1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động thời kỳ 1996 1999 và giải pháp tổng công ty giấy VN đến năm 2010

66 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 410,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nỗ lực đó là những chương trình kế hoạch đầu tư phát triển các nhà máy sẵn có của Tổng Công ty Giấy nhằm đổi mới công nghệ, thiết bị hoặc chuyển hướng sản xuất để phù hợp với đòi hỏi thự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TP H ồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Ghề làm giấy ở Việt nam có từ thế kỷ thứ ba sau công nguyên sớm hơn tuyệt đại bộ phận các nước trên thế giới Từ thuở xa xưa, tổ tiên ta đã biết sử dụng vỏ dó cùng một số cây khác để tạo ra các loại giấy mỏng, mịn, bền, đẹp và đặc biệt là có tuổi thọ cao để chép in các sách Phật, bản đồ, bằng sắc và chiếu chỉ của triều đình, kể cả làm đồ cống nạp cho vua chúa Trung Hoa Nghề truyền thống này vẫn được lưu truyền và phát triển cho đến ngày nay

N

Năm 1913 nhà máy Giấy cơ giới đầu tiên ở nước ta ra đời - nhà máy Giấy Đáp cầu, Tiền thân của Nhà máy Giấy Hoàng văn Thụ Năm 1961 nhà máy Giấy tương đối tiên tiến ở Đông Nam Á ra đời - Nhà máy Giấy Việt Trì Đồng thời ở miền Nam ra đời Nhà máy Giấy Đồng Nai và năm 1963 có Nhà may Giấy Tân Mai, năm 1982 ra đời công ty Giấy Bãi Bằng và năm 1990 nâng cấp mở rộng Giấy Tân Mai thì ngành Giấy Việt Namcó được công nghệ của những năm

1970

Năm 1995 ra đời Tổng công ty Giấy Việt Nam với chức năng sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các chủng loại giấy và carton, thiết bị, phụ tùng hóa chất, vật tư nhành giấy bao gồm:9 nhà máy giấy, 1 công ty gỗ, 1 viện nghuyên cứu giấy, 1 nhà máy in, 2 công ty nguyên liệu, 1 công ty tài chính, 1 trường dạy nghề Tổng công suất:giấy và carton (154.000 tấn/năm), bột giấy (143.000 tấn năm) và gỗ dán (6.000 m3/năm)

Ngành Giấy Việt Nam mà hạt nhân là Tổng Công ty Giấy Việt Nam cùng với những thành tựu to lớn của cuộc đổi mới đất nước và bằng sự nỗ lực của chính mình, Tổng Công ty Giấy đang từng bước phấn đấu tự vươn lên để đáp ứng phần nào nhu cầu tiêu dùng, xã hội đang ngày càng phát triển Một trong những

Trang 3

nỗ lực đó là những chương trình kế hoạch đầu tư phát triển các nhà máy sẵn có của Tổng Công ty Giấy nhằm đổi mới công nghệ, thiết bị hoặc chuyển hướng sản xuất để phù hợp với đòi hỏi thực tế về vấn đề chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường nhằm tăng thị phần của mình trên thị trường trong nước

Để đánh giá tình hình hoạt động của ngành giấy nói chung và Tổng Công ty

Giấy Việt Nam nói riêng trong thời kỳ 1996-1999, chúng tôi chọn đề tài: "Đánh giá thực trạng hoạt động của Tổng Công ty Giấy Việt Nam thời kỳ (1996-1999) và

một số giải pháp nâng cao kết quả hoạt động và thị phần của Tổng Công ty"

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào phân tích một số chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả hoạt động của Tổng Công ty và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động và nâng cao thị phần của Tổng Công ty đến năm 2010 theo định hướng phát triển của Ngành Giấy Việt Nam; từ đó làm một trong những cơ sở cho định hướng phát triển của Tổng Công ty đến năm 2010

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp hệ thống, các phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp kinh lượng học, phương pháp dự báo …

Kết cấu của đề tài gồm:

- Mở đầu

- Chương I: Tiềm năng phát triển của Tổng Công ty Giấy Việt Nam

- Chương II: Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động của Tổng Công ty Giấy

Việt Nam giai đoạn 1996-1999

của Tổng Công ty đến năm 2010

- Kết luận và Kiến nghị.

Trang 4

CHƯƠNG I TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM

1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY VIỆT NAM:

Giấy là một phát minh lâu đời và có giá trị của nền văn minh nhân loại Những tờ giấy cổ xưa làm từ xơ thực vật đã tìm thấy ở Trung quốc trong các di vật khảo cổ niên đại 220 sau Công nguyên thuộc triều đại Nhà Hán

Ở Việt Nam, sản phẩm giấy gắn bó mật thiết với nền văn hiến của người Việt Cuốn sách cổ Trung Hoa đầu thế kỷ thứ IV " Nam phương thảo mộc trọng" ghi rõ năm 824 các nhà buôn nước Đại Tần, Đông La mã mua ba vạn tờ giấy mật hương của Giao chỉ để dâng cho Vua Tần Vũ Đế Giấy mật hương sắc trắng, vân mây như vẩy cá hương thơm và có ưu điểm độc đáo là dù bị rơi xuống nước cũng không bị nát Thời nhà Đường, vào thế kỷ VII-X, giấy của người Việt làm

ra qua buôn bán giao lưu giữa các nước có tiếng là đẹp và bền Đến thời nhà Lý, vào thế kỷ XI-XIII, những người làm giấy Việt nam đã làm được giấy có sắc vàng, vẽ rồng mây và thường gọi là giấy Long ám Vào cuối thế kỷ thứ XIV, cuốn sách Đại Việt Sử Lược đã ghi nhận: Đầu thế kỷ thứ XIII, phía tây của ngoại thành Hà nội nghề giấy đã hình thành nên những xóm làng giấy và người

ta thường gọi là " ngõ giấy" Năm 1435, Nguyễn Trãi đã viết trong cuốn Dư địa chí" … Phường Yên Thái chuyên làm giấy…" Nghề giấy đã đi vào ca dao và được truyền qua bao thế hệ " Tiếng chày Yên Thái mặt gương Tây hồ"

Trang 5

Như vậy nghề làm giấy ở nước ta có một bề dày lịch sử lâu đời Ở thời kỳ sơ khai, mành trúc được sử dụng làm lưới để hình thành nên tờ giấy và được gọi là công nghệ xeo liềm trúc vào thời kỳ này sản xuất giấy chủ yếu theo phương pháp thủ công

Thời kỳ sản xuất giấy bằng cơ giới Việt Nam có thể tính khởi đầu từ năm

1912, thời điểm Công ty giấy Đông dương của Pháp xây dựng xí nghiệp bột giấy Việt Trì công suất 4.000 tấn/năm và năm 1912 giấy Đáp Cầu-Hà Bắc ra đời với công suất 2.000 tấn/năm

Năm 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, xí nghiệp bột giấy Việt Trì

bị tàn phá, quân dân ta tháo gỡ máy móc thiết bị của giấy Đáp Cầu và di chuyển ngược lên vùng Chợ Chu Bắc Cạn xây lắp hình thành nên xí nghiệp giấy Hoàng Văn Thụ phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Đồng thời nhiều cơ sở sản xuất theo phương pháp thủ công, dùng liềm đồng trải vải cũng được xây dựng như các xí nghiệp giấy : Việt Bắc, Ngòi lửa (Vĩnh Phú), Lam Sơn ( Thanh Hóa ), Lao Động, Lê Hồng Phong ( Nghệ Tĩnh )…

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nước ta tạm thời bị chia làm hai miền Ở miền Bắc ngành giấy được tổ chức sắp xếp lại theo hướng sản xuất cơ giới, các xí nghiệp sản xuất giấy theo phương pháp thủ công bị giải thể Ngành giấy từng bước phục hồi, năm 1960 đạt sản lượng 4.800 tấn và đạt mức tăng trưởng 2,5 lần so với năm 1955

Trong thập niên 1960 - 1970, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng Ở miền Bắc nhà máy giấy Việt Trì với công suất thiết kế 18.000 tấn/năm được đưa vào sản xuất vào năm 1961 và sau đó là một loạt các nhà máy giấy khác được đầu tư xây dựng như Vạn Điểm, Hòa Bình, Trúc Bạch…

Ở miền Nam, ngành giấy tiếp thu nhiều công trình được đầu tư sau giải phóng Phần lớn các xí nghiệp ở trong tình trạng mất cân đối giữa sản xuất bột

Trang 6

giấy và sản xuất giấy, chủ yếu dưa vào nguồn bột nhập như : nhà máy giấy Đồng Nai 20.000 tấn/năm (1961), nhà máy giấy Tân Mai 18.000 tấn/năm (1963), nhà máy giấy Thủ Đức và nhà máy giấy Vĩnh Huê 6.000 tấn/năm (1967), nhà máy giấy Bình An 6.000 tấn/năm (1974)… Do đó đến thời kỳ này bộ mặt ngành công nghiệp giấy đã có những bước thay đổi quan trọng, thời kỳ phát triển sản xuất giấy theo phương pháp cơ giới đẩy nhanh nhịp độ tăng sản lượng Sản lượng giấy năm 1970 tăng lên 10 lần so với năm 1960 và đạt sản lượng hơn 50.000 tấn

Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại , ở miền Bắc ngành công nghiệp giấy bị tàn phá nặng nề, hai nhà máy giấy lớn nhất là Việt Trì và Hoàng Văn Thụ bị hư hại nặng Tổng công suất thiết kế của 4 nhà máy thuộc Trung ương quản lý và các nhà máy giấy địa phương bị suy giảm gần 40%, chỉ còn là 17.000 tấn/năm tính ở thời điểm năm 1975

Năm 1975, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng , tổng công suất thiết kế ngành công nghiệp giấy Việt nam đạt xấp xỉ 72.000 tấn/năm Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh ở cả hai miền Nam - Bắc nên sản lượng giấy toàn quốc chỉ xấp xỉ 28.000 tấn

Để góp phần khắc phục tình trạng thiếu bột trầm trọng ở phía Nam, ngành giấy đã hoàn thành công trình xây dựng nhà máy bột giấy Viễn Đông, đồng thời xây dựng thêm các phân xưởng sản xuất bột ở các nhà máy giấy Thủ Đức, Linh Xuân… Chương trình phục hồi ngành giấy ở miền Bắc cũng được triển khai: phục hồi nhà máy giấy Việt Trì, Trung quốc thực hiện kế hoạch cung cấp các thiết bị máy xeo giấy cở nhỏ cho địa phương… Tổng sản lượng giấy năm 1978 đạt 67.000 tấn

Năm 1979 đánh dấu một sự suy giảm nghiêm trọng của ngành công nghiệp giấy Việt Nam Viện trợ của các nước phương tây về việc hỗ trợ các nhu cầu bột

Trang 7

giấy, nhiên liệu và hóa chất để đảm bảo duy trì sản xuất các nhà máy giấy ở phía Nam bị cắt giảm Đồng thời khi xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam thì viện trợ phục hồi ngành giấy của Trung Quốc không còn nữa Vì vậy tổng sản lượng giấy toàn quốc năm 1979 chỉ đạt 41.000 tấn, bị giảm so với năm trước 38,8%

Mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của ngành công nghiệp giấy Việt Nam được đánh dấu bằng sự kiện Công ty giấy Bãi Bằng đươc đưa vào vận hành năm

1981 Đó là một công trình sản xuất khép kín, ứng dụng kỹ thuật cơ giới và tự động hóa tương đối hiện đại và đồng bộ, được xây dựng với nguồn vốn viện trợ của nhân dân Thụy Điển Công trình được đầu tư xây dựng tương đối hoàn chỉnh từ khu nguyên liệu, đường giao thông và một phức hợp các công đoạn sản xuất chính, sản xuất phụ trợ, với công suất thiết kế sản xuất 55.000 tấn giấy viết và giấy in

Năm 1990, lần đầu tiên công nghệ sản xuất bột theo phương pháp nhiệt cơ TMP được ứng dụng vào công trình mở rộng nhà máy giấy Tân Mai Công trình hoàn thành đã đưa năng lực sản xuất của toàn nhà máy lên 48.000 tấn, góp phần cải thiện chất lượng giấy in báo và giấy in

2 VỊ TRÍ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY:

Giấy là một phát minh có giá trị lâu bền của nền văn minh nhân loại từ thời kỳ tiền sử cho đến ngày nay, thời đại phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật, tin học và công nghệ vật liệu mới

Công nghiệp giấy từng bước khẳng định vị thế của mình trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới Công nghiệp giấy của Phần Lan, Thụy Điển, Canada, Đài Loan và Nhật Bản đạt tỷ trọng 18 - 22% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu Công nghiệp giấy Mỹ là một trong mười ngành có doanh thu cao nhất , năm 1991 sản xuất 79,5 triệu tấn và đạt giá trị tổng sản lượng 1.233 tỷ USD

Trang 8

Công nghiệp giấy Việt Nam phát triển và trưởng thành ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của xã hội, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách, việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nâng cao đời sống văn hóa và trình độ dân trí Theo niên giám thống kê năm 1999 , ngành giấy đạt giá trị tổng sản lượng năm 1998 là 3.767,4 tỷ đồng ( giá hiện hành )với tổng sản lượng là 311 nghìn tấn góp phần tăng tổng giá trị sản lượng công nghiệp trong toàn ngành công nghiệp (đến năm 1999 nâng lên tổng sản lượng lên 338 nghìn tấn)

3 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY:

3.1 Công nghiệp giấy là ngành sản xuất công nghiệp tổng hợp đa ngành:

Công nghệ sản xuất giấy ứng dụng một loạt các quá trình tác động cơ học, hóa học , năng lượng, thông tin và điều khiển từ công đoạn xử lý nguyên liệu ban đầu, nấu, rửa, tẩy trắng, sàng chọn, nghiền, xeo đến gia công chế biến, đóng gói thành phẩm

Hiện nay một nhà máy sản xuất giấy từ nguyên liệu thô là một khu liên hợp sản xuất gồm các bộ phận sản xuất chính là nhà máy bột, nhà máy giấy và các bộ phận sản xuất phục vụ Công ty giấy Bãi Bằng là một khu vực sản xuất rộng lớn bao gồm nhà máy bột 48.000 tấn/năm, nhà máy giấy 50.000 tấn/năm, nhà máy điện 28 MW, nhà máy sút-clo 23,4 tấn/ngày, xưởng xử lý nước 72.000m3/ngày, lò vôi 66 tấn/ngày

3.2 Công nghiệp giấy phát triển trên cơ sở phát triển các nguồn lực cơ bản của nền kinh tế xã hội:

Công nghiệp giấy chỉ có thể phát triển trên cơ sở phát triển các nguồn lực cơ bản của nền kinh tế xã hội, trong đó điều kiện mấu chốt là phát triển nguồn tiềm năng lâm nghiệp, vật tư hóa chất cơ bản và cơ sở hạ tầng

Trang 9

Sản phẩm công nghiệp giấy được hình thành trong quá trình sản xuất chế biến khối lượng lớn hơn nhiều về nguyên liệu đầu vào Nguyên liệu gỗ, tre, nứa, rơm, rạ, than, hóa chất và thiết bị hóa chất cồng kềnh phải vận chuyển qua chặng đường dài từ vùng nguyên liệu, từ các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài đến nhà máy

Năm 1991 nhà máy giấy Tân Mai sản xuất mỗi tấn bột gỗ mài (G.W) tiêu thụ hết 2,38 m3 gỗ thông và 1.696 kwh điện Mỗi tấn bột nhiệt cơ (TMP) tiêu thụ 2,63 m3 gỗ, 3034kwh điện, 66 lít dầu FO và 100m3 nước Mỗi tấn giấy thành phẩm cần 1,18 tấn bột, 890 kwh điện, 342 lít dầu FO và 200 - 250m3 nước Hiện nay nhà máy sản xuất một tấn bột hóa nhiệt cơ ( CTMP) tiêu tụ hết 2,3m3 gỗ, 2.500 kwh điện, 150 kg H2O2, 70kg NaOH, 50kg Na2SiO3, 14kg dầu FO và 80m3

nước Mỗi tấn giấy in báo cần 1,07 tấn bột, 900 kwh điện, 315 lít dầu FO, 5kg nhựa thông, 12kg phèn, 20kg cao lanh và 100m3 nước

Quá trình sản xuất 1 tấn giấy viết Bãi Bằng, độ trắng 80oISO đòi hỏi phải có 5,5 tấn tre nứa, 720kg đá vôi hợp cách ( 54% CaO), 273kg muối, 75kg NaSO4, 11kg nhựa thông, 18 kg phèn, 70 kg dầu FO, 520m3 nước và 4,4 tấn than

Công nghiệp giấy có tính toàn cầu, đầu tư phát triển ngành công nghiệp giấy đòi hỏi phải tập trung vốn lớn (xem phụ lục các dự án đầu tư ngành giấy): Quá trình sản xuất giấy cần phải có một lưu trình sản xuất dài, với một hệ thống dây chuyền máy móc thiết bị quy mô lớn, phức tạp, nhiều tiền, cùng các bộ phận sản xuất phụ trợ, sân bãi nguyên liệu, nhà xưởng và kho tàng Vì vậy đầu tư xây dựng nhà máy giấy đòi hỏi tiến độ thời gian dài, diện tích mặt bằng quy hoạch rộng, vốn đầu tư lớn và suất đầu tư cao, thời gian thu hồi vốn lâu Đồng thời quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giấy chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của thị trường khu vực và thế giới

Trang 10

Công trình nhà máy giấy Tân Mai mở rộng, thiết bị toàn bộ của Cộng hòa Pháp, công suất thiết kế 40.000 tấn/năm bột TMP và 30.000 tấn/năm giấy in báo Nguồn vốn vay thông qua hiệp định Nhà nước Tổng số vốn đầu tư ngoại tệ là 45,7 triệu USD Như vậy tỷ suất đầu tư ước tính khoảng 1.300 - 1.400 USD/tấn

Tại Triết Giang, công trình liên doanh xây dựng nhà máy giấy Ninh Ba sản xuất giấy duplex trắng phấn lớn nhất Trung quốc: 350.000 tấn/năm được khởi công năm 1994 và vận hành sản xuất vào cuối năm 1996 Tổng số vốn đầu tư

450 triệu, ước tính tỉ suất đầu tư khoảng 1.200 - 1.300 USD/tấn

Ở Aán Độ, theo dự kiến, để đạt mục tiêu năm 2000 sản xuất 4 triệu tấn giấy cần phải bổ sung năng lực sản xuất hiện có thêm 1 triệu tấn Theo tính toán kế hoạch, cần phải đầu tư 1.793 triệu USD, ước tính tỉ suất đầu tư bình quân khoảng 1.700 - 1.800 USD/tấn

Ở Indonesia, tập đoàn Barito Pacific Group thực hiện một dự án tổng hợp: trồng rừng 200.000 ha và xây dựng ở Nam Sumatra xí nghiệp liên hợp sản xuất bột giấy và giấy 450.000 tấn/năm từ gỗ lá rộng Trị giá tổng vốn đầu tư 1.300 triệu USD, ước tính tỉ suất đầu tư khoảng 2.800 - 2.900 USD/tấn

3.3 ƯU THẾ PHÁT TRIỂN NGUỒN NGUYÊN LIỆU VÀ TÀI NGUYÊN RỪNG CHO PHÁT TRIỂN NGÀNH GIẤY CỦA VIỆT NAM

3.3.1 Vị trí địa lý:

Việt Nam ở vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều ưu thế để phát triển nguồn nguyên liệu xơ sợi, một nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp phát triển công nghiệp giấy Khí hậu nhiệt đới có nhiều mưa, số giờ nắng trong năm cao là môi trường hết sức thuận lợi để thực vật phát triển sinh khối, rút ngắn chu trình gieo trồng và khai thác, đạt hiệu suất thu hoạch cao Cây thông làm nguyên liệu giấy trồng ở các vùng ôn đới phải mất thời gian từ 20 - 30 năm mới khai

Trang 11

thác sử dụng được Ở nước ta cây thông trồng làm nguyên liệu giấy chỉ cần 15 năm, cây tre chỉ cần 3 - 5 năm là có thể chặt hạ để đưa vào phục vụ sản xuất giấy

3.3.2 Nguồn nguyên liệu:

Nguồn nguyên liệu có thể sử dụng để sản xuất giấy của nước ta rất phong phú và có trữ lượng lớn Nguồn tiềm năng to lớn này nếu được quan tâm thích đáng có chính sách hợp lý để bảo vệ, khuyến khích đầu tư gây trồng xây dựng vùng nguyên liệu lâu dài sẽ tạo được nguồn lực hùng hậu để đẩy mạnh nhịp độ phát triển, tăng nhanh quy mô sản xuất, cho phép áp dụng các quy trình công nghệ tiên tiến, sản xuất sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao

* Nguyên liệu xơ sợi dài:

Nguyên liệu xơ sợi dài với tổng diện tích rừng thông tự nhiên gần 77.000

ha, trữ lượng khoảng 10 triệu m3, ngoài ra còn có nguồn tiềm năng lớn của cây thực vật ngắn ngày như bẹ, đay, gai

* Nguyên liệu xơ sợi trung bình:

Nguyên liệu xơ sợi trung bình với tổng diện tích rừng tre nứa tự nhiện 0,9 triệu ha, trữ lượng lên tới 4 tỷ cây

* Nguyên liệu xơ sợi ngắn;

Nguyên liệu xơ sợi ngắn rất phong phú, nổi bật là cây gỗ lá rộng như bồ đề, bạch đàn, tràm bông vàng… và các cây phế liệu công nông nghiệp như bã mía, rơm rạ…

3.4 LAO ĐỘNG :

Công nghiệp giấy Việt Nam có tiềm năng to lớn về nguồn lực lao động, lực lượng lao động toàn ngành gồm trên 3 vạn người, với đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, cán bộ quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật và nghiên cứu khoa học giàu kinh nghiệm, được đào tạo có hệ thống, đã được thử thách qua các công

Trang 12

trình đầu tư phối hợp với các chuyên gia nước ngoài, nhận chuyển giao công nghệ kỹ thuật mới và quản lý điều hành các công trình đó như Công ty Giấy Bãi Bằng, Công ty Giấy Tân Mai

Tổng Công ty Giấy Việt Nam gồm các đơn vị thành viên lớn mạnh nhất của toàn ngành, đội ngũ lao động gần một vạn người, là lực lượng nòng cốt đáng tin cậy để đầu tư và phát triển Tổng công ty Giấy Việt Nam với công suất thiết kế 151.800 tấn/năm, chiếm tỷ trọng 63,4% công suất toàn ngành, chất lượng lao động tương đối khác: 9,5% lao động có trình độ trung cấp và 7,4% lao động có trình độ đại học và trên đại học

3.5 CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT:

Công nghiệp giấy Việt Nam so với các nước phát triển trong khu vực và thế giới còn ở quy mô nhỏ bé Tuy vậy, so với một số nước khác ngành giấy nước ta cũng có những thế mạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có Đó chính là một nguồn lực quan trọng, làm nền tảng khởi đầu tốt đẹp cho quá trình phát triển Vì vậy phải có chính sách khuyến khích xây dựng kế hoạch đầu tư khai thác hợp lý Nguồn tiềm lực vật chất kỹ thuật lớn nhất hiện nay của công nghiệp giấy Việt Nam và các cơ sở sản xuất với tổng công suất sản xuất 170.000 tấn bột/năm và 240.000 tấn giấy/năm cùng với một Viện nghiên cứu ứng dụng công nghiệp giấy Xenluylô và một trường đào tạo nghề giấy

3.6 CƠ HỘI ĐẦU TƯ VÀ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC:

Việt Nam nằm ở vị trí địa bàn có ý nghĩa chiến lược về chính trị và kinh tế trong khu vực phát triển năng động nhất thế giới Mối quaan hệ vòng cung Thái Bình Dương có tác động thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Hiện nay nước ta có quan hệ trực tiếp với Ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), quỹ tiết kiệm Quốc tế (IMF) Việt Nam đã trở

Trang 13

thành thành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Mỹ bỏ lệnh cấm vận bao vây kinh tế Việt Nam

Công nghiệp dầu khí được nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư phát triển (trữ lượng ước tính 30 - 37 tỷ thùng) Vấn đề năng lượng đang được giải quyết một cách cơ bản Năm 1994 thủy điện Hòa Bình đã đạt công suất 1.920 MW, hệ thống đường dây tải điện 500 KV đã hoàn thành, xoá bỏ được tình trạng đói điện, bị cúp cắt liên miên ở các tỉnh phía Nam Các cơ sở kỹ thuật hạ tầng về giao thông vận tải, dịch vụ thông tin liên lạc, ngân hàng và khách sạn đang được chú ý đẩy mạnh tiến độ cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới Hệ thống cơ chế thị trường ngày càng được hoàn thiện, phát triển luật pháp nhất là về luật kinh tế, xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý vĩ mô và trình độ kế hoạch hóa nền kinh tế thị trường, thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả đầu tư

Trong thời gian gần đây các hoạt động nghiên cứu, liên doanh hợp tác đầu tư ngày càng mở ra nhiều triển vọng trên con đường phát triển của ngành giấy Việt Nam

Chính sách mở cửa của Việt nam đã mở đường cho nền kinh tế phát triển, giải quyết được những khó khăn cơ bản về sự thiếu hụt năng lượng và từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp phát triển

4 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM:

4.1 Các công ty và nhà máy giấy thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam ( Vietnam Paper Corporation):

Tổng công ty giấy Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn nhất toàn ngành, bao gồm các thành viên là các doanh nghiệp trọng yếu nhất của công nghiệp giấy nước ta Tổng công ty thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh các chủng loại giấy, đồng thời đảm bảo cân đối về nhu cầu thiết yếu mặt

Trang 14

hàng sản phẩm giấy do Nhà nước giao, trình Nhà nước phê duyệt chiến lược, quy hoạch phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam Tổng công ty có 9 đơn vị sản xuất giấy và một viện nghiên cứu ứng dụng là Viện Công nghiệp giấy xenluylô

(Xem bảng 1 trang sau )

4.2 Khả năng phát triển của các thành viên Tổng Công ty:

Theo định hướng mục tiêu phát triển của Tổng Công ty Giấy Việt Nam việc khai thác chiều sâu và mở rộng các nhà máy trong Tổng Công ty cần hướng tới :

• Giảm chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, do đó tỉ suất đầu tư thấp

• Giảm thời gian đầu tư, do đó thời gian thu hồi vốn và có lãi nhanh Tận dụng được lao động sẵn có giảm chi phí thu hút lao động, cán bộ kỹ thuật và

các chi phí tạo dựng cuộc sống ban đầu

CÁC ĐƠN VỊ SẢN XUẤT GIẤY THUỘC TỔNG CTY GIẤY VN

Bảng 1 Số

TT

Nhà máy giấy Địa điểm Công suất T.kế

Giấy(tấn/năm) Mặt hàng sản xuất

1 Bãi Bằng Vĩnh phú 55.000 Giấy viết, giấy in

2 Tân Mai Đồng Nai 48.000 Giấy báo, giấy in, giấy xi

măng ,giấy hộp, giấy bao gói

3 Đồng Nai Đồng Nai 25.000 Giấy viết, giấy in, giấy tráng

phấn , bìa, duplex, bristol

4 Việt Trì Vĩnh Phú 10.000 Giấy viết, giấy in, giấy vệ

sinh, giấy bao gói

5 Bình An Sông Bé 8.000 Giấy thuốc lá, giấy gói, giấy

cốt stencil

6 Hoàng Văn Thụ Bắc Thái 5.000 Giấy Kraft, giấy bao gói

7 Viễn Đông TP.HCM 3000 Giấy viết, giấy bao gói

8 Vạn Điểm Hà Tây 3.000 Giấy bao gói, giấy bìa

9 Hòa bình Hòa Bình 2.000 Giấy bao gói, giấy đánh máy Nguồn: Tổng Công ty Giấy Việt Nam

Trang 15

Khả năng phát triển đầu tư chiều sâu của một số nhà máy thuộc Tổng Công ty:

Dựa vào các lợi thế về mặt bằng, nguồn nguyên liệu, cơ sở vật chất và lao động hiện có thì có khả năng đầu tư mở rộng, cụ thể:

Bãi Bằng: mở rộng đến 200.000 tấn/năm (tăng 145.000 tấn/năm so với hiện nay

Tân Mai: mở rộng đến 115.000 tấn/năm (tăng 77.000 tấn/năm so với hiện nay

Đồng Nai: mở rộng đến 130.000 tấn/năm (tăng 110000 tấn/năm so với hiện nay

Kế hoạch đầu tư phát triển giai đoạn 2001 đến 2010 được chia làm giai đoạn:

Giai đoạn 2001-2005 : đầu tư chiều sâu gia tăng chất lượng, cân đối năng lực sản xuất bột và giấy đảm bảo khả năng linh hoạt, đa dạng hóa mặt hàng Tập trung đưa các dự án xây dựng mới vào hoạt động

• Công ty Giấy Bãi Bằng:

+ Giai đoạn 2001-2005:

- Đầu tư chiều sâu gia tăng chất lượng 2 máy giấy hiện hữu

- Xây dựng mới PM3 sản xuất giấy bìa hộp, bao gói 70.000 tấn/năm

- Dự kiến vốn đầu tư: 74, 5 triệu USD + Giai đoạn 2006-2010:

- Xây dựng nhà máy xử lý giấy vụn 70.000 tấn/năm

- Xây dựng mới PM4 sản xuất giấy in, giấy viết chất lượng cao 30.000 tấn/năm

- Dự kiến vốn đầu tư: 7,2 triệu USD

Trang 16

• Công ty Giấy Tân Mai:

+ Giai đoạn 2001-2005:

- Cải tạo MG2 nâng sản lượng lên 17.000 tấn/năm

- Nâng cấp dây chuyền sản xuất bột nhiệt cơ lên 75.000 tấn/năm

- Dự kiến vốn đầu tư: 13,7 triệu USD + Giai đoạn 2006-2010:

- Xây dựng MG4 50.000 tấn/năm

- Nâng cấp dây chuyền xử lý giấy vụn lên 40.000 tấn/năm

- Dự kiến vốn đầu tư: 60 triệu USD

• Công ty Giấy Đồng Nai

+ Giai đoạn 2001-2005:

- Cải tạo MG2 nâng sản lượng lên 20.000 tấn/năm

- Mở rộng một dây chuyền sản xuất bột 50.000 tấn/năm

- Dự kiến vốn đầu tư: 65 triệu USD + Giai đoạn 2006-2010:

- Xây dựng mới MG4 60.000 tấn/năm

- Xây dựng mới dây chuyền xử lý giấy vụn 50.000 tấn/năm

- Dự kiến vốn đầu tư: 118 triệu USD Ngoài ra các nhà máy trong Tổng công ty cũng thực hiện những dự án cải tạo nâng cấp, nhưng với mức sản lượng nhỏ phân tán, cụ thể như Việt Trì, Bình

An, Hoàng Văn Thụ, Hòa Bình, Vạn Điểm sẽ gia tăng thêm 50.000 tấn giấy các loại Ngoài ra dự kiến các xí nghiệp địa phương cũng sẽ gia tăng khoảng 50.000 tấn (tức gấp đôi công suất hiện nay)

Chúng ta nhận thấy việc thực hiện khai thác chiều sâu và mở rộng quy mô theo định hướng trên sẽ ảnh hưởng đến tính đồng bộ và ổn định Tuy nhiên

Trang 17

những lợi ích căn bản như có lãi nhanh, thời gian thi công ngắn, ít vốn đầu tư là những lợi thế cho công tác đầu tư trong điều kiện còn hiện nay

4.3 Lực lượng lao động :

Tổng công ty giấy Việt Nam chiếm tỷ trọng 63,3% năng lực sản xuất toàn ngành, đội ngũ lao động đông đảo và thế mạnh về chất lượng, tập hợp nhiều cán bộ quản lý và điều hành, các chuyên gia kinh tế, chuyên gia kỹ thuật và thợ giỏi Lực lượng lao động của Tổng công ty là lực lượng nòng cốt, chủ lực của toàn ngành và là đối tượng trực tiếp để nghiên cứu, xem xét thực trạng và xây dựng chính sách phát triển nhân lực toàn ngành

Tổng số lao động ngành công nghiệp giấy Tổng công ty giấy Việt Nam: 7.686 người:

- Lực lượng lao động các nhà máy giấy : 7.235 người chiếm 94,1% trên toàn Tổng công ty

- Lực lượng lao động nghiên cứu khoa học công nghệ giấy (bao gồm Trung tâm nghiên cứu nguyên liệu giấy Phù Ninh) :227 người chiếm 3,0% trên toàn Tổng công ty

- Lực lượng lao động khối văn phòng (bao gồm Trường đào tạo công nhân ngành giấy) : 224 người chiếm 2,9% trên toàn Tổng công ty

(Xem bảng 2 trang sau Â)

4.4 Công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng kỹ thuật:

Viện Công nghiệp giấy Xenluylô trực thuộc Tổng Công ty Giấy, Viện đã từng bước vươn lên và trở thành trung tâm nghiên cứu ứng dụng, thực nghiệm khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của ngành giấy cả nước

Hoạt động nghiên cứu thực nghiệm của ngành cũng được triển khai ở hầu hết các thành viên thuộc Tổng công ty Nội dung nghiên cứu hướng vào mục tiêu

Trang 18

giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật trực tiếp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở

Trong những năm qua, Viện Công nghiệp Giấy Xenluylô đã phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu có giá trị, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển ngành giấy Việt Nam nói chung và Tổng Công ty Giấy nói riêng

• Nghiên cứu điều tra phân tích, đánh giá xác định các loại cây làm nguyên liệu giấy, đóng góp xây dựng quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu giấy

• Nghiên cứu công nghệ xử lý chế biến, nấu, nghiền, tẩy trắng bột giấy và sản xuất giấy từ các nguyên liệu truyền thống và nguyên liệu không truyền thống ( bã mía, thân đay, xơ đay… )

• Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiến bộ thực nghiệm sản xuất và triển khai

LAO ĐỘNG TOÀN TỔNG CÔNG TY ĐẾN NĂM 1999

Bảng 2

1 Các nhà máy giấy 7.235

2 Viện CN giấy, TTNC Phù Ninh 227

3 Văn phòng Tcty, Trường 224

Nguồn : Tổng công ty Giấy Việt Nam

Trang 19

Cơ cấu lao động tổng công ty giấy

Khối các nhà máy sản xuất 94,1%

Khối công tác

NCKH 3%

Khối Văn phòng - Đào tạo 2,9%

vào sản xuất các đề tài bảo quản nguyên liệu, bột mài cơ học, bột kiềm lạnh, bột sunphít trung tính…, các mặt hàng giấy kỹ thuật phục vụ sinh hoạt, học tập, công nghiệp và quốc phòng: giấy in thẻ Đảng, giấy lọc độc cho bộ đội hóa học , giấy chống ẩm lương khô quân đội, giấy lọc dầu, giấy cốt stencil, giấy in lưu trữ, giấy in viết chứng từ có giá trị dùng trong ngành tài chính ngân hàng, giấy kraft, carton cứng…

• Nghiên cứu chế tạo thành công máy cắt gỗ quy mô nhỏ, máy nghiền vi côn, máy nghiền đá lăn, máy sàng bột, máy cắt cuộn lại, hệ thống thiết bị sản xuất giấy 150 tấn/năm đưa vào sản xuất ở một địa phương

• Thông qua công tác nghiên cứu, thực nghiệm và triển khai vào sản xuất, Viện Công nghiệp Giấy xenluylô đã góp phần bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và nghiên cứu khoa học kỹ thuật của ngành

Trang 20

TÓM TẮT CHƯƠNG I:

Cùng với sự nghiệp đổi mới của dân tộc, ngành công nghiệp giấy nước ta có đầy đủ những nguồn lực tiềm tàng để phát triển:

• Việt Nam có nguồn nguyên liệu tự nhiên phong phú và rất đa dạng phục vụ cho sự nghiệp phát triển sản xuất giấy ổn định

• Cùng với sự phát triển chung của đất nước với mức tiêu dùng giấy bình quân đầu người chỉ khoảng 6kg và đứng trước nhu cầu to lớn của thị trường Châu Á và khu vực, ngành giấy Việt Nam có một triển vọng to lớn để mở rộng thị trường, phát triển sản xuất

• Đội ngũ lao động ngành giấy có truyền thống lâu đời, cần cù và có kinh nghiệm, có kỹ năng và trình độ cần thiết để tiếp thu kiến thức kinh tế, kỹ thuật và quản lý nhằm khai thác có hiệu quả năng lực sản xuất hiện nay và các công trình đầu tư mới trong tương lai

• Tuy còn nhỏ bé so với nhiều nước, nhưng công nghiệp giấy Việt Nam cũng có một lợi thế rất cơ bản và kỹ thuật sẵn có, với công suất thiết kế toàn ngành 170.000 tấn bột giấy/năm và 240.000 tấn giấy/năm Nguồn lực sẵn có này cần phải được quan tâm khai thác đầu tư Vì nếu xây dựng được chính sách phù hợp thì với chi phí đầu tư không nhiều vẫn có thể đạt được hiệu suất đầu tư cao khi khơi dậy được tiềm năng ẩn chứa của ngành

• Việt Nam với chính sách kinh thế mở cửa, khuyến khích đầu tư, với nguồn tài nguyên, nguyên liệu dồi dào, các cơ sở kinh tế kỹ thuật hạ tầng đang được đầu

tư toàn diện, từng bước giải quyết những yêu cầu cơ bản về cung cấp năng lượng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, ngân hàng, bảo hiểm, khách sạn… Đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật, hình thành môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế… Đó là nền tảng hết sức cơ bản, cùng với tiềm năng của ngành giấy, sẽ tạo nên sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư, đem lại một vận hội phát triển mới của công nghiệp giấy Việt Nam

• Về tiềm năng phát triển của Tổng công ty Giấy Việt Nam, hiện nay có 7

dự án đầu tư phát triển đang được triển khai thực hiện, với tổng số vốn gần 500 triệu USD

Trang 21

1999, bình quân hàng năm tăng 41.600 tấn/năm, đạt tốc độ tăng bình quân 23,45% mỗi năm Tuy nhiên, sản lượng giấy sản xuất không đáp ứng yêu cầu về lượng cũng như về chất nên năm 1995 chỉ nhập 90.000 tấn đến năm 1999 phải nhập 210.000 tấn bình quân hàng năm tăng 30.000 tấn/năm, đạt tốc độ tăng bình quân 23,59% mỗi năm

(Xem bảng 3 trang sau Â)

2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM THỜI KỲ 1996-1999:

2.1 Một số nét về tổ chức hoạt động của Tổng Công ty:

Trang 22

Tổng Công ty giấy Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn nhất toàn ngành, bao gồm các thành viên là các doanh nghiệp trọng yếu nhất của công nghiệp giấy nước ta Tổng công ty thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh

NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY VIỆT NAM TỪ 1995 ĐẾN 1999

Bảng 3

1 Số lượng nhà máy 94 137

2 Công suất sản xuất giấy (tấn/năm) 223.000 376.000

3 Công suất sản xuất bột giấy (tấn/năm) 186.000 226.000

4 Sản lượng sản xuất giấy (tấn/năm) 125.800 292.200

5 Nhập khẩu giấy (tấn/năm) 90.000 210.000

6 Xuất khẩu Giấy (tấn/năm) 5.000 49.000

7 Dân số (Triệu người) 72,1 76,6

8 Tiêu thụ giấy bình quân kg/người/năm 4 6

Nguồn : Tổng công ty Giấy Việt Nam

Ngành công nghiệp giấy việt nam từ 1995 đến 1999

Trang 23

doanh giấy các loại, đồng thời đảm bảo cân đối về nhu cầu thiết yếu mặt hàng sản phẩm giấy do Nhà nước giao, trình Nhà nước phê duyệt chiến lược, quy hoạch phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam Tổng công ty có 19 đơn vị thành viên, trong đó có 9 đơn vị sản xuất giấy, một trường đào tạo là Trường đào tạo nghề giấy và một viện nghiên cứu ứng dụng là Viện Công nghiệp giấy và Xenluylô

Trong thời gian qua, để đáp ứng đòi hỏi của đất nước, trong điều kiện cơ sở vật chất yếu kém, ngành Giấy đã có những cố gắng rất nhiều Đặc biệt các đơn vị trong Tổng Công ty Giấy, tuy hạn chế về vốn nhưng vẫn kết hợp việc cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, tăng năng suất và tiết kiệm, với việc đầu tư cải tạo và nâng cấp thiết bị, nâng cấp dây chuyền, không những tạo ra công suất mới mà còn đưa được chất lượng nhiều mặt hàng lên tiếp cận với mức trung bình của thế giới và tạo ra được một số mặt hàng mới

Đáng chú ý là trong 3 năm gần đây, các đơn vị sản xuất giấy in, giấy viết của Tổng Công ty đã lần lượt áp dụng thành công chuyển đổi công nghệ gia keo từ môi trường axít sang môi trường kiềm hoặc trung tính, sử dụng được chất độn CaCO3 với tỷ trọng cao hơn hẳn chất độn trước kia, không những làm tăng được chất lượng giấy mà còn tiết kiệm một lượng đáng kể bột giấy Từng bước, công nghệ này đi dần vào hoàn thiện, tạo cơ sở vững chắc cho việc ổn định chất lượng và sản lượng của các công ty lớn của Tổng Công ty

Đặc biệt, Tổng Công ty có thực hiện một số tiến bộ về khoa học công nghệ trong giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm mục tiêu tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế Đồng thời cũng bắt đầu đã có những hy vọng là bằng sự nổ lực vươn lên về khoa học và công nghệ, vai trò của Viện Công nghệ Giấy và Xenluylô ngày càng được phát huy tốt hơn Với 3 dự án cấp nhà nước,16 đề tài cấp bộ và đề tài

Trang 24

cấp ngành, Viện đã đi sâu vào một số lĩnh vực: xử lý nguyên liệu (trên 8 chủng loại, đặc biệt là về cây keo tai tượng, cây cỏ bàng và khử mực giấy loại), ứng dụng các công nghệ mới trong nấu tẩy ít gây ô nhiểm môi trường hơn (soda-vôi, sử dụng enzym…), nâng cao chất lượng sản phẩm (cáctông và giấy bao bì công nghiệp, giấy tráng phấn), xử lý chất thải trong quá trình sản xuất (nấu bằng xút, thiết bị rửa và vắt bột lưới đôi)

2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất Tổng công ty Giấy Việt Nam:

Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ kinh tế của Tổng công ty được đào tạo trong nước và nước ngoài với số lượng lớn Các công trình được đầu tư xây dựng đều đưa đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành, kinh tế - kỹ thuật, các vị trí công nhân chủ chốt đi nước ngoài học tập và nhận chuyển giao công nghệ Đội ngũ cán bộ, công nhân lao động, học tập vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật, thay thế dần vị trí của các chuyên gia nước ngoài, đưa các công trình vào vận hành sản xuất thành công và từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của các dự án đầu tư Đồng thời chính họ đã trở thành hạt nhân phát triển lực lượng lao động ngành giấy cả nước sau này

+ Tỷ trọng lao động trình độ đại học của Tổng Công ty Giấy Việt Nam 8%, trong đó:

- Tổng số 617 người

- Độ tuổi trên 35 tuổi : 497 người (tỷ trọng 81%)

+ Tỷ trọng lao động trình độ trung học của Tổng công ty Giấy Việt Nam 8%, trong đó:

- Tổng số 600 người

- Độ tuổi trên 35 tuổi : 472 người (tỷ trọng 79%)

Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy trình độ đại học và trung học ở Tổng công ty chỉ đạt 8%, trong đó tỷ trọng độ tuổi trên 35 rất cao (trình độ đại

Trang 25

học: 497người / 619 người - tỷ trọng 81% và trình độ trung cấp: 472người / 600 người - tỷ trọng 79%) (Xem bảng 4 trang sau Â)

2.3 Quy mô sản xuất của các nhà máy của Tổng công ty:

Ngành công nghiệp giấyViệt Nam được tổ chức sản xuất ở quy mô nhỏ bé

so với các quy mô của các nhà máy giấy trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, việc sắp xếp phân loại các nhà máy trong ngành theo tên gọi quy mô lớn, quy mô trung bình và các cơ sở sản xuất nhỏ chỉ có ý nghĩa tương đối trong điều kiện nền kinh tế nói chung và trình độ công nghiệp giấy nước ta hiện nay nói riêng

Nếu sắp xếp theo công suất thiết kế :

Công nghiệp giấy Việt Nam chỉ có ba nhà máy giấy có quy mô lớn, công suất từ 20.000 tấn/năm trở lên Cả ba đơn vị này là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam: Bãi Bằng ( 55.000 tấn/năm ),Tân Mai ( 48.000 tấn/năm ) và Đồng Nai ( 20.000 tấn/năm )

tấn/năm Tổng công ty giấy Việt Nam có các nhà máy sản xuất giấy quy mô trung bình: Việt Trì (10.000 tấn/năm), Bình An (8.000 tấn/năm), Hoàng Văn Thụ

(4.000 tấn/năm), Viễn Đông (3.000 tấn/năm), Vạn Điểm (3.000 tấn/năm), Hòa Bình (2.500 tấn/năm)

vào loại quy mô nhỏ Theo số liệu thống kê năm 1995, cả nước có 57 đơn vị (Tổng Công ty không có)

2.4 Trình độ công nghệ và thiết bị:

Công nghệ sản xuất giấy Việt Nam nhìn chung ở trình độ công nghệ thấp và chậm phát triển so với khu vực và thế giới Ngoài nhà máy giấy Bãi Bằng và nhà máy giấy Tân Mai các doanh nghiệp còn lại đều sản xuất bột theo phương

Trang 26

pháp kiềm không thu hồi hóa chất nên khó cải thiện chất lượng, giá thành cao và gây ô nhiễm môi trường

CƠ CẤU LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ TỔNG CÔNG TY ĐẾN NĂM 2000

Bảng 4Đại học Trung học

Đơn vị

Tổng số lao động

Tổng Trên

35 tuổi

Tổng Trên

35 tuổi

Công nhân bậc cao

1- Bãi Bằng 3.271 224 210 196 196 1.2162- Tân Mai 948 105 58 117 49 7263- Đồng Nai 984 73 65 79 52 3314- Việt Trì 865 47 36 73 60 1765- Bình An 265 17 16 20 17 1246- Hoàng Văn Thụ 431 44 33 37 31 1477- Vạn Điểm 296 17 16 34 30 1478- Hòa Bình 175 9 7 20 19 149- Viện CN giấy 141 59 39 14 10 2410- TT NC Phù Ninh 86 22 17 10 8 38

12- Văn phòng Tcty 164

Tổng cộng: 7.686 617 497 600 472 2.467 Nguồn : Tổng Công ty Giấy Việt Nam

Trang 27

Trình độ Khác 52%

Trình độ Đại học 8%

Trình độ Trung học

8%

Công nhân bậc cao

32%

- Về trình độ công nghệ:

Để đánh giá trình độ công nghệ trong điều kiện của nước ta, các nhà máy thuộc Tổng Công ty được phân loại như sau:

Công nghệ tương đối hiện đại:Công ty giấy Bãi Bằng và công ty giấy Tân Mai ( phần mở rộng ) được đánh giá thuộc vào nhóm trình độ tương đối hiện đại, chất lượng trang thiết bị tương đối với một số nước trong khu vực Đây là hai doanh nghiệp lớn nhất, chiếm tỷ trọng 50,8% công suất sản xuất bột giấy và chiếm 35,5% công suất sản xuất giấy toàn ngành

Công nghệ trung bình: Các nhà máy sản xuất giấy trình độ công nghệ trung bình bao gồm các nhà máy giấy: Đồng Nai (Ý), phần dây chuyền cũ của Tân Mai, Bình An (Nhật, Đài loan) và Việt Trì (Trung Quốc)

Công nghệ cổ điển: Nhóm trình độ công nghệ cổ điển gồm các nhà máy không thuộc hai nhóm trên Hệ thống dây chuyền công nghệ chủ yếu là công nghệ lạc hậu của Trung quốc hoặc Đài loan bao gồm các nhà máy: Hoàng Văn Thụ (Trung Quốc), Viễn Đông (Đài loan)…

- Về thiết bị máy móc:

Trang 28

Hệ thống thiết bị sản xuất giấy của nước ta có nhiều nguồn gốc xuất xứ , nhiều kiểu và đa dạng Nhưng đại bộ phận máy móc và thiết bị đều đã quá lạc hậu, phần lớn các dây chuyền ở trong tình trạng không cân đối, không đồng bộ Các cơ sở sản xuất hầu hết được xây dựng từ thời kỳ năm 1960, năm 1970 và đã huy động vào sản xuất được 20 - 30 năm, thậm chí có bộ phận thiết bị của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ từ thời kỳ xí nghiệp giấy Đáp Cầu đến nay vẫn sử dụng và đạt tuổi thọ gần 80 năm

Công trình đầu tư xây dựng, sản xuất thử và đưa vào vận hành thành công nhà máy giấy Bãi Bằng năm 1992 và phần mở rộng nhà máy giấy Tân Mai năm

1990 là một sự kiện lịch sử của ngành công nghiệp giấy Việt Nam Hệ thống dây chuyền sản xuất được cơ giới hóa, trong đó một phần quan trọng được trang thiết bị tự động hóa, ứng dụng công nghệ và thiết bị tiên tiến của thế giới Nhà máy giấy Bãi Bằng sản xuất bột theo phương pháp sun-phát có thu hồi hóa chất công suất 48.000 tấn/nămvà máy xeo lưới đôi khổ rộng 3,8m, tốc độ thiết kế 650m/phút, công suất 55.000 tấn/năm Công trình mở rộng nhà máy giấy Tân Mai ứng dụng phương pháp bộ nhiệt cơ (TMP) công suất 40.000 tấn/năm, máy xeo lưới đôi khổ rộng 4,8m, tốt độ thiết kế 600m/phút, công suất 30.000 tấn/năm

Trong giai đoạn 1995 đến 2000 đầu tư của Tổng công ty Giấy Việt Nam đã đầu tư và dự kiến bổ sung với tổng vốn đầu tư khoảng 354 triệu USD vào những dự án : Dây chuyền sản xuất Bột và Giấy Thanh Hóa giai đoạn 1 (50.000 tấn/năm); dây chuyền bao bì công nghiệp Công ty Giấy Tân Mai (55.000 tấn/năm); dây chuyền sản xuất giấy đế Công ty Giấy Bình An (25.000 tấn/năm); mở rộng Côngg ty Giấy Bãi Bằng giai đoạn 2 lên 200.000 tấn/năm

Trang 29

2.5 Năng lực sản xuất sản xuất của Tổng Công ty Giấy Việt Nam

2.5.1 Công suất thiết kế giấy :

Tổng công suất thiết kế giấy năm 1995 là 223.250 tấn/năm, trong đó,

Tổng Công ty chiếm 71,22% (159.000 tấn/năm) khu vực khác chiếm 28,78%

64.250 tấn/năm) Đến năm 1999 tổng công suất thiết kế giấy đạt 376.000

tấn/năm, trong đó, Tổng Công ty chỉ chiếm 48,67%(183.000 tấn/năm) trong khi

khu vực khác 51,33% nâng công suất thiết kế giấy từ 64.250 tấn/năm lên

193.000 tấn/năm (tăng gấp 3 lần) do có đầu tư nước ngoài vào khu vực này

Công suất thiết kế giấy của Tổng công ty thời kỳ 1995-1999 bình quân

hàng năm tăng 6.000 tấn đạt tốc độ tăng bình quân 3,57%

(Xem bảng 5 trang sau Â)

CÔNG SUẤT THIẾT KẾ GIẤY

Bảng 5

1995 1999 Công suất

(Tấn/năm)

Tỷ trọng (%)

Công suất (Tấn/năm)

Tỷ trọng (%) Toàn ngành 223.250 100 376.000 100

Tổng Cty Giấy 159.000 71,22 183.000 48,67

Nguồn : Tổng Công ty Giấy Việt Nam

CO ÂN G SU A ÁT T H IE ÁT K E Á G IA ÁY (T ấn /n ăm )

Trang 30

2.5.2 Công suất thiết kế bột giấy :

Tổng công suất thiết kế Bột giấy năm 1995 là 186.700 tấn/năm, trong đó,

Tổng Công ty chiếm 75,52% (141.000 tấn/năm), khu vực khác chiếm 24,48%

(45.700 tấn/năm), Đến năm 1999 tổng công suất thiết kế bột giấy đạt 226.000

tấn/năm, trong đó, Tổng Công ty chiếm 71,02%(161.000 tấn/năm) trong khi khu

vực khác chỉ chiếm 28,98%(65.700 tấn/năm) Ở lĩnh vực sản xuất bột các nhà

đầu tư nước ngoài rất ngại đầu tư vì cùng gần một suất đầu tư cho một tấn bột

giấy và tấn giấy thì đầu tư sản xuất bột giấy đòi hỏi phải có quy hoạch vùng

nguyên liệu lâu dài, nhất là vấn đề môi trường, nguồn nước cho sản xuất và xử

lý nước thải Ví dụ dự án Bột giấy Kontum với 200.000 tấn/năm, ngoài việc xử

lý nước thải, mỗi ngày phải vận chuyển bỏ đi 70 tấn bã vôi; nếu không có mặt

bằng xây dựng, vùng nguyên liệu… thì khó thực hiện

Công suất thiết kế bột giấy của Tổng Công ty thời kỳ 1995-1999 bình

quân hàng năm tăng 5.000 tấn đạt tốc độ tăng bình quân 3,37%

CÔNG SUẤT THIẾT KẾ BỘT GIẤY

Bảng 6

1995 1999 Công suất

(Tấn/năm)

Tỷ trọng(%)

Công suất (Tấn/năm)

Tỷ trọng (%) Toàn ngành 186.700 100 226.700 100

Tổng Cty Giấy 141.000 75,52 161.000 71,02

Trang 31

Nguồn : Tổng Công ty Giấy Việt Nam

CÔNG SUẤT THIẾT KẾ BỘT GIẤY(Tấn/năm )

0 50.000 100.000

2.5.3 Tổng sản lượng sản xuất giấy :

Tổng sản lượng sản xuất giấy toàn ngành năm 1995 là 125.571 tấn/năm

Trong đó, Tổng Công ty Giấy chiếm 72,13% (90.571 tấn/năm), khu vực Khác

chiếm 27,87% ( 35.000 tấn/năm) đến năm 1999 tổng sản lượng sản xuất giấy

toàn ngành đạt 323.000 tấn/năm Trong đó, Tổng Công ty Giấy chỉ chiếm

51,08% (165.000 tấn/năm) ,khu vực khác 48,92% (158.000 tấn/năm)

Tổng sản lượng sản xuất giấy của Tổng công ty thời kỳ 1995-1999, bình

quân hàng năm tăng 10.726 tấn đạt tốc độ tăng bình quân 7,59%

SẢN XUẤT GIẤY TOÀN NGÀNH

Bảng 7

1995 1999 Sản lượng

(Tấn/năm)

Tỷ trọng(%)

Sản lượng (Tấn/năm)

Tỷ trọng (%) Toàn ngành 205.000 100 292.200 100

Tổng Cty Giấy 126.251 72,13 169.157 57,89

Nguồn : Tổng Công ty Giấy Việt Nam

Trang 32

2.5.4 Tốc độ phát triển sản lượng giấy của Tổng công ty thời kỳ

1994-1999:

Nhìn chung sản lượng giấy của toàn ngành nói chung và của Tổng Công

ty nói riêng đều tăng qua các năm nghiên cứu, sản lượng giấy của Tổng Công ty luôn chiếm tỷ trọng từ 57,9% đến 62,64% trong suốt thời kỳ từ 1995-1999, năm

1995 Tổng công ty đạt sản lượng gần bằng sản lượng toàn ngành năm 1994, nhưng năm 1995 chỉ đạt 61,59% so với sản lượng toàn ngành

(Xem bảng 8 trang sau)

TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN SẢN LƯỢNG GIẤY THỜI KỲ 1994-1999

CỦA TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM

Tốc độ phát triển sản lượng giấy thời kỳ 1994-1999

Tổng Công ty Giấy Việt Nam

SẢN XUẤT GIẤY (Tấn/năm)

0 50.000

Trang 33

0 50.000 100.000

Năm 1999 tăng 3.825 tấn so với năm 1998 (tăng 2%) Mức độ tăng không đáng kể do năm 1999 thay đổi luật thuế, thời kỳ 1994-1998, thuế doanh thu sản phẩm giấy thuế suất từ 1% đến 2% Từ ngày 01 tháng 01 năm 1999, theo luật thuế giá trị gia tăng (thay cho luật thuế doanh thu), Thuế giá trị gia tăng của sản phẩm giấy là 10% tính trên doanh thu cho tất cả mọi đối tượng tiêu thụ nhưng Nhà nước không cho tăng giá nhằm ổn định thị trường nên chỉ sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu cần thiết và cũng cố thị phần là chủ yếu

2.5.4 Hệ số huy động công suất:

Vấn đề huy động công suất thiết bị máy móc trong những năm trước đây đạt công suất hòa vốn hết sức khó khăn và gần như bị bế tắc Năm 1992, mức huy động công suất toàn ngành ở mức rất thấp 51,3%, trong tình hình đó mức huy động công suất bình quân của 3 đơn vị sản xuất lớn nhất toàn ngành là Bãi Bằng, Tân Mai và Đồng Nai cũng chỉ ở mức khó chấp nhận 56,4%

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w