Các khoản nợ phải trả điển hình của một công ty bảo hiểm là: Dự phòng hợp đồng Dự phòng bồi thường Phí bảo hiểm ứng trước Tiền bồi thường chưa thanh toán Phải trả người cung cấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM NHẬT KIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài
Để từng bước đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và đồng thời đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tài chánh đáp ứng nhu cầu của người dân, chính phủ đã mở cửa thị trường bảo hiểm nhân thọ cho các tập đoàn bảo hiểm nhân thọ hàng đầu của thế giới từ giữa năm 1999 Bảo hiểm nhân thọ là một kênh tài chánh có vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế quốc dân Hơn thế nữa, bảo hiểm nhân thọ còn là một lĩnh vực tài chánh nhạy cảm ảnh hưởng đến kế hoạch tài chánh cá nhân của hàng triệu người trong xã hội và do đó ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị xã hội Trong lĩnh vực quản lý bảo hiểm nhân thọ, kế toán với vai trò là một hệ thống thông tin quản lý cung cấp các thông tin hữu ích quan trọng để các công ty bảo hiểm nhân thọ nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động kinh doanh, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chánh để đảm bảo khả năng thanh toán cho người tham gia bảo hiểm Các thông tin
do kế toán cung cấp còn giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước giám sát tình hình tài chánh các công ty bảo hiểm nhân thọ, kịp thời ra quyết định điều chỉnh khi có những vấn đề tài chánh phát sinh của một công ty bảo hiểm nhân thọ
Chế độ kế toán cho doanh nghiệp bảo hiểm đã ra đời từ năm 1996 nhưng mang hình thức chung chung cho mọi loại hình bảo hiểm Các công ty bảo hiểm nhân thọ gặp phải nhiều khó khăn khi áp dụng chế độ kế toán do thiếu nhiều quy định hạch toán và báo cáo riêng cho nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ Trong khi đó khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được hoàn thiện qua việc ban hành luật kinh doanh bảo hiểm, các nghị định và thông tư hướng dẫn Do vậy cần thiết phải xây dựng nhanh chóng một hệ thống kế toán riêng cho ngành bảo hiểm nhân thọ từ đó mới phát huy tốt chức năng công cụ quản lý của kế toán Đề tài luận văn cao học “ Kế Toán Bảo hiểm Nhân Thọ” được nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu trên
2 Mục đích của luận văn
Mục đích của đề tài là phát triển hệ thống kế toán bảo hiểm nhân thọ qua việc đề xuất hệ thống tài khoản và các báo cáo tài chánh phù hợp với ngành bảo hiểm nhân thọ, giúp cho ngành kế toán trong nước hoà nhập với ngành kế toán bảo hiểm nhân thọ quốc tế Các công ty bảo hiểm nhân thọ có nhiều thuận lợi trong việc áp dụng chế độ kế toán Việt Nam đồng thời các cơ quan quản lý nhà nước hiểu rõ hơn các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
Trang 3nói chung và kế toán bảo hiểm nhân thọ nói riêng giúp tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
♦ Nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán cùng các quy trình hạch toán nghiệp vụ cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
♦ Nghiên cứu và hoàn thiện các báo cáo tài chánh cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất
kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích, kết hợp giữa phân tích lý luận và thực tiễn đã được sử dụng Cụ thể như sau:
a Phương pháp biện chứng
Luận văn đã sử dụng các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng để phân tích, đánh giá đối tượng nghiên cứu như sau:
♦ Nguyên tắc tính khách quan
Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân tích, đánh gía đối tượng nghiên cứu phải xuất phát từ chính đối tượng đó, phải đảm bảo tính khách quan Việc xây dựng hệ thống kế toán doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ xuất phát từ hiện thực khách quan đó là sự ra đời ngành bảo hiểm nhân thọ ở nước ta
♦ Nguyên tắc tính toàn diện
Yêu cầu tính khách quan trong phân tích sự vật đòi hỏi phải xem sự vật như một hiện thực tồn tại độc lập ở bên ngoài và không phụ thuộc vào
ý thức của chủ thể Nhưng những điều kiện tất yếu để sự vật tồn tại là những mối liên hệ đa dạng của nó với sự vật khác Vì vậy khi nghiên cứu sự vật phải đảm bảo tính toàn diện Kế toán bảo hiểm nhân thọ đuợc xây dựng trong mối liên hệ chặt chẽ với các nghiệp vụ cơ bản của nó, đồng thời có tính đến yếu tố tuân thủ pháp luật trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
♦ Nguyên tắc kế thừa
Sự ra đời cái mới không phải là việc phủ định sạch trơn cái cũ mà nó kế thừa các mặt tích cực của cái cũ Hệ thống kế toán bảo hiểm nhân thọ được nghiên cứu trên cơ sở kế thừa một số đặc điểm cơ bản của chế độ kế toán doanh nghiệp bảo hiểm trong hệ thống tài khoản và báo cáo tài chánh
Trang 4♦ Nguyên tắc phát triển
Nguyên tắc này dựa trên nguyên lý phát triển Nguyên tắc này yêu cầu hệ thống tài khoản kế toán và các quy trình hạch toán chi tiết cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phải được xây dựng trong quá trình vận động và phát triển của ngành bảo hiểm nhân thọ Cụ thể là các tài khoản và quy trình hạch toán phải phù hợp với sự ra đời và phát triển của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ từ đơn giản đến phong phú và phức tạp
b Các phương pháp nghiên cứu khác
Luận văn còn được nghiên cứu dựa trên cơ sở của các phương pháp
so sánh, tổng hợp, phân tích, kết hợp giữa phân tích lý luận với phân tích thực tiễn
5 Những đóng góp mới của luận văn
♦ Trình bày lý luận nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ một cách cô đọng và có hệ thống nhằm giúp cho người làm công tác kế toán hiểu rõ bản chất của nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và do vậy nâng cao chất lượng công việc kế toán
♦ Trên cơ sở nghiên cứu lý luận kế toán bảo hiểm nhân thọ quốc tế, luận văn đề nghị hệ thống tài khoản và các báo cáo tài chánh phù hợp với đặc điểm ngành bảo hiểm nhân thọ, các quy định pháp luật và chế độ kế toán Việt Nam
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương
Chuơng 1: Bản chất của kế toán và bản chất của bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Đánh giá thực trạng chế độ kế toán doanh nghiệp bảo hiểm
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chế độ kế toán doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Trang 5
CHƯƠNG 1
BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN VÀ BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1.1 Bản chất của kế toán
1.1.1 Định nghĩa kế toán
Kế toán là một hệ thống hoặc một nhóm các nguyên tắc và phương pháp để thu thập, ghi chép, tổng hợp, báo cáo và phân tích các hoạt động tài chánh của một doanh nghiệp Kế toán xác lập một hệ thống để phân loại,
đo lường và giám sát tình hình tài chánh của một doanh nghiệp bao gồm tài sản mà doanh nghiệp sở hữu, nghĩa vụ phải trả, doanh thu, chi phí và lãi lỗ
Kế toán cung cấp cách thức tóm tắt và báo cáo thông tin đã được cấu trúc về tình hình tài chánh của doanh nghiệp để những người quản lý ra quyết định về việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
1.1.2 Đối tượng của kế toán
Trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp thường xuyên đặt những câu hỏi:
♦ Tình hình tài chánh của doanh nghiệp ra sao? Doanh nghiệp có duy trì được khả năng thanh toán hay không?
♦ Sản phẩm nào đang có lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận?
…
Để tìm câu trả lời cho những vấn đề trên, kế toán phải chuyển đổi các dữ liệu về các nghiệp vụ tài chánh của doanh nghiệp thành các thông tin hữu ích cho những người quản lý để ra quyết định Như vậy đối tượng của kế toán chính là những thông tin đã được xử lý và chúng phải hữu ích nhằm giúp cho các cấp quản lý ra các quyết định điều hành sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất
Trang 6
1.1.3 Chứng từ
Trung tâm của mọi hoạt động kế toán là chứng từ và các dữ liệu mà doanh nghiệp tạo ra và sử dụng như là cơ sở để soạn thảo các báo cáo tài chánh và các báo cáo khác Chứng từ xác nhận một nghiệp vụ kinh doanh đã xảy ra bằng cách cung cấp các chi tiết về nghiệp vụ như ngày tháng, trạng thái nghiệp vụ và người duyệt nghiệp vụ
1.1.4 Tài khoản
Hệ thống tài khoản là một danh sách của các tài khoản của một doanh nghiệp được đánh số thứ tự và phân thành 5 nhóm chính: Tài sản, khoản phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí Mỗi một doanh nghiệp thiết lập hệ thống tài khoản chi tiết phù hợp nhất cho các nghiệp vụ tài chánh của doanh nghiệp mình
Tài khoản là đơn vị lưu trữ dữ liệu dùng để phản ánh, thu thập và tổng hợp các nghiệp vụ kinh doanh tương tự Số dư của một tài khoản là số tiền trên tài khoản vào một ngày cụ thể
1.1.5 Các khái niệm và nguyên tắc của kế toán tài chánh
Kế toán tài chánh dựa trên một số nguyên tắc và khái niệm được phát triển qua nhiều năm Thông thường, những nguyên tắc và khái niệm này có đặc trưng ước đoán và được sử dụng như là một khuôn mẫu cho việc ghi chép và báo cáo các hoạt động của doanh nghiệp Đặc trưng ước đoán
Tóm tắt dữ liệu
Tạo các báo cáo chuyển dữ liệu thành thông tin hữu ích
Hệ thống kế toán
Trang 7có nghĩa là các thông tin kế toán dựa trên các nguyên tắc và khái niệm kế toán có thể cho phép người sử dụng ước tính tương đối chính xác sức mạnh tài chánh và khả năng thu nhập của doanh nghiệp nếu khi họ phân tích các báo cáo tài chánh của doanh nghiệp
1.1.5.1 Các khái niệm liên quan báo cáo tài chánh
Khái niệm thực thể và hoạt động liên tục là hai khái niệm cơ bản cho các báo cáo tài chánh
♦ Khái niệm thực thể
Thực thể là một đơn vị kinh tế cơ sở mà một doanh nghiệp phải duy trì báo cáo và dữ liệu kế toán riêng biệt Khái niệm thực thể đòi hỏi một doanh nghiệp phải kế toán tách bạch các hoạt động kinh doanh của đơn vị mình khỏi các hoạt động tài chánh của cá nhân sở hữu doanh nghiệp đó
♦ Khái niệm hoạt động liên tục
Khái niệm hoạt động liên tục nghĩa là việc xử lý hạch toán dựa trên giả thiết là công ty sẽ tiếp tục hoạt động trong một giai đoạn thời gian vô hạn Do vậy trừ phi có một chứng cứ ngược lại kế toán không được cho rằng công ty sẽ bị thanh lý Thanh lý là quá trình chuyển toàn bộ tài sản của công
ty thành tiền để thanh toán các khoản nợ phải trả
Khái niệm hoạt động liên tục ảnh hưởng đến báo cáo tài chánh bằng nhiều cách Trước hết nó cho phép doanh nghiệp phân bổ dần một số chi phí
vì những chi phí này đóng góp vào thu nhập tạo ra trong tương lai Thứ hai, nó giả sử rằng công ty sẽ trả nợ theo một lịch thanh toán đã sắp đặt chứ không phải ngay lập tức hoặc toàn bộ trong kỳ kế toán hiện hành Do vậy công ty sẽ thanh toán nợ hiện hành trong kỳ kế toán ngắn hạn và nợ dài hạn trong các kỳ kế toán trong tương lai
1.1.5.2 Các khái niệm liên quan đến chất lượng của thông tin kế toán Chất lượng thông tin kế toán phải tin cậy, hữu dụng, nhất quán, có thể so sánh, trọng yếu và thận trọng
♦ Khái niệm tin cậy
Thông tin kế toán có chất lượng tin cậy nếu nó chính xác, khách quan, không bị trình bày sai lệch và theo một ý muốn nào đó Tất cả những thông tin trên báo cáo tài chánh và phần diễn giải phải tin cậy
♦ Khái niệm hữu dụng
Trang 8Hữu dụng có nghĩa là thông tin kế toán có ích, kịp thời và có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng
♦ Khái niệm nhất quán
Nhất quán nghĩa là doanh nghiệp sử dụng cùng những thủ tục và chính sách kế toán trong các báo cáo tài chánh từ một kỳ kế toán này đến các kỳ kế toán sau, trừ phi có một lý do chính đáng để thay đổi chính sách hay thủ tục Một doanh nghiệp vi phạm khái niệm nhất quán nếu họ thay đổi một chính sách kế toán mà không khai báo trong phần thuyết minh báo cáo tài chánh
♦ Khái niệm có thể so sánh được
Tính có thể so sánh được nghĩa là báo cáo tài chánh của một doanh nghiệp cho phép các bên liên quan có thể xác định tính tương đồng và khác biệt trong các thông tin tài chánh trong các kỳ kế toán và giữa các công ty khác nhau Vì lý do này mà các báo cáo tài chánh phải bao gồm dữ liệu của
ít nhất hai kỳ kế toán và theo một biểu mẫu quy định trước Tính nhất quán và có thể so sánh có mối liên quan với nhau vì chúng đều yêu cầu doanh nghiệp sử dụng cùng chính sách kế toán và thủ tục từ kỳ kế toán này sang các kỳ kế toán sau trừ phi có lý do chính đáng để thay đổi
♦ Khái niệm trọng yếu
Khái niệm tính trọng yếu yêu cầu doanh nghiệp khai báo các tất cả thông tin quan trọng trên báo cáo tài chánh Thông tin quan trọng hay trọng yếu là những thông tin mà nếu doanh nghiệp bỏ qua hoặc trình bày sai lệch có thể ảnh hưởng lớn đến quan điểm của người sử dụng báo cáo về doanh nghiệp Tính trọng yếu có hai khía cạnh có liên quan Trước hết, tính trọng yếu yêu cầu doanh nghiệp phải trình bày trong báo cáo tài chánh tất cả những thông tin chủ yếu và quan trọng Thứ hai, tính trọng yếu làm giảm nhẹ doanh nghiệp không phải báo cáo tất cả mọi thứ dường như mỗi thứ đều chứa đựng thông tin quan trọng như nhau Ví dụ trên báo cáo tài chánh của công ty bảo hiểm thì tài sản đầu tư và dự phòng là hai khoản quan trọng và có ý nghĩa chủ yếu nhất
♦ Khái niệm thận trọng
Về bản chất, kế toán là thận trọng Nguyên tắc này giúp tránh xu hướng của nhiều doanh nghiệp cường điệu các thành công và giảm bớt các thất bại của họ Mục đích của khái niệm thận trọng là nhằm bảo vệ khách
Trang 9hàng, người đầu tư và công chúng và bản thân doanh nghiệp khỏi các các sự kiện chưa lường trước và khỏi các vấn đề nảy sinh từ các quan điểm lạc quan thiếu thận trọng
Trong ngành bảo hiểm nhân thọ, việc vận dụng nguyên tắc thận trọng dẫn đến trích lập dự phòng hợp đồng đủ để bảo vệ cá chủ hợp đồng bảo hiểm và các người thụ hưởng không bị tình trạng tài chánh xấu
1.1.5.3 Các nguyên tắc ghi chép tài khoản
Để đảm bảo một doanh nghiệp duy trì các tài khoản của mình theo các khái niệm liên quan đến chất lượng thông tin vừa mô tả, kế toán đã phát triển các khái niệm đặc thù, nguyên tắc và hướùng dẫn mà tất cả doanh nghiệp phải tuân theo khi ghi chép tài khoản
♦ Nguyên tắc giá phí lịch sử
Nguyên tắc giá phí lịch sử chỉ ra rằng công ty phải trình bày các khoản mục trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh theo chi phí thực tế vào thời điểm mua
♦ Nguyên tắc đơn vị đo lường
Còn gọi là khái niệm đơn vị tiền tệ ổn định chỉ ra rằng một doanh nghiệp phải ghi nhận số tiền liên quan với nghiệp vụ kinh doanh dưới hình thức tiền tệ Có hai giả thiết liên quan đến khái niệm đơn vị tiền tệ:
- Đơn vị đo lường thích hợp của các nghiệp vụ kinh doanh là tiền
- Giá trị của đơn vị đo lường ổn định qua thời gian
Các doanh nghiệp chỉ trình bày trên báo cáo tài chánh những nghiệp vụ có thể thể hiện dưới hình thức tiền tệ
♦ Nguyên tắc khai báo đầy đủ
Nguyên tắc khai báo đầy đủ chỉ ra rằng các báo cáo tài chánh phải chứa đựng tất cả thông tin trọng yếu về một doanh nghiệp và doanh nghiệp phải khai báo bất kỳ thông tin hay sự kiện bổ sung nào mà nếu thiếu, có thể làm cho người sử dụng báo cáo ra quyết định sai Nguyên tắc khai báo đầy đủ ngụ ý bao gồm tất cả khoản mục trọng yếu, hữu ích, tin cậy và có thể so sánh cũng như có thể hiểu được để cung cấp cho người đọc báo cáo một sự trình bày hợp lý về các báo cáo tài chánh của doanh nghiệp Tuy nhiên, nguyên tắc khai báo đầy đủ không đòi hỏi sự liệt kê chi tiết thái quá
♦ Nguyên tắc phân kỳ kế toán
Trang 10Nguyên tắc này chỉ ra rằng các báo cáo tài chánh của doanh nghiệp nên trình bày hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một giai đoạn thời gian xác định Giai đoạn thời gian này còn gọi là kỳ kế toán là một khoảng thời gian xác định trong đó các nghiệp vụ kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép, tổng hợp và báo cáo Kỳ kế toán thông thường là một tháng, một quý và một năm Chế độ kế toán Việt Nam xác định kỳ kế toán theo năm dương lịch từ 1/1-31/12 Các công ty bảo hiểm cũng chọn kỳ kế toán theo năm dương lịch
♦ Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí
Trong thuật ngữ kế toán, ghi nhận là quá trình phân loại một khoản mục trong báo cáo tài chánh như một tài sản, khoản phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí Nói chung, một doanh nghiệp ghi nhận doanh thu khi bán sản phẩm, khi hoàn thoành một dịch vụ hoặc khi tiền được trao tay như là một phần của nghiệp vụ kinh doanh Để một khoản mục được ghi nhận, khoản mục đó phải là:
- Một trong các yếu tố kế toán, bao gồm loại tài khoản như tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí
- Có thể đo lường được, nghĩa là khoản mục đó phải đo lường được bằng một vài phương pháp
- Hữu dụng tức là thông tin phải có ích, kịp thời và có thể ảnh hưởng quyết định của các bên liên quan
- Tin cậy nghĩa là thông tin được cung cấp tượng trưng cho giao dịch của doanh nghiệp một cách khách quan và hợp lý và các thông tin không có sai sót hoặc có chủ đích
Ghi nhận doanh thu và nguyên tắc ghi nhận
Nguyên tắc ghi nhận doanh thu chỉ ra rằng một doanh nghiệp ghi nhận doanh thu khi được hưởng Nói chung, doanh thu được hưởng vào thời điểm dịch vụ được giao hoặc khi hàng hoá chuyển từ sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp sang quyền sở hữu hợp pháp của của khách hàng Công ty bảo hiểm nhân thọ ghi nhận doanh thu khi cung cấp dịch vụ bảo hiểm Nguyên tắc ghi nhận doanh thu yêu cầu doanh nghiệp ghi nhận doanh thu trong kỳ kế toán khi được hưởng bất kể là tiền có được trao tay hay không
Trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, nguyên tắc ghi nhận doanh thu áp dụng chủ yếu cho thu nhận phí bảo hiểm Các công ty bảo hiểm nhân thọ
Trang 11ghi nhận doanh thu khi họ được hưởng theo kỳ thanh toán phí bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm
Ghi nhận chi phí và nguyên tắc phù hợp
Trong lúc nguyên tắc ghi nhận chi phối việc ghi nhận doanh thu thì nguyên tắc phù hợp chi phối việc ghi nhận chi phí Nguyên tắc phù hợp chỉ
ra rằng một doanh nghiệp sẽ ghi nhận chi phí khi doanh nghiệp hưởng doanh thu liên quan đến các chi phí đó bất kể là khi nào doanh nghiệp nhận được tiền cho khoản doanh thu được hưởng
Doanh nghiệp cũng phải cân xứng các khoản chi phí tương ứng với doanh thu trong kỳ kế toán thích hợp Nguyên tắc ghi nhận và nguyên tắc phù hợp hoạt động theo thứ tự cái trước cái sau Trước hết, doanh nghiệp báo cáo doanh thu theo nguyên tắc ghi nhận Kế đến, doanh nghiệp xác định, đo lường và kết hợp chi phí được yêu cầu để tạo ra doanh thu đó Khi ấy doanh nghiệp ghi nhận chi phí theo nguyên tắc phù hợp Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí có liên quan không có nghĩa là số tiền doanh thu và chi phí phải bằng nhau Có 3 cách ghi nhận chi phí được cho phép rộng rãi:
- Liên kết giữa nguyên nhân và kết quả
- Phân bổ hợp lý và có hệ thống
- Ghi nhận ngay lập tức
1.1.6 Báo cáo tài chánh
1.1.6.1 Bảng cân đối kế toán
Là báo cáo trình bày tình hình tài chánh của một doanh nghiệp vào một ngày cụ thể Ba bộ phận quan trọng nhất của bảng cân đối kế toán là: Tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Bảng cân đối kế toán tổng hợp tài sản mà doanh nghiệp đang sở hữu, nghĩa vụ phải trả, vốn chủ sở hữu vào một ngày cụ thể Trên bảng cân đối, giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm phải bằng các khoản phải trả cộng với vốn chủ sở hữu Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chánh cơ bản để xác định sức mạnh tài chánh của doanh nghiệp Trên bảng cân đối kế toán của công ty bảo hiểm có một vài khoản mục mà chỉ công ty bảo hiểm mới có như khoản phải trả quyền lợi bảo hiểm trong tương lai
Bảng cân đối kế toán là cơ sở của kế toán vì nó minh hoạ việc đáp ứng của doanh nghiệp đối với phương trình kế toán căn bản
Tài sản = Nợ phải trả+Vốn chủ sở hữu
Trang 12Mục đích chính của bảng cân đối kế toán là để đo lường khả năng tài chánh của doanh nghiệp ở một thời gian xác định, xác định cái còn lại sau khi trừ đi cái mà doanh nghiệp nợ ra khỏi cái mà doanh nghiệp đang sở hữu Nhớ rằng các báo cáo tài chánh phải tập trung vào vấn đề tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp Do vậy, bảng cân đối kế toán phải trả lời các câu hỏi chung: Vào một ngày xác định, doanh nghiệp sở hữu cái gì và bao nhiêu, doanh nghiệp đang nợ những khoản nào và bao nhiêu tiền và phần còn lại của vốn chủ sở hữu là bao nhiêu
a Tài sản
Là loại tài khoản đầu tiên trên bảng cân đối kế toán Đó là các tài sản có giá trị định sẵn sở hữu bởi doanh nghiệp Tài sản có thể là hữu hình như nhà cửa, thiết bị văn phòng hoặc vô hình như trái phiếu và cổ phiếu Số tiền phải thu khách hàng và tạm ứng cũng là tài sản Đối với một công ty bảo hiểm nhân thọ, một phần lớn của cải mà nó đang nắm giữ (tài sản) là bao gồm nhiều khoản đầu tư khác nhau, điển hình gồm:
Tiền
Trái phiếu
Cổ phiếu
Cho vay có thế chấp
Bất động sản
Các công ty không phải bảo hiểm thường liệt kê tài sản trên bảng cân đối kế toán theo tính thanh khoản, tức khả năng chuyển thành tiền mặt của tài sản Tài sản lưu động là tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp hy vọng chuyển thành tiền mặt hoặc sử dụng hết trong kỳ kế toán hiện hành, thường là một năm Tài sản dài hạn, mặt khác, là những tài sản mà công ty dự định giữ lại trong một thời gian dài để tạo thu nhập Tài sản dài hạn gồm bất động sản, thiết bị, máy móc…Các công ty bảo hiểm thông thường ít khi liệt kê tài sản theo tính thanh khoản mà họ liệt kê tài sản đầu tư trước bao gồm trái phiếu, cổ phiếu, và bất động sản, cho vay thế chấp rồi kế tiếp là tiền, các tài sản ngắn hạn khác rồi cuối cùng là tài sản dài hạn
b Các khoản phải trả
Là loại khoản mục thứ hai trên bảng cân đối kế toán, đó là khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả hiện hành và trong tương lai Nợ phải trả tượng trưng cho một đòi hỏi đối với tài sản của công ty xuất phát từ các cam
Trang 13kết bằng tiền mà ban quản lý doanh nghiệp thực hiện Phần lớn nghĩa vụ phải trả của công ty bảo hiểm là các quyền lợi bảo hiểm trong tương lai phải trả cho khách hàng Khi xem xét một danh sách các tài sản của một doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán, đó là những cái mà ban quản lý doanh nghiệp mua được từ các nguồn tài trợ của người cung cấp, chủ hợp đồng bảo hiểm và chủ sở hữu Các khoản nợ phải trả điển hình của một công ty bảo hiểm là:
Dự phòng hợp đồng
Dự phòng bồi thường
Phí bảo hiểm ứng trước
Tiền bồi thường chưa thanh toán
Phải trả người cung cấp
Hoa hồng đại lý phải trả…
Một công ty bảo hiểm phải có số tài sản đủ để đáp ứng các nghĩa vụ phải trả Phần lớn các nghĩa vụ phải trả là tiền bồi thường thực tế và ước tính của chủ hợp đồng bảo hiểm và người thụ hưởng
Cũng như tài sản, trình tự trình bày các khoản nợ phải trả cũng khác giữa các doanh nghiệp không phải bảo hiểm và công ty bảo hiểm
Các doanh nghiệp không phải bảo hiểm thông thường liệt kê các khoản phải trả theo thời gian đáo hạn, tức là theo trình tự thời gian mà doanh nghiệp phải trả Các khoản nợ phải trả từ một năm trở xuống gọi là nợ ngắn hạn Các khoản nợ không phải trả trong kỳ kế toán hiện hành là nợ dài hạn
Công ty bảo hiểm thông thường liệt kê các khoản phải trả trên bảng cân đối kế toán theo tác động tài chánh của chúng vào công ty Do vậy các khoản phải trả về quyền lợi bảo hiểm trong tương lai, tượng trưng cho số tiền lớn nhất trong các khoản phải trả của công ty bảo hiểm sẽ xuất hiện trước tiên, kế đến các khoản phải trả ngắn hạn, rồi đến nợ dài hạn và cuối cùng là các khoản phải trả khác
c Vốn chủ sở hữu
Là loại tài khoản thứ ba trên bảng cân đối kế toán Vốn chủ sở hữu là phần tài sản còn lại sau khi trừ đi các khoản phải trả
Vốn chủ sở hữu = Tài sản-Các khoản phải trả
Trang 141.1.6.2 Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
Là báo cáo về các khoản lãi/lỗ trong một kỳ kế toán bằng cách tổng hợp doanh thu và chi phí của doanh nghiệp trong kỳ đó Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho thấy bao nhiêu tiền doanh nghiệp đã thu được từ hoạt động trong một kỳ kế toán và cuối cùng là mức độ mà các hoạt động chung của doanh nghiệp dẫn đến việc tăng hoặc giảm tài sản Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trả lời câu hỏi: Liệu doanh thu có vượt chi phí không? Nếu có, doanh nghiệp có được thu nhập thuần Thu nhập thuần là phần là phần tổng doanh thu vượt tổng chi phí Khi tổng chi phí vượt tổng doanh thu, kết quả là lỗ thuần, do vậy công thức cơ bản của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là:
Doanh thu - chi phí=Thu nhập (lỗ) thuần
Không giống như bảng cân đối kế toán, tượng trưng cho tình hình tài chánh của một doanh nghiệp vào một ngày xác định, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh tượng trưng cho doanh thu mà doanh nghiệp được hưởng và chi phí phát sinh trong kỳ kế toán thường là một năm, quý hoặc tháng Do đó trên bảng cân đối kế toán, ngày báo cáo là ngày cụ thể ví dụ như 31/12 còn trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh ngày báo cáo là một kỳ kế toán cụ thể ví dụ : Cho năm tài chánh kết thúc vào ngày 31/12
a Doanh thu
Là nhóm tài khoản đầu tiên trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, tượng trưng cho số tiền hưởng từ việc bán sản phẩm và dịch vụ của công ty cho khách hàng Doanh thu của một công ty bảo hiểm thông thường gồm:
Phí bảo hiểm
Thu nhập đầu tư
Phí bảo hiểm là doanh thu tạo ra từ bán hợp đồng bảo hiểm Doanh thu làm tăng tài sản, ví dụ khi một chủ hợp đồng bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm thì nghiệp vụ này không chỉ tăng tài khoản doanh thu mà còn cả tài khoản tiền của công ty bảo hiểm
c Chi phí
Nhóm tài khoản lớn thứ hai trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh là chi phí Chi phí là giá trị của một hay nhiều tài sản mà một doanh nghiệp sử dụng để nhận một lợi ích hoặc một dịch vụ Chi phí là một phần
Trang 15cần thiết của hoạt động kinh doanh vì doanh nghiệp không thể tạo doanh thu mà không phát sinh chi phí Không giống như doanh thu, chi phí làm giảm tài sản Chi phí điển hình của một công ty bảo hiểm nhân thọ là:
Quyền lợi bảo hiểm
Chi phí bán hàng
Chi phí hoạt động
Chi phí đầu tư
Các công ty bảo hiểm thông thường liệt kê chi phí theo lý do phát sinh chi phí Ví dụ: các chi phí liên quan đến quyền lợi bảo hiểm gồm niên kim, giá trị giải ước, tiền bồi thường tử vong…Tất cả chi phí này được phản ánh vào các tài khoản khác nhau Hoa hồng đại lý là chi phí bán hàng quan trọng và lớn đến nỗi mà các công ty bảo hiểm phải liệt kê thành một khoản mục riêng trên báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Chỉ có chi phí quyền lợi bảo hiểm và hoa hồng đại lý là duy nhất cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn các chi phí quản lý khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh bình thường để tạo doanh thu
Ngoài ra, công ty bảo hiểm phải khai báo lãi/lỗ từ các hoạt động bất thường Hoạt động bất thường là giao dịch không phải hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp như thanh lý tài sản, thu nhập từ bồi thường… Công
ty bảo hiểm phải trình bày thu nhập từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư khác với hoạt động bất thường để tránh trình bày sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh từ đó giúp nhận thức được xu hướng về hiệu quả hoạt động của công ty, tức khả năng của công ty quản lý mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí Các khoản lãi/lỗ bất thường không được ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh chính của công ty để tránh các bên có lợi ích liên quan hiểu sai lệch thông tin tài chánh của công ty
Chúng ta có thể mở rộng công thức cơ bản
Doanh thu-chi phí+thu nhập bất thường –chi phí bất thường
Thu nhập ròng cuối cùng xác định liệu vốn chủ sở hữu có gia tăng hay không, liệu công ty có lợi nhuận và có thể tồn tại hay không
1.1.6.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo tài chánh quan trọng thứ ba là báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo này cung cấp thông tin về dòng tiền thu về của doanh nghiệp và dòng tiền chi ra trong một kỳ kế toán cụ thể
Trang 16Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đối chiếu số tiền mà doanh nghiệp có vào đầu kỳ và số tiền có vào cuối kỳ Khi cung cấp thông tin về lưu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp, báo cáo này cũng cung cấp một hiểu biết sâu sắc về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chánh
Giống như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một công cụ đo lường động cho thấy một sự thay đổi qua thời gian Thực chất, báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một sự sắp xếp lại các thay đổi đã xảy ra giữa bảng cân dối kế toán kỳ trước và kỳ này Tầm quan trọng của dòng lưu chuyển tiền dương không thể được quá nhấn mạnh Một doanh nghiệp có thể có hàng ngàn tỷ đồng nhưng nó không thể có đủ tiền để trong tay để chi trả các chi phí, khi đó doanh nghiệp không thể thanh toán các hoá đơn và nợ phải trả đến hạn Một công ty bảo hiểm nghèo tiền mặt có thể bán trái phiếu và chứng khoán trong một vài ngày trong khi bất động sản thì
ít có tính thanh khoản và thường mất nhiều thời gian để bán Tuy nhiên công
ty bảo hiểm khi buộc phải bán tài sản để hổ trợ cho các hoạt động liên tục của mình có thể gặp lỗ khi bán trong phần lớn các trường hợp Mặt khác có quá nhiều tiền trong tay, có thể khiến cho nhà đầu tư, chủ hợp đồng bảo hiểm quan ngại tiền nhàn rỗi không được sử dụng có hiệu quả Quản lý dòng tiền có hiệu quả là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban quản lý
Doanh nghiệp chuẩn bị báo cáo tài chánh từ các thông tin thu được từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Trong thuật ngữ kế toán, dòng tiền vào là nguồn quỹ Dòng tiền ra là sử dụng nguồn quỹ, Việc chi tiền để mua trái phiếu là sử dụng nguồn quỹ
Xét về khía cạnh bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, nguồn tiền gia tăng là do:
Giảm tài khoản tài sản (Bán tài sản thu tiền)
Gia tăng khoản phải trả (Vay tiền)
Gia tăng vốn chủ sở hữu (Phát hành cổ phiếu, vốn góp)
Nhận doanh thu (bán bảo hiểm)
Thu nhập thuần
Trang 17Dòng tiền ra có ảnh hưởng ngược lại trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Dòng tiền ra là do sự gia tăng kết quả của:
Tăng tài khoản tài sản (Mua tài sản)
Giảm tài khoản phải trả (trả nợ vay)
Giảm vốn chủ sở hữu (Rút vốn, mua lại cổ phiếu)
Thanh toán chi phí
Nguồn quỹ-sử dụng quỹ = Thay đổi tiền thuần
Các thay đổi dòng tiền của một doanh nghiệp xảy ra là kết quả của ba hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chánh
a Hoạt động kinh doanh
Là những hoạt động liên quan đến các ngành kinh doanh chính của doanh nghiệp và bao gồm các giao dịch trực tiếp xác định thu nhập thuần của doanh nghiệp Các hoạt động kinh doanh của công ty bảo hiểm thông thường liên quan đến việc bán và duy trì các sản phẩm bảo hiểm Các hoạt động này bao gồm:
Bán sản phẩm bảo hiểm
Thanh toán bồi thường
Nhận thu nhập đầu tư
Tăng và giảm các khoản phải trả liên quan đến quyền lợi bảo hiểm
Thanh toán các chi phí hoạt động
b Các hoạt động đầu tư
Là các giao dịch liên quan đến việc mua và bán tài sản dài hạn, cho vay tiền Hoạt động đầu tư của công ty bảo hiểm bao gồm:
Mua và bán trái phiếu, cổ phiếu, cho vay cầm cố, bất động sản, tài sản cố định
Cho vay và thu tiền gốc và lãi vay
c Các hoạt động tài trợ
Trang 18Là các nghiệp vụ liên quan đến việc vay tiền, nhận và thanh toán tiền từ chủ sở hữu: Các hoạt động tài trợ bao gồm các giao dịch có liên quan đến:
Phát hành, mua lại cổ phiếu của chính doanh nghiệp
Trả cổ tức cho cổ đông
Vay và trả tiền cho chủ nợ
Nếu bất kỳ hoạt động nào trong ba hoạt động trên có dòng tiền vào lớn hơn dòng ttiền ra thì hoạt động đó cung cấp dòng tiền thuần dương cho dòng tiền thuần toàn bộ doanh nghiệp, ngược lại, thì hoạt động đó sử dụng một phần ngân quỹ của doanh nghiệp
Việc phân biệt dòng tiền từ ba hoạt động kinh doanh, đầu tư, và tài trợ là điều quan trọng khi doanh nghiệp chuẩn bị báo cáo lưu chuyển tiền tệ Doanh nghiệp sử dụng một trong hai phương pháp: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp để lập báo cáo Sự khác biệt duy nhất giữa hai phương pháp là trong việc tính toán dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài trợ đều tính toán như nhau trong hai phương pháp
Tính toán dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Khi sử dụng phương pháp trực tiếp để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ , doanh nghiệp xác định dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh bằng cách lấy các loại dòng tiền vào chủ yếu và trừ đi mỗi loại chi tiêu tiền chủ yếu Sự khác biệt giửa dòng tiền thu vào và dòng tiền chi ra là dòng tiền thuần trong kỳ Phương pháp trực tiếp tốn kém thời gian và công sức để theo dõi từng nghiệp vụ đặc biệt ở các doanh nghiệp lớùn
Phương pháp gián tiếp bắt đầu bằng số liệu thu nhập thuần được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sau đó đối chiếu số tiền này với dòng tiền trong hoạt động kinh doanh thông qua một chuỗi cộng và trừ Phương pháp này ít tốn kém thời gian và công sức và dễ dàng hơn phương pháp trực tiếp
Trang 19Loại hoạt động Các nghiệp vụ tạo dòng
tiền vào
Các nghiệp vụ tạo dòng tiền ra
Hoạt động kinh doanh ♦ Bán hàng hoá dịch vụ
cho khách hàng, thu tiền mặt
♦ Nhận lãi trái phiếu và cổ tức
♦ Tăng nợ phải trả
♦ Trả lương cho nhân viên và thanh toán hàng hoá, lao vụ mua của người cung cấp
♦ Giảm nợ phải trả
♦ Tiền nộp thuế cho ngân sách nhà nước
♦ Lãi trả cho trái phiếu phát hành
Hoạt động đầu tư ♦ Bán trái phiếu, thu cho
vay cầm cố, bán cổ phiếu, bất động sản và tài sản cố định khác
♦ Nhận tiền gốc và lãi trên khoản vay hoàn trả
♦ Mua trái phiếu, cho vay cầm cố, cổ phiếu, bất động sản và tài sản cố định
♦ Cổ tức trả cho cổ đông
♦ Trả vốn và lãi trên trái phiếu phát hành, tiền vay, giấy nợ và các khoản nợ khác
Các báo cáo tài chánh của một doanh nghiệp là một thể thống nhất, có nghĩa là chúng có quan hệ, giải thích và bổ sung cho nhau
1.2 Bản chất của bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Khái quát sự phát triển bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam chỉ mới được phát triển trong những năm gần đây Năm 1996, Bảo Việt đã đưa ra thị trường những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, nổi bật nhất là sản phẩm An Sinh Giáo Dục Tuy nhiên thị trường bảo hiểm nhân thọ chỉ thực sự sôi động khi nhà nước mở cửa thị trường, cấp phép cho bốn công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài vào kinh doanh trong nước vào cuối năm 1999 và đầu năm 2000 Các công ty bảo hiểm nước ngoài với sức mạnh tài chánh hùng hậu, uy tín trên thị trường thế giới và tính chuyên nghiệp cao đã thúc đẩy sự phát triển và cạnh tranh
Trang 20gay gắt về mọi mặt trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, đồng thời người tiêu dùng cũng ngày càng có lợi hơn khi tham gia bảo hiểm Tính đến cuối năm
2000, cả nước có 5 công ty bảo hiểm nhân thọ gồm:
Doanh nghiệp nhà nước: Bảo Việt
Công ty liên doanh : Bảo Minh-CMG
Công ty 100 % vốn nước ngoài: Chinfon Manulife, Prudential và AIA
Do ngành bảo hiểm nhân thọ ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người, nhiều doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ cho nên các nước trên thế giới và kể cả ở nước ta dù mới phát triển dịch vụ này sau này đều rất chú trọng xây dụng luật lệ bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ kế toán nói riêng để tối
đa hoá lợi ích của bảo hiểm cho mọi người
1.2.2 Bản chất nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
1.2.2.1 Các khái niệm cơ bản trong bảo hiểm nhân thọ
ª Người yêu cầu bảo hiểm hay người mua bảo hiểm là cá nhân hoặc doanh nghiệp giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Khi một hợp đồng được phát hành, cá nhân hoặc doanh nghiệp đó sở hữu hợp đồng bảo hiểm gọi là chủ hợp đồng bảo hiểm Người yêu cầu bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng
ª Người được bảo hiểm là người mà cuộc sống hay sức khoẻ của họ được bảo hiểm theo hợp đồng Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng
ª Người thụ hưởng là người hoặc tổ chức được chỉ định để nhận quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng
ª Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì công ty bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
ª Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho công ty bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
ª Số tiền bảo hiểm hoặc phương thức xác định số tiền bảo hiểm được bên mua bảo hiểm và công ty bảo hiểm thoả thuận trong hợp đồng
Trang 21bảo hiểm
1.2.2.2 Giới thiệu các sản phẩm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ
a Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ
Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ cung cấp quyền lợi bảo hiểm trong một giai đoạn thời gian xác định Công ty bảo hiểm chỉ thanh toán quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng nếu khi người được bảo hiểm chết trong thời gian quy định và hợp đồng còn hiệu lực khi người được bảo hiểm chết Nếu người được bảo hiểm còn sống cho đến khi kết thúc thời hạn định trước, hợp đồng cho phép chủ hợp đồng quyền tiếp tục được bảo hiểm Nếu chủ hợp đồng không tiếp tục bảo hiểm, khi ấy hợp đồng chấm dứt và công ty bảo hiểm không có trách nhiệm bảo hiểm nữa
b Bảo hiểm nhân thọ trọn đời
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời cung cấp bảo hiểm trong suốt cuộc đời của người được bảo hiểm khi phí bảo hiểm tái tục được trả theo hợp đồng
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời chứa đựng yếu tố tiết kiệm gọi là giá trị tiền mặt của hợp đồng Một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời bao gồm một biểu đồ minh hoạ cách thức giá trị tiền mặt gia tăng theo thời gian Nếu
vì lý do nào đó hợp đồng mất hiệu lực trước khi người được bảo hiểm chết, công ty bảo hiểm đồng ý hoàn trả giá trị tiền mặt cho người chủ hợp đồng sau khi trừ đi chi phí từ bỏ hợp đồng và các khoản vay theo hợp đồng còn nợ Người chủ hợp đồng có quyền từ bỏ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời để nhận giá trị tiền mặt trong suốt cuộc đời của người đuợc bảo hiểm, số giá trị tiền mặt mà người chủ hợp đồng được quyền nhận khi từ bỏ hợp đồng gọi là giá trị tiền mặt giải ước hoặc giá trị giải ước
Giá trị tiền mặt của hợp đồng tượng trưng cho quyền sở hữu của chủ hợp đồng đối với hợp đồng Do đó, bất kỳ bảo hiểm nhân thọ trọn đời có tích lũy giá trị tiền mặt đều có thể được sử dụng như vật thế chấp cho khoản vay Người chủ hợp đồng có thể vay, gọi là khoản vay trước thời hạn từ công ty bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng có thể sử dụng giá trị tiền mặt để làm khoản ký quỹ cho khoản vay từ các tổ chức tài chánh khác Tuy nhiên nếu người được bảo hiểm chết trước khi khoản vay trước thời hạn được hoàn lại, thì số tiền vay chưa hoàn trả cộng với lãi suất chưa trả sẽ bị khấu trừ khỏi số tiền bảo hiểm mà người thụ hưởng được nhận
Trang 22c Bảo hiểm hỗn hợp
Bảo hiểm hỗn hợp chia sẻ các đặc tính của bảo hiểm nhân thọ tử kỳ và bảo hiểm nhân thọ trọn đời
♦ Hợp đồng bảo hiểm quy định thời gian đáo hạn của hợp đồng tương tự như bảo hiểm tử kỳ, đó là khoảng thời gian mà nếu người được bảo hiểm chết thì công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
♦ Giống như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm hỗn hợp tích lũy đều đặn giá trị tiền mặt và nếu người được bảo hiểm còn sống tới ngày đáo hạn hợp đồng thì công ty bảo hiểm sẽ thanh toán số tiền bảo hiểm cho chủ hợp đồng bảo hiểm
d Bảo hiểm niên kim
♦ Bảo hiểm niên kim hay bảo hiểm trả tiền định kỳ là sản phẩm theo đó công ty bảo hiểm hứa thanh toán một chuỗi các khoản tiền bảo hiểm định kỳ sau khi người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định Chủ hợp đồng bảo hiểm có thể thanh toán phí bảo hiểm hết một lần hoặc thanh toán nhiều đợt cho công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm huy động tiền từ các chủ hợp đồng bảo hiểm niên kim và đầu tư số tiền này Công ty bảo hiểm dùng tiền huy động và thu nhập đầu tư để thanh toán tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng khi đến hạn
1.2.2.3 Các sản phẩm bổ sung trong bảo hiểm nhân thọ
♦ Quyền lợi từ bỏ thu phí bảo hiểm
Là một trong những sản phẩm bổ sung quan trọng nhất theo đó các công ty bảo hiểm cam kết từ bỏ quyền thu phí bảo hiểm tái tục đến hạn khi người được bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng bảo hiểm bị thương tật toàn bộ Phí bảo hiểm được từ bỏ thực chất do công ty bảo hiểm trả
♦ Quyền lợi thu nhập do thương tật
Cung cấp thu nhập hàng tháng cho chủ hợp đồng hoặc người được bảo hiểm nếu như họ bị thương tật toàn bộ khi hợp đồng còn hiệu lực Thông thường số tiền thu nhập hàng tháng được ghi rõ trước trong hợp đồng
Trang 23♦ Quyền lợi được bồi thường tiền bảo hiểm khi bị tai nạn
Hai loại quyền lợi bồi thưòng khi bị tai nạn phổ biến nhất là quyền lợi tử vong do tai nạn cá nhân và quyền lợi bị cụt chi
♦ Quyền được mua thêm mệnh giá bảo hiểm
Cho phép chủ hợp đồng mua thêm mệnh giá bảo hiểm với phí bảo hiểm được trả hết một lần mà không cần cung cấp chứng cứ về khả năng có thể bảo hiểm của người được bảo hiểm và như vậy làm gia tăng số tiền bảo hiểm theo hợp đồng chính
1.2.2.4 Tính phí bảo hiểm nhân thọ
Để có đủ tiền thanh toán các quyền lợi bảo hiểm khi đến hạn, công ty bảo hiểm nhân thọ phải xác định mức phí bảo hiểm mà công ty phải thu cho
các hợp đồng bảo hiểm được phát hành Xây dựng bảng phí bảo hiểm là chức năng của bộ phận định phí bảo hiểm
a Giới thiệu phương pháp dự phòng bắt buộc
Sau nhiều năm phát triển các phương pháp tính phí bảo hiểm, ngày nay các công ty bảo hiểm trên thế giới đều tính toán phí bảo hiểm bằng việc sử dụng phương pháp dự phòng bắt buộc dựa trên những tiền đề giả thiết sau:
♦ Số tiền phải trả cho quyền lợi tử vong trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phải được định rõ và tính toán trước khi người được bảo hiểm chết
♦ Số tiền trả cho quyền lợi tử vong phải được thu trước để mà các công
ty bảo hiểm có đủ quỹ trả cho các khiếu nại bồi thường và chi phí khi xảy ra
♦ Số phí bảo hiểm mà một cá nhân trả cho một hợp đồng bảo hiểm phải có mối liên hệ trực tiếp với lượng rủi ro mà một công ty bảo hiểm gánh lấy
Để tính toán biểu phí bảo hiểm, phương pháp dự phòng bắt buộc phải dựa trên những yêu cầu luật pháp do nhà nước quy định bắt buộc cho các công ty bảo hiểm khi lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm là khoản nợ phải trả mà nó tượng trưng cho số tiền công ty bảo hiểm ước tính cần để trả cho các quyền lợi bảo hiểm đáo hạn trong tương lai Các công ty bảo hiểm phải duy trì một lượng tài sản lớn hơn dự phòng để có đủ thanh toán tiền bảo hiểm khi đến hạn Dựa trên các quy định luật
Trang 24pháp bắt buộc về dự phòng, các công ty bảo hiểm xây dựng biểu phí bảo hiểm nhằm đảm bảo phí bảo hiểm thu được trong tương lai cho các hợp đồng được phát hành sẽ đáp ứng yêu cầu về dự phòng tức các nghĩa vụ phải trả trong tương lai
b Các yếu tố ảnh hưởng đến tính toán tỷ lệ phí bảo hiểm
Các định phí viên bảo hiểm xem xét nhiều yếu tố khi họ thực hiện các phép tính cần thiết để xây dựng biểu phí thích đáng và công bằng Biểu phí phải thích đáng để công ty có đủ tiền thanh toán quyền lợi bảo hiểm Biểu phí phải công bằng để phí bảo hiểm mà mỗi chủ hợp đồng bảo hiểm trả phải ánh đúng rủi ro mà công ty gánh lấy khi cung cấp bảo hiểm Sau đây là những yếu tố được sử dụng trong tính toán phí bảo hiểm:
♦ Tỷ lệ tử vong
Để tính phí cho các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, các công ty bảo hiểm phải dự đoán xấp xỉ số tử vong và số tiền bồi thường sẽ xảy ra hàng năm trong một nhóm người được bảo hiểm cho trước
Lưu ý rằng các định phí viên bảo hiểm quan tâm đến việc ước tính số tử vong sẽ xảy ra trong một nhóm người được bảo hiểm cho trước gọi là một số đông được bảo hiểm chứ không phải là dự đoán cá nhân nào được bảo hiểm sẽ chết Do đó tất cả tính toán cho hợp đồng bảo hiểm cũng là tính trên một mẫu số đông hợp đồng
Trong phần lớn các trường hợp, các công ty bảo hiểm tính toán phí bảo hiểm cho một mẫu số đông hợp đồng trên một 1000 đồng tiền bảo hiểm nhân thọ Kết quả là tỷ lệ phí thường thể hiện bằng tỷ lệ phần ngàn
Nhìn chung, một nhóm được bảo hiểm càng có tỷ lệ tử vong cao, thì tỷ lệ phí bảo hiểm sẽ càng cao
♦ Thu nhập đầu tư
Yếu tố thứ hai các công ty bảo hiểm xem xét đến khi xây dựng bảng phí bảo hiểm là thu nhập đầu tư của họ-số tiền mà các công ty bảo hiểm thu được do đầu tư phí bảo hiểm Phí bảo hiểm là nguồn quỹ chủ yếu sử dụng để trả tiền bồi thường bảo hiểm Vì phần lớn thời gian các hợp đồng bảo hiểm kéo dài nhiều năm trước khi tiền bảo hiểm được thanh toán nên các công ty bảo hiểm có nguồn tiền nhàn rỗi để đem đi đầu tư Thu nhập từ đầu
tư cung cấp nguồn quỹ bổ sung cho phép các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm thấp hơn là nếu họ chỉ trông chờ vào nguồn thu từ phí bảo hiểm
Trang 25♦ Chi phí hoạt động
Khi tính phí bảo hiểm, công ty bảo hiểm cũng xem xét chi phí hoạt động của họ như tiền hoa hồng đại lý, chi phí bán hàng, chi phí hệ thống thông tin, lương nhân viên và chi phí bảo trì văn phòng Công ty bảo hiểm phải cộng thêm một số tiền vào phí bảo hiểm thuần để bù đắp các chi phí hoạt động trên và đảm bảo một khoản lợi nhuận cho công ty
Trên đây là ba yếu tố mà các công ty bảo hiểm phải xem xét khi tính phí bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Tỷ lệ tử vong, thu nhập đầu
tư và chi phí hoạt động Phí bảo hiểm thu từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ phải bao gồm 3 yếu tố này mặc dù cách thức mà các công ty bảo hiểm trình bày thay đổi tùy theo loại hợp đồng
c Sự thay đổi các yếu tố tính phí bảo hiểm trong thực tế
Chúng ta đã mô tả các yếu tố mà các công ty bảo hiểm nhân thọ phải xem xét khi tính phí bảo hiểm Trong phần trên chúng ta gán cho mỗi yếu tố tính phí một giá trị giả định và phí bảo hiểm được tính cho một hợp đồng cụ thể dựa trên các trị số giả định này như tỷ lệ tử vong ước tính cho nhóm độ tuổi của hợp đồng đó, lãi suất đầu tư ước tính và chi phí hoạt động dự đoán của công ty bảo hiểm và như vậy quá trình tính phí bảo hiểm được hoàn thành Điều đó trong thực tế không phải bao giờ cũng đúng như vậy
Nhiều loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đưa ra khả năng phí bảo hiểm có thể thay đổi sau khi hợp đồng được phát hành Công ty bảo hiểm chủ yếu sử dụng 2 phương pháp sau để thay đổi phí của hợp đồng sau khi nó được phát hành:
♦ Phương pháp tham gia chia cổ tức
Phí bảo hiểm được giảm bằng cách hoàn trả chủ hợp đồng bảo hiểm một số tiền phí bảo hiểm đã được trả Phí được hoàn gọi là cổ tức hợp đồng
Các hợp đồng bảo hiểm được phát hành dựa trên hai cơ sở tham gia hoặc không tham gia chia cổ tức Một hợp đồng tham gia chia cổ tức là hợp đồng mà theo đó các chủ hợp đồng bảo hiểm tham gia chia sẻ thặng dư có thể được phân phối của công y bảo hiểm Thặng dư của công ty bảo hiểm là phần giá trị tài sản vượt trội các khoản phải trả và vốn chủ sở hữu Thặng
dư là kết quả hoạt động có lãi của công ty bảo hiểm Phần thặng dư có thể phân chia cho các chủ hợp đồng bảo hiểm gọi là cổ tức hợp đồng Cổ tức hợp đồng được xem là phí bảo hiểm hoàn lại
Trang 26Mối quan tâm lớn nhất của các công ty bảo hiểm là đảm bảo đủ tiền để thanh toán các chi phí và khiếu nại bồi thường theo dự tính cũng như bất kỳ khoản bồi thường vượt dự tính và chi phí phát sinh ngoài dự toán Do vậy các công ty bảo hiểm nói chung thận trọng khi đưa ra các giả thiết về tỷ lệ tử vong, thu nhập đầu tư, chi phí và các khoản chi phí phát sinh đột biến Kết quả trong thực tế cho thấy các yếu tố này thường là tốt hơn so với dự đoán Bằng việc phát hành hợp đồng có tham gia chia cổ tức, các công ty bảo hiểm có thể hoàn phí bảo hiểm cho chủ hợp đồng bảo hiểm dưới hình thức cổ tức khi yếu tố thực tế thuận lợi hơn so giả định Mỗi yếu tố tham gia xác định biểu phí bảo hiểm là một nguồn thặng dư tiềm năng Nếu những người được bảo hiểm có tỷ lệ tử vong thấp hơn tỷ lệ công ty dự tính thì sẽ có
ít khiếu nại bồi thường phát sinh hơn Nếu công ty có lãi đầu tư cao hơn dự tính, thì thu nhập đầu tư sẽ lớn hơn mức cần thiết để duy trì khoản dự phòng theo luật định Và nếu công ty chi tiêu chi phí quản lý ít hơn thì sẽ tiết kiệm thêm một khoản tiền từ yếu tố chi phí Công ty bảo hiểm phát hành hợp đồng có tham gia sẽ phân phối một phần thặng dư này cho cho các chủ hợp đồng có tham gia dưới hình thức cổ tức hợp đồng
♦ Phương pháp thay đổi các yếu tố tính phí bảo hiểm
Đây là phương pháp không tham gia chia cổ tức Phương pháp này bao gồm việc thay đổi giá trị của các yếu tố tính phí trong lúc hợp đồng còn hiệu lực và kết quả là thay đổi số tiền tính cho chủ hợp đồng bảo hiểm
Các hợp đồng bảo hiểm phát hành trên cơ sở không tham gia chia cổ tức thường quy định giá trị cao nhất hoặc thấp nhất cho mỗi yếu tố tính phí bảo hiểm Chẳng hạn, các hợp đồng này đảm bảo lãi suất hàng năm tối thiểu 4% Công ty bảo hiểm, tuy nhiên, cũng cam đoan sẽ trả lãi suất cao hơn nếu điều kiện thị trường cho phép công ty thu nhập cao hơn lãi suất dự kiến Khi công ty trả lãi suất cao hơn mức lãi suất đảm bảo, chi phí hợp đồng sẽ giảm xuống Tương tự như vậy, những hợp đồng này cũng quy định tỷ lệ tử vong cao nhất mà công ty bảo hiểm gánh chịu nhưng nếu tỷ lệ thực tế mà công ty gặp phải thấp hơn so với dự kiến công ty sẽ giảm phí hợp đồng
1.2.2.5 Các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Theo định nghĩa trong luật kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm,
Trang 27theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
♦ Điều khoản thời gian cân nhắc
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thông thường bao gồm điều khoản cho phép chủ hợp đồng bảo hiểm có một khoản thời gian nhất định thường là 14 ngày sau khi hợp đồng được chuyển giao và trong thời gian đó chủ hợp đồng có thể điều nghiên hợp đồng Trong thời gian cân nhắc, chủ hợp đồng bảo hiểm có quyền hủy hợp đồng và nhận lại toàn bộ số tiền phí bảo hiểm ban đầu Hợp đồng bảo hiểm vẫn có hiệu lực trong thời gian cân nhắc
♦ Điều khoản mất hiệu lực hợp đồng hợp pháp
Khi một hợp đồng có thể bị mất hiệu lực, một bên trong hợp đồng có quyền không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà không bị trách nhiệm pháp lý Theo luật kinh doanh bảo hiểm, công ty bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng khi bên mua bảo hiểm cố trình bày sai sự thật trên đơn bảo hiểm Việc trình bày sai được coi là trọng yếu khi mà nếu như sự thật được phát hiện, công ty bảo hiểm sẽ không phát hành hợp đồng bảo hiểm hoặc sẽ phát hành hợp đồng bảo hiểm trên cơ sở khác chẳng hạn với mức phí cao hơn hoặc mệnh giá bảo hiểm thấp hơn
♦ Điều khoản thời gian ân hạn
Thời gian ân hạn là khoảng thời gian được quy định mà phí bảo hiểm tái tục tới hạn phải được thanh toán để giữ cho hợp đồng còn hiệu lực Lưu ý là thời gian ân hạn chỉ có đối với phí bảo hiểm tái tục mà không áp dụng cho phí bảo hiểm đầu tiên vì hợp đồng chỉ được phát hành khi phí bảo hiểm đầu tiên được trả Hợp đồng vẫn còn hiệu lực trong suốt thời gian ân hạn, nếu người được bảo hiểm tử vong trong thời gian này thì công ty bảo hiểm vẫn phải thanh toán tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng nhưng khấu trừ số tiền phí bảo hiểm tái tục chưa được trả Nếu phí bảo hiểm tái tục không được trả vào lúc cuối kỳ ân hạn thì hợp đồng bị mất hiệu lực
♦ Điều khoản cho vay trước thời hạn
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có tích lũy giá trị tiền mặt cho phép chủ hợp đồng bảo hiểm có quyền vay tiền từ công ty bảo hiểm bằng cách sử dụng giá trị tiền mặt từ hợp đồng như là vật đảm bảo cho khoản vay Điều khoản vay trước thời hạn cho phép chủ hợp đồng quyền vay một số tiền không vượt quá giá trị tiền mặt thuần của hợp đồng sau khi trừ đi lãi một
Trang 28năm tính trên khoản vay Vay trước thời hạn thông thường là một khoản ứng trước một phần số tiền mà công ty bảo hiểm cuối cùng phải trả theo hợp đồng khi đáo hạn
♦ Điều khoản khôi phục hợp đồng
Khôi phục hợp đồng là quá trình mà công ty bảo hiểm làm cho hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực trở lại mà trước đó bị đình chỉ do không thanh toán phí bảo hiểm tái tục hoặc vẫn tiếp tục nhưng theo phương thức kéo dài thời hạn hợp đồng hoặc giảm tiền bảo hiểm mà không làm mất quyền hợp đồng
♦ Điều khoản khai báo sai tuổi tác hoặc giới tính
Tuổi và giới tính là hai yếu tố quan trọng trong việc tính phí bảo hiểm và việc khai báo sai tuổi và giới tính là một sai sót quan trọng Do đó, điều khoản này qui định rằng nếu tuổi hay giới tính của người được bảo hiểm bị khai báo sai và sai sót này dẫn đến tính phí bảo hiểm không chính xác cho số tiền được bảo hiểm, khi đó công ty bảo hiểm sẽ điều chỉnh số tiền mệnh giá bảo hiểm của hợp đồng về đúng số tiền phí bảo hiểm tương ứng với tuổi hoặc giới tính người được bảo hiểm khi được khai báo đúng
♦ Điều khoản lựa chọn phương thức thanh toán phí bảo hiểm
Phương thức thanh toán phí bảo hiểm theo hợp đồng là tần số mà phí bảo hiểm tái tục được thanh toán Phần lớn công ty bảo hiểm sử dụng phương thức thanh toán hàng năm, nửa năm, hàng quý hoặc hàng tháng
♦ Điều khoản cổ tức theo hợp đồng
Các công ty bảo hiểm khi phát hành hợp đồng bảo hiểm cho phép chủ hợp đồng bảo hiểm có hai lựa chọn: có tham gia chia cổ tức hay không tham gia chia cổ tức Số tiền phải trả cho cổ tức hợp đồng được xác định hàng năm do hội đồng quản trị của công ty bảo hiểm quyết định và chủ hợp đồng được nhận cổ tức vào ngày kỹ niệm hợp đồng Chủ hợp đồng bảo hiểm có thể nhận cổ tức bằng nhiều cách khác nhau và có năm hình thức nhận cổ tức:
- Cổ tức tiền mặt: Công ty bảo hiểm gửi cho chủ hợp đồng bảo hiểm séc thanh toán số tiền cổ tức đã được công bố
- Giảm phí bảo hiểm: Công ty bảo hiểm sẽ cấn trừ cổ tức vào phí bảo hiểm tái tục phải đóng hàng năm
Trang 29- Tích lũy cổ tức để hưởng lãi: Cổ tức sẽ để lại tại công ty bảo hiểm để hưởng lãi
- Mua bổ sung mệnh giá bảo hiểm với phí bảo hiểm được trả hết một lần: Bảo hiểm mua bổ sung với phí bảo hiểm được trả hết ngay sẽ được phát hành cùng loại như hợp đồng gốc và mệnh giá bảo hiểm dựa trên cổ tức được chia và tuổi của người được bảo hiểm đạt được
- Mua bảo hiểm tử kỳ bổ sung: Công ty bảo hiểm sử dụng cổ tức như là phí bảo hiểm để mua bảo hiểm tử kỳ thời hạn một năm cho người được bảo hiểm
♦ Điều khoản duy trì quyền lợi bảo hiểm
Chúng ta biết rằng hợp đồng bảo hiểm tử kỳ chỉ quy định bảo hiểm trong một thời gian xác định và không có giá trị tiền mặt Nếu chủ hợp đồng bảo hiểm ngưng trả phí bảo hiểm tái tục, khi đó hợp đồng mất hiệu lực và các bên hợp đồng không còn nghĩa vụ với nhau Ngược lại, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời và bảo hiểm hỗn hợp ngoài điều khoản bảo hiểm còn tích lũy giá trị tiền mặt Nếu chủ hợp đồng ngưng thanh toán phí bảo hiểm tái tục theo yêu cầu, hợp đồng sẽ mất hiệu lực do không thanh toán phí bảo hiểm nhưng chủ hợp đồng không mất quyền lợi đối với giá trị tiền mặt của hợp đồng Thay vào đó, chủ hợp đồng có thể thực hiện một trong các lựa chọn duy trì quyền lợi của mình đối với giá trị tiền mặt của hợp đồng Các lựa chọn này bao gồm:
- Giá trị tiền mặt giải ước: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ quy định rằng nếu chủ hợp đồng không tiếp tục thanh toán phí bảo hiểm thì có thể giải ước hợp đồng và nhận giá trị tiền mặt giải ước
- Được tiếp tục hợp đồng bảo hiểm: Chủ hợp đồng bảo hiểm được quyền lựa chọn không tiếp tục thanh toán phí bảo hiểm và tiếp tục bảo hiểm với số tiền bảo hiểm giảm xuống hoặc kéo dài thời gian bảo hiểm Khi lựa chọn giảm mệnh giá bảo hiểm thì thực tế giá trị tiền mặt thuần của hợp đồng sẽ được sử dụng như là phí bảo hiểm trả hết một lần để mua bảo hiểm nhân thọ cùng loaị với hợp đồng gốc nhưng có số tiền bảo hiểm nhỏ hơn mệnh giá bảo hiểm của hợp đồng gốc Khi lựa chọn kéo dài thời gian bảo hiểm thì công ty bảo hiểm sử dụng giá trị tiền mặt thuần của hợp đồng để mua bảo hiểm tử kỳ với số tiền bảo hiểm theo
Trang 30hợp đồng gốc và thời hạn dài tới mức giá trị thuần tiền mặt có thể cho phép
- Tự động cho vay để đóng phí bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm thường có điều khoản cho vay đóng phí tự động Điều khoản cho vay đóng phí tự động quy định rằng công ty bảo hiểm sẽ tự động trả phí bảo hiểm quá hạn cho chủ hợp đồng bảo hiểm bằng cách cho vay dựa trên giá trị tiền mặt của hợp đồng khi mà giá trị tiền mặt này tương đương hoặc vượt mức phí bảo hiểm đến hạn trả
♦ Điều khoản loại trừ
Điều khoản loại trừ mô tả các trường hợp mà theo đó công ty bảo hiểm không thanh toán bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết Theo luật kinh doanh bảo hiểm, đó là các trường hợp người được bảo hiểm tự tử chết trong vòng hai năm kể từ ngày nộp phí bảo hiểm đầu tiên; Người được bảo hiểm chết do án tử hình hoặc do chủ hợp đồng bảo hiểm hay người thụ hưởng cố ý gây ra
♦ Điều khoản phương thức nhận tiền bảo hiểm được bồi thường
Tiền bảo hiểm thường được trả trọn gói một lần cho người thụ hưởng sau khi người được bảo hiểm chết Ngoài giải pháp trọn gói, các công ty bảo hiểm còn cung cấp cho các chủ hợp đồng bảo hiểm và người thụ hưởng bốn giải pháp khác nhau để nhận tiền bảo hiểm
- Phương thức ký thác để hưởng lãi: Là phương thức thanh toán mà theo đó các công ty bảo hiểm sẽ đầu tư tiền bảo hiểm được bồi thường và định kỳ trả lãi suất cho người thụ hưởng
- Phương thức cố định thời gian nhận tiền: Là phương thức thanh toán mà theo đó công ty bảo hiểm đồng ý trả tiền bảo hiểm thành nhiều lần với số tiền bằng nhau cho người thụ hưởng trong một giai đoạn thời gian xác định Mỗi lần thanh toán sẽ gồm một phần tiền bảo hiểm và môt phần tiền lãi trên số tiền bảo hiểm
- Phương thức cố định số tiền mỗi lần nhận: Là phương thức thanh toán mà theo đó công ty bảo hiểm thanh toán tiền bảo hiểm thành nhiều đợt với số tiền bằng nhau được định trước cộng với lãi được hưởng cho tới khi số tiền bảo hiểm bằng không
1.2.2.6 Quy trình thanh toán quyền lợi bảo hiểm nhân thọ
♦ Đơn khiếu nại bồi thường
Trang 31Khi được thông báo người được bảo hiểm chết, công ty bảo hiểm sẽ cung cấp đơn bồi thường cho người khiếu nại để điền các thông tin mà công
ty bảo hiểm cần xử lý việc bồi thường
♦ Bằng chứng thiệt hại
Cùng với việc điền đơn bồi thường, người yêu cầu bồi thường còn phải trình công ty bảo hiểm bằng chứng thiệt hại Hay nói cách khác người đòi bồi thường phải xuất trình bằng chứng người được bảo hiểm đã chết Khi đó công ty bảo hiểm bắt đầu thẩm tra
♦ Quá trình thẩm tra khiếu nại bồi thường
Trong việc giải quyết và thanh toán bồi thường, nhân viên xử lý đơn khiếu nại bồi thường sẽ xem xét:
- Tình trạng hợp đồng
- Nhận dạng người được bảo hiểm
- Kiểm tra thiệt hại
- Kiểm tra phạm vi bảo hiểm theo hợp đồng
- Kiểm tra bồi thường quyền lợi tử vong do tai nạn
- Xác định đúng người thụ hưởng
- Xác định số tiền bồi thường tử vong
Nhân viên xử lý bồi thường tính toán số tiền bảo hiểm phải trả bằng cách cộng lại các món phải trả và trừ đi các món phải thu
Các khoản cộng vào gồm:
Tiền bảo hiểm trả cho quyền lợi tử vong cơ bản theo hợp đồng chính
Tiền bảo hiểm trả cho quyền lợi tử vong do tai nạn theo hợp đồng bổ sung
Cổ tức hợp đồng đã công bố nhưng chưa trả
Cổ tức tích lũy để hưởng lãi tính luôn cả lãi được lũy kế
Số tiền bảo hiểm mua bổ sung với phí bảo hiểm đã trả hết một lần
Phí bảo hiểm được chủ hợp đồng tạm ứng để thanh toán cho nhiều kỳ nhưng chưa tới hạn trả
Các khoản bị trừ:
Các khoản vay trước thời hạn nhưng chưa trả
Phí bảo hiểm tới hạn đóng nhưng chưa trả
Trang 32Kết quả cuối cùng việc cộng trừ trên là tổng số tiền bảo hiểm phải trả.Thanh toán tiền bảo hiểm:
- Sơ đồ xác định người thụ hưởng
Sau khi tiền bồi thường được duyệt
Có chỉ định người thụ hưởng không?
Có còn sống không? Thanh toán cho người
thụ hưởng gốc
Có chỉ định người thụ hưởng kế tiếp khác ?
Có còn sống không ? người thụ Trả cho
hưởng kế tiếp
Có chỉ định người thụ hưởng nào
Có còn sống không ?
Trả cho người thụ hưởng kế tiếp thứ hai
Trang 33CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 2.1 Pháp luật kinh doanh bảo hiểm
Trên thế giới, ngành bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng luôn là đối tượng chịu sự quản lý chặt chẽ của luật pháp các nước nhằm bảo vệ lợi ích của đông đão quần chúng Ở nước ta, trước tình hình phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm khi các công ty bảo hiểm nước ngoài được phép tham gia thị trường trong nước, chính phủ sau thời gian chuẩn bị dài đã trình luật kinh doanh bảo hiểm tại kỳ họp thứ 8 của quốc hội khoá 10 và được quốc hội thông qua vào ngày 8 tháng 12 năm 2000
Mục tiêu chính của luật kinh doanh bảo hiểm là nhằm:
♦ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm và các công ty bảo hiểm
♦ Duy trì khả năng thanh toán của các công ty bảo hiểm để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán quyền lợi bảo hiểm
♦ Thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm lành mạnh và hợp pháp Tuy nhiên, để triển khai thực hiện luật, chính phủ đã ban hành hai nghị định: Nghị định số 42/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm và Nghị định số 43/2001/NĐ-CP quy định chế độ tài chánh đối với các doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Đồng thời Bộ Tài Chánh cũng đã ban hành hai thông tư : Thông tư số 71/2001/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 42/2001/NĐ-
CP và thông tư số 72/2001/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 43/2001/NĐ-CP
Sau đây là tóm tắt một số quy định chính liên quan đến hạch toán kế toán và quản lý tài chánh đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ:
♦ Vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là 10 triệu USD hoặc 140 tỷ đồng và doanh nghiệp phải duy trì mức vốn tối thiểu này trong suốt thời gian hoạt động
♦ Dù phßng nghiƯp vơ nh©n thä bao gåm:
a) Dù phßng to¸n häc (dự phòng phí) lμ kho¶n chªnh lƯch gi÷a gi¸ trÞ hiƯn t¹i cđa sè tiỊn b¶o hiĨm vμ gi¸ trÞ hiƯn t¹i cđa phÝ b¶o hiĨm sÏ thu ®−ỵc
Trang 34trong tương lai, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
b) Dự phòng phí chưa được hưởng áp dụng đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn dưới một năm, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm tiếp theo; c) Dự phòng bồi thường, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm nhưng đến cuối năm tμi chính chưa được giải quyết;
d) Dự phòng chia lãi, được sử dụng để trả lãi mμ doanh nghiệp bảo hiểm
đã thoả thuận với bên mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm;
đ) Dự phòng bảo đảm cân đối, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm do có biến động lớn về tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật
Phửụng phaựp trớch laọp dửù phoứng nghieọp ủửụùc thoõng tử BTC quy ủũnh chi tieỏt vaứ seừ ủửụùc giụựi thieọu ụỷ phaàn keỏ toaựn dửù phoứng
72/2001/TT-♦ Đầu tư vốn nhμn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm theo tyỷ leọ toỏi ủa quy ủũnh cho tửứng danh muùc ủaàu tử: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, cổ phiếu, Kinh doanh bất
động sản, cho vay Ngoaứi ra doanh nghieọp phaỷi daứnh moọt khoaỷn tieàn khoõng thaỏp hụn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm vμ được gửi tại các tổ chức tín dụng ủeồ thanh toaựn tieàn baỷo hieồm thửụứng xuyeõn
♦ Khả năng thanh toán
- Doanh nghiệp bảo hiểm được coi lμ có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm vμ có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu quy định
- Biên khả năng thanh toán tối thiểu của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:
a) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 10 năm trở xuống bằng tổng của 4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm vμ 0,1% số tiền bảo hiểm
b) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời hạn trên 10 năm bằng tổng của 4% dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm vμ 0,3% số tiền bảo hiểm chịu rủ
ro
- Biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ lμ phần chênh lệch giữa giá trị tμi sản vμ các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp bảo hiểm
♦ Doanh thu cuỷa hoaùt ủoọng baỷo hieồm nhaõn thoù lμ số tiền phải thu phát sinh trong kỳ không phân biệt đã thu được hay chưa thu được tiền goàm: Thu phí bảo hiểm gốc, thu phí nhận tái bảo hiểm, thu hoạt động đầu tư vaứ caực khoaỷn khaực
Trang 35♦ Chi phớ cuỷa hoaùt ủoọng baỷo hieồm nhaõn thoù lμ các khoản phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ goàm: trả tiền bảo hiểm, chi bồi thường nhận tái bảo hiểm, trích lập dự phòng bảo hiểm, chi hoa hồng bảo hiểm, chi quản
lý đại lý bảo hiểm, thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm để giảm chi phát sinh, lãi trả cho chủ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, chi phí cho hoạt động
đầu tư vaứ các khoản chi khác theo quy định của pháp luật tương ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp
♦ Doanh nghieọp baỷo hieồm nhaõn thoù chổ ủửụùc pheựp chi traỷ hoa hoàng theo baỷng tyỷ leọ hoa hoàng toỏi ủa tớnh treõn phớ baỷo hieồm Tyỷ leọ hoa hoàng toỏi
ủa ủửụùc quy ủũnh cho tửứng loaùi nghieọp vuù baỷo hieồm, theo phửụng thửực noọp phớ vaứ naờm hieọu lửùc hụùp ủoàng
2 2 ẹaựnh giaự cheỏ ủoọ keỏ toaựn doanh nghieọp baỷo hieồm
Trong quaự trỡnh caỷi caựch heọ thoỏng keỏ toaựn Vieọt Nam cho phuứ hụùp vụựi kinh teỏ thũ trửụứng vaứ vụựi sửù choùn loùc caực thoõng leọ, nguyeõn taộc vaứ chuaồn mửùc quoỏc teỏ veà keỏ toaựn, Boọ Taứi Chaựnh ủaừ ban haứnh heọ thoỏng cheỏ ủoọ keỏ toaựn doanh nghieọp theo Quyeỏt ủũnh 1141TC/Qẹ/CẹKT, ủoàng thụứi coỏ gaộng cuù theồ hoaự cheỏ ủoọ keỏ toaựn naứy vaứo trong caực ngaứnh, lúnh vửùc kinh doanh coự ủaởc thuứ kinh doanh rieõng bieọt Kinh doanh baỷo hieồm laứ moọt ngaứnh ủaởc thuứ coự tớnh chaỏt, ủaởc ủieồm vaứ quy trỡnh kinh doanh cuỷa moọt ủũnh cheỏ taứi chaựnh nhaốm taùo moọt keõnh huy ủoọng voỏn rieõng cho neàn kinh teỏ Do ủoự ngaứy 31/12/1996 Boọ Taứi Chaựnh ủaừ coự Quyeỏt ủũnh soỏ 1296 TC/Qẹ/CẹKT ban haứnh heọ thoỏng cheỏ ủoọ keỏ toaựn aựp duùng cho caực doanh nghieọp baỷo hieồm
Cheỏ ủoọ keỏ toaựn doanh nghieọp baỷo hieồm ra ủụứi nhỡn chung ủaừ phaàn naứo ủaựp ửựng nhu caàu haùch toaựn keỏ toaựn cuỷa caực doanh nghieọp baỷo hieồm phi nhaõn thoù Tuy nhieõn vieọc aựp duùng vaứo nghieọp vuù baỷo hieồm nhaõn thoù laùi ùgaởp nhieàu trụỷ ngaùi Do vaọy, caực coõng ty baỷo hieồm nhaõn thoù nửụực ngoaứi kinh doanh taùi Vieọt Nam gaởp raỏt nhieàu khoự khaờn vaứ luựng tuựng khi aựp duùng cheỏ ủoọ keỏ toaựn Vieọt Nam Trong khi ủoự, vụựi muùc tieõu aựp duùng cheỏ ủoọ keỏ toaựn Vieọt Nam ủoỏi vụựi moùi doanh nghieọp keồ caỷ trong nửụực vaứ nửụực ngoaứi, Boọ Taứi Chaựnh buoọc caực doanh nghieọp baỷo hieồm nhaõn thoù nửụực ngoaứi mụựi thaứnh laọp phaỷi aựp duùng cheỏ ủoọ keỏ toaựn theo quyeỏt ủũnh 1296 TC/Qẹ/CẹKT
Cheỏ ủoọ keỏ toaựn 1296 TC/Qẹ/CẹKT cho lúnh vửùc kinh doanh baỷo hieồm phaàn lụựn laọp laùi caực hửụựng daón, quy ủũnh ủaừ coự saỹn trong Quyeỏt ủũnh
1141 TC/Qẹ/CẹKT vaứ coự boồ sung theõm moọt soỏ quy ủũnh nghieọp vuù keỏ toaựn
Trang 36bảo hiểm cơ bản Tuy nhiên, do chưa phản ánh đầy đủ quy trình nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ và kế toán bảo hiểm nhân thọ nên chế độ kế toán 1296 thiếu hẳn các quy định chi tiết hạch toán các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ Ngoài ra việc áp dụng chung những hướng dẫn trong chế độ kế toán cho bảo hiểm phi nhân thọ lẫn với bảo hiểm nhân thọ khiến cho việc vận dụng trong thực tế hoàn toàn trái với thông lệ và nguyên tắc kế toán bảo hiểm nhân thọ quốc tế, từ đó gây ra nhiều khó khăn cho công tác kế toán, kiểm toán và kiểm tra chế độ kế toán tại các công ty bảo hiểm nhân thọ
Sau đây là một số nhược điểm của hệ thống kế toán 1296 TC/QĐ/CĐKT khi áp dụng vào lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ như sau:
2.2.1 Hệ thống tài khoản kế toán
2.2.1.1 Hệ thống tài khoản
Hệ thống tài khoản kế toán phải được xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh doanh từng ngành từ đó giúp ghi chép phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh chính xác và hợp lý
Hệ thống tài khoản áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm về cơ bản được trình bày giống như trong chế độ kế toán 1141 TC/QĐ/CĐKT nếu xét về danh mục tài khoản cấp 1 và cách phân loại tài khoản theo tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí Ngoài ra, để phản ánh đặc thù hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chế độ kế toán bổ sung thêm một số tài khoản:
♦ Tài khoản cấp 1: Do kinh doanh bảo hiểm không tạo sản phẩm có hình thù vật chất nên các tài khoản liên quan đến sản xuất và tồn kho sản phẩm không được đề cập trong hệ thống tài khoản như tài khoản thành phẩm 155, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 621, chi phí nhân công trực tiếp 622, chi phí sản xuất chung 627 và giá thành 631 Ngược lại, một số tài khoản cấp một được bổ sung như tài khoản doanh thu phát sinh 513, chuyển phí nhượng tái bảo hiểm 533, chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm 624 và tài khoản doanh 511 được đổi tên là doanh thu thực thu
♦ Tài khoản cấp 2: Sự khác nhau giữa hệ thống tài khoản theo chế độ kế toán 1141 TC/QĐ/CĐKT và hệ thống tài khoản cho doanh nghiệp bảo hiểm thể hiện rõ nhất trong tài khoản cấp 2 Các tài khoản phải thu khách hàng, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, phải trả người bán, chi
Trang 37phí phải trả, doanh thu thực thu, doanh thu phát sinh, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán, chi phí trực tiếp kinh doanh, giá vốn hàng bán đều được chi tiết theo ba hoạt động cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm là bảo hiểm gốc, nhượng tái bảo hiểm và nhận tái bảo hiểm hoặc theo đặc điểm dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Ngoài sự khác biệt nổi bật trên, các tài khoản cấp hai khác đều tương tự như trong quy định của chế độ kế toán
1141 TC/QĐ/CĐKT
♦ Tài khoản cấp 3: Nếu như chế độ kế toán 1141 TC/QĐ/CĐKT chỉ quy định chi tiết đến cấp 2 thì hệ thống tài khoản cho doanh nghiệp bảo hiểm lại quy định chi tiết đến cấp 3 và các tài khoản thuộc cấp 3 được dùng chủ yếu để ghi chép chi tiết hơn các nghiệp vụ đặc thù trong kinh doanh bảo hiểm như giám định, đòi người thứ ba, hoa hồng, xử lý hàng bồi thường
Hệ Thống Tài Khoản Kế Toán
Áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm Theo quyết định 1296 TC/QĐ/CĐKT
SỐ HIỆU TÀI KHOẢN
CẤP I CẤP
II
CẤP III
TÊN TÀI KHOẢN GHI CHÚ
Tiền Việt Nam Ngoại tệ Vàng bạc, kim khí quý, đá quý Tiền gửi ngân hàng
Tiền Việt Nam Ngoại tệ Vàng bạc, kim khí quý, đá quý Tiền đang chuyển
Tiền Việt Nam Ngoại tệ Đầu tư chứng khoán ngắn hạn Cổ phiếu
Trái phiếu
Trang 38Đầu tư ngắn hạn khác
Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn khác Phải thu của khách hàng
Phải thu về hoạt động bảo hiểm gốc Thu phí bảo hiểm gốc
Thu phí giám định Thu bán hàng đã xử lý bồi thường 100%
Thu đòi người thứ 3 Phải thu khác về hoạt động bảo hiểm gốc Phải thu về hoạt động nhận tái bảo hiểm Thu phí nhận tái bảo hiểm
Phải thu khác về hoạt động nhận tái bảo hiểm
Phải thu về hoạt động nhượng tái bảo hiểm
Thu về bồi thường nhượng tái bảo hiểm Thu hoa hồng
Phải thu khác về hoạt động nhượng tái bảo hiểm
Phải thu khác của khách hàng Phải thu nội bộ
Vốn kinh doanh ở các đơn vị trực thuộc Phải thu nội bộ khác
Phải thu khác Tài sản thiếu chờ xử lý Phải thu khác
Dự phòng phải thu khó đòi Tạm ứng
Chi phí trả trước Chi phí trả trước Chi phí chờ kết chuyển Thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn Hàng mua đang đi trên đường Nguyên liệu, vật liệu
Công cụ, dụng cụ Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm gốc dở dang
Chi phí trực tiếp kinh doanh nhận tái bảo
Chi tiết cho từng hoạt động
Chi tiết cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm
Đơn vị cấp trên
Chi tiết theo từng khoản
Chi tiết theo nghiệo vụ bảo hiểm
Trang 39Chi phí hoạt động kinh doanh khác dở dang
Hàng hoá Giá mua hàng hoá Chi phí thu mua hàng hoá Hàng gửi đi bán
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho Chi sự nghiệp
Năm trước Năm nay
LOẠI TÀI KHOẢN 2 TÀI KHOẢN CỐ ĐỊNH Tài sản cố định hữu hình
Nhà cửa, vật kiến trúc Máy móc, thiết bị Phương tiện thông tin Thiết bị, dụng cụ quản lý Tài sản cố định khác Tài sản cố định thuê tài chánh Tài sản cố định vô hình Quyền sử dụng đất Chi phí thành lập doanh nghiệp Bằng phát minh sáng chế Chi phí nghiên cứu phát triển Chi phí lợi thế thương mại Tài sản cố định vô hình khác Hao mòn tài sản cố định Hao mòn tài sản cố định hữu hình Hao mòn tài sản cố định đi thuê Hao mòn tài sản cố định vô hình Đầu tư chứng khoán dài hạn Cổ phiếu
Trái phiếu Góp vốn liên doanh Đầu tư dài hạn khác Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn Xây dựng cơ bản dở dang
Trang 40Nợ dài hạn đến hạn trả Phải trả cho người bán Phải trả về hoạt động bảo hiểm gốc Phải trả về chi bồi thường
Phải trả về hoa hồng Phải trả về phí giám định Phải trả về chi phí đòi người thứ ba Phải trả về chi phí xử lý hàng đã bồi thường 100%
Phải trả về hoàn phí bảo hiểm Lãi phải trả cho chủ hợp đồng Phải trả khác
Phải trả về hoạt động nhận tái bảo hiểm Phải trả về chi bồi thường
Phải trả về hoa hồng Phải trả về hoàn phí nhận tái bảo hiểm Phải trả khác
Phải trả về hoạt động nhượng tái bảo hiểm
Phải trả về phí nhượng tái bảo hiểm Phải trả khác về hoạt động nhượng tái bảo hiểm
Hoàn trả hoa hồng nhượng tái bảo hiểm Phải trả cho người bán về hàng hoá, dịch vụ
Phải trả khác Thuế và các khoản phải nộp nhà nước Thuế doanh thu
Thuế lợi tức Thu trên vốn Thuế nhà đất, tiền thuê đất Các loại thuế khác
Chi tiết theo công trình, hạng mục
Chi tiết cho người bán