1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rủi ro trong thực hiện phương thức tín dụng chứng từ tại một số các ngân hàng quốc doanh ở tp hồ chí minh và biện pháp phòng ngừa

56 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 479,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH 1.2 RỦI RO TRONG THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TDCT TẠI NH 1.2.1 Khái quát về phương thức TDCT 1.2.1.1 Khái niệm Phương thức thanh toán TDCT là một sự thỏa thuận mà trong đó NH

Trang 1

LÊ TH Ị THANH BÌNH

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

# Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Lê Tấn Bửu và các Thầy Cô khoa Ngoại thương đã tận tình

giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc và nhân viên Ngân hàng Ngoại thương TP Hồ Chí Minh, Ngân hàng Công thương – Sở giao dịch 2 TP Hồ Chí Minh, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu và số liệu cũng như góp ý xây dựng để luận văn thêm phong phú Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè đã giúp đõ để tôi hoàn thành đề tài

Trang 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT

- B/L : Bill of Lading – Vận đơn đường biển

- UQHT : Ủy quyền hoàn trả

- NHHT : Ngân hàng hoàn trả

- -HMTD : Hạn mức tín dụng

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ý NGHĨA CHỌN ĐỀ TÀI

Hoạt động ngoại thương ngày một sôi động thì các tranh chấp trong giao dịch tín dụng chứng từ cũng gia tăng một cách đáng kể, cả giữa các ngân hàng với nhau lẫn giữa ngân hàng với khách hàng Đặc biệt, rủi ro cho ngân hàng là rất nghiêm trọng vì có tính lây lan, dây chuyền, hơn nữa, nếu sai lầm của ngân hàng có thể làm cho khách hàng bị tổn thất thì chính bản thân ngân hàng sẽ chịu thiệt hại không kém cả về tiền bạc, hàng hóa, uy tín trên thương trường và ảnh hưởng chung cho cả ngành ngân hàng nước nhà

Chính vì vậy, nghiên cứu về rủi ro trong thực hiện phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) tại NH và các biện pháp phòng ngừa có vị trí đặc biệt quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và

hoạt động ngoại thương nói chung

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT

- Nghiên cứu những rủi ro thực tế đã xảy ra cho một số các NH quốc doanh trên địa bàn TP Hồ Chí Minh (Bao gồm: Vietcombank, Incombank, BIDV TP Hồ Chí Minh Đưa ra những bài học kinh nghiệm về công tác thực hiện phương thức TDCT tại các NH thương mại

- Đề xuất những giải pháp hạn chế rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT tại các NH nghiên cứu nói riêng và đây cũng chính là bài học rút ra cho các NH thương mại nói chung

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

™ Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu những rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT

và những rủi ro thực tế đã xảy ra cho các NH được nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến những rủi ro và biện pháp phòng ngừa

™ Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT tại

3 NH quốc doanh Vietcombank TP HCM, Incombank TP.HCM, Vietindebank TP.HCM, đồng thời, cũng thực hiện việc khảo sát tại 22 NH thương mại khác tại TP HCM Những giải pháp được đề xuất hoàn toàn có thể áp dụng cho các NH thương mại nói chung vì:

- Phương thức TDCT được thực hiện nghiêm ngặt theo UCP Ở một số nước, UCP được coi là Luật quốc gia

- Qui trình thực hiện phương thức TDCT tại các NH cơ bản là như nhau

- Tương tự về trách nhiệm trong vai trò là NH thực hiện nghiệp vụ

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương pháp suy luận logic

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn

Trang 5

- Sử dụng phương pháp chuyên gia

5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Đề tài có … trang, 7 bảng biểu, 5 sơ đồ, 6 phụ lục kết cấu trong 3 chương

Chương I : Cở sở lý luận của rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT

Chương II : Phân tích những rủi ro thực tế trong thực hiện phương thức TDCT tại 3 NH quốc doanh

tại TP.HCM và những kết luận tương đồng rút ra từ cuộc khảo sát tại 22 NH thương mại khác ở TP HCM

Chương III : Những giải pháp hạn chế rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT tại các NH nghiên

cứu (Bài học kinh nghiệm cho các NH thương mại)

Đánh giá những rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT là một đề tài đã được rất nhiều người và

cơ quan nghiên cứu Tuy nhiên các nghiên cứu đứng trên phương diện một công ty tham gia thực hiện phương thức TDCT, ít người nghiên cứu về rủi ro cho một NH thương mại khi thực hiện phương thức tín dụng chứng từ Cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu hoàn chỉnh chuyên sâu nghiên cứu về lĩnh vực này, hầu hết chỉ được nêu ra dưới dạng tham khảo hoặc bổ sung Tài liệu nước ngoài có chú trọng hơn nhưng số xuất bản không nhiều và chỉ dừng ở mức góp ý chứ không đánh giá, phân loại, xác định tổn thất Trong khi thực hiện đề tài, tác giả đã gặp phải không ít khó khăn vì những số liệu và những tình huống đã xảy ra còn là vấn đề bảo mật của các NH, do vậy tên các đơn vị liên quan không được nêu cụ thể Có những sai lầm đã được “hợp lý hóa” và do đó, luận văn không thể nêu ra hết những tổn thất mà bên vi phạm lẽ ra phải gánh chịu Tuy vậy, tác giả đã nỗ lực cao nhất trong thực hiện đề tài Rất mong nhận được sự góp ý của quí Thầy Cô, bạn bè và những người có quan tâm về lĩnh vực thanh toán TDCT để đề tài thêm hoàn thiện

Xin chân thành cám ơn

Trang 6

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA RỦI RO TRONG THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG

1.1 NHỮNG RỦI RO ĐẶC THÙ TRONG KINH DOANH NH

1.1.1 Khái niệm về rủi ro

Có thể nói rủi ro là một vấn đề tồn tại ở khắp mọi lĩnh vực của cuộc sống Rủi ro hiện diện hầu hết trong mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán chính xác kết quả, và sự hiện diện của mọi rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro sẽ phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hay mất không thể đoán trước

Một khái niệm về rủi ro khá phổ biến hiện nay là: Rủi ro là những biến động tiềm ẩn ở những kết quả

1.1.2 Phân loại những rủi ro đặc thù trong kinh doanh NH

Trong hoạt động kinh doanh, một NH hiện đại thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro Trong đó có

ít nhất là 7 loại rủi ro cơ bản : rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động, rủi ro quốc gia

1.1.2.1 Rủi ro lãi suất

Nếu NH duy trì cơ cấu Tài sản có và Tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng nhau, thì phải chịu

những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ Tài sản có và Tài sản nợ, hoặc rủi ro về lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động

1.1.2.2 Rủi ro ngoại hối

Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro hối đoái : Thứ nhất, các NH giao dịch các đồng tiền nước ngoài nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính bản thân mình; thứ hai, các NH đầu tư vào tài sản có

và huy động vốn bằng ngoại tệ Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (trường hoặc đoản) trong mua bán ngoại hối và trong cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ Chúng ta sẽ thấy rằng, nếu tỉ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn

1.1.2.3 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo Hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng NH cấp cho họ Hoặc xét một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời và vốn của các NH có thể không thu được hay hoàn trả đầy đủ xét về mặt số lượng và thời hạn

1.1.2.4 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản xảy ra đối với hầu hết các định chế tài chính nhưng nghiêm trọng hơn cả là đối với các NH thương mại Nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro thanh khoản là do cấu trúc đặc thù của tài sản nợ và tài sản có của NH Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút

Trang 7

tiền gửi ở NH ngay lập tức Trong những trường hợp như vậy thì NH phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền

1.1.2.5 Rủi ro hoạt động ngoại bảng

Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của một NH hiện đại là việc mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng Theo định nghĩa, hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng Cân đối tài sản (nội bảng), bởi vì các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các chứng khoán hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc NH phát hành các chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp Tuy nhiên, các hoạt động ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng Cân đối tài sản Bởi vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng Cân đối tài sản Những hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Trong thực tế, những trường hợp thua lỗ nghiêm trọng trong các hoạt

động ngoại bảng đã trở thành những nguyên nhân chính khiến cho NH có thể phá sản TDT là một ví dụ về hoạt động ngoại bảng của NH Nếu khách hàng mất khả năng thanh toán thì NH phải thực hiện

nghĩa vụ thanh toán thay cho người cho khách hàng và ngay lập tức khoản nợ ngoại bảng trở thành khoản nợ nội bảng

1.1.2.6 Rủi ro công nghệ và hoạt động

Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công nghệ NH không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở rộng qui mô hoạt động Ngược lại, lợi ích từ việc đầu

tư công nghệ là tạo cho NH một sức bật quan trọng trong cuộc cạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép NH phát triển các sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại giúp cho NH tồn tại và phát triển bền vững

1.1.2.7 Rủi ro quốc gia

Trong trường hợp NH đầu tư bằng bản tệ cho các công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài cũng có thể chịu rủi ro đầu tư nước ngoài_đó là rủi ro quốc gia Rủi ro quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng mà NH gặp phải khi đầu tư cho các công ty nội địa Ví dụ, khi một công ty nội địa không có khả năng hoặc không sẵn lòng hoàn trả vốn vay NH, NH như là người chủ nợ có quyền tham dự vào quá trình phân chia tài sản của công ty khi nó phá sản, như vậy chí ít thì NH cũng thu hồi được một phần hay toàn bộ vốn cho vay Còn trong trường hợp NH đầu tư cho công ty nước ngoài thì ngay cả trong trường hợp công ty có khả năng và sẵn sàng hoàn trả vốn vay, nhưng cũng có thể không thực hiện được Bởi vì, Chính phủ nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho nước ngoài do dự trữ ngoại hối hạn hẹp hoặc vì lý do chính trị NH lúc này như là chủ nợ có rất ít hoặc không có cơ hội khiếu nại lên Tòa án địa phương hay Tòa án Quốc tế

Trang 8

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

1 Có ít nhất 7 loại rủi ro cơ bản mà một NH hiện đại phải đối mặt: Rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi

ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động, rủi ro quốc gia Trong đó, TDT là một ví dụ về hoạt động ngoại bảng của NH và do đó, rủi ro trong thực hiện phương thức tín dụng chứng từ thuộc về rủi ro hoạt động ngoại bảng nêu trên

2 Có nhiều cách phân loại rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT, phân loại theo nghiệp vụ tiến hành là một cách thông dụng được nhóm lại thành: rủi ro trong thực hiện các nghiệp vụ NH về XK, rủi ro trong chiết khấu chứng từ, rủi ro trong thực hiện xác nhận L/C, rủi ro trong thực hiện các nghiệp vụ NH về NK

3 Kinh nghiệm phòng ngừa rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT của các NH nước ngoài là một

tư liệu tham khảo có giá trị cho các NH Việt Nam còn non kém về nghiệp vụ, thiếu trách nhiệm, ít cập nhật thông tin, cơ chế quản lý nặng nề kém hiệu quả dễ phát sinh tiêu cực, tính rủi ro cao

Trang 9

CHƯƠNG 2:

NHỮNG RỦI RO THỰC TẾ TRONG THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI MỘT SỐ CÁC NGÂN HÀNG Ở

TP HỒ CHÍ MINH

1.2 RỦI RO TRONG THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TDCT TẠI NH

1.2.1 Khái quát về phương thức TDCT

1.2.1.1 Khái niệm

Phương thức thanh toán TDCT là một sự thỏa thuận mà trong đó NH mở thư tín dụng (TDT) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở TDT) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của TDT) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba xuất trình cho NH một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

Phương thức thanh toán TDCT áp dụng theo Điều lệ và thực hành thống nhất TDCT, bản sửa đổi

1993 Phòng Thương mại quốc tế, số xuất bản 500 (UCPDC 1993 Revision, ICC Pub.500 – Uniform customs & practice for documentary credit)

1.2.1.2 Qui trình thực hiện (Sơ đồ 1)

1.2.2 Rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT tại NH

Có nhiều cách phân loại rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT Ở đây luận văn xin phân loại rủi

ro theo chức năng nghiệp vụ của NH với minh họa là sơ đồ nêu trên để dễ theo dõi Các cách phân loại khác xin xem phụ lục 2

1.2.2.1 Rủi ro trong thực hiện các nghiệp vụ NH về xuất khẩu

1.2.2.1.1 Rủi ro khi thông báo L/C xuất khẩu

1.2.2.1.1.1 Nhận L/C từ NH phát hành

Khi nhận được L/C từ NH mở, L/C phải được thông báo ngay cho người thụ hưởng một các nhanh chóng và tức thời Bất kỳ một sự chậm trễ hay thiếu chính xác nào về việc thông báo do sự sai lầm của

NH thông báo dẫn đến thương vụ không thành, NH mở hoặc người thụ hưởng có thể kiện NH thông báo bồi thường cho những thiệt hại xảy ra

NH thông báo L/C phải kiểm tra tính chất chân thực của L/C bởi vì một L/C có thể bị giả mạo chữ ký (nếu bằng thư) hoặc TEST (nếu bằng điện) Nếu NH thông báo không thể kiểm tra tính xác thực của L/C nhưng không thông báo ngay cho NH phát hành, mà lại quyết định thông báo cho người hưởng không kèm theo lưu ý họ không chịu trách nhiệm về tính xác thực của L/C (kể cả những sửa đổi) thì họ hoàn toàn chịu trách nhiệm khi người thụ hưởng đã giao hàng nhưng không được thanh toán theo L/C đó vì họ đã vi phạm Điều 7-UCP 500

Trang 10

1.2.2.1.1.2 Thông báo và giao L/C cho người thụ hưởng

Các rủi ro có thể xảy ra:

- Dịch vụ vận chuyển không đáng tin cậy

- Địa chỉ người thụ hưởng không rõ ràng, L/C được gửi đi và bị thất lạc

- Giao L/C tại quầy sẽ có trường hợp giấy giới thiệu bị giả mạo, hoặc bởi vì người thụ hưởng L/C không phải là khách hàng của NH thông báo, không thể kiểm tra được tính chân thực của thư ủy quyền hay giấy giới thiệu

1.2.2.1.1.3 Thông báo tu chỉnh L/C và hủy bỏ L/C

Trường hợp L/C tu chỉnh thay đổi tên người thụ hưởng, có thể người thụ hưởng thứ nhất vẫn tiếp tục sử dụng L/C cũ để chiết khấu ở NH khác mà không đưa ra tu chỉnh L/C này

Trường hợp L/C bị hủy bỏ, nếu không thu lại L/C gốc, có thể người thụ hưởng vẫn tiếp tục gian lận sử dụng để chiết khấu bộ chứng từ ở NH khác

1.2.2.1.2 Rủi ro trong kiểm tra chứng từ

1.2.2.1.2.1 Rủi ro nếu không có sự cẩn thận một cách hợp lý

Khi khách hàng xuất trình chứng từ cho NH, bất luận NH có chiết khấu bộ chứng từ đó không cũng phải kiểm tra chứng từ với một sự cẩn thận hợp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người xuất trình chứng từ, xác định các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C Sự phù hợp như vậy phải được xác định bằng nghiệp vụ NH theo tiêu chuẩn Quốc tế (Điều 13-UCP) Cẩn thận hợp lý là sự kết hợp giữa hiểu biết đúng đắn nguyên tắc giao dịch của NH và vận dụng chính xác UCP Hành động của NH phải biểu biện tính trung thực trong việc xác định sự hoàn hảo của chứng từ Trong tranh chấp, người nào có lỗi thì người đó phải gánh chịu hậu quả, NH kiểm tra bộ chứng từ không thể cố tình hiểu sai sự việc vì mục đích bảo vệ quyền lợi khách hàng của mình dẫn đến hậu quả là NH phát hành từ chối bộ chứng từ (hiểu theo phương diện khác thì chứng từ là bất hợp lệ) Như vậy,

NH sẽ bị đánh giá thấp trình độ nghiệp vụ và uy tín trên thị trường quốc tế

1.2.2.1.2.2 Rủi ro về thời gian kiểm tra chứng từ

Một NH mỗi khi đã quyết định chấp nhận chứng từ xuất trình tại mình, (NH được chỉ định), mặc dù nó không hề cam kết gì về trách nhiệm đối với L/C đó, cũng phải kiểm tra chứng từ để quyết định trong thời hạn qui định (7 ngày làm việc), nhận hay từ chối chứng từ, chiết khấu hay chỉ làm NH chuyển chứng từ mà thôi Trách nhiệm cộng với những giới hạn về thời gian sẽ trở thành rủi ro cho NH khi không tuân thủ đúng qui tắc nghiệp vụ

1.2.2.1.2.3 Rủi ro nếu không xác thực về thời hạn xuất trình của NH chuyển chứng từ

NH phát hành chỉ căn cứ ngày ghi trên “Bản gửi chứng từ” (Covering letter/Schedule Letter) của NH

chuyển chứng từ để xác định ngày xuất trình chứng từ Nếu ngày đó sau ngày hết hiệu lực hoặc sau ngày cuối cùng xuất trình chứng từ thì NH phát hành sẽ từ chối Trường hợp thời hạn xuất trình chứng từ vẫn hợp lệ nhưng NH được chỉ định không ghi rõ thì sẽ gánh chịu rủi ro từ chối như thế từ NH phát hành

1.2.2.1.2.4 Rủi ro không được miễn trừ trách nhiệm về giá trị hiệu lực của chứng từ

Nếu NH kiểm tra với “sự cẩn thận một cách hợp lý” mà không thể phát hiện được sự gian lận của

Trang 11

chứng từ như: chữ ký, con dấu, mẫu chứng từ giả thì NH được miễn trách Nhưng nếu NH do bất cẩn mà không nhận ra sự giảo mạo trên thì chịu trách nhiệm những hậu quả xảy ra Ví dụ như trường hợp sự giả mạo chữ ký của người cấp vận đơn nhưng không đúng theo mẫu chữ ký tại hồ sơ NH Vận đơn này phải bị NH từ chối

1.2.2.1.3 Rủi ro trong thực hiện chiết khấu chứng từ

Chiết khấu chứng từ XK là việc ứng một khoản tín dụng cho người xin chiết khấu Vì thế, việc quản lý khoản tín dụng cấp cho người xin chiết khấu này cho đến khi thanh toán được chứng từ chiết khấu là rất quan trọng NH chiết khấu sẽ gánh chịu rủi ro khi không được hoàn lại số tiền hối phiếu từ người xin chiết khấu nếu chứng từ XK bị từ chối thanh toán do bất hợp lệ với điều khoản và điều kiện của L/C; hoặc việc nhờ thu chứng từ này cũng không thể được do qui định gắt gao về ngoại hối và thương mại của nước NK, hoặc do sự phá sản của NH mở L/C

1.2.2.1.3.1 Rủi ro khi thực hiện thanh toán không bảo lưu (payment without recourse)

Thanh toán có bảo lưu trong giao dịch TDCT (hay gọi là thanh toán được truy đòi) là NH trả tiền có quyền yêu cầu người hưởng hoàn lại số tiền đó nếu bộ chứng từ của L/C không được thanh toán vì bất cứ lý do gì Bảo lưu chỉ áp dụng đối với việc chiết khấu, khi NH ứng tiền cho người hưởng trước khi bộ chứng từ của L/C được thanh toán với điều kiện là NH này không cam kết gì về khoản chiết khấu trên L/C đó Nhưng đã là NH mở hoặc NH xác nhận thì họ không được quyền bảo lưu : thanh toán hoặc chiết khấu cho người hưởng với mọi rủi ro thuộc về các NH đó

Vì mối quan hệ của mình và khách hàng (người hưởng) NH được chỉ định có thể chiết khấu chứng từ bất hợp lệ trên cơ sở bảo đảm, cam kết của người hưởng (sẽ hoàn trả gốc và lãi cho NH nếu chứng từ bị từ chối) Đây là mối quan hệ riêng của phía XK, không liên quan đến phía NK, đặc biệt là NH phát hành Nếu NH chiết khấu có ghi chú điều này vào chỉ thị trả tiền cho NH phát hành thì không vì thế mà

NH phát hành mất đi quyền từ chối bộ chứng từ bất hợp lệ và nghĩa vụ phải hành động đúng những qui tắc của điều 13, 14 và tất cả các điều khoản khác của UCP Vì thế NH chiết khấu vẫn phải gánh chịu hoàn toàn rủi ro khi bộ chứng từ bị từ chối mà nhà XK thì đã rút hết tiền, đóng tài khoản và bỏ trốn Trường hợp không bảo lưu rủi ro sẽ lớn hơn vì NH không có cơ sở đòi lại tiền từ người xin chiết khấu

1.2.2.1.3.2 Rủi ro khi chiết khấu L/C có điều khoản “cho phép chiết khấu ở bất kỳ NH nào” (Free

negotiation)

Đối với TDT này (trừ NH thông báo), các NH chiết khấu khó khăn trong việc xác định số lần sửa đổi L/C, mà tùy thuộc hoàn toàn vào tính trung thực của người hưởng Một số NH phát hành ghi số thứ tự các sửa đổi nhằm kiểm soát dễ dàng TDT, nhưng các NH khác lại không làm như vậy vì không có qui định chung hay riêng nào cả Do không có hồ sơ thông báo TDT nên NH chiết khấu (trừ nó cũng là NH thông báo) chỉ dựa vào việc xuất trình của người hưởng Có thể một sửa đổi nào đó đã bị từ chối hoặc được hủy bỏ nhưng vẫn được xuất trình, nhưng một sửa đổi mà người hưởng không thực hiện được, không được xuất trình Tất cả những vấn đề trên tạo ra khoảng hở trong kiểm tra chứng từ của NH được chỉ định khi họ không phải là NH thông báo

1.2.2.1.3.3 Rủi ro trong thực hiện gửi chứng từ

NH được chỉ định phải thực hiện đúng điều kiện của L/C trong việc gửi chứng từ về số lần gửi chứng

Trang 12

từ, hãng vận chuyển, đảm bảo thời hạn xuất trình,… ngược lại nó phải gánh chịu hậu quả

1.2.2.1.3.4 Rủi ro trong thực hiện hoàn trả tiền giữa các NH

NH chiết khấu phải thực hiện đúng các điều kiện của L/C trong việc thực hiện nghiệp vụ đòi hoàn trả, ngược lại nó phải gánh chịu hậu quả

- Nếu yêu cầu hoàn trả được quy định gửi bằng thư mà NH chiết khấu gửi bằng điện thì NH hoàn trả có thể từ chối trả tiền cho đến khi nhận được bản đòi tiền bằng thư, và NH hoàn trả sẽ thông báo cho

NH chiết khấu biết; hoặc NH hoàn trả có thể phạt NH chiết khấu vì đã không thực hiện đúng yêu cầu của L/C Sự chậm trễ việc nhận được tiền hoặc chi phí phạt phát sinh này NH chiết khấu phải gánh chịu

- NH hoàn trả có thể bỏ qua bản đòi tiền nếu:

• Bản đòi tiền không ghi rõ ngày hoàn trả được xác định trước

• Bản đòi tiền được xuất trình cho NH hoàn trả quá 10 ngày làm việc trước ngày được xác định trước

NH chiết khấu sẽ phải làm lại yêu cầu hoàn trả, tốn chi phí và thời gian

1.2.2.1.3.5 Rủi ro trong thực hiện chiết khấu chứng từ bất hợp lệ

NH được chỉ định (NH chiết khấu) thay mặt NH phát hành để kiểm tra và định đoạt chứng từ Nó phải có nghĩa vụ đối với người xuất trình là trong thời gian qui định, quyết định chấp nhận hay từ chối bộ chứng từ trên cơ sở bề mặt của chúng Nếu quá thời gian qui định mà NH này vẫn chưa quyết định chấp nhận hay chiết khấu thì sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với:

- Người XK_vì chậm xoay xở để bảo đảm cho hàng hóa của họ

- Người NK_vì chậm nhận được thông báo về các bất hợp lệ nếu có để định đoạt hay thương lượng với người XK, trong trường hợp họ chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ, sự chậm trễ của NH được chỉ định kiểm tra bộ chứng từ sẽ gây ra chậm trễ trong việc nhận hàng hóa và các phụ phí phát sinh

Một khi chứng từ bị bất hợp lệ, cơ bản là NH phát hành L/C có quyền từ chối không thanh toán cho bộ chứng từ này Rủi ro sẽ thuộc về NH chiết khấu bộ chứng từ khi:

- Bất hợp lệ do NH phát hành phát hiện

- Chưa nhận được điện báo chấp nhận bất hợp lệ mà đã chiết khấu bộ chứng từ và gửi chứng từ đi

- Chứng từ bất hợp lệ không được phát hiện, đã đòi tiền NH hoàn trả, và ghi có cho người hưởng Bất hợp lệ bị phát hiện, chứng từ bị từ chối, NH chiết khấu phải trả lại tiền và lãi trong khi người hưởng đã sử dụng hết tiền

- Không thông báo cho người hưởng về bất hợp lệ của chứng từ sau khi kiểm tra, không có văn bản xác nhận của người hưởng về bất hợp lệ, người hưởng sau này có thể kiện lại NH vì họ không được biết để có cách giải quyết

1.2.2.2 Rủi ro trong thực hiện xác nhận L/C

1.2.2.2.1 Rủi ro trong thực hiện xác nhận L/C theo yêu cầu của NH mở

Một sự xác nhận cho một L/C không hủy ngang có nghĩa là một NH khác (NH xác nhận – Confirming bank) ngoài NH mở L/C cam kết chắc chắn về chấp nhận, thanh toán hay chiết khấu hối phiếu ký phát bởi người thụ hưởng và chứng từ thỏa mãn các điều khoản và điều kiện của L/C theo sự ủy quyền hoặc

Trang 13

yêu cầu của NH phát hành NH xác nhận có cùng trách nhiệm với NH mở L/C đối với người thụ hưởng và với NH được chỉ định L/C lúc này trở thành L/C có xác nhận (Confirmed L/C)

Một khi L/C đã được xác nhận, NH xác nhận (thường là NH thông báo ở nơi người thụ hưởng) buộc phải chấp nhận, thanh toán hay chiết khấu bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện của L/C, cả khi NH mở

bị vỡ nợ hay phá sản Thậm chí nếu tình trạng không trả tiền được của NH mở là do chiến tranh hay do bất khả kháng nào khác, NH xác nhận cũng phải chịu mọi rủi ro và không được đòi hoàn tiền lại từ người thụ hưởng NH xác nhận không được phép từ chối mỗi khi nhận được chứng từ xuất trình hoàn toàn hợp lệ theo L/C

Khi chứng từ bị bất hợp lệ, NH xác nhận chiết khấu bộ chứng từ nếu không lưu ý cho nhà XK rằng lúc này họ chỉ đóng vai trò là NH chiết khấu đơn thuần, thực hiện chiết khấu có bảo lưu, thì họ sẽ gánh chịu rủi ro mất quyền bảo lưu vì họ vẫn được coi như là một NH xác nhận

1.2.2.2.2 Rủi ro trong thực hiện xác nhận L/C theo yêu cầu của người hưởng (Silent

confirmation)

“Silent confirmation” có nghĩa là sự xác nhận cho một L/C không hủy ngang theo yêu cầu của người

hưởng, không được ủy quyền hoặc theo yêu cầu của NH phát hành Việc xác nhận đơn phương không có giá trị đối với NH phát hành

Nói chung, không nên thực hiện “Silent Confirmmation” “Silent confirmation” khác với xác nhận

theo UCP Việc xác nhận của một NH cho L/C mà NH phát hành không biết thì không thể gọi là “Giao dịch của tín dụng chứng từ” Đây chỉ là một hành động đơn phương của phía NH phục vụ người hưởng thuộc mối quan hệ một phía, đó là quan hệ giữa người hưởng và chính NH xác nhận

Điều bất lợi gì cho NH “đơn phương xác nhận”? Trước hết, do không được NH phát hành ủy quyền

hoặc yêu cầu nên việc xác nhận này hoàn toàn dựa trên sự tin tưởng tuyệt đối vào uy tín và khả năng trả tiền của NH phát hành Không có yếu tố thế chấp (ký quĩ của NH phát hành tại NH xác nhận, hoặc được bảo đảm bằng nguồn tài sản nào đó) nên rủi ro có thể phát sinh cho NH xác nhận nếu có bất cứ đột biến nào từ NH phát hành Trong lúc đó trách nhiệm của NH xác nhận thanh toán cho người hưởng là tuyệt đối và không thay đổi dù cho mọi biến cố khách quan hay chủ quan từ phía NH phát hành

Điều bất lợi nữa cho NH phát hành “đơn phương xác nhận” là ở một mức độ nào đó họ có thể không

được quyền kiện NH phát hành Nếu luật quốc gia của NH phát hành chỉ cho phép Tòa án của mình chấp nhận đơn kiện của người hưởng chứ không phải là NH chiết khấu thì NH xác nhận không đủ tư cách là nguyên đơn mà phải thương lượng, thỏa thuận với người hưởng để có quyền kiện NH phát hành Trong lúc đó, người hưởng đã được NH xác nhận thanh toán (hoặc chiết khấu) thì không còn phải bận tâm về kết quả giao dịch giữa hai NH nữa Nhưng nếu chỉ là NH chiết khấu, họ được quyền yêu cầu người hưởng chuyển trả lại tiền nếu NH phát hành không thanh toán vì “chiết khấu” luôn được bảo lưu

“Silent confirmation” tương đương với hành động cho vay của NH không cần sự bảo đảm bằng tài sản

thế chấp hay bảo lãnh của phía thứ 3 Do vậy, việc xác nhận chỉ theo yêu cầu của người hưởng là nên tránh

1.2.2.3 Rủi ro trong thực hiện các nghiệp vụ NH về nhập khẩu

Trang 14

1.2.2.3.1 Rủi ro trong mở L/C

1.2.2.3.1.1 Rủi ro từ phía người mở

Ngoại trừ trường hợp số tiền TDT được ký quĩ đủ 100%, người mở luôn được NH cấp tín dụng bằng cam kết thanh toán trong TDT

Việc phát hành TDT luôn mang yếu tố bảo lãnh khi người mở ký quĩ không đủ toàn bộ số tiền, thậm chí không hề có đồng nào khi họ yêu cầu NH phát hành TDT Vào thời điểm thanh toán, nếu có vấn đề từ phía người mở (phá sản, mất khả năng thanh toán) thì NH là người phải trả tiền cho người hưởng từ nguồn vốn của mình, mặc dù họ chỉ thỏa thuận với người mở là chỉ Bảo lãnh chứ không cấp tín dụng (vốn), người mở phải dùng tiền của chính họ để thanh toán TDT Trong nghiệp vụ bảo lãnh luôn mang yếu tố rủi ro

Ngoài ra, NH khi thực hiện mở L/C theo yêu cầu của người mở và phải thực hiện theo đúng các chỉ thị của người mở Nếu NH tự sửa đổi theo phán đoán riêng của mình, sau này bộ chứng từ hoặc các điều khoản khác không đúng theo đơn của mình, người mở có thể vịn vào lý do này để từ chối thanh toán và rủi ro thuộc về NH mở L/C NH mở chỉ nên tư vấn, góp ý cho người mở

1.2.2.3.1.2 Rủi ro từ phía người thụ hưởng

Giao dịch TDCT là giao dịch trên chứng từ và thực hiện chỉ nhất nhất theo chứng từ mà thôi Vì thế

NH mở L/C phải thực hiện thanh toán theo qui định của L/C cho bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C NH không thể từ chối thanh toán với lý do không theo hợp đồng mua bán hay người mở mất khả năng hoàn lại tiền thanh toán Dựa theo điều này, nếu người bán (người thụ hưởng) làm giả mạo chứng từ hoặc hàng hóa, NH mở L/C vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán theo L/C khi chứng từ xuất trình đúng yêu cầu của L/C, và khi người mở không có khả năng thanh toán hay cùng người hưởng thực hiện sự gian lận này thì NH gánh chịu hoàn toàn rủi ro với bộ chứng từ khống, không có hàng hóa lại mất tiền

1.2.2.3.1.3 Rủi ro từ NH chiết khấu

Trong trường hợp TDT cho phép hoàn trả bằng điện (T.T reimbursement is acceptable), có thể xảy ra

trường hợp NH chiết khấu sau khi điện đòi tiền từ NH hoàn trả và đã nhận được tiền, không thể hoàn trả lại số tiền khi bị yêu cầu hoàn trả do chứng từ bị phát hiện là bất hợp lệ với các điều khoản của TDT sau khi việc thanh toán đã hoàn tất NH mở TDT sẽ phải gánh chịu rủi ro

1.2.2.3.1.4 Rủi ro về điều kiện thị trường hàng hóa NK

Nếu các giao dịch thương mại không được thuận lợi thì người mở TDT sẽ khó khăn trong việc thanh toán Vì thế NH phải lưu ý ở mức cần thiết các mặt sau:

- Các kênh bán loại hàng hóa này đã được thiết lập chưa

- Nhà NK có quen thuộc đối với hàng hóa này không

- Khả năng thị trường của hàng hóa, trong và ngoài nước như thế nào

Hàng hóa NK theo L/C thuộc quyền sở hữu của NH mở L/C như là vật bảo đảm theo thỏa thuận khi mở L/C cho đến khi người mở thanh toán cho NH Do đó, trị giá hàng hóa phải được tính toán cẩn thận về mức độ an toàn, khả năng thị trường và giá cả thị trường

Trang 15

1.2.2.3.1.5 Rủi ro khi một bản vận đơn gốc ngoài tầm kiểm soát của NH

NH phát hành khi mở TDT với một bản vận đơn gốc gửi về trước hoặc gửi theo tàu, nếu người mở không ký quĩ đầy đủ, vận đơn lập theo lệnh NH, tại thời điểm ký hậu vận đơn để người mở đi nhận hàng,

NH không kiểm tra và xác định trước được sự an toàn trong thanh toán của người mở khi bộ chứng từ về thì NH sẽ phải gánh chịu rủi ro khi người mở bị phá sản NH không nắm giữ hàng hóa nhưng vẫn phải thanh toán hoặc phải đền bù hàng hóa cho người hưởng

1.2.2.3.2 Rủi ro trong thanh toán L/C

1.2.2.3.2.1 Những rủi ro phát sinh ngoài tầm kiểm soát của NH

Tài liệu số XB 434 của ICC nói rõ quyết định của Ủy ban NH (Banking Commission): “Rủi ro chuyển từ người hưởng sang NH phát hành khi chứng từ hợp lệ đã được NH được chỉ định chấp nhận” Bổ sung thêm qui định này, tài liệu số XB 469 cũng khẳng định: “Trong trường hợp chứng từ kể cả hối phiếu đòi tiền tại người mở, bị mất trên đường vận chuyển, NH chuyển chứng từ có quyền được hoàn trả tiền vào thời hạn tương đương với ngày mà nó phải được thanh toán nếu chứng từ không bị mất” NH phát hành có

trách nhiệm nhận thức rằng việc thanh toán không được để chậm trễ Tất nhiên người mất chứng từ là người mở TDT vì NH phát hành làm theo yêu cầu của người mở và mọi rủi ro thuộc về người mở Nhưng nếu người mở không có khả năng thanh toán thì NH phát hành phải gánh chịu rủi ro này

1.2.2.3.2.2 Rủi ro trong thực hiện hoàn trả giữa các NH

Trường hợp NH hoàn trả, vì lý do nào đó, không chuyển tiền cho NH đòi tiền (NH chiết khấu) thì nghĩa vụ này vẫn thuộc về NH phát hành Trong thực tế, có trường hợp NH phát hành cho phép đòi tiền tại NH tiền gửi hoặc NH cấp tín dụng, nhưng lại không đủ số dư hoặc đã rút hết vốn vay Có trường hợp

NH hoàn trả không nhận được ủy quyền của NH phát hành Tất cả các trường hợp trục trặc này (có thể

do nhầm lẫn, sơ suất), NH phát hành phải có nghĩa vụ trả tiền kể cả lãi suất chậm trả, điện phí liên quan cho NH đòi tiền

1.2.2.3.2.3 Rủi ro trong thực hiện bảo lãnh nhận hàng

Đây cũng là nghiệp vụ khá phổ biến trong phương thức TDCT Trong nghiệp vụ này, NH phát hành sẽ phát hành thư bảo lãnh nhận hàng cho người mở TDT để họ được nhận hàng hóa trước khi bộ chứng từ vận tải được gửi đến Bảo lãnh NH khi chưa có vận đơn gốc thường được NH cấp nhằm tạo thuận lợi cho người mở TDT khi họ đã đáp ứng đầy đủ khả năng thanh toán Bảo lãnh này chỉ có tính chất tạm thời, không thể thay thế chứng từ sở hữu hàng hóa trong giao nhận ngoại thương NH cấp bảo lãnh luôn phải cam kết chịu trách nhiệm đền bù cho hãng vận tải nếu xảy ra tổn thất Lúc này NH phải gánh chịu trách nhiệm với hãng vận tải và nếu sau đó không thu lại được bản vận đơn gốc để đổi lấy và hủy bỏ thư bảo lãnh, NH phát hành bảo lãnh sẽ phải chịu mọi rủi ro phát sinh như đền bù hàng hóa cho hãng vận tải, các chi phí

Việc cấp bảo lãnh cũng phải tính đến yếu tố rủi ro nếu vận đơn gốc, vì bất cứ lý do nào, rơi vào tay kẻ xấu

1.2.2.3.3 Rủi ro khi chứng từ bị bất hợp lệ

Một trong những thiếu sót dưới đây sẽ khiến cho NH phát hành (hoặc NH xác nhận) đánh mất quyền

Trang 16

từ chối chứng từ bất hợp lệ và phải thanh toán, nhận bộ chứng từ bất kể tính hợp lệ của chúng:

- Thông báo từ chối nhưng không nói rõ sự bất hợp lệ của chứng từ, hoặc bất hợp lệ này bị NH chiết khấu (hoặc người hưởng) bác bỏ và trở nên không có giá trị

- Không hành động theo lệnh của phía xuất trình như: tự động thanh toán khi người mở chấp nhận bất hợp lệ mà không đợi chỉ thị của phía xuất trình

- Thông báo những bất hợp lệ và từ chối chứng từ vượt quá 7 ngày làm việc của NH, hoặc thông báo không bằng những phương tiện nhanh nhất (telex, fax, ) do vậy gây chậm trễ

- Đã chuyển giao chứng từ cho người mở hay làm mất không trả lại chứng từ cho phía xuất trình toàn bộ chứng từ nguyên vẹn như khi nó nhận, hoặc không giao chứng từ đó cho người thứ 3 do phía xuất trình chỉ định

- Chấp nhận thanh toán bộ chứng từ mà không thu thư chấp nhận chứng từ bất hợp lệ từ phía người mở TDT

1.3 KINH NGHIỆM PHÒNG CHỐNG RỦI RO TRONG THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TDCT CỦA CÁC NH NƯỚC NGOÀI

Các NH nước ngoài nổi tiếng rất chú trọng đến phòng ngừa rủi ro trong thực hiện phương thức TDCT Họ có ưu thế về lịch sử hoạt động lâu đời, đúc kết được nhiều kinh nghiệm, các chi nhánh trải nhiều ở các nước, nghiệp vụ NH của nhân viên được đào tạo rất bài bản, … Một số kinh nghiệm của họ là:

1.3.1 Phân loại hạn mức tín dụng (HMTD) cho các công ty

Phòng Credit chịu trách nhiệm đánh giá, phân loại các công ty:

- Loại “Clean basis”: Những công ty có tình hình tài chính tốt, HMTD không phải ký quĩ khi mở L/C,

được ghi có tài khoản khi chiết khấu chứng từ

- Loại “Standby L/C”: Những công ty có tình hình tài chính khá tốt, kèm theo thư bảm lãnh của công ty

mẹ, không phải ký quĩ khi mở L/C, được ghi có tài khoản khi chiết khấu chứng từ

- Loại “Standard”: Những công ty có tình hình tài chính trung bình, thực hiện ký quĩ một phần hoặc

toàn bộ khi mở L/C, khi chiết khấu chứng từ sử dụng cách Post Payment (khi được trả tiền mới ghi có)

- Loại “Individual”: Những công ty có tình hình tài chính xấu, loại này phải được chỉ thị của hội sở mới

được tiến hành giao dịch TDCT

1.3.2 Sử dụng các thỏa thuận (Agreement) cho giao dịch TDCT (Xem phụ lục 4)

Các thỏa thuận với những điều khoản chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ quyền lợi cho NH trong giao dịch như:

Thỏa thuận chung: Agreement on Bank Transactions, thỏa thuận mở L/C: Agreement on L/C transactions, thỏa thuận thanh toán sau khi nhận hàng: Agreement on Trust Receipt, thỏa thuận chiết khấu chứng từ: Agreement on Purchase or Negotiation of Bill, thỏa thuận về ký quĩ mở L/C: Agreement on Deposit of Margin Money, …

Các mẫu đơn như đơn xin ký hậu B/L, đơn xin ký hậu Air Waybill, đơn về bảo lãnh nhận hàng… đều có những điều khoản chuyên biệt, ràng buộc trách nhiệm của người làm đơn

1.3.3 Phòng Quan hệ Quốc tế với chức năng thông tin về những NH có quan hệ

Trang 17

Phòng Quan hệ Quốc tế thường có những chức năng sau:

- Thực hiện những cẩm nang (Standard Procedure) về nghiệp vụ NH bảo đảm cho những giao dịch

hàng ngày được chính xác và hiện quả Những cẩm nang này được sửa đổi, bổ sung mỗi năm Đối với những chi nhánh trực thuộc thì phòng nghiệp vụ có thể sửa đổi cho phù hợp với đặc trưng mỗi nước

- Thực hiện các lưu ý (Caution notices) về rủi ro đất nước (Country Caution) và rủi ro ngân hàng (Bank Caution) Mức độ rủi ro được áp dụng cho tất cả các giao dịch với chính phủ, doanh nghiệp, và tổ

chức tài chính (bao gồm chi nhánh của nó tại nước ngoài) tại nước đó Có 3 mức độ A, B và C: A là tốt; B nên tránh hoặc chỉ giới hạn ở nhữnng khách hàng có tình hình tài chính tốt, C xác định những giao dịch về một đất nước thường có các ngân hàng quốc gia bị phá sản, chiến tranh, xung đột chính trị, khủng hoảng kinh tế, hoặc các tổ chức tài chính hay bị phá sản, phong tỏa tài sản, đình trệ kinh doanh Về cơ bản không nên có những giao dịch với những nước hay các tổ chức tài chính xếp vào mức C vì kinh doanh với họ gặp rủi ro rất cao

1.3.4 Vấn đề kỹ thuật và con người

- Sử dụng các chương trình vi tính hiện đại như: quản lý số dư tín dụng của khách hàng, chương trình soạn thảo telex qua mạng SWIFT…

- Chương trình đào tạo nhân sự bài bản bằng những khóa huấn luyện dài ngày ở trung tâm đào tạo của hội sở, trao đổi thông tin giữa các chi nhánh, học hỏi kinh nghiệm tổ chức quản lý của nhau

Trang 18

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các NH tại TP HCM, giới hạn số liệu và phân tích những tình huống cụ thể trong 3 NH quốc doanh điển hình là NH ngoại thương Việt Nam – chi nhánh TP HCM (Vietcombank TP.HCM), NH công thương VN – Sở giao dịch II (Vietincombank – SGD II), NH Đầu tư và phát triển TP.HCM (Vietindebank - BIDV) Một cuộc khảo sát được thực hiện qua 22 NH thương mại khác

1.4 SƠ NÉT VỀ 3 NH QUỐC DOANH ĐƯỢC NGHIÊN CỨU

1.4.1 Giới thiệu về các NH

Cả 3 NH đề có điểm chung là: trực thuộc NH nhà nước Việt Nam, được nhà nước xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc biệt, là thành viên hiệp hội NH Việt Nam, thành viên hiệp hội NH châu Á, hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng thế giới (Swift)

Ngày 1/4/1963, ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức được thành lập và hoạt động với tư cách là ngân hàng phục vụ kinh tế đối ngoại duy nhất của Việt Nam Tiền thân của ngân hàng VCB là Cục quản lý ngoại hối của ngân hàng quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ quản lý nhà nước về ngoại hối

Vietcombank có một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh trên cả nước gồm VCB TW ở Hà Nội, 20 chi nhánh

ở các thành phố, hải cảng, khu chế xuất và có quan hệ đại lý với hơn 1000 ngân hàng thuộc 85 nước trên thế giới Liên tiếp 1996, 1997, 1998, 1999 VCB giành được danh hiệu NH có chất lượng thanh toán quốc tế hàng đầu do NH Chase Manhattan của Mỹ trao tặng

Vietcombank HCM được thành lập theo quyết định số 951/NH ngày 28/9/1977 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam

1.4.1.2 Vietincombank TP HCM – SGD II

NH công thương Việt Nam được thành lập năm 1988 với đội ngũ 11 ngàn CB-CNV, trụ sở chính tại Hà Nội và 93 chi nhánh, 170 phòng giao dịch, 506 quĩ tiết kiệm, 86 cửa hàng kinh doanh vàng bạc ở những địa bàn kinh tế xã hội phát triển thuộc 43 tỉnh, thành phố trong cả nước và hiện có quan hệ đại lý với hơn 600 ngân hàng trên khắp các Châu lục

Vietincombank - SGD II tại TP HCM tiền thân là NH công thương TP.Hồ Chí Minh được đổi tên vào năm 1998

BIDV thành lập ngày 26/4/1957, tiền thân là NH kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính, từ năm 1989 trực thuộc NH Nhà nước Việt Nam, có mạng lưới hơn 100 chi nhánh tại các tỉnh, thành phố và các khu công nghiệp trong cả nước; đội ngũ hơn 7000 CB-CNV, có quan hệ với hơn 500 NH, tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

Từ năm 1995, BIDV được phép kinh doanh đa năng, tổng hợp như NH thương mại chủ yếu phục vụ trong lĩnh vực đầu tư và phát triển BIDV TP.HCM cùng với Vietincombank-SGD II, VCB TP.HCM ngày càng khẳng định vai trò hàng đầu của mình trong các lĩnh vực đầu tư và phát triển, huy động vốn, cho vay và thực hiện các hoạt động kinh doanh đối ngoại trên một thị được coi là sôi động nhất nước

Trang 19

1.4.2 Những tồn tại và những thuận lợi

- Sản xuất kinh doanh trong nước còn nhiều khó khăn, tình trạnh buôn lậu và cạnh tranh không lành mạnh của hàng ngoại cùng với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã làm nhiều doanh nghiệp thua lỗ, phá sản và không trả được nợ NH

- Nợ quá hạn và lãi chưa thu được phát sinh lớn đã làm giảm tổng thu nhập và thu nhập ròng

- Khủng hoảng kinh tế đã làm ảnh hưởng đến kim ngạch thanh toán XNK

- Đội ngũ nhân viên năng nổ, nhiệt tình nhưng trình độ ngoại ngữ còn yếu kém, nghiệp vụ thanh toán quốc tế chưa được thành thục và chưa có nhiều kinh nghiệm Chế độ đào tạo chưa đồng đều, chưa kích thích tinh thần làm việc cũng như học hỏi của nhân viên

- Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và đảm bảo quyền tự chủ cho các tổ chức tín dụng Vấn đề tài sản xiết nợ, nợ quá hạn, nợ khoanh đã được quan tâm xử lý theo hướng tích cực

- Thuộc vào các NH thương mại quốc doanh của Việt Nam được Nhà nước cấp thêm vốn điều lệ

- Hai bộ luật NH của Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998 tạo hành lang pháp lý và cơ sở cho hoạt động NH

1.4.3 Phương hướng hoạt động từ năm 2000 – 2005 (về kinh doanh đối ngoại)

- Củng cố và tăng cường quan hệ đại lý, mở rộng và phát triển công tác kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế

- Mở rộng nghiệp vụ hối đoái cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất, thanh toán quốc tế cho khách hàng

- Hiện đại hóa công nghệ, phát triển các dịch vụ NH hòa nhập với hoạt động NH trong khu vực và trên thế giới

- Phát triển công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật và kiến thức về pháp luật, mở rộng sự hợp tác các cơ sở đào tạo trong nước, các tổ chức QT

1.4.4 Tình hình thực hiện phương thức TDCT ở 3 NH quốc doanh tại TP HCM

1.4.4.1 Kim ngạch thanh toán

Tỉ lệ sử dụng phương thức TDCT trong các phương thức thanh toán tăng qua các năm, năm 1996 xuất khẩu chỉ đạt 9,76% thì năm 1999 tỉ lệ tăng đến 11,89% (kim ngạch đạt 672.800 ngàn USD) NK tuy tỉ lệ giảm năm 1999 (33,74%) so với năm 1996 (41,45%) nhưng kim ngạch tăng cao đạt 816.064 ngàn USD năm 1999 Điều này cho thấy phương thức TDCT ngày càng có ưu thế hơn do tính an toàn, tiện lợi, và đặc biệt là nghiệp vụ của các cán bộ NH được nâng cao bảm đảm hiệu quả trong thực hiện phương thức cũng như tư vấn cho khách hàng về phương thức TDCT

1.4.4.2 Về thực hiện xuất khẩu

Có thể nói năm 1999 là năm thịnh vượng về thanh toán L/C xuất khẩu qua NH Trung bình một lần thực hiện chiết khấu chứng từ trị giá lên đến khoảng 748.740 USD (năm 1999) so với khoảng 710.570 USD (năm 1996) Đây chưa phải là một con số lớn so với nước ngoài nhưng là một dấu hiệu khả quan

Trang 20

cho thấy sự ổn định và ngày càng phát triển trong thực hiện chiết khấu tại NH

1.4.4.3 Về thực hiện nhập khẩu

Nếu như XK đã có những bước tiến đáng kể thì NK lại là một sự tiến triển vượt bậc Trị giá trung bình một L/C được mở năm 1996 chỉ vào khoảng 49.790USD thì đến năm 1999 con số này đã lên đến gần gấp đôi, đạt 81.350USD Điều này cho thấy rõ xu hướng chuyển sang mở L/C nhập hàng hóa, máy móc thiết bị, uy tín của NH mở L/C đã được nâng cao và các doanh nghiệp Việt Nam khi ký kết các hợp đồng với nước ngoài đã thỏa thuận được những điều khoản công bằng, không bị ép trả tiền trước, đặt cọc trước như trước đây

1.4.4.4 Sơ đồ thực hiện các nghiệp vụ tín dụng chứng từ

Sơ đồ 2, 3, 4, 5

Việc thực hiện phương thức TDCT tại NH đã cho thấy những bước tiến đáng kể, khuyến khích nhân rộng áp dụng phương thức TDCT Tuy nhiên, do trình độ nghiệp vụ còn non kém, cũng như thiếu cập nhật hoá thông tin, việc thực hiện phương thức TDCT không thể tránh khỏi những rủi ro và để có những bài học kinh nghiệm, đôi khi các NH phải trả giá khá đắt

1.5 CÁC RỦI RO THỰC TẾ TRONG THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC TDCT Ở 3 NH NGHIÊN CỨU

Các rủi ro thường xảy ra được thống kê như sau (Xem bảng 5)

Về XK, rủi ro thường gặp nhất là sai sót trong kiểm tra chứng từ, kế đến là không thông báo hoặc thông báo không đầy đủ các bất hợp lệ Về NK, rủi ro thường gặp nhất là không kiểm lại hoặc kiểm

không kỹ chứng từ được NH chiết khấu gửi đến và xử lý sai khi chứng từ bị bất hợp lệ Rủi ro xoay quanh việc kiểm tra bộ chứng từ Để thiết lập một bộ chứng từ hoàn hảo là một công việc rất khó, một số nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 50% chứng từ xuất trình bị từ chối vì bất hợp lệ Công việc kiểm tra bộ chứng từ lại càng khó hơn, đòi hỏi sự tinh tường, tư duy logic của các nhân viên NH Dưới đây là phân tích một số các trường hợp cụ thể dẫn đến rủi ro cho NH trong thực hiện phương thức TDCT

Vì yếu tố tôn trọng nên các bên liên quan trong các trường hợp dưới đây không được nêu tên cụ thể

1.5.1 Thông báo L/C cho người thụ hưởng ở một nước thứ 3

Công ty XNK Famexco ký hợp đồng nhập phân bón Ure từ công ty Lacota Cộng hòa Liên bang Nga qua công ty trung gian Hongkong (gọi tắt là Hongkong), thanh toán bằng L/C không hủy ngang, chuyển nhượng Hợp đồng qui định, trong vòng 3 ngày sau khi nhận được thông báo Hongkong đã đặt Performance Bond 5% tổng trị giá hợp đồng (tương đương 125.000USD), Famexco phải mở L/C irrevocable transferable có trị giá 2.510.000USD cho Hongkong hưởng Nếu L/C mở không đúng hạn, Famexco sẽ phải chịu phạt 0.1% trên mỗi ngày mở chậm trên số tiền mở L/C Nếu chậm quá 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nói trên, bên bán có quyền hủy hợp đồng và phạt vi phạm hợp đồng là 7% trên tổng giá trị hợp đồng

Famexco làm đơn đề nghị NH P ở Việt Nam đứng ra mở L/C đúng với yêu cầu hợp đồng đã ký, chỉ định NH thông báo là BOC - Hongkong NH P thực hiện đúng theo yêu cầu, nhưng phát hành bằng telex qua BOC – Singapore và yêu cầu NH này thông báo cho BOC – Hongkong để thông báo cho người thụ

Trang 21

hưởng là công ty Hongkong Sau đó NH P cung cấp cho Famexco bản copy của L/C đã mở, làm bằng chứng cho việc đã thực hiện yêu cầu của Famexco

BOC – Singapore nhận được L/C và lập tức thông báo cho NH P là công ty Hongkong không phải là khách hàng của họ, hơn nữa, khách hàng lại ở một nước thứ 3 và từ chối thông báo L/C NH P phải làm các thủ tục để hủy bỏ L/C này và làm lại L/C khác gửi đến BOC – Hongkong cài Test tính với NH A (đại lý của NH P ở Hongkong), yêu cầu thông báo cho người thụ hưởng Hậu quả là L/C bị mở chậm hơn 3 ngày, công ty Hongkong đòi bồi thường 2.510,00USD x 3 ngày = 7.530,00USD Famexco yêu cầu NH P giải thích và đều bù cho họ Tuy sau đó 2 công ty có dàn xếp để giảm số tiền đền bù xuống, và NH P chỉ chịu một nửa thiệt hại, ước tính khoảng 1.500USD

Nguyên do là NH P có trao đổi mã điện (Test Key) với BOC – Singapore nhưng không có trao đổi với BOC – Hongkong Theo suy luận của riêng mình, họ nghĩ rằng chuyển L/C đến BOC – Signapore rồi nhờ BOC – Singapore chuyển đến chi nhánh của họ ở Hongkong thì sẽ nhanh hơn, thuận tiện cho khách

hàng hơn, nếu xin Test qua trung gian NH A sẽ mất nhiều thời gian hơn Họ không lưu ý một điều là NH nước ngoài này rất chặt chẽ trong việc thông báo L/C và họ không bao giờ chấp nhận thông báo L/C cho người thụ hưởng (hoặc qua một NH khác, kể cả chi nhánh của mình) ở một nước thứ 3 Ở trường hợp này

họ đã phải chịu một khoản chi phí lẽ ra không đáng có

1.5.2 Sai sót trong kiểm chứng từ

- Trường hợp vận đơn thể hiện hai tàu: một tàu chở hàng nội địa (Local vessel/Pre-carrier), một tàu đi biển (Ocean Vessel) và hàng được nhận ở một nơi là cảng nằm sâu trong nội địa chuyên chở tới cảng

biển, thường bị lúng túng khi xác định “Shipped on Board” trên tàu nào, tại cảng nào Trường hợp này vận đơn phải được ghi tàu, cảng mà hàng hóa thực sự “On board” theo qui định của TDT

- Không phát hiện bất hợp lệ của vận đơn, vận đơn nhận để bốc vẫn được chấp nhận Loại vận đơn này

thường được biểu hiện bằng các câu sau: “Taken in charge in appearance good order and condition ,

at the palce of receipt ” hoặc “Received by the carrier the goods ” Bản thân vận đơn với các biểu

hiện những từ ngữ như vậy hoàn toàn không thỏa mãn được yêu cầu của TDT là phải xuất trình vận đơn đã bốc Người bán chưa thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký Hãng vận tải/đại lý chỉ mới “nhận để bốc” chứ chưa bốc hàng lên boong tàu Muốn trở thành vận đơn đã bốc

(“shipped on board” hoặc “on board”), phải được người ký cấp vận đơn ghi thêm vào trên mặt vận

đơn, đồng thời ghi ngày tháng Như vậy, ngày của “hàng trên boong tàu” chính là ngày giao hàng

(shipment date)

- L/C ghi chung chung cảng bốc/dỡ hàng, ví dụ cảng bốc: Japan Nhưng khi lập vận đơn người hưởng

Trang 22

đã máy móc làm theo L/C và được NH chiết khấu chấp nhận, lẽ ra phải thể hiện cụ thể là Kobe Port (Japan) Tuy là một lỗi rất nhỏ và hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền lợi của người mở, song vẫn

bị NH phát hành từ chối vì trong giao dịch TDCT không tính đến mức độ sai sót của chứng từ

Có một số NH vẫn tranh chấp nhau về các tiêu đề của vận đơn: Combined B/L, Multimodel transport B/L, Ocean B/L, … cứng nhắc buộc tiêu đề phải theo L/C qui định, tốn kém chi phí và thời gian Điều 23,

24, 25 và 26 UCP500 cho phép NH chấp nhận chứng từ dù có tiêu đề (hoặc được gọi) như thế nào, với điều kiện nội dung diễn đạt của vận đơn thỏa mãn yêu cầu của TDT và các qui định của UCP Nếu vận

đơn có tiêu đề “Ocean B/L” nhưng nội dung của B/L diễn đạt được việc vận tải của ít nhất là 2 phương

thức vận tải khác nhau và phù hợp với qui định của điều 26UCP500 thì nó là vận đơn hỗn hợp chứ không

thể là vận đơn cảng đến cảng Ngược lại vận đơn có tiêu đề “Combined Transport B/L” nhưng nội dung

lại thể hiện cảng bốc và cảng dỡ, hành trình của một con tàu biển duy nhất thì nó chỉ là vận đơn đường biển cảng-đến-cảng Đây là một thực tiễn của kỹ thuật vận tải quốc tế mà NH phải hiểu và chấp nhận

Việc xác định phương thức vận tải phải được dựa vào nội dung diễn đạt của vận đơn chứ không tùy thuộc vào tên gọi hay tiêu đề của nó

Một tình huống đơn giản nhưng cũng mang lại nhiều rắc rối cho NH C khi họ chiết khấu chứng từ theo TDT được mở của NH I Một bộ 3/3 B/L được xuất trình có chữ ký bằng tay của người chuyên chở

và có ghi chú Bản gốc, Bản hai, Bản ba (Original, Duplicate, Triplicate) Sau khi kiểm tra thấy chứng từ

phù hợp với tất cả các điều khoản của TDT, NH C thanh toán tiền cho người thụ hưởng và gửi bộ chứng từ đòi tiền NH I nhưng lại bị NH I từ chối vì theo lý luận của họ, trọn bộ 3/3 không được xuất trình, bản

thứ 2 và 3 là bản copy Trong tài liệu số xuất bản 535, phòng Thương mại Quốc tế cũng khẳng định “The Bills of Lading stamped “Duplicate”, “Tripicate” cannot be refused on the ground that they have not been marked as “Originals” Các cách thể hiện bản chính đều là thông lệ của các nhà vận tải, giao nhận, NH

không thể có sự lựa chọn nào

Một sự hiểu biết thấu đáo về NH đối tác rất quan trọng cho cán bộ kiểm chứng từ TDT do NH mở là

Bank of Tokyo-Mitsubishi Trust Co, New York và B/L theo lệnh NH mở Do thiếu hiểu biết người làm B/L đã viết thành “Bank of Tokyo-Mitsubishi, New York Branch”, đồng nhất tên 2 NH hoàn toàn khác nhau,

cho dù cả hai đều thuộc cùng một hệ thống NH chiết khấu bộ chứng từ không kiểm tra kỹ đã thanh toán cho bộ chứng từ Kết quả là chứng từ bị từ chối thanh toán do bất hợp lệ, người mở L/C không nhận được hàng đúng lúc, B/L phải đem đến đại lý của hãng tàu tại New York xin tu chỉnh lại NH chiết khấu phải trả cho NH mở phí chứng từ bất hợp lệ và những chi phí trong việc chỉnh sửa B/L

Một rủi ro đã xảy ra cho NH B khi họ chiết khấu bộ chứng từ của công ty Z, theo L/C được mở bởi

NH T ở Panama L/C yêu cầu, bộ chứng từ xuất trình để thanh toán bao gồm: one copy of invoice, one copy of non-negotiable B/L,… Công ty Z đã xuất trình một bản photocopy của Non-negotiable B/L, và NH

B đã chấp nhận chiết khấu, gửi chứng từ cho NH T yêu cầu thanh toán, xác định bộ chứng từ hợp lệ NH

T sau khi kiểm tra bộ chứng từ đã điện thông báo cho NH B biết rằng bộ chứng từ bị bất hợp lệ, L/C yêu

cầu một bản Non-negotiable B/L chứ không phải là một bản photocopy của chứng từ trên NH B đã bỏ

qua chi tiết cơ bản này Cùng với bộ B/L gốc có giá trị giao nhận, hãng tàu cũng cấp cho nhà XK những

Trang 23

bản Non-negotiable B/L không có giá trị giao nhận, nhưng hình thức hoàn toàn giống như B/L gốc, chỉ khác là có dòng Non-negotiable và không được ký Công ty Z đã photocopy lại chứng từ này và đem xuất

trình tại NH B Mặc dù bộ chứng từ cũng được người mua chấp nhận thanh toán nhưng NH B vẫn bị trừ

USD100.00 cho bất hợp lệ bị nêu ra Nhiều cán bộ NH vẫn còn nhầm lẫn giữa Non-negotiable B/L, với bản photocopy của chứng từ này, và bản photocopy của B/L gốc

Tình huống gần đây nhất liên quan đến Air Waybill (AWB) L/C do NH S phát hành qui định mỗi bất hợp lệ sẽ phải trả USD50, điểu khoản AWB theo lệnh NH mở Người thụ hưởng B xuất trình chứng từ cho NH T trong đó có AWB được phát hành bởi một công ty liên doanh V giữa Vietnam Airline và một hãng vận tải nước ngoài NH T sau khi kiểm tra bộ chứng từ không thấy có sai sót và tiến hành chiết khấu, gửi chứng từ đi như thường lệ NH S nhận được bộ chứng từ và thông báo bất hợp lệ cho NH T với

nội dung “the Revert side of AWB is blank” (mặt sau AWB để trắng), yêu cầu trả phí bất hợp lệ USD50

NH T nhầm tưởng là do mặt sau không ký hậu và từ chối thanh toán vì AWB theo lệnh NH mở, nhưng

NH S giải thích lại là do mặt sau AWB không có “notice concerning carrier’s limitation of libility” và dẫn chiếu điều 27a-vi, AWB phải “bao gồm toàn bộ hoặc một số điều khoản và điều kiện của việc chuyên chở…”, NH không có trách nhiệm kiểm tra nội dung các điều khoản nhưng phải kiểm tra xem có những

điều khoản đó trên AWB không, hoặc AWB phải có tham chiếu đến một nguồn hoặc chứng từ khác hơn AWB NH T phải trả phí bất hợp lệ được yêu cầu Tình huống thật đơn giản nhưng hãn hữu, vì các NH ít để ý đến hình thức của một AWB mà chỉ kiểm tra nội dung, và hầu hết AWB được phát hành đều có những điều khoản ở mặt sau Điều cần nói là công ty V phải sửa đổi lại hình thức AWB của mình bởi NH

T sẽ ràng buộc trách nhiệm và phí bất hợp lệ cho khách hàng sử dụng dịch vụ vận tải của công ty Công

ty không thể có sự lựa chọn nào khác

1.5.2.2 Hóa đơn thương mại

Hóa đơn là một chứng từ cơ bản của TDT, việc kiểm tra hóa đơn thường gặp phải những sai sót sau:

- Chấp nhận những mô tả hàng hóa ghi thêm được qui định trong TDT Các chi tiết bổ sung tác động trực tiếp đến cấu trúc thành phần hàng hóa, khác biệt so với trạng thái của sự diễn tả hàng hóa trong

TDT sẽ càng làm gia tăng sự bất hợp lệ của chứng từ Các chi tiết nào được bổ sung, ghi thêm như thế nào vào hóa đơn đều tùy thuộc và từng trường hợp cụ thể, cách nhìn nhận vấn đề và cả những qui định của NH Do vậy, để bảo đảm sự hoàn chỉnh của chứng từ, yêu cầu sửa đổi TDT theo cách diễn giải trên hóa đơn là giải pháp tốt nhất

- Thanh toán hóa đơn ghi số tiền nhỏ hơn trị giá TDT trong khi TDT không ghi điều khoản dung sai và

không cho phép giao hàng từng phần Trong trường hợp này, hiểu theo lẽ thông thường là số tiền thể hiện trong hóa đơn phải đúng số tiền ghi trong TDT

Một TDT do NH S ở Indonesia mở có giá trị chiết khấu ở NH T, TP.HCM với điều khoản về Invoice

“Showing CIF separately” và nêu rõ, mỗi một bất hợp lệ sẽ bị trừ USD50.00 trên số tiền hối phiếu Invoice được xuất trình vẫn ghi rõ phần unit price “CIF Hochiminh City” NH chiết khấu đã bỏ qua chi

tiết nhỏ trên trong khi kiểm chứng từ và cho rằng chỉ cần ghi như thế là đủ Kết quả là NH S thông báo bộ chứng từ bất hợp lệ và cho dù người mở đồng ý thanh toán, họ vẫ trừ USD50.00 và số tiền thanh toán

Trang 24

cho NH chiết khấu Ở đây, đúng ra là phải ghi rõ số tiền của từng khoản mục Cost, Insurance, Freight

Dung sai hàng hóa và số tiền cũng gây khá nhiều tranh cãi Những trường hợp sau đây là một ví dụ

™ Dung sai tăng giảm 10% trị giá/đơn giá/số lượng

L/C trả ngay do NH P phát hành có giá trị chiết khấu tại NH C, người thụ hưởng X, trị giá: USD2.992.000, hàng hóa: thép xây dựng, số lượng: 10.000 tấn, đơn giá: USD272/tấn, dung sai: ± 10% trên số lượng hàng hóa, Giao hàng làm một chuyến Công ty X xuất trình chứng từ tại NH C với thực tế giao hàng như sau: Trị giá hóa đơn USD2.842.400, số lượng hàng hóa 10.450 tấn thép xây dựng, đơn giá USD272/tấn Tất cả yêu cầu còn lại của TDT đều được công ty X thực hiện đầy đủ và chính xác NH C xác định chứng từ hoàn toàn hợp lệ và gửi tới NH P NH P, sau khi kiểm tra chứng từ gởi đến, xác định:

chứng từ không hợp lệ, lý do: trị giá hóa đơn đòi tiền thiếu so với yêu cầu của TDT (Short-drawn) và

Ý đồ của người mở là ấn định số tiền tối đa mà người hưởng được phép đòi tiền nhằm bảo đảm số hàng giao vượt 10%, có nghĩa là số lượng cho phép 10.000 tấn x 10% = 11.000 tấn, số tiền 11.000 tấn x USD272 = USD2.992.000 TDT cho phép dung sai ±10% giao hàng nhưng không nói về số tiền Như vậy nói một các tổng quát về điều 39a và b, thì số tiền phải thanh toán USD2.842.400 thấp hơn số tiền TDT (USD2.992.000) trong giới hạn (-5% so với -10%) ở phần a Điều 39, đơn giá hàng hóa không thay đổi, hàng hóa được giao giảm trong giới hạn cho phép của TDT và loại hàng này vẫn áp dụng được điều 39b Việc đòi tiền của công ty X là phù hợp với TDT và không trái qui định của điều 39 UCP500

Tài liệu ICC số xuất bản 489, trang 102 dẫn chiếu một trường hợp tương tự và quan điểm của các

chuyên gia ICC là NH không thể từ chối chứng từ xuất trình với số tiền nằm trong khoảng giới hạn số tiền của TDT Tuy nhiên, người hưởng nên yêu cầu người mở điều chỉnh lại TDT trước khi giao hàng theo các

cách sau:

- Amount USD2.720.000 plus/minus (more or less) 10% acceptable (tương đương số tiền được phép giao

dịch không quá 10% là USD2.992.000), hoặc

- Up to USD2.992.000 (bảo đảm logic của sự hòa hợp giữa ±10% số tiền thanh toán và số hàng hóa

được giao)

™ Dung sai áp dụng trong TDT giao hàng nhiều lần

Dung sai tăng giảm trong thực tiễn giao dịch chứng từ không đơn giản như người ta thường nghĩ Do vậy không ít nhà XK và kể cả NH đã bị từ chối chứng từ khi nhận thức không đúng việc áp dụng dung sai trong nhiều trường hợp TDT giao hàng nhiều lần

Trang 25

L/C do NH T mở cho người thụ hưởng B trong đó có điều khoản: hàng hóa 45.000kg sợi Polyester, được phép tăng/giảm 10%, giao hàng làm 2 lần như sau: chuyến thứ nhất 12.400kg, chuyến thứ 2: 32.600kg Điều này dẫn đến 2 cách hiểu:

1 Dung sai trên được áp dụng cho tổng số lượng hàng giao theo TDT, do vậy có thể giao như sau: chuyến 1 giao đúng 12.400kg, chuyến 2 số lượng còn lại (kể cả dung sai tối đa) 37.100kg Tổng cộng 49.500kg

2 Dung sai trên được áp dụng cho từng chuyến giao hàng, do vậy chuyến 1 được giao tối đa 13.640kg, chuyến còn lại tối đa 35.860kg Tổng cộng 49.500kg

Ý đồ của người mở TDT theo cách thứ 2, NH T cũng đơn giản hiểu theo cách thứ 2 mà không lường trước những trường hợp có thể xảy ra, dẫn đến việc người thụ hưởng xuất trình chứng từ xin chiết khấu theo cách thứ 1 Theo nhận thức chung thì hiểu theo cách thứ 2 là chính xác Tuy nhiên ranh giới giữa cái chính xác và không chính xác lại không rõ ràng NH chiết khấu bộ chứng từ trên cho là hiểu theo cách thứ nhất cũng đúng, vì TDT không qui định cụ thể Hơn nữa, tổng số lượng được tăng 10% là mức cho phép của TDT, nếu người mở có ý định thì phải yêu cầu tỉ lệ vượt này chia đều cho hai chuyến Trường hợp trên đây đã gây tranh chấp giữa hai phía, phần thắng nghiêng về NH phát hành vì họ có quyền định đoạt thanh toán bộ chứng từ, người mở sau cùng cũng chấp nhận thanh toán nhưng NH chiết khấu bị chiếm dụng vốn trong một thời gian khá dài, các chi phí điện tín và các chi phí khác Do vậy, để tránh tranh chấp giữa 2 phía tốt nhất người mở nên nói rõ trong TDT, và người hưởng chỉ giao hàng khi TDT

nói rõ, là dung sai (±10%) có giá trị chung cho tổng lượng hàng hay cho từng chuyến giao hàng

™ Dung sai áp dụng cho hàng hóa nhiều chủng loại

TDT mà hàng hóa là sản phẩm may mặc, giày da, văn phòng phẩm, thủy hải sản … sẽ bao gồm nhiều chủng loại, kích cỡ, màu sắc, chất lượng … thông thường cho phép dung sai Do vậy cần phải hiểu chính xác, cụ thể ý định của 2 bên để giao hàng, thanh toán chứng từ theo đúng yêu cầu TDT Cần nhớ là cho dù hợp đồng có qui định như thế nào đi chăng nữa thì nếu TDT không qui định, NH không được phép chấp nhận chứng từ lập sai tinh thần của điều khoản này

Một TDT được mở theo yêu cầu của công ty A với điều khoản: mặt hàng tôm đông lạnh 47.000kg, dung sai ±10% gồm 4 loại với số lượng: loại I 13.500kg, loại II 10.500kg, loại III 15.000kg, loại IV 8.000kg Tương tự theo cách nói ở trên sẽ có hai cách giao hàng được hiểu, và thực tế là người hưởng đã giao theo cách sau với lượng hàng có sẵn của mình, không vượt mức tối đa cho phép: loại 1 14.445kg (vượt 7%), loại 2 12.075kg (vượt 15%), loại 3 15.300kg (vượt 2%), loại 4 9.280kg (vượt 16%) Tổng cộng là 51.100kg dưới mức tối đa cho phép NH phát hành đã từ chối bộ chứng từ bởi họ hiểu theo cách khác, với tỉ lệ dung sai áp dụng cho từng loại, thì tương ứng với từng loại 1, 2, 3, 4 số lượng phải là 14.850kg, 11.550kg, 16.500kg, 8.800kg NH chiết khấu cũng gánh chịu rủi ro như trường hợp trên Do vậy cách tốt nhất là NH chiết khấu nên thông báo cho người hưởng để họ yêu cầu người mở sửa đổi TDT, bằng cách

nói rõ: dung sai 10% áp dụng cho mỗi một loại hàng riêng lẻ (10% tolerance applicable to each grade of goods)

1.5.2.3 Chứng từ bảo hiểm

Trang 26

Một số NH cho rằng giấy chứng nhận bảo hiểm (BH) bản thứ hai chỉ cần ghi “DUPLICATE” và trên bề mặt cũng ghi phát hành 2 bản là đủ, cho dù bản thứ hai này được ký qua giấy than Các điều khoản nói về chứng từ vận tải và BH đều qui định chúng phải được ký, đều này khác với các chứng từ khác

(hóa đơn , chứng từ đóng gói ) có thể không cần ký Các bản gốc của chứng từ BH phải được ký trực tiếp bằng tay, chứ không thể qua giấy than

Sự ngộ nhận trên đã dẫn đến tình huống khó khăn cho NH P khi họ chấp nhận bộ chứng từ chỉ có một bản gốc và một bản copy được ký qua giấy than của chứng từ bảo hiểm Khác với vận đơn là có thể gởi

một bản gốc theo hàng hóa cho người nhận hàng, chứng từ bản hiểm phải được xuất trình toàn bộ (full set) hoặc một bản duy nhất (a sole original) cho NH Chứng từ bảo hiểm không cần phải gửi theo hàng

hóa vì nó không liên quan đến việc nhận hàng mà chỉ cần thiết cho việc lập chứng thu khiếu nại đòi bồi thường Do vậy người được bảo hiểm phải nắm giữ toàn bộ (các) bản gốc nhằm sử dụng nó như là công cụ để bảo vệ quyền lợi của mình Nguời hưởng đã tráo trở trong việc xuất trình chứng từ bảo hiểm như trên, nhận được tiền và lại đem bản gốc đến công ty bảo hiểm để nhận bồi thường Sự vụ cuối cùng cũng được giải quyết ổn thỏa do sự can thiệp kịp thời của người mở và NH mở TDT nhưng nếu không, thì đây là bài học đắt giá cho NH P vì sự bất cẩn trong kiểm tra chứng từ của họ

Một số NH đã chấp nhận chứng từ bảo hiểm với những sai sót sau:

- Chứng từ bảo hiểm được ký phát sau ngày giao hàng Chứng từ bảo hiểm chỉ được chỉ được chấp

nhận ký phát sau ngày giao hàng với điều khoản ghi rõ giá trị hiệu lực của nó bắt đầu từ ngày giao hàng Trường hợp này có thể xảy ra do thủ tục lập bảo hiểm đơn trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm đã bị

ký chậm trễ, nhưng người bảo hiểm cam kết bồi hoàn nếu có tổn thất vào thời điểm sau ngày giao hàng, trước ngày cấp bảo hiểm đơn

- Đồng tiền bảo hiểm khác với đồng tiền của TDT (TDT không qui định khác)

- Chứng từ bảo hiểm không được ký hậu chuyển nhượng cho người NK

Một số NH vẫn còn rất cứng nhắc trong việc chỉ chấp nhận chứng từ bảo hiểm với số tiền bảo hiểm được tính bằng trị giá hàng hóa CIF hoặc CIP (nơi đến) cộng với 10% Họ không chấp nhận chứng từ bảo

hiểm vượt Điều 34f-ii có nêu “Trừ khi qui định khác trong TDT, số tiền đền bù tối thiểu mà bảo hiểm phải ghi là trị giá CIF hay CIP cộng 10%…” nếu TDT thực sự yêu cầu một trị giá chính xác, loại trừ các

tỉ lệ tối đa hay tối thiểu thì không thể căn cứ vào đây để thông báo bất hợp lệ

1.5.2.4 Các chứng từ khác

Rất nhiều trường hợp NH nhầm lẫm trong lý giải điều 20(b) “…Chứng từ có thể ký bằng tay, bằng chữ ký qua fax, bằng dấu chữ ký đục lỗ (perforated signature), bằng con dấu, bằng ký hiệu hoặc bằng bất cứ phương pháp chứng thực nào của máy móc hoặc điện tử.” Họ đã nhầm lẫm khi cho rằng chữ ký được tạo

ra bằng hệ thống máy Fax (Signed by fascimile signature) là chữ ký bằng tay nhưng nhận được qua phương tiện liên lạc bằng máy fax Thật ra, fascimile signature là chữ ký được tạo bởi hệ thống máy fax trên cơ sở chữ ký mẫu đã được cài lập vào bộ nhớ của máy vi tính Từ “fascimile” phải được hiểu theo nghĩa rộng, dó là hệ thống tạo lập bằng phương pháp in laser hoặc bằng vi tính, điện tử chứ không phải

máy fax dùng trong thông tin liên lạc Ở Việt Nam, phương pháp ký bằng hệ thống điện tử chưa được sử

Trang 27

dụng nên thuật ngữ “Fascimile signature” còn khá trừu tượng

Trường hợp dưới đây là một kinh nghiệm về công tác quản lý điều hành và sự nhanh nhạy tinh thông trong thực hiện phương thức TDCT Theo yêu cầu của người mở Y, NH P phát hành một TDT cho người hưởng X, thông báo qua NH T và có giá trị chiết khấu tại NH T Trong số các chứng từ xuất trình có

“Inspection Certificate” do đại diện của công ty Y cấp trước ngày giao hàng Mẫu chữ ký của đại diện

này được gửi tới NH T với yêu cầu không thông báo cho X, chỉ giữ lại NH T để kiểm tra chữ ký khi chứng từ xuất trình TDT được tu chỉnh với điều khoản tự do chiết khấu và NH P chỉ thị cho NH T giải tỏa mẫu chứ ký cho việc chiết khấu NH T đã chuyển mẫu chữ ký cho công ty X và họ chiết khấu bộ

chứng từ tại NH C theo đúng các điều khoản và điều kiện của TDT, tuy nhiên, chữ ký trong Inspection Certificate là giả mạo nhưng không được phát hiện do rất giống Sai lầm của NH P là đã chuyển chữ ký

cho NH T lưu trữ lại cho phép chứng từ xuất trình ở NH khác Hơn nữa, chỉ thị cho NH T về chuyển giao mẫu chữ ký không rõ ràng, thiếu chính xác NH T lẽ ra phải điện cho yêu cầu NH P nói rõ hơn trước khi thực hiện lệnh này, cho dù không có cơ sở để khiếu nại họ vì họ đã làm đúng theo chỉ thị Tuy rằng mọi việc cuối cùng cũng được giải quyết ổn thỏa, công ty Y nhận được hàng với đúng qui cách, số lượng

nhưng nếu ngược lại, các NH, đặc biệt là NH phát hành P phải gánh chịu rủi ro vì họ đã không kiểm soát lại nội dung các chỉ thị mở, sửa đổi, hành động không đúng theo điều 5 UCP 500 là “những chỉ thị về việc phát hành TDT và bản thân TDT, những chỉ thị sửa đổi TDT và bản thân sửa đổi đó phải đầy đủ và chính xác”

1.5.3 Xuất trình chứng từ

Thời hạn xuất trình chứng từ thường căn cứ vào ngày xếp hàng “Documents must be presented within

… days after the date for shipment but within the validity of the credit” Một L/C trị giá USD150,000.00 qui

định rằng, chứng từ phải được xuất trình trong vòng 10 ngày sau ngày xếp hàng lên tàu B/L ngày 1/3/99, chứng từ được mang đến NH D ngày 6/3 năm 1999, NH kiểm tra chứng từ thấy có những bất hợp lệ về Invoice như sai điều khoản giao hàng, cảng đi, tên tàu… đã trả về cho khách hàng để sửa lại Chứng từ được mang lại NH vào ngày 10/3/99, NH kiểm tra lại thấy hoàn toàn phù hợp và tiến hành chiết khấu

Trên bản gửi chứng từ (cover letter) gửi cho NH mở L/C là M ở Brasil, NH D đề ngày 16/3/99 cùng với

các chi tiết về số L/C, người thụ hưởng, người mở, số lượng chứng từ, chỉ thị thanh toán,… Ngày 26/3/99,

NH M gửi điện thông báo cho NH D với nội dung “Chúng tôi nhận được bộ chứng từ của quí NH và ngày 22/3/99, tuy nhiên bộ chứng từ bị bất hợp lệ vì xuất trình chứng từ trễ Chúng tôi đang liên hệ với người mở về việc chấp nhận thanh toán hay không và sẽ thông báo sau” NH D phản đối với thông báo này với

lý do là chứng từ được xuất trình trong thời hạn được qui định bởi TDT và họ có quyền kiểm tra chứng từ trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được chứng từ xuất trình NH M dẫn chiếu điều 44-c UCP 500 thì NH

“phải nói rõ bằng văn bản là các chứng từ được xuất trình trong phạm vi thời hạn qui định theo điều 44(a) của Điều lệ và thực hành thống nhất TDCT, Bản sửa đổi 1993, Phòng TMQT, Số xuất bản 500” NH D

không nói rõ chứng từ được xuất trình trong thời hạn được qui định trên bản gửi chứng từ, NH M chỉ căn cứ ngày trên đây để xác định ngày xuất trình chứng từ, và rõ ràng là theo đó thì chứng từ đã xuất trình trễ nên họ có quyền từ chối Nội vụ kéo dài 1 tháng, NH D phải điện đi xác nhận lại với NH M về thời

Trang 28

hạn xuất trình chứng từ, cuối cùng thì NH M cũng thanh toán lại cho NH D với sự đồng ý của người mở L/C NH D coi như bị chiếm dụng một khoản vốn không nhỏ trong thời hạn gần 2 tháng

1.5.4 Gửi chứng từ, chứng từ chỉ có giá trị tại NH phát hành

Một trường hợp rất hay xảy ra trong giao dịch TDCT liên quan đến việc gửi chứng từ một lần hay hai lần, chiết khấu chứng từ chỉ có giá trị tại NH phát hành TDT trị giá USD25.223 giao hàng một lần, hiệu lực đến ngày 28/2 tại NH phát hành P, có giá trị thanh toán khi NH P nhận được chứng từ hợp lệ Ngày 22/2, người hưởng (công ty X) xuất trình chứng từ giao hàng trị giá USD25.223 tại NH C Sau khi xác định chứng từ hợp lệ, NH C chiết khấu và lập thủ tục gửi chứng từ đến NH P làm 2 lần như sau: lần 1 vào ngày 23/2 gồm 2/3 bản của từng loại chứng từ; lần 2 vào ngày 25/2 là những chứng từ còn lại Đồng thời

xác nhận trong Bản gửi chứng từ (Cover letter/Schedule) là chứng từ hợp lệ được gửi đến NH P để thanh

toán Ngày 3/3 NH P điện thông báo cho NH C nêu rõ bất hợp lệ của chứng từ:

- Xuất trình chứng từ sau ngày hết hiệu lực của TDT (NH P nhận được bộ 1 vào ngày 27/2, bộ 2 vào ngày 1/3)

- Số tiền ở bản gửi chứng từ sai so với hóa đơn: USD25.233 thay vì USD25.223

NH C phản ứng lại với lý luận, người hưởng xuất trình chứng từ đầy đủ tại NH vào ngày 20/2 có xác nhận trên bản gửi chứng từ; TDT không đề cập đến cách thức gửi chứng từ giữa 2 NH nên việc gửi chứng từ làm 2 lần nhằm tránh thất lạc trên đường vận chuyển là phù hợp với thông lệ và tập quán trong giao dịch giữa các NH, chứng từ gửi lần 1 đến vào ngày 27/2 phải được coi là ngày xuất trình tại NH phát hành; lỗi đảo hạng trong số tiền là lỗi trong giao dịch giữa các NH và khi đã được xác nhận lại thì không thể coi đó là bất hợp lệ của chứng từ Tuy nhiên NH P vẫn không thay đổi ý kiến cho đến lúc người mở đồng ý thanh toán

NH C ở trường hợp này đã không lưu ý đến điều khoản thanh toán TDT không cho phép chiết khấu mà chỉ được thanh toán khi xuất trình chứng từ tại NH P Có nghĩa là việc chiết khấu chứng từ bất kể tình trạng ra sao là công việc nội bộ của NH C và công ty X NH C không thể nhân danh là NH được ủy quyền, hoặc được chỉ định của TDT để khiếu nại NH P Họ chỉ đóng vai trò của NH chuyển chứng từ

hoặc là NH xuất trình (Remitting bank / Presenting bank) Trong trường hợp này NH P chịu trách nhiệm thanh toán (payment) cho công ty X chứ không phải hoàn trả (reimbursement) cho NH chiết khấu Điều

khoản TDT qui định: TDT có giá trị thanh toán tại NH phát hành (TDT có giá trị trực tiếp Straight

Credit) thì việc xuất trình phải được thực hiện tại NH P, đầy đủ và đúng hạn (dẫn chiếu ICC Pub.No.515

“…presentation is made at our counter on or before expiry date”) Tuy NH P không qui định chứng từ gửi

một hay hai lần nhưng việc xảy ra mất chứng từ khi chỉ gửi một lần thuộc về người hưởng, không liên quan đến NH C NH C đã gửi làm 2 lần nhưng không chú ý đến ngày hiệu lực của TDT và bộ chứng từ đã không đến NH P đúng theo qui định của TDT

Về rủi ro mất chứng từ, theo ý kiến của ICC thì “trong trường hợp chứng từ, kể cả hối phiếu đòi tiền tại người mở bị mất trên đường vận chuyển, NH chuyển chứng từ có quyền được hoàn trả tiền và thời hạn tương đương với ngày mà nó phải được thanh toán nếu chứng từ không bị mất NH phát hành phải có trách nhiệm nhận thức được là việc thanh toán không được chậm trễ.” (ICC Pub.No.469) Với tư cách là NH

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w