Hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp : Một doanh nghiệp được thành lập với một sứ mạng, mục tiêu cụ thể và trong một môi trường nhất định, những nguồn lực được nhà quản trị doanh ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ĐẶNG VINH NHÀN
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I
nghiệp
1
sản xuất kinh doanh
9
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NGÀNH CÔNG NGHIỆP
16
Trang 32.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn 36
DNNN ngành công nghiệp
nghiệp
46
hợp lý các nguồn Tài chính
47
đào tạo công nhân lành nghề vận hành nhà máy Tăng cường chế độ trách nhiệm trong quản lý vốn tài sản
50
3.2.5 Giải pháp 5 : Cải tiến chế độ hạch toán kế toán và công
khai tài chính
52
Trang 4CHƯƠNG I : PHẦN CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Quản trị vốn và hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp ngành
công nghiệp :
1.1.1 Khái niệm chung về hiệu quả :
Hiệu quả của một hệ thống được hiểu là việc tạo ra một kết quả nhằm thỏa mãn một mục đích nhất định bằng việc sử dụng thời gian và nguồn lực một cách tiết kiệm , không lãng phí
Với khái niệm này , có 3 điểm cần chú ý :
• Xác định mục tiêu (hoặc nhóm các mục tiêu) của hệ thống và tập hợp các kết quả mong đợi nhằm thỏa mãn mục tiêu đó Các kết quả mong đợi có thể là định lượng hoặc định tính
• Xác định khoảng thời gian và nguồn lực có thể sử dụng Nguồn lực bao gồm nhiều thành phần, có thể có liên hệ với nhau, và với những điều kiện để đưa vào sử dụng khác nhau
• Cách thức sử dụng thời gian và nguồn lực này để có được kết quả với mức tiêu hao hợp lý, không lãng phí Thường là phải so sánh với những kỳ trước đó hoặc với một nhóm rộng hơn các hệ thống tương tự
Hiệu quả của 1 hệ thống đạt được như thế nào, tùy thuộc vào quá trình quản trị hệ thống đó Quá trình quản trị này gắn liền với điều kiện môi trường bên ngoài hệ thống có liên quan
1.1.2 Hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp :
Một doanh nghiệp được thành lập với một sứ mạng, mục tiêu cụ thể và trong một môi trường nhất định, những nguồn lực được nhà quản trị doanh nghiệp huy động
Trang 5vào quá trình tạo ra các kết quả, góp phần đạt được các mục tiêu, hoàn thành sứ mạng của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm : hiệu quả kinh tế và các hiệu quả khác Người ta có thể nhận biết được hoạt động của Doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của nó thông qua đánh gía phân tích các chỉ tiêu tài chính , , đặc biệt là các chỉ tiêu về kiểm soát, quản lý , khai thác tiền- vốn như :
Tỷ số thanh toán Nợ ngắn hạn
Còn gọi là Khả năng thanh toán
Tài sản Lưu động / Nợ ngắn hạn
Tỷ số Nợ trên Tổng vốn
Còn gọi là Hệ số Nợ trên Tổng Tài sản
Tổng Nợ / Tổng Vốn
Tỷ số Nợ trên Vốn Nhà nước
Còn gọi là Hệ số Nợ trên Vốn Nhà nước
Tổng Nợ / Vốn Nhà nước
Tỷ lệ thu hồi Nợ
Đối ứng với chỉ tiêu ‘Kỳ thu tiền bình
quân
Doanh thu / Trung bình Nợ phải thu
Tỷ suất Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu
Từ các chỉ tiêu này người ta so sánh với hoạt động của chính doanh nghiệp này trong những kỳ trước đó (so sánh trực tiếp hoặc so sánh với số bình quân); hoặc so sánh với hoạt động của nhóm rộng hơn các doanh nghiệp (thường là có chung những đặc trưng giống nhau - như cùng ngành, cùng địa bàn , )
Trang 6Nhà quản trị có thể dự kiến những phương án sử dụng nguồn lực khác nhau , và từ đó chọn lựa một phương án có hiệu quả để thực hiện , với những yêu cầu chính là :
- Làm rõ và tận dụng tất cả các khả năng có thể có
- Ước lượng được mức độ tiêu hao nguồn lực để đạt được các chỉ tiêu
- Kiểm soát được các biến động nhằm hạn chế bớt rủi ro
1.1.3.Vốn của một doanh nghiệp ngành Công nghiệp :
Vốn của một doanh nghiệp được hiểu là tiền hay tài sản có thể được sử dụng để tạo ra thêm tiền hoặc tài sản cho doanh nghiệp đó , trong khỏang thời gian nhất định
Ở đây có một số điểm cần lưu ý là :
• Vốn là môt thành phần của nguồn lực ( và là thành phâàn quan trọng hàng đầu của một doanh nghiệp công nghiệp )
• Vốn biểu hiện bằng tiền hoặc một hình thái khác của tài sản và trên danh nghĩa là thuộc quyền quản lý , sử dụng của doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định
• Không nhất thiết toàn bộ vốn là thuộc sở hữu của doanh nghiệp
• Khi sử dụng một khoản vốn, doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí, gọi là chi phí sử dụng vốn, thông thường là trả cho người cung cấp khoản vốn đó
Vốn của các doanh nghiệp ngành công nghiệp thể hiện là các Tài sản mà doanh nghiệp đang khai thác sử dụng , sẽ được chúng tôi sẽ phân chia thành các thành phần chính như sau :
1- TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN :
a) Tài sản cố định ( bao gồm Xây dựng cơ bản dở dang )
b) Đầu tư dài hạn
2- TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN
a) Vốn bằng tiền
Trang 7b) Tồn kho thành phẫm
c) Nợ phải thu (từ Khách hàng )
d) Tài sản lưu động khác và đầu tư ngắn hạn
Vốn có thể thực sự đã được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc chưa Phương thức sử dụng vốn là đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan
Ngoại trừ vốn bằng tiền, được xem như sẵn sàng để được huy động vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ,tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp, còn lại đối với các hình thái vốn khác có thể đòi hỏi những điều kiện nhất định khi huy động vào quá trình này Những điều kiện này có thể là dễ dàng, khó khăn , trong hay là ngoài khả năng thực hiện của nhà quản trị doanh nghiệp
1.1.4 Quản trị vốn trong hoạt động của một doanh nghiệp ngành công nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp có những đặc trưng sau :
+ Phải chuẩn bị trước cho sảùn xuất với tỷ lệ vốn đáng kể (như mua sắm tài sản cố định , xây dựng cơ sở hạ tầng ,dự trữ nguyên vật liệu ,…)
+ Việc sản xuất cần phải duy trì liên tục quanh năm , nhằm khai thác tối đa trang thiết bị , máy móc … vì vậy phải chịu áp lực có lượng tồn kho thành phẩm chưa bán được
+Sự thay đổi công nghệ ngày càng tăng nhanh , do đó phải khảo sát cân đối tính toán kỹ từ khi chuẩn bị đầu tư, quản lý đầu tư , khai thác sử dụng và ngay trong việc quyết định thanh lý các tài sản
+Môi trường thay đổi quá nhanh ,và có ảnh hưởng nhiều hơn , gần hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp , làm cho các doanh nghiệp này phải đối đầu với khó khăn và các rủi ro nhiều hơn , đa dạng hơn
Trang 8Trước tình hình như vậy , mong muốn chung của các nhà quản trị là bán được hàng nhanh hơn , thu được tiền nhanh hơn , quản lý hệ thống hữu hiệu hơn , có
cơ cấu nguồn vốn lành mạnh , v.v
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp này phải có những biện pháp và công cụ quản lý , điều hành tốt hơn , nhằm kiễm soát có hiệu quả hơn quá trình hoạt động của doanh nghiệp ,trong đó vấn đề quản lý Vốn –Tài sản là ưu tiên hàng đầu
Trong hoạt động của một doanh nghiệp ngành công nghiệp ,sự luân chuyển vốn - quỹ theo sơ đồ 1 ( trang sau )
Mỗi hoạt động này đều tạo ra dòng chảy và đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các hoạt động khác Ví dụ : Khi muốn giảm hàng thành phẩm tồn kho ,có 2 cách : * tăng lượng hàng bán ra bằng tiền mặt thì quỹ sẽ tăng lên ngay , nhưng thông thường giá không tốt và chỉ với một lượng hàng có giới hạn , * bán trả chậm thì có khả năng bán được nhiều hơn , gía tốt hơn , nhưng rủi ro trên các khoản phải thu cũng cao hơn ;
Mỗi hoạt động sẽ tác động lên các thành phần của Tài sản –hoặc của Nguồn
vốn , làm tăng hoặc giảm gía trị của các thành phần này (bảng 1- trang 8 )
Nếu lấy quỹ (tiền mặt và tiền gửi Ngân hàng ) làm trung tâm, sẽ có 14 hoạt động - dòng chảy chính như sau :
1 Đầu tư của chủ sở hữu, phát hành cổ phiếu
Trang 98 Xúc tiến tiêu thụ sản phẫm
12 Trả lãi vay , vốn vay , trả lãi và nợ khác
13 Trả cổ tức ,mua lại cổ phiếu, trích nộp cho Chủ sở hữu
Quản trị Vốn được hiểu là quản trị về tính chất và gía trị các biến động tăng
giảm của các thành phần Tài sản và Nguồn Vốn phát sinh từ các hoạt động này ,cũng như dự phòng được các xu hướng và rủi ro có thể có
Chất lượng quản trị Vốn gắn liền với hiệu quả Tổng hợp chung ,trước hết là hiệu quả về kinh tế , thể hiện cụ thể qua việc tạo ra bao nhiêu gía trị gia tăng và lợi nhuận cho Doanh nghiệp trong kỳ , và đồng thời bảo đảm khả năng Doanh nghiệp tiếp tục hoạt động và phát triển lâu dài
, Tác động của các hoạt động này lên các thành phần Tài sản - Nguồn vốn được
mô tả theo bảng 1 (trang 8 )
1.2 Về cơ chế quản lý vốn và tài sản ở các doanh nghiệp Nhà nước hoạt
động sản xuất kinh doanh
Theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước ( DNNN ) hoạt động sản xuất kinh doanh được Nhà nước đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung, có nghĩa vụ bảo toàn và phát triển vốn nhà nước Được quyền :
- huy động vốn dưới các hình thức như : vay nợ các tổ chúc tín dụng ; phát hành tín phiếu , phát hành cổ phiếu ( theo quy định pháp luật cụ thể )
Trang 10- sử dụng các nguồn vốn và các quỹ hoạt động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc có hoàn trả
- đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp
- nhận vốn và các nguồn lực do Nhà nước giao
Cho đến nay , Hai quyền cơ bản của DNNN là quyền về tài sản và quyền huy động vốn đã được xác định mở rộng hơn trước :
Quyền về tài sản : DNNN được quyền đầu tư mua sắm tài sản, mua bán sản phẩm hàng hoá trong quá trình kinh doanh, được khuyến khích khấu hao nhanh để thu hồi vốn cho tái sản xuất và đổi mới công nghệ, được chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cầm cố, thanh lý tài sản (trừ một số tài sản quan trọng)
Quyền huy động vốn : Cho phép huy động mọi nguồn vốn, nhưng khống chế không được làm thay đổi hình thức sở hữu
Việc mở rộng này là phù hợp với cơ chế thị trường , tạo cho DNNN có chủ động hơn, nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc khi thực hiện, cụ thể là :
• Không có đủ các hướng dẫn, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp thực hiện quyền tài sản
• Không xác định rõ thế nào được coi là ‘sở hữu Nhà nước ‘
• Quy định nhiều cơ quan Nhà nước phê duyệt phương án huy động vốn, hoặc đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, cầm cố, cho thuê, chuyển nhượng, thanh lý, thế chấp các tài sản quan trọng hoặc đầu tư xây dựng cơ bản lớn, đã làm cản trở quyền kinh doanh của doanh nghiệp
• Không xác định rõ chế độ trách nhiệm khi thực hiện các quyền đã quy định , đồng thời không gắn quyền lợi với trách nhiệm của các nhà quản trị đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung
Trang 11Có 4 mối quan hệ hiện đang ảnh hưởng đến việc quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp Nhà nước :
- Quan hệ giữa cơ quan thành lập doanh nghiệp (hoặc cấp được ủy quyền của cơ quan này) và doanh nghiệp
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và doanh nghiệp
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và các đối tượng khác trong và ngoài nước
- Ngoài ra, còn có quan hệ giữa một Tổng công ty (Nghị định 90, Nghị định 91) và các đơn vị thành viên là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập (Nghị định 388)
Tuy đã có nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo liên quan đến các quan hệ này, nhưng tình hình chung vẩn còn nhiều khó khăn, chưa thống nhất cách thực hiện , còn gây lúng túng và hạn chế sự tự chủ của doanh nghiệp
1.3 Một số vấn đề khác :
1.3.1 Nguồn dữ liệu theo sổ sách kế toán và vấn đề hiệu chỉnh lại cho sát thực tế Chúng ta biết rằng, bảng cân đối tài sản là tổng hợp những tài sản được dùng bởi doanh nghiệp và đối ứng là những trách nhiệm, những quyền lợi khác nhau trên những tài sản đó Vì vậy, khi phân tích những thông tin theo bảng cân đối tài sản để nhận biết các quan hệ kinh tế , thì có khả năng những kết luận rút ra không chính xác , nguyên nhân là vì các số liệu đó được ghi chép ( hoặc điều chỉnh ) tại những thời điểm trong lịch sử ,theo những chuẩn mực nhất định ( chúng tôi tạm gọi là phương pháp ‘ Kế toán Gía lịch sử ‘) Gía lịch sử của bất kỳ một tài sản nào được tập hợp trên bảng cân đối bao gồm Gía gốc ban đầu và những điều chỉnh được phép , vì vậy Gía lịch sử này thường khác so với giá trị hiện tại của nó
Sự khác biệt này có thể dẫn đến những điều sau đây :
Trang 121) Nếu lợi nhuận được tính trên cơ sở dữ liệu theo phương pháp ‘ Kế toán Gía lịch sử ‘ này, dự kiến được phân bổ đến những người có quyền lợi đối với doanh nghiệp, thì sẽ tác động đến sự quan tâm, hiểu biết đúng của họ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là những người đầu tư vốn hoặc mua cổ phiếu doanh nghiệp 2) Ngoài việc đánh giá sai lệch về lợi nhuận, kế toán gía lịch sử cũng gây ra nhầm lẫn do bỏ sót một số thu nhập hoặc tổn thất , ví dụ như :
+) Một tài sản khi được doanh nghiệp sử dụng liên tục , gía của tài sản đó có thể tăng lên, khoản chênh lệch này gọi là thu nhập do chiếm dụng tài sản (holding gains) ;
+) Thu nhập hoặc thiệt hại khi mức giá bình quân chung tăng lên ,dẫn đến giá trị của các tài sản bằng tiền thực sự giảm xuống khi so sánh với khả năng mua trước đó
3) Nếu nhà quản trị chỉ sử dụng những kết quả từ ‘ kế toán gía lịch sử ‘ vào việc phân tích đầu tư hoặc việc chọn phương pháp sử dụng vốn - tài sản , thì có thể đưa ra những quyết định không đúng ,làm cho định hướng phát triển doanh nghiệp bị sai lệch Ví dụ như khi mức giá chung tăng lên , theo một hệ thống ghi chép ‘ kế toán gía lịch sử ‘ có thể là có thêm lợi nhuận , mặc dù thực tế , xét tổng thể thì không có ảnh hưởng kinh tế đáng kể nào
Những vấn đề trên đặt ra nhu cầu là phải có thêm một hệ thống đánh gía khác, trên cơ sở xem xét dữ liệu theo phương pháp ‘ Kế toán Gía lịch sử ‘ hiện có , đặc biệt là các vấn đề định giá lại các tài sản và nhận diện các ảnh hưởng do thay đổi vốn cổ phần hoặc vốn vay lên cơ cấu vốn - tài sản
Việc định giá tài sản không thuần túy là đối với một tài sản riêng sẽ (như những cố gắng để đặt lại đúng giá trị của nó ,bằng cách loại trừ các sai biệt phát hiện được) mà còn có ý nghĩa gắn với cách thức phân bổ sử dụng vốn - tài sản , tạo ra
Trang 13dòng luân chuyển vốn thuận lợi hơn trong một chu kỳ tương lai , và giúp xác định gía trị doanh nghiệp trên các thị trường chứùng khoán
Hơn nữa , khi xem xét một tài sản , doanh nghiệp sẽ phải chọn lựa giữa 2 phương án sau : (1) giữ tài sản đó lại để sử dụng tiếp hoặc (2) chuyển nhượng thanh lý tài sản đó , để có nguồn vốn đầu tư tạo lập tài sản mới
Muốn vậy doanh nghiệp phải so sánh ‘ tổng thu nhập ròng của các phương án sau một khoảng thời gian nhất định ‘ sẽ như thế nào
Khi chuyển nhượng thanh lý một tài sản, và dùng vốn thu lại đầu tư tạo lập tài sản mới , người ta phải tính đến các yếu tố : thu nhập và chi phí thanh lý tài sản cũ ; giá trị có thể thu nhập từ tài sản mới (tính trong một khoảng thời gian nhất định ) Giá trị thu nhập từ tài sản mới chỉ là dự kiến và chứa đựng ít nhiều các yếu tố rủi ro Cũng như vậy , với 1 hệ thống tài sản đã có , khả năng tạo ra sản phẫm tiếp tục được khách hàng ưa chuộng , tiêu thụ được một khối lượng như cũ , với mức gía như cũ sẽ là điều khó xác định chắc chắn
1.3.2 - Tính tổng nhu cầu vốn bằng một phương pháp tỷ lệ % doanh thu mở rộng : Để tính tổng nhu cầu vốn vào năm (N+1) của một doanh nghiệp ngành công nghiệp, chúng tôi đề xuất một phương pháp tỷ lệ % doanh thu mở rộng, có chú ý đến vấn đề khả năng sản xuất của hệ thống ; tiến trình thanh lý tài sản và đổi mới công nghệ sản xuất , với những điểm chính sau :
a) Khả năng sản xuất ( thể hiện là doanh thu tiêu thụ sản phẫm ) của một doanh nghiệp nghành công nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào :
- Các Tài sản cố định đã đầu tư ;
- Công suất khai thác các tài sản cố định đó
Trang 14b) Doanh nghiệp D vào năm N , khai thác số tài sản có gía trị A Nếu gọi tỷ số giữa
mức doanh thu tối đa có thể đạt được ( TN max ) và gía trị tài sản A là X N A , chúng tôi tạm gọi là hệ số công nghiệp nghành :
XN A = T N max / A
• Với hệ thống A * , bao gồm m thành phần , thì : XN A * = ( ∑ T N max ) / ( ∑ A )
Bước sang năm ( N+1) , nếu Doanh nghiệp D vẫn khai thác số tài sản A , thì
doanh thu tối đa TN+1 max chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố :
r1 : Độ sút giảm khả năng sản xuất của hệ thống tài sản A ; và
r2 : Tác động của các sản phẩm đồng dạng hoặc sản phẫm thay thế
Với một năm , thì các hệ số r1, r2 thường nhỏ , nhưng trong một số trường hợp ( như sản xuất điện tử gia dụng ) và với thời gian từ 5 năm trở lên thì những tác động này khá rõ nét
c) Thông thường , doanh nghiệp D trong năm N , cũng đã tiến hành thanh lý một số
tài sản với gía trị Δ1A , gỉa thiết là việc thanh lý này không tác động đến hệ số công nghiệp của hệ thống [ A - ΔA ] còn lại Nghĩa là số công nghiệp XN+1 A -ΔA của hệ thống [ A - Δ1A ] vào năm (N+1) bằng XN A (1-r1).(1-r2)
d) Gỉa thiết doanh nghiệp đã đầu tư thêm một số tài sản cố định với gía trị B1 , đưa vào sử dụng trong năm ( N+1) , hệ số công nghiệp của nhóm tài sản này là XN+1 B1 , thông thường XN+1 B1 > X N A ( vì đồng vốn đầu tư vào thế hệ máy móc mới cho gía trị sản phẫm cao hơn ) :
a) Công suất khai thác : Công suất khai thác được hiểu là tỷ số giữa Doanh thu tối đa ( theo dự kiến) và Doanh thu thực hiện trong năm của hệ thống tài sản cố định của một doanh nghiệp , xét trong 1 năm Ký hiệu cho Công suất khai thác của :
Trang 15Nhóm tài sản [ A - Δ1A ] vào năm ( N +1) ký hiệu là P [ (A - Δ1A ) / (N +1) ]
Như vậy , doanh thu thực tế của Doanh nghiệp D trong năm N là :
TN = A P[A/N ] (TN max / A )
và doanh thu thực tế của Doanh nghiệp D trong năm ( N+1 ) sẽ là:
T(N+1) = (A-Δ1A ) P[(A-Δ1A ) /(N+1)].XN A (1-r1).(1-r2) + B1.P [B1/(N+1)] XN+1 B1 Chúng ta thấy rằng :
(1) Có thể tính B1 khi biết hoặc dự kiến được các thông số còn lại , và từ đó tính được
gía trị tài sản cố định của Doanh nghiệp D trong năm ( N+1 ) là (A-Δ1A ) + B1 , (2) Trở lại như phương pháp tỷ lệ doanh thu đã biết , đối với gía trị Tài sản lưu động , tính được Tổng Vốn hoạt động của Doanh nghiệp vào năm (N+1)
Muốn tính cho nhiều năm , chúng ta có thể lập bảng ; các thông số chủ yếu có từ thống kê hoặc từ ý kiến của các chuyên gia trong nghành Tuy nhiên , để đơn giản hơn chúng tôi sẽ gỉa thiết rằng :
+ r1 và r2 là không thay đổi qua chu kỳ xem xét
+ Các tài sản đầu tư mới không bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố r1, r2 + P [B1/(N+1)] = P [B2/(N+2)] XN+2 B2 = = P*
+ XN+1 B1 = X N+2 B2 = = X*
Khi đó , tính gần đúng T(N+n) như sau :
T( N+n ) = (A- ∑ ΔiA ) P[(A- ∑ ΔiA ) /(N+n)] XN A (1-r1) n.(1-r2)n +
Trang 16CHƯƠNG II :
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC NGÀNH CÔNG NGHIỆP
2-1- Hoạt động của các Tổng Công ty công nghiệp trong 4 năm (1996 – 1999):
Các Tổng công ty Công nghiệp ( DNNN ) hiện và sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế , là lực lượng chính trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Nghiên cứu các Tổng công ty này giúp chúng ta đánh gía được mặt hoạt động chủ yếu của công nghiệp trong nền kinh tế Do khuôn khổ có hạn , chúng tôi chỉ chọn 5 Tổng công ty ( TCTy ) để khảo sát là :
(1) Tổng Công ty Rượu Bia
(2) Tổng Công ty Giấy
(3) Tổng Công ty Điện Tử và Tin học
(4) Tổng Công ty Hoá Chất
(5) Tổng Công ty Thép
Tình hình hoạt động trong 4 năm (1996 – 1997 – 1998- 1999 ) của các TCTy được phản ánh trong các phụ lục đính kèm ( Từ PL01 – PL05 đính kèm ) Sau đây là những đánh gía chính của Bộ Công nghiệp về các TCTy này :
(1) TCTy Rượu Bia – Nước Giải Khát :
Hoạt động tăng trưởng khá từ 1996 đến nay :
Trang 17Bảng 2 : SẢN LƯỢNG CỦA TCTY RƯỢU BIA – NGK (1996 – 1999)
ĐVT : Triệu lít
Doanh thu năm 1999 đạt 2.959.880 triệu đồng tăng 9% so với năm 1998, tăng 22% so với năm 1997 , vàø tăng 32 % so với năm 1996
Về tình hình bảo toàn và sử dụng vốn : trừ nhà máy thủy tinh Phú Thọ, các doanh nghiệp thành viên đều bảo toàn và phát triển được vốn
Lợi nhuận : năm 1999 đạt 549.129 triệu đồng , tăng 8% sovới năm 1998 , tăng 18% so với 1997 , và tăng 31% so với năm 1996
TCTy bước đầu tập trung được nguồn lực trong nội bộ , để đổi mới công nghệ, phát huy năng lực sản xuất chung, tạo công ăn việc làm cho các đơn vị gặp khó khăn Trong phân phối , dù cạnh tranh gay gắt với các hãng bia nước ngoài , nhưng vẫn giữ được thế chủ động , mức tồn kho duy trì tương đối hợp lý
(2) Tổng Công ty Giấy :
Được bảo hộ của Nhà nước đối với giấy in, viết, giấy in báo nên sản xuất của Tổng Công ty đã có bước phát triển rõ rệt (Năm 1999, sản lượng đạt trên 180 ngàn tấn / năm , tăng 9% so với năm 1998 , và tăng 40% so với năm 1997)
Do mạnh dạn đổi mới cải tạo, nâng cấp nên chất lượng giấy trong 3 năm
1997, 1998 , 1999 có cải thiện rõ rệt, đáp ứng được yêu cầu thị trường, bước đầu vươn đến các loại giấy cao cấp và đặc chủng
Trang 18Việc xác định hướng chiến lược bán hàng chủ yếu là bán trả chậm các dạng bước đầu đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm ổn định, góp phần vào duy trì nhịp độ sản xuất chung quanh năm
Doanh thu năm 1999 đạt 2.675.011 triệu đồng, tăng 17% so với năm 1998 , tăng 62% so với 1997, và tăng 114% so với 1996
Lợi nhuận năm 1998 đạt 89.264 triệu đồng, tăng 15% so với năm 1998 , tăng 57% so với so với 1997, và tăng 180% so với 1996 Tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu hiện vẫn không cao ( khoảng 3% vào năm 1999)
Tính chung trong toàn công ty , bảo toàn được vốn Nhà nước
(3) Tổng Công ty Điện tử & Tin Học :
Những năm qua, Tổng Công ty Điện tử & Tin Học gặp nhiều khó khăn, năm
1997 giảm đáng kể so với năm 1996 ; năm 1998 và năm 1999 , có nâng lên nhưng
xu hướng sắp đến vẫn là xấu, ít nhất trong vài năm trước mắt
Doanh thu : 1999 đạt 878.016 triệu đồng, bằng 103% so với năm 1998,bằng 138% so với năm 1997 , nhưng bằng 98 % so với 1996 ; Lợi nhuận : năm 1999 đạt 39.985 triệu đồng, bằng107%so với năm 1998 , 171% so với năm 1997 , và xấp xỉ bằng năm 1996.)
Những nguyên nhân chính làm cho việc kinh doanh của TCTy bị đình đốn và không phát triển được là :
(.) Sản phẩm điện tử dân dụng chiếm tỷ lệ cao (chủ yẹáu là lắp ráp tivi – 50% sản lượng chung) trong khi sức mua không tăng nhiều ; lại phải cạnh tranh với những sản phẫm mới hơn , hiện đại hơn trên thị trường
(.) Một số linh kiện, phụ kiện TCTy có khả năng sản xuất được nhưng giá thành cao, khó tiêu thụ (như : biến thế, cuộn lọc, cuộn cảm cho lắp ráp tivi và Video)
Trang 19(.) Điện tử công nghiệp chuyên dùng chiếm tỷ lệ nhỏ, tốc độ phát triển sản xuất loại hàng này chậm
(.) Công nghệ thông tin chỉ chú trọng vào mua bán máy và thiết bị vi tính , việc sửa chữa, lắp ráp chỉ ở quy mô nhỏ , hầu như chưa có hoạt động đáng kể về công nghệ phần mềm
(.) Mối quan hệ trong nội bộ Tổng Công ty còn nhiều vướng mắc, chưa phát huy hết khả năng nguồn lực bên trong Việc quản trị tại các doanh nghiệp thành viên còn lung túng, bị động, chưa có chiến lược rõ ràng, trông chờ vào bên trên và sự hỗ trợ của Nhà nước
(4) Tổng Công ty Hoá Chất :
+ Tổng Công ty đã có sự tăng trưởng khá (sản lượng bình quân tăng 12% / năm) , đặc biệt là các sản phẩm chủ yếu như phân bón, hóa chất cơ bản
+ Doanh thu tăng tương đối đều , ( năm 1996 : 3.939 tỷ đồng ; năm 1997 : 4.815 tỷ đồng ; năm 1998 : 5.199 tỷ đồng ; năm 1999 : 5.710 tỷ đồng ) nhưng lợi nhuận lại không đều (năm 1996 : 197 tỷ đồng ; năm 1997 : 164 tỷ đồng ; năm
1998 : 179 tỷ đồng ; năm 1999 : 185 tỷ đồng )
+ Đáng chú ý là hiệu quả của các doanh nghiệp thành viên trong Tổng Công ty không đều, như Công ty Phân đạm Hà Bắc bị lỗ (nguyên nhân có một phần do ảnh hưởng của khủng hoảng thị trường khu vực ) ; Công ty Sơn và Chất dẻo không tính đúng nhu cầu thị trường khi quyết định đầu tư , nên thua lỗ; Các Công ty bột giặt với công nghệ DBSA nay phải đổi sang LAS theo quy định của Chính Phủ, làm giá thành tăng, chất lượng không ổn định, giảm khả năng cạnh tranh so với các đơn vị liên doanh ; Một số sản phẩm hiện không xuất được sang Trung Quốc, I Rắc,… như dự kiến lúc đầu tư , mở rộng sản xuất
Trang 20+ Việc thiếu nguồn vốn hoạt động cục bộ , lại lúng túng trong xử lý , nên tại một số doanh nghiệp thành viên , tuy sản lượng tăng mạnh nhưng hiệu quả lại giảm
do phải đi vay ngân hàng và các đối tượng khác chịu lãi suất , trong khi tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thấp Một số sản phẩm tồn kho khá lâu ( không phải là tồn kho luân chuyển ) nhưng chưa chú ý xử lý, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ( ước tính lên đến hàng tỷ đồng )
+ Nhiều doanh nghiệp trong Tổng Công ty , tuy khi đầu tư có lập kế hoạch cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ, nhưng không lường hết những thay đổi , rủi ro ,nên hiện gặp khó khăn ở cả đầu vào lẫn đầu ra, hiệu quả ước tính trên một số sản phẫm rất thấp , một vài dây truyền sản xuất khai thác dưới 40% công suất ( 5) Tổng Công ty Thép :
Ngoại trừ Công ty thép miền nam đầu tư bằng vốn vay ngân hàng, đưa công suất lên 0,67 triệu tấn/năm, bước đầu cạnh tranh được với các liên doanh thép ở phía Nam , hoạt động tương đối hiệu quả , còn lại nói chung trong toàn TCTy còn gặp nhiều khó khăn Doanh thu từ năm 1997 đến nay tăng rất ít ( năm 1996 : 4.263 tỷ đồng ; năm 1997 : 5.499 tỷ đồng ; năm 1998 : 5.445 tỷ đồng ; năm 1999 : 5.538 tỷ đồng ) và lợi nhuận lại đạt thấp (năm 1996 : 11 tỷ đồng ; năm 1997 : 26 tỷ đồng ; năm
1998 : 53 tỷ đồng ; năm 1999 : 49 tỷ đồng- riêng Công ty thép miền nam đã đạt gần
40 tỷ đồng ) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn rất thấp
Điễm chú ý là TCTy đã bị ảnh hưởng rõ nét về những biến động về tỷ giá năm
1998 ; và bị ảnh hưởng của thuế gía trị gia tăng nửa đầu năm 1999
2.2 Phân tích tình hình quản trị vốn trong các TCTy Công nghiệp :
2.2.1 Phân tích về Tài sản lưu động :
a)- Phân tích sự tăng giảm của các chỉ tiêu so với năm trước :
Trang 21Các chỉ tiêu được đem so sánh bao gồm : Tài sản lưu động ( có : Tồn kho thành phẩm (TKTP) ; Nợ phải thu(NPT)) , Nợ ngắn hạn , Tổng doanh thu , Lợi nhuận , và tỷ lệ thu nợ ( bằng tổng doanh thu chia cho trung bình của nợ phải thu ) , chúng tôi xem xét các chỉ tiêu này vì : Chỉ tiêu TKTP và NPT cho biết chiến lược kinh doanh bán hàng của các TCTy và có liên quan đến chỉ tiêu doanh thu ; Sự tăng ( giảm ) của Nợ ngắn hạn thường là để bù đắp phần thiếu hụt (hoặc dư dôi ) của Tài sản lưu động nói chung ; Thông thường ,doanh thu tăng lên thì nhu cầu của Tài sản lưu động cũng tăng lên Lợi nhuận đạt được là tổng hợp nhiều yếu tố , trong đó có : doanh thu tăng , tỷ lệ thu nợ tăng , sử dụng hợp lý hơn tài sản lưu động
Theo số liệu từ bảng 3 , Chúng tôi có một số nhận xét sau :
- Tổng Công Ty Rượu Bia:
Cơ cấu TKTP , NPT thay đổi từ năm 1997 sang năm 1988 (TKTP : năm 1997 tăng 142 tỷ đồng, sang năm 1998 lại giảm 90,3 tỷ đồng; NPT : năm 1997 giảm 22,2 tỷ đồng sang năm 1998 tăng 148,4 tỷ đồng) cho thấy TCTy này đã thay đổi chiến lược bán hàng có kết qủa (lợi nhuận trong 2 năm này cũng tăng ) Năm 1999, TKTP và NPT tăng tương ứng với mức tăng doanh thu, lợi nhuận tiếp tục tăng , khẳng định cơ cấu tài sản lưu động hợp lý Tăng tài sản lưu động dựa chủ yếu vào nguồn tích luỹ
- Tổng Công Ty Giấy:
Trong hai năm 1997, 1998, TKTP giảm (42,8 tỷ đồng và 47,1 tỷ đồng ) , nhưng NPT tăng mạnh (163,9 tỷ đồng và 145,7 tỷ đồng) , TCTy đã vay nợ ngắn hạn để bù đắp phần vốn thiếu hụt vốn lưu động trong 2 năm này (214,4 +184 = 398,4 so với 218,7 + 139,8 = 135,8) Doanh thu tăng đáng kể, lợi nhuận cũng tăng
Sang năm 1999, tình hình của Tổng Công Ty Giấy gần giống như năm 1998, tuy nhiên lợi nhuận tăng chậm lại vì vay nợ ngắn hạn tăng nhiều
Trang 22- Tổng công ty điện tử và tin học:
Hoạt động TCTy điện tử và tin học không đều qua các năm, ảnh hưởng rỏ rệt lên giá trị và cơ cấu tài sản lưu động : TKTP giảm trong 2 năm 1997, 1998 (21,4 và 3,5 tỷ đồng ) Riêng năm 1998, NPT tăng (23,8 tỷ đồng ) Năm 1997, giảm vay nợ ngắn hạn 52,9 tỷ đồng và gần bằng với mức giảm tài sản lưu động (67 tỷ đồng) - vì hoạt động khó khăn (doanh thu giảm 259 tỷ đồng, lợi nhuận giảm 17,2 tỷ đồng) Các tỷ lệ so sánh đều giảm trong năm 1999 Xét tổng thể định hướng sử dụng vốn lưu động không rõ và không được cải thiện tốt hơn
- Tổng công ty hóa chất :
Năm 1997, TCTy này có doanh thu tăng đáng kể 875,9 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận giảm mạnh (230,6 tỷ đồng) , nguyên nhân chính là do khó khăn về thị trường; TKTP tăng đáng kể, nhưng NPT cũng tăng Sang các năm 1998, 1999 doanh thu tiếp tục tăng nhưng lợi nhuận không tăng nhiều, điều này có nguyên nhân quan trọng là tài sản lưu động tăng (nhất là NPT tăng khá ) , tỷ lệ thu nợ trong hai năm này liên tục giảm (-2,4 và -0,3) Trong 3 năm 1997 –>1999 : đã vay nợ ngắn hạn để bù đắp phần lớn sự thiếu hụt tài sản lưu động ( lần lượt là 232/252, 40/32, 223/235 )
- Tổng công ty thép :
Năm 1997, đã giảm 968 tỷ đồng nợ ngắn hạn, 402 tỷ vốn bằng tiền, cho thấy việc sử dụng vốn lưu động của TCTy thép có khá hơn năm 1996 Tuy nhiên, NPT lại tăng lên 211 tỷ đồng ( so với doanh thu chỉ tăng 1.235 tỷ đồng) Năm 1998, giảm tiếp
485 tỷ đồng nợ ngắn hạn, gần bằng với số giảm của tài sản lưu động ( 546 tỷ đồng), tuy nhiên trong đó, TKTP tăng 144 tỷ đồng, các khoản phải thu lại giảm 185 tỷ đồng, doanh thu giảm nhưng lợi nhuận tăng lên do việc sử dụng tài sản lưu động hợp lý hơn
Trang 23năm 1997 Năm 1999, các chỉ tiêu tài sản lưu động có biến động nhưng không đáng kể, trong đó tồn kho thành phẩm và nợ phải thu đều giảm
b ) Phân tích Tài sản lưu động theo ‘ mô hình khách hàng cũ- khách hàng mới ‘:
Đầu tiên , chúng tôi sẽ tính sự thay đổi của các thành phần của tài sản lưu động và doanh thu của các TCTy trong các năm so với năm 1996 ; sau đó phân ra các trường hợp sau :
Giảm TKTP ; NPT ; DT
: trọn số của năm đang xét Ghi chú : TKTP : Tồn kho thành phẫm ; NPT : NợÏ phải thu ; DT : Doanh thu Khách hàng cũ : được hiểu là khách hàng của năm 1996
Tiếp sau đó chúng tôi sẽ tính các tỷ số Doanh thu / Nợ phải thu ; Tồn kho thành phẫm / Doanh thu cho từng nhóm khách hàng cũ và mới Thông qua việc phân tích này có thể thấy được sự thay đổi trong chiến lược tiêu thụ hàng hóa và tình thế kinh doanh của các TCTy qua các năm
Từ bảng 4 trên , có thể rút ra các nhận xét sau :
Tổng Công ty Rựợu Bia :