gia nhập WTO Tuy nhiên, các giai đoạn sau đó gồm giai đoạn 5(giai đoạn hoàn tất), giai đoạn 6 (chấp thuận) và giai đoạn 7 (ký và phê chuẩn Nghị định thư gia nhập) chỉ đơn thuần mang tính thủ tục, do đó có thể nói chúng ta đang ở vào giai đoạn quan trọng nhất trong tiến trình gia nhập WTO Đây là giai đoạn cần tiến hành những cải cách kinh tế, sửa đổi chính sách cho phù hợp với các quy định, yêu cầu của WTO, cũng là giai đoạn chuẩn bị nội lực để tận dụng cơ hội, đối phó với thách thức khi Việt Nam
Trang 40chính thức gia nhập vào tổ chức thương mại lớn nhất thế giới này Việc nhận thức rõ những cơ hội và thách thức đó, vì vậy là hết sức quan trọng và cần thiết
2.4.3 Những điểm trong chính sách kinh tế thương mại của Việt Nam chưa
phù hợp với quy định và nguyên tắc của WTO – Trở ngại của tiến trình
2.4.3.1 Về nguyên tắc Không phân biệt đối xử :
Đây là nguyên tắc bao trùm nhất của WTO, đòi hỏi Việt Nam phải tạo những điều kiện kinh doanh bình đẳng đối với tất cả các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Hiện tại các doanh nghiệp nhà nước đang được hưởng nhiều
ưu đãi về quyền kinh doanh trên một số ngành và lĩnh vực, về đất đai, về tín dụng, về xuất, nhập khẩu so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước khác tham gia kinh doanh Tương tự, doanh nghiệp nước ngoài còn đang chịu chế độ hai giá với một số ngành như khách sạn, vận tải nội địa, điện, nước, bưu chính viễn thông, giá thuê đất
Trong chính sách thuế của ta cũng tồn tại sự phân biệt giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước đối với môt số mặt hàng, chẳng hạn như việc duy trì thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe cộ dưới 12 chỗ ngồi, nguyên liệu sản xuất thuốc lá điếu, hay phụ thu đánh vào nhiên liệu, sắt thép, phân bón
Trong chính sách đầu tư, chúng ta vẫn duy trì yêu cầu các dự án đầu tư nước ngoài phải xuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm trong một số lĩnh vực như : sản xuất xi măng, sơn, thép xây dựng, bột giặt, thuốc lá, giấy Hoặc duy trì các yêu cầu mang tính phân biệt như : Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc trong các liên doanh phải là người Việt nam, công dân nước ngoài không được phép mua quá 30% cổ phần của một doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa
2.4.3.2 Về nguyên tắc Bảo hộ thông qua thuế quan
Theo nguyên tắc này, các quốc gia chỉ được phép bảo hộ sản xuất trong nước thông qua thuế quan và chấm dứt sử dụng các biện pháp bảo hộ khác Ta hiện đang áp dụng hạn chế nhập khẩu đối với nhiều loại hàng hoá dưới nhiều hình thức khác nhau Các biện pháp bảo hộ phi thuế quan còn đang được áp dụng rất phổ biến, đặc biệt là các biện pháp hạn chế về số lượng, rõ nhất là đối với những hàng hoá nằm trong diện cân đối lớn của nhà nước như xăng dầu, phân bón, thép xây dựng, xi măng, giấy, đường, kính xây dựng