1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng phát triển ngành du lịch địa bàn TP HCM giai đoạn 2000 2010

52 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 311,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch là ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau, là chiếc cầu nối cho sự giao

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP H ồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DU LỊCH 3

1.1 Tình hình du lịch thế giới 3

1.2 Tình hình du lịch khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương 7

1.3 Tình hình du lịch Việt nam trong thời gian qua 8

1.3.1.Tình hình thị trường khách du lịch 8 1.3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch 13 1.3.2.1 Về hoạtđộng kinh doanh khách sạn 14 1.3.2.2 Về hoạt động lữ hành 16

1.4 Những thuận lợi và khó khăn của du lịch Việt nam 16

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG NGÀNH DU LỊCH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 19

2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch tại thành phố

2.1.1 Tình hình thị trường khách du lịch 19 2.1.1.1 Thị trường khách du lịch quốc tế 19 2.1.1.2 Thị trường khách du lịch nội địa 23

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch TP.HCM 24

2.1.2.1 Doanh thu từ du lịch 24 2.1.2.2 Hoạt động kinh doanh lữ hành 24 2.1.2.3 Hoạt động kinh doanh lưu trú 25

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc cạnh tranh du lịch của thành phố Hồ Chí Minh 27

2.2 Phân tích tiềm năng của ngành du lịch TP.HCM 30

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch 30

Trang 3

2.2.2 Tài nguyên do con người tạo ra 31

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TRÊN

ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2010 33

3.1 Mục tiêu của ngành du lịch thành phố đến năm2010 33

3.1.1 Mục tiêu kinh tế 33

3.1.2 Mục tiêu văn hoá xã hội và môi trường 34

3.1.3 Mục tiêu đảmbảo an ninh quốc giavà trật tự an toàn xã hội 35 3.2 Định hướng phát triển ngành du lịch TP HCM đến 2010 35 3.2.1 Các căn cứ để định hướng 35 3.2.1.1.Chủ trương chính sách tầm vĩ mô 35 3.2.1.2.Các chính sách chủ trương của TP.HCM 36 3.2.2 Định hướng phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 37 3.2.2.1 Thực hiện sự đa dạng hóa các sản phẩm du lịch 37 3.2.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch 39 3.3 Các giải pháp để thực hiện định hướng phát triển ngành du lịch

thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 40 3.3.1 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch

thành phố Hồ Chí Minh 41 3.3.2 Đẩy mạnh việc tôn tạo và giữ gìn tài nguyên du lịch

của thành phố 43 3.3.3 Liên doanh, liên kết khai thác sản phẩm du lịch vùng

phụ cận 46 3.3.4 Đẩy nhanh việc củng cố, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ

thuật phục vụ du lịch tại thành phố 47

3.3.4.1 Đối với khách sạn 48 3.3.4.2 Đối với nhà hàng 48

Trang 4

3.3.4.3 Hệ thống đường sá cầu cống 49 3.3.4.4 Hệ thống sân bay, bến bãi, phương tiện vận chuyển 50 3.3.5 Hoàn thiện công tác quản lý trong khai thác sản

phẩm du lịch 50 3.3.6 Đẩy mạnh công tác Marketing và quảng bá rộng rãi

về du lịch 50 3.3.7 Các giải pháp hỗ trợ khác 52 3.4 Kiến nghị

3.4.1 Đối với nhà nước 55 3.4.2 Đối với thành phố 56

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

-Chỉ thị 46/CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo cụ thể cho ngành du lịch Việt nam Du lịch là ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau, là chiếc cầu nối cho sự giao lưu văn hoá, xã hội giữa các quốc gia, các dân tộc với nhau , các vùng trong nước, giữa nước ta với các nước khác, tạo điều kiện tăng cường tình hữu nghị hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc

-Nước ta có tiềm năng lớn về nhiều mặt để phát triển du lịch: điều kiện thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di sản văn hoá được thế giới công nhận, cùng với truyền thống văn hoá dân tộc lâu đời, nhiều lễ hội, phong tục tập quán đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, cùng với nguồn lao động dồi dào đã tạo cho ngành du lịch Việt nam phát triển, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước

-Trong những năm qua, ngành du lịch Việt nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã có có những bước tiến đổi mới và phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật được cải tạo và nâng cấp, đội ngũ phục vụ du lịch ngày càng lớn mạnh tạo điều kiện thu hút khách nước ngoài và kiều bào về thăm tổ quốc và đạt được những kết quả nhất định

-Tuy nhiên sự phát triển của ngành du lịch trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Muốn giữ vững và phát triển du lịch, chúng ta phải nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành

du lịch Việt nam so với du lịch của các nước trong khu vực và thế giới

Trang 6

-Từ những vấn đề vừa nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Định

hướng phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2010”

-Mục đích của luận án là nhằm đánh giá thực trạng và tiềm năng của ngành

du lịch thành phố Hồ Chí Minh từ đó đưa ra một số các giải pháp để phát triển ngành du lịch thành phố hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2010

-Nội dung của luận án bao gồm 3 chương sau đây:

Chương I: Tổng quan về ngành du lịch

Chương II: Thực trạng và tiềm năng ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh

Chương III: Định hướng phát triển ngành du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến 2010

-Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn thông qua việc phân tích và tổng hợp các số liệu, tư liệu từ các nguồn sách báo trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực du lịch và kết hợp với phương pháp nghiên cứu hiện trường thông qua việc quan sát, phỏng vấn tại Saigontourist, Benthanhtourist …

-Do thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài ngắn, việc điều tra thu thập số liệu gặp nhiều khó khăn,và với vốn kiến thức còn hạn chế nên luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi kính mong quí Thầy, Cô hướng dẫn và cho thêm những ý kiến đóng góp của mình để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn

Trang 7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DU LỊCH

-Từ năm 1950 đến 1999 lượng du khách quốc tế tăng từ 25 triệu đến khoảng

657 triệu và thu nhập của ngành du lịch thế giới tăng từ 2,1 tỉ đến 455 tỉ Tổ chức

du lịch thế giới(WTO) ước tính thu nhập từ du lịch năm 2010 là 1.500 tỷ USD và đến năm 2020 là 2.000 tỷ USD

-Quan niệm cho rằng, du lịch chỉ dành riêng cho tầng lớp thượng lưu vào những năm đầu thập niên 60 giờ đã trở nên lỗi thời Du lịch hiện nay trở thành hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất phổ biến khắp toàn cầu với đối tượng phục vụ là mọi người trên toàn thế giới và các loại hình sản phẩm ngày một đa dạng phong phú có chọn lọc hơn Bên cạnh đó, du lịch thế giới là nguồn lớn nhất tạo ra GDP và việc làm trên thế giới, đồng thời việc đầu tư cho du lịch và các khoản thuế liên quan đến du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho các quốc gia

-Du lịch là ngành có nhiều nhân viên nhất thế giới Hiện đang có 112 triệu người làm nghề du lịch với tổng quĩ lương phải trả hàng năm là 540 triệu USD (nguồn từ hội đồng du lịch và lữ hành thế giới)

Bảng 1 : Sự phát triển của ngành du lịch thế giới qua các năm :

Trang 8

Tốc độ Tăng B.Q /năm(%)

Doanh thu (Tỉ USD) Tốc độ

Tăng(%)

Tốc độ tăng B.Q /năm (%)

-Qua số liệu bảng 1,chúng ta thấy rằng trong vòng gần 50 năm (từ 1950 đến

1999) số lượng du khách quốc tế đã tăng 26,28 lần và doanh thu từ du lịch tăng

216,66 lần Sự tăng doanh thu nhanh hơn sự tăng số lượng khách du lịch 8,24 lần

Điều này chứng tỏ rằng du khách ngày càng chi tiêu nhiều hơn cho du lịch và sự

quan tâm đến chất lượng sản phẩm du lịch ngày càng nhiều hơn

Bảng 2: Số lượng khách quốc tế đến các vùng trên thế giới năm 1999

Châu lục Lượng khách đến

Trang 9

-Qua số liệu bảng 2 cho thấy lượng khách quốc tế đi du lịch châu Aâu vẫn đứng hàng đầu, chiếm khoảng 53,1%, tiếp đến là châu Mỹ 19,28%, châu Á và châu Đại dương 23,46%, châu Phi 4,16 % Năm 1999, Pháp là nước dẫn đầu thế giới với 71,4 triệu lượt du khách tăng 2% so với 1998 Kế đến là các nước Tây Ban Nha, Mỹ, Ý, Trung quốc Điều này cho thấy châu Aâu vẫn là nơi thu hút khách du lịch nhiều nhất (xem bảng 3) Nếu tính về thu nhập từ du lịch thì Mỹ đứng đầu thế giới với 73 tỷ USD

-Theo dự đoán của tổ chức du lịch thế giới , sang thế kỷ 21 , ngành du lịch sẽ có mức tăng trưởng cao , với số khách du lịch tăng gấp 3 lần từ nay đến năm

2020 Tổ chức du lịch thế giới (WTO) dự đoán vào năm 2000 số du khách quốc tế sẽ là 702 triệu, sau đó sẽ lên tới 1 tỷ vào năm 2010 và 1,6 tỷ vào năm 2020 Mức doanh thu của ngành du lịch đóng góp vào GDP toàn cầu là 11% hiện nay sẽ tăng lên mức 12,5% trong thập kỷ tới

-Ngành du lịch thế giới tăng trưởng ngày càng mạnh, sở dĩ như vậy là do quan hệ kinh tế giữa các nước ngày càng mở rộng, đời sống kinh tế ngày một nâng cao, sự thay đổi nhân khẩu và tiến bộ xã hội, các phương tiện vận chuyển ngày càng tân tiến và hiện đại

-Với các yếu tố trên và sự phát triển ngày càng cao của cuộc sống, ngành du lịch trên thế giới sẽ là một ngành mũi nhọn và tiếp tục mang lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho các quốc gia Tiềm năng của ngành du lịch đang và sẽ tiếp tục tồn tại trong suốt một thời gian dài trong tương lai với loại hình ngày càng đa dạng phong phú hơn, với chất lượng ngày càng cao hơn nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu

cầu du lịch của du khách trên toàn thế giới

Trang 10

Bảng 3 : 10 thị trường du lịch đứng đầu thế giới năm 1999

Thứ tự Nước Số khách

1.2 Tình hình du lịch khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương

-Trong thập niên 1990, du lịch của khu vực Đông Nam Á - Thái bình dương có xu hướng tăng đều qua các năm Năm 1996 tuy xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế của nhiều nước ASEAN, nhưng bảy nước thành viên trong đó có Việt nam đã thu hút hơn 30 triệu du khách quốc tế đạt doanh thu 31 tỷ USD , chiếm 7,3% thu nhập toàn ngành du lịch thế giới.Trong năm 1999, du lịch tăng trưởng bình quân khoảng 8,5%

-Theo dự đoán của hội nghị bộ trưởng du lịch ASEAN, năm 2000 du lịch ASEAN tăng trưởng bình quân 10% và thu hút hơn 50 triệu lượt khách quốc tế Đến năm 2010 có thể đạt 80-100 triệu lượt khách chiếm 12-13% lượng khách toàn cầu

Trang 11

Bảng 4: 10 nước hoạt động du lịch hàng đầu trong khu vực Đông Bắc Á-Thái bình dương năm 1998

Thứ tự Nước Số lượt khách

25,07 9,58 7,72 5,63 5,55 4,9 4,25 4,17 4,11 3,59 Nguồn WTO -Qua số liệu bảng 4 cho thấy, năm 1998 Trung quốc đón được 25,07 triệu lượt khách quốc tế, với thu nhập là 12,6 tỷ USD và trở thành nước dẫn đầu về du lịch trong khu vực Đông Bắc Á-Thái Bình Dương Số liệu 10 tháng năm 1999 cho thấy thu nhập từ du lịch của Trung Quốc đã đạt 11,45 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ 1998 và thu hút được 59,7 triệu khách quốc tế, tăng 14,5% cùng kỳ 1998

1.3 Tình hình du lịch Việt nam trong thời gian qua :

1.3.1 Tình hình thị trường khách du lịch:

♦ Thị trường khách quốc tế:

-Mặc dù ngành du lịch Việt nam đã có trên 37 năm hoạt động, nhưng hoạt động du lịch Việt nam chỉ thực sự phát triển vào đầu thập niên 90, khi có chính sách mở cửa của chính phủ Việt nam được ban hành rộng rãi

-Có thể nói, trong những năm đầu thập niên 90 là thời kỳ hoàng kim của du lịch Việt nam với tỷ lệ tăng số du khách quốc tế qua hàng năm ở mức trên 30% Nhưng, qua năm 1996 có dấu hiệu chựng lại và giảm sút vào năm 1997 và 1998 Số du khách quốc tế vào Việt nam năm 1997 là 1.716.000 người chỉ tăng 6,7% so với năm 1996 Năm 1998 giảm 11,42% và năm 1999 tăng 17,23% ( xem bảng 5) Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do cuộc khủng hoảng tiền tệ của các nước

Trang 12

trong khu vực Sản phẩm du lịch Việt nam không đổi mới trong khi đó giá tour lại cao so với một số nước trong khu vực như Thái lan, Singapore

-Mục đích của khách du lịch quốc tế đến nước ta trong một số năm qua là hoạt động thương mại kết hợp với du lịch Theo thống kê tại các cửa khẩu quốc tế

cho thấy : 49% khách đến là mục đích du lịch và 31% khách đến là mục đích du lịch và thăm thân nhân, còn lại 20% là mục đích khác (xem bảng 8)

Bảng 5 : Số lượng khách quốc tế vào Việt nam qua các năm :

Năm Số du khách (lượt người) Tỷ lệ tăng (%)

(Nguồn Tổng cục du lịch)

Bảng 6 : Lượng khách quốc tế đến các nước ASEAN

Nước 1994 1995 1996 1997 1998

Indonesia 4.006.312 4.342.229 5.034.472

Malaysia 6.888.881 7.429.453 7.136.452 6.210.921 5.550.748 Philippin 1.414.852 1.760.163 2.049.367 2.222.523 2.149.357 Singapore 5.898.951 7.137.255 7.292.521 7.197.963 6.240.984 Thailand 6.166.496 6.951.566 7.244.400 7.293.951 7.764.930 Vietnam 1.018.244 1.351.296 1.607.155 1.715.637 1.520.128

(Nguồn : Tổng cục du lịch Việt nam) -So với các nước trong khu vực, thị phần du lịch của Việt nam chiếm tương đối ít Việt nam chỉ đứng hàng thứ sáu và chỉ hơn Lào, Cambodia, Miama về số luợng khách quốc tế từ các nơi trên thế giới đến ( xem bảng 6)

-Từ năm 1994-1999 khách đến Việt nam chủ yếu là Đài loan, Trung quốc, Mỹ, Pháp , Anh trong đó thị trường khách Trung quốc tăng trưởng mạnh và trở thành thị trường khách du lịch hàng đầu của Việt nam (xem bảng 7)

Trang 13

Bảng 7 : Lượng khách du lịch đến Việt nam phân chia theo các quốc tịch trên

(Nguồn : Tổng cục du lịch Việt nam)

Bảng 8: Lượng khách phân theo mục đích chuyến đi

biển là 10,85% Du khách đến bằng đường biển chiếm tỷ trọng thấp không tương

xứng với vị thế của Việt nam là bờ biển trải dài từ Bắc đến Nam

Trang 14

Bảng 9: Lượng khách phân theo phương tiện đến

(Nguồn : Tổng cục du lịch)

♦ Thị trường khách nội địa:

- Một trong những hướng kinh doanh quan trọng của ngành du lịch là việc tổ

chức kinh doanh du lịch nội địa và phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí cho người

dân trong nước, đặc biệt là những tầng lớp dân cư có thu nhập cao ở các thành phố

lớn

- Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế của Việt nam, đời

sống vật chất của nhân dân cũng được cải thiện và nhu cầu nghỉ ngơi tham quan

du lịch của nhân dân trong nước ngày càng tăng

- Để đáp ứng được nhu cầu đó, ngành du lịch Việt nam đã có những bước

chuẩn bị, và bước đầu, đã phục vụ tốt du khách trong nước với nhiều chương trình

tour du lịch nội địa hấp dẫn và giá hấp dẫn của các công ty du lịch trong nước

Bảng 10: Số lượng khách du lịch nội địa qua các name

Trang 15

-Qua số liệu bảng 10 cho thấy, số lượng khách du lịch nội địa đều tăng qua

các năm Thị trường gởi khách nhiểu nhất là thành phố Hồ Chí Minh và Hà nội

-Bên cạnh khách du lịch quốc tế vào Việt nam và khách du lịch nội địa ngày

càng tăng, số khách Việt nam đi du lịch ra nước ngoài trong những năm gần đây

cũng có xu hướng tăng lên

1.3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch:

-Những năm gần đây, ngành du lịch Việt nam đã có những bước chuyển

mạnh mẽ cả về hoạt động kinh doanh lẫn quản lý ngành Theo báo cáo của tổng

cục du lịch,hiện có 156 dự án có vốn đầu tư nước ngoài của 22 nước trong lĩnh vực

du lịch được cấp phép, trong đó có 102 khách sạn, 12 sân gôn, 10 câu lạc bộ văn

hóa, thể thao, giải trí với tổng số vốn đầu tư là 4 tỉ USD, trong đó vốn pháp định là

1,4 tỉ

-Nhờ chính sách đổi mới về đầu tư của chính phủ, năm 1999 nhiều thành

phần kinh tế đã tham gia đầu tư vào các hoạt đông du lịch theo hướng xây dựng,

cải tao nâng cấp các công trình vừa và nhỏ, như: các câu lạc bộ văn hoá vui chơi,

giải trí (Bowling,sân golf,tenis )

- Tổng doanh thu từ du lịch tăng liên tục từ năm 1992 đến nay đã tạo cho

ngân sách nhà nước nguồn thu lớn và tạo ra nhiều việc làm cho người lao động

(xem bảng 11)

Bảng11 : Doanh thu du lịch Việt nam qua các năm

Năm Doanh thu (Tỉ đồng) Tỷ lệ tăng %

Trang 16

Sau đây chúng tôi xin nêu một số kết quả cụ thể ở các loại hình kinh doanh của ngành du lịch Việt nam trong thời gian qua:

1.3.2.1 Về hoạt động kinh doanh khách sạn:

- Hệ thống khách sạn của ngành du lịch Việt nam ngày càng được mở rộng , với chất lượng phục vụ ngày càng nâng cao (xem bảng số 12) nhằm đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ cho mọi đối tượng khách hàng

- Hiện nay trên cả nước có khoảng 3050 khách sạn với 62.000 phòng, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 52% với 65% buồng phòng trong cả nước, giữ vai trò chủ đạo Tư nhân chiếm 44%, nhưng chỉ chiếm 25% tổng số phòng(do qui mô nhỏ) Liên doanh với nước ngoài chiếm 4% số khách sạn với 10% tổng số buồng phòng

- Khách sạn liên doanh với nước ngoài hầu hết có qui mô lớn, ở các vị trí thuận lợi và chiếm ưu thế cả về vốn và công nghệ, thị trường

Bảng 12 : Số phòng trong các khách sạn của Việt nam

Sốâ phòng trong các khách sạn Hệ số sử dụng phòng

Năm Số phòng Số giường Năm Công suất %

Trang 17

- Công suất buồng phòng năm 1999 trung bình đạt 44% ( tăng 23% so với 1998) Những tháng cuối năm 1999 đầu năm 2000 công suất buồng phòng ở nhiều khách sạn đạt tới 70% đến 80%, cá biệt có một số khách sạn ở Quảng ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà nội đạt 100%

-Tuy vậy, hoạt động kinh doanh khách sạn trong năm 1999 phải đương đầu với nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực và tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu khách trong du lịch dẫn đến cạnh tranh chưa lành mạnh,đặc biệt về giá có lúc diễn ra gay gắt

1.3.2.2 Về hoạt động lữ hành:

-Đến năm 2000 có hơn 230 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh lữ hành nội địa, 107 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế với 2750 hướng dẫn viên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn mới

-Các doanh nghiệp lữ hành đã chủ động xây dựng các Tour tuyến mới với nhiều loại hình hấp dẫn (dã ngoại lên rừng, xuống biển, du lịch mạo hiểm, du lịch thể thao, du lịch chữa bệnh, du lịch sinh thái, du lịch xuyên Việt ) thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế

Các hình thức du lịch lễ hội được tổ chức tại nhiều nơi như” Gặp gỡ đất Phương nam” tại thành phố Hồ Chí Minh tạo không khí sôi nổi trong triển khai chương trình hành đông quốc gia về du lịch trong năm 2000

1.4 Những thuận lợi và khó khăn của du lịch Việt nam:

♦ Thuận lợi:

-Việt nam có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch, đó là điều kiện thiên nhiên rất phong phú và đa dạng, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận như vịnh Hạ Long, cố đô Huế, phố cổ Hội An…Việt nam có truyền thống văn hoá dân tộc rất đặc sắc, có nhiều công trình kiến trúc cổ nổi tiếng, có nhiều lễ hội dân gian đặc thù

Trang 18

-Việt nam có địa thế thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu với nước ngoài và phát triển du lịch với các nước trong khu vực.Với hơn 3.000km bờ biển hướng ra biển Đông, nằm trên tuyến đường giao thông đường biển nối liền Thái Bình Dương và Aán Độ Dương tạo thuận lợi cho du lịch biển

-Việt nam có tiềm năng và thế mạnh cho du lịch sinh thái Nhiều đảo, vịnh, bãi tắm, hang động rất đẹp, phong phú và đa dạng

-Chính sách đối ngoại của Việt nam ngày càng mở rộng Tình hình kinh tế xã hội, tình hình an ninh chính trị ổn định.Việt nam là thành viên chính thức của tổ chức du lịch thế giới (WTO) từ năm 1981 Đây là những điều kiện quan trọng thúc đẩy du lịch Việt nam phát triển

-Ngành du lịch Việt nam được sự quan tâm và định hướng đúng của chính phủ, được sự hỗ trợ của các hiệp hội du lịch như PATA,JATA…

-Việt nam có kinh nghiệm của các nước láng giềng trong việc phát triển du lịch, có sự đầu tư của nước ngoài vào các cơ sở lưu trú

-Lực lượng lao động dồi dào, con người Việt nam cần cù và sáng tạo

♦ Khó khăn:

-Du lịch Việt nam phát triển trong điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước mới vừa vượt qua những khó khăn ban đầu với cơ sở hạ tầng còn thấp kém, hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, trình độ quản lý và nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ và nhân viên du lịch Việt nam còn chưa bắt kịp với trình độ của khu vực và thế giới, nguồn vốn đầu tư cho du lịch còn thấp và dàn trải

-Việc đầu tư xây dựng hệ thống khách sạn do thiếu tính toán chiến lược nên cung vượt cầu dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp

-Do sự chậm đổi mới các loại hình dịch vụ và sản phẩm du lịch, và do công tác tiếp thị quảng cáo chưa được quan tâm đúng mức đã dẫn đến sự suy

giảm lượng khách quốc tế trong các năm qua

Trang 19

-Thủ tục cấp hộ chiếu,visa còn nhiều phiền phức, cơ chế hai giá đối với khách du lịch chưa xoá bỏ hoàn toàn

-Ý thức của người dân về du lịch còn kém.Ý thức bảo tồn và phát triển du lịch thấp Nạn ăn xin , giựt dọc tạo nên cảm giác không an toàn cho du khách

Trước những thuận lợi và khó khăn trên, ngành du lịch Việt nam phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp

du lịch, đầu tư chiều sâu nhằm tạo ra những sản phẩm đặc thù củaViệt nam để thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế và du khách trong nước

Trang 20

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG NGÀNH

DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch tại TP HCM

2.1.1 Tình hình thị trường khách du lịch

2.1.1.1 Thị trường khách du lịch quốc tế:

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm thương mại kinh tế lớn của cả nước, và được xem là trung tâm vùng du lịch miền nam và nam trung bộ ( Từ Bình thuận trở vào, theo quy hoạch Du lịch Việt nam giai đoạn 1996-2000 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt năm 1995).Thành phố đóng góp một phần quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch Việt nam

Bảng 13: Số lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh:

Qua bảng số liệu bảng 13 cho thấy, số lượt khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh qua các năm luôn luôn chiếm tỷ lệ hơn 50% của tổng số khách quốc tế

Trang 21

đến Việt nam Trong năm 1999 thành phố Hồ Chí Minh có 975.000 khách du lịch quốc tế tăng 11,94% so với năm 1998

Về tốc độ phát triển số khách du lịch quốc tế cho thấy: từ 1990 đến 1995 có tốc độ tăng trưởng lớn nhưng sau đó có khuynh hướng giảm dần Đặc biệt số khách quay trở lại thành phố Hồ Chí Minh lần thứ hai rất thấp với khoảng 5% đến 10% tổng số khách hàng

Về cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng bao gồm khách Việt kiều, khách châu A Ù(Đài loan, HongKong chiếm đa số), khách châu Aâu, khách khác…Trong năm 1999 khách Nhật, Đài loan, Trung quốc, Thái lan, Hong kong tăng mạnh nhưng khách từ các nước châu Aâu tăng không nhiều, và đặc biệt, khách từ Pháp đến lại giảm

Qua số liệu bảng 14 cho thấy, nếu căn cứ vào mục đích khách quốc tế đến thành phố thì có thể phân thành như sau: khách đi du lịch , giải trí chiếm 44% (chủ yếu là khách châu Aâu), khách đi với mục đích kinh doanh thương mại chiếm 31,1% (chủ yếu là khách châu Á), khách đi với mục đích thăm thân nhân, bạn bè chiếm 19% (đa số là Việt kiều)

Nếu xét về mặt giới tính, có thể thấy đại bộ phận là khách du lịch nam, khách du lịch nữ chỉ chiếm 23,4% (cao nhất là Việt kiều 35.7% và thấp nhất là khách châu Á 6,5%) Xét về mặt tuổi tác, khách du lịch thường nằm trong độ tuổi

30 đến 39 (chiếm 36,9%) tuổi 40 đến 49 (chiếm 27%), tuổi 20 đến 24 (chiếm 14,2%)

Về phương thức vận chuyển,khách du lịch quốc tế đến bằng đường hàng không năm 1998 chiếm hơn 80%, đường biển 2,93%, đường bộ 3,34%

Năm 1999 khách đến qua cửa khẩu sân bay Tân sơn nhất là 838.718 lượt tăng 18% so với 1998 Điều này cho thấy khách du lịch quốc tế đến thành phố chủ yếu là sử dụng phương tiện vận chuyển hàng không qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất Gần đây du khách đến thành phố bằng đường biển có gia tăng do sự tổ chức

Trang 22

của Saigontourist và các hãng du lịch quốc tế Tuy nhiên, trong năm 1999 khách

đến qua cảng Sài gòn tuy đạt 8.490 lượt nhưng vẫn giảm 34,6% so với 1998

Thời gian lưu trú là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển du lịch thành

phố Bình quân một khách quốc tế lưu trú là 3,5 ngày Nhóm khách châu Aâu có

thời gian lưu trú ngắn nhất, nhóm khách Việt kiều thường lưu trú lâu hơn do thăm

gia đình trong dịp Tết Khách đến lưu trú chủ yếu ở khách sạn trong đó khách châu

Á chiếm tỷ trọng cao ( xem bảng 15)

Số khách đi theo tour còn thấp (chiếm 29,1%), chủ yếu là tự đi Khách châu

Aâu thích đi tour trọn gói so với các nhóm khác Thông tin du lịch tại thành phố Hồ

Chí Minh khách nhận được chủ yếu từ bạn bè, người thân (chiếm 30%) sau đó là từ

cơ quan du lịch ( Theo nguồn tư liệu của Công ty lữ hành thuộc Saigontourist)

Bảng 14 : Phân loại khách quốc tế đến thành phố theo mục đích chuyến đi

ĐVT :%

Mục đích Việt kiều Khách

châu Á

Khách châu Aâu

Khách khác

Trang 23

Bảng 15 : Phân loại khách quốc tế đến thành phố theo nơi cư trú

ĐVT:%

Nhóm khách Khách sạn Nhà thân nhân Nơi khác

Việt kiều 28,6 71,4

Khách châu Á 90,3 9,7

Khách châu Aâu 83,5 13,5 3,0

Khách khác 73,8 19,7 6,6

(Nguồn : Tổng công ty du lịch Sài gòn)

2.1.1.2 Thị trường khách du lịch nội địa:

-Thành phố Hồ Chí minh được đánh giá là nơi có nhiều tiềm năng phát triển

du lịch nội địa bởi qui mô và cách làm ăn bài bản của các đơn vị du lịch trong liên

kết với các khu du lịch hấp dẫn khác trong cả nước về việc tổ chức các tour du lịch

nội địa

-Số lượng khách từ các tỉnh đến thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây

tăng đáng kể Nếu như năm 1993 có khoảng 534.000 lượt người thì đến năm 1999

là 1.981.440 lượt tăng 271% ( xem bảng 16) Chi tiêu trung bình cho một chuyến

du lịch của khách khoảng 300.000 đồng

-Khách các tỉnh đến thành phố với mục đích du lịch giải trí chiếm 30%,

thăm viếng thân nhân chiếm 25%, thương mại và tìm việc làm chiếm 18%, tham

dự hội nghị chiếm 15%, tạm nghỉ 2% và mục đích khác là 10%.Thời gian lưu trú

trung bình khoảng 3 ngày Các khu du lịch Đầm sen, Suối tiên, Bến dược Củ chi

thu hút nhiều du khách đến tham quan, vui chơi, giải trí

Trang 24

Bảng 16: Số lượng khách du lịch nội địa đến thành phố Hồ Chí Minh:

Năm Số khách đến thành

phố Hồ Chí Minh Tỷ lệ tăng %

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2.1.Doanh thu từ du lịch (xem bảng số 17) : Bảng 17 : Doanh thu của ngành du lịch thành phố từ năm 1993-1999

Đơn vị tính : tỷ đồng

Chỉ tiêu 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999

Doanh thu 1265 2.210 2.523 2.830 2.986 2.630 3.090 Nhịpđộ

tăng trưởng

56,9% 74,7% 14,52% 12,16% 5,51% -11,93% 17,49%

(Nguồn: Sở Du lịch thành phố)

Qua bảng số 17 cho thấy, doanh thu từ du lịch của thành phố Hồ Chí Minh tăng đều qua các năm ( từ năm 1993 đến năm 1997) Riêng năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nên lượng khách vào thành phố giảm 9,98% so với năm 1997.Năm 1999 do nhiều nổ lực cố gắng của ngành nên lượng du khách đến lại tăng lên 11,53% so với 1998

Trang 25

Thành phố Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu và chiếm hơn 50% tổng doanh thu từ

du lịch cả nước Tuy nhiên, sự phát triển du lịch của thành phố còn chiếm vị trí khiêm tốn trong cơ cấu phát triển kinh tế của thành phố

2.1.2.2 Hoạt động kinh doanh lữ hành:

Các doanh nghiệp đã đẩy mạnh hoạt động quảng cáo tiếp thị và chào tour bằng nhiều hình thức phong phú đa dạng để kiếm thêm nguồn khách.Nhiều tour tuyến mới được các đơn vị chủ động hoặc phối hợp khảo sát xây dựng để bổ sung vào các chương trình tour làm phong phú thêm sản phẩm và thu hút du khách.Saigontourist đã chính thức hợp đồng với hãng tàu Star Cruise (Malaysia) thực hiện chương trình đưa khách đường biển tham quan du lịch và đã phục vụ trên 30.000 lượt khách từ 1999 đến nay

Mặc dù lượng khách quốc tế đến thành phố có tăng so với 1998 nhưng các đơn vị lữ hành vẫn tích cực khai thác thị trường khách du lịch nội địa với cơ chế giá phù hợp cho từng đối tượng khách đặc biệt trong các dịp Lễ,hội và kỳ nghỉ hè

Do cạnh tranh quyết liệt giữa các đơn vị du lịch nên giá tour giảm từ 10% đến 20% làm doanh thu tăng không cao trong khi chi phí quảng cáo, tiếp thị, hoa hồng quá lớn, nhiều đơn vị phải ngưng hoạt động

2.2.1.3 Hoạt động kinh doanh lưu trú:

Hiện nay thành phố có 581 khách sạn với 15.826 phòng chưa tính các phòng cho thuê, nhà trọ nằm rải rác tại các quận huyện vớiù khả năng đón 2 triệu khách

du lịch mỗi năm Trong những năm 90, do tốc độ tăng trưởng du khách quốc tế đến thành phố tương đối cao nên nhu cầu về khách sạn và phòng trọ tăng lên đột biến cả về số lượng lẫn chất lượng.Công suất phòng vào thời điểm này luôn đạt 80% đến 90%

Từ năm 1992 đến 1996, các thành phần kinh kế đều được tham gia kinh doanh khách sạn nên số lượng phòng trọ tăng chủ yếu ở khu vực tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh nước ngoài.Khu vực tư nhân tăng khoảng

Trang 26

3.445 phòng, khu vực liên doanh tăng khoảng 1.598 phòng.Khu vực nhà nước số

phòng có suy giảm do liên doanh với nước ngoài xây dựng các khách sạn hiện đại

như New World, Delta Caravelle, Prince

Bảng 18 : Số lượng phòng lưu trú qua các năm:

(Nguồn: Sở Du lịch thành phố)

Bảng 19 : Số phòng qua các thành phần kinh tế

(Nguồn : Sở du lịch thành phố)

Số lượng khách quốc tế đến thành phố tuy có tăng về số tuyệt đối nhưng lại

giảm về số tương đối Sự cạnh tranh giữa các khách sạn với nhau, đặc biệt là khu

vực tư nhân với cơ chế linh hoạt, đã thu hút khách nhiều hơn.Công suất sử dụng

phòng bình quân toàn thành phố giảm dần từ 63% năm 1993 xuống 48% năm

1996

Năm 1997, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Đông nam Á,

số lượng khách quốc tế đến thành phố giảm và kéo dài sang 1998 trong khi số

lượng phòng vẫn tiếp tục tăng Sự khủng hoảng thừa số phòng lưu trú đã xảy ra và

sự cạnh tranh quyết liệt trong kinh doanh khách sạn là điều không tránh

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:23

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm