Đề tài chỉ xét trên góc độ quản lý và sử dụng vốn – tài sản tại DNNN ngành công nghiệp , vốn hoạt động của doanh nghiệp được nhà nước giao cho doanh nghiệp toàn quyền sử dụng với mục đíc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP H ồ Chí Minh – Năm 2001
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I:TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
DNNN
1.2 Vốn của một doanh nghiệp ngành công nghiệp
1.2.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý và sử dụng
1.3.Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn của DNNN và các nhân
1.4 Sự cần thiết phải đổi mới doanh nghiệp nhà nước nhằm
1.5 Kinh nghiệm đổi mới DNNN nhằm nâng cao hiệu quả
1.5.1.Mục tiêu đổi mới DNNN nhằm nâng cao hiệu quả
1.5.2.Bài học kinh nghiệm từ đổi mới DNNN để nâng cao
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ VÀ H IỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÁC DNNN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
2.2.Đánh giá thực trạng DNNN
2.2.1 Tiến trình thực hiện sắp xếp, đổi mới, phát triển DNNN trang 22
Trang 32.2.2 Nguyên nhân về những tồn tại, yếu kém của DNNN trang 24
2.3 Thực trạng về sử dụng vốn và tài sản của DNNN ngành công nghiệp
2.3.1.Thực trạng về sử dụng vốn và tài sản DNNN ngành
2.3.2 Thực trạng về sử dụng vốn và tài sản của DNNN ngành
2.3.3.Thực trạng về sử dụng vốn và tài sản của DNNN ngành
2.3.4.Khảo sát sử dụng vốn và tài sản của DNNN thời điểm
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DNNN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
3.3.4 Cải tiến chế độ hạch toán kế toán và công khai tài chính trang 45
3.6 Các giải pháp vĩ mô về phía Nhà nước
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Thực hiện đường lối và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ tới, Đảng
và Nhà nước đã xác định là : “ Đưa nước ta ra khỏi tình trạng phát triển; nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại…
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo”.(Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX)
Công nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế vì chỉ có phát triển công nghiệp thì nước ta mới có thể đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như kinh tế thế giới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chính vì thế phát triển công nghiệp là vấn đề đặt lên hàng đầu ở nước ta
Kinh tế nhà nước đóng vai trò nền tảng trong nền kinh tế quốc gia Cần đổi mới và phát triển có hiệu quả nền kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế, làm lực lượng vật chất để Nhà nước quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho xã hội mới Doanh nghiệp nhà nước là thành phần quan trọng của kinh tế nhà nước, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế nhà nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
DNNN ngành công nghiệp là nơi tập trung các nguồn lược của nền kinh tế như : vốn, nhân lực , cơ sở hạ tầng sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm tổ chức quản lý, sự quan tâm , ưu đãi của nhà nước……,nhưng thực tế vẫn còn nhiều doanh nghiệp hoạt động hiệu quả không cao, thậm chí còn thua lỗ, là do bị tác động của rất nhiều nguyên nhân : cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Đề tài chỉ xét trên góc độ quản lý và sử dụng vốn – tài sản tại DNNN ngành công nghiệp , vốn hoạt động của doanh nghiệp được nhà nước giao cho doanh nghiệp toàn quyền sử dụng với mục đích bảo toàn và phát triển vốn Giải quyết
Trang 5tốt việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả chính là góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khẳng định được vai trò chủ đạo của công nghiệp trong xây dựng và phát triển hiện nay
Phân tích thực trạng tình hình sử dụng và quản lý vốn của DNNN ngành công nghiệp Từ đó có một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN ngành công nghiệp
3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các DNNN của ngành công nghiệp , khảo sát hoạt động của các DNNN trong những năm 1998-1999-2000
4 Phương pháp nghiên cứu :
Kế hợp các phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng , phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp
Từ việc phân tích tình hình sử dụng vốn của tổng thể DNNN, của tổng thể ngành công nghiệp quốc doanh, của một số tổng công ty 90.91, của địa phương : đại diện là thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra những giải pháp phù hợp
5 Kết cấu luận văn
Luận văn này có trang, bản phụ lục, được kết cấu như sau;
Mở đầu
Chương II: Thực trạng về việc quản lý và hiệu quả sử dụng vốn của DNNN ngành công nghiệp
Chương III: Giải pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN ngành công nghiệp
Trang 6CHƯƠNG I :TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN DNNN
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ngành công nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước :
Theo Luật doanh nghiệp nhà nước, điều 1 : Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn , thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện đước các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao
Phân biệt theo quy mô hoạt động hiện có 3 hình thức doanh nghiệp :
Các Tổng Công ty 90, 91 do Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập theo quyết định số 90/TTg và quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1994
Doanh nghiệp nhà nước là thành viên độc lập hoặc phụ thuộc Tổng Công ty do Bộ quản lý chuyên ngành quyết định thành lập
Các doanh nghiệp nhà nước độc lập do các UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập
Cả ba hình thức doanh nghiệp kể trên đều có chức năng và nhiệm vụ riêng, hệ thống quản lý khác nhau, phạm vi hoạt động rộng quá trình hoạt động của doanh nghiệpnhà nước phải theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 khoá IX ngày 20/4/1995
Phân biệt theo chức năng và nhiệm vụ có hai loại DNNN là :
Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh là loại DNNN hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận, DNNN loại này có nghĩa vụ nhận , quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn và các nguồn lực Nhà nước giao, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn
Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích là loại DNNN hoạt động trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất cung ứng các
Trang 7sản phẩm, dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận
1.1.2.Một số đặc điểm riêng của DNNN ở Việt Nam hiện nay :
Trên thế giới, Nhà nước nào cũng có DNNN nhưng vai trò của nó thì hầu như không giống nhau, vai trò của DNNN ở mỗi nước phụ thuộc vào đường lối chính trị chung và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn cụ thể Đặc điểm riêng của DNNN ở Việt Nam hiện nay :
DNNN đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm
thiết yếu của nền kinh tế; góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng thế và lực của đất nước DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất xuất khẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài, là lực lượng quan trọng trong thực hiện các chính sách xã hội DNNN ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường, năng lực sản xuất ngày càng tăng, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, trình độ quản lý và công nghệ có nhiều tiến bộ, hiệu quả sức cạnh tranh ngày càng được nâng lên, đời sống của người lao động ngày càng tiến bộ
Tuy nhiên DNNN cũng còn những hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như : quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý chưa thật tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, nhìn chung công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên, lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn Hiện nay DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt của yêu cầu đổi mới, phát triển chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 8 Số lượng DNNN quá nhiều : trong suốt quá trình cải tạo và xây dựng
CNXH đã hình thành tràn lan các DNNN, theo báo cáo đến năm 1989 có 12.300 DNNN do Trung ương, tỉnh, thành, phố, quận, huyện trực tiếp quản lý, sau nhiều lần sắp xếp lại, đến nay còn 5.800 DNNN, và thực tế là Nhà nước không thể kiểm soát và quản lý hết được, đồng thời tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước
1.1.3.Trong điều kiện hiện nay cần phải duy trì DNNN và phải giữ vai
trò chủ đạo vì:
Phát triển nền kinh tế nhiếu thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, cần thiết phải xác lập phương thức sản xuất XHCN mà cốt lõi là quan hệ sản xuất, phải bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
DNNN cần nắm giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân , giữ vai trò chi phối đối với hoạt động kinh tế của đất nước
Cần có những DNNN đầu tư vào các ngành kinh tế quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh mà các thành phần kinh tế khác không làm, khi đầu
tư vào những ngành này, mục đích là để Nhà nước giải quyết các mục tiêu kinh tế - xã hội chứ không vì mục đích lợi nhuận
Ngoài việc điều hành kinh tế bằng những chính sách kinh tế vĩ mô hoặc qua các công cụ của Nhà nước, Nhà nước cần nắm giữ những DNNN để làm đối trọng với các thành phần kinh tế khác nhằm mục đích hạn chế độc quyền khi nền kinh tế thị trường phát triển cao có thể làm lũng đoạn nền kinh tế Trong thực tế hiện nay và lâu dài, DNNN ở Việt Nam vẫn là thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế, nội dung này đã được khẳng định trong Nghị Quyết Đại Hội Đảng(Khoá IX)
Trang 9+ DNNN làm nòng cốt trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, mở đường hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có hiệu quả, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế
+ DNNN cung ứng những hàng hoá, dịch vụ công cộng cần thiết, nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ sở (giao thông, thủy lợi, điện lực, bưu chính viễn thông, y tế, văn hoá giáo dục ) an ninh quốc phòng và một số ngành sản xuất kinh doanh trọng yếu khác
+ DNNN là một công cụ có sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo hệ thống, khắc phục được các khuyết tật của cơ chế thị trường
1.1.4 Doanh nghiệp nhà nước ngành công nghiệp
a Khái niệm về sản xuất công nghiệp
Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất , một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội Công nghiệp bao gồm ba hoạt động chủ yếu :
- Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy
- Sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp khai thác và nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội
- Khôi phục giá trị của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt
b.Đặc điểm tổ chức và quản lý tài chính của DNNN thuộc ngành công nghiệp là :
Ngành công nghiệp có năng suất lao động cao do Nhà nước trang bị máy móc thiết bị và kỹ thuật hiện đại Bản thân ngành công nghiệp còn có khả năng trang bị kỹ thuật cho ngành kinh tế khác
Trang 10Hầu hết sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đều có lãi, phần đóng góp của các doanh nghiệp đã trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, ngành có thể hạch toán kinh doanh độc lập trong từng xí nghiệp Chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp đều ngắn trừ ngành đóng tàu : tàu biển, tàu hoả…)nói chung không vượt quá ¼ tổng số ngày luân chuyển của vốn lưu động Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tiến hành thường xuyên và đều đặn nên có quan hệ mật thiết với thị trường hàng hoá, thị trường vốn ngắn hạn và dài hạn
1.2.Vốn của một doanh nghiệp ngành công nghiệp
1.2.1.Khái niệm :
Vốn của một doanh nghiệp được hiểu là tiền hay tài sản có thể được sử dụng tạo ra thêm tiền hoặc tài sản cho doanh nghiệp đó, trong khoảng thời gian nhất định Vốn là một thành phần quan trọng hàng đầu của nguồn lực một doanh nghiệp, vốn biểu hiện bằng tiền hoặc hình thái khác của tài sản và trên danh nghĩa thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định Ta phải hiểu là vốn không nhất thiết là toàn bộ vốn sở hữu của doanh nghiệp, và khi sử dụng một khoản vốn, doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí gọi là chi phí sử dụng vốn cho người cung cấp khoản đó
Vốn của doanh nghiệp ngành công nghiệp thể hiện là các tài sản doanh
nghiệp đang khai thác sử dụng, bao gồm : tài sản cố định và đầu tư dài hạn , tài
sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
1.2.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước
- Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 của Chính phủ ban hành quy chế Quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với DNNN
Trang 11- Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quy chế quản lý tài chính và hạch tóan kinh doanh đối với DNNN ban hành kèm theo nghị định 59/CP
- Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày 07/6/1999 hướng dẫn việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản trong DNNN
Tóm tắt như sau :
I Các quy định chung
- Tài sản của DNNN bao gồm : tài sản cố định và đầu tư dài hạn, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn được hình thành từ vốn nhà nước và các nguồn vốn khác Vốn thuộc quyền quản lý và sử dụng của DNNN bao gồm : các khoản nợ phải trả và vốn thuộc sở hữu nhà nước Các khoản nợ phải trả bao gồm : nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác.Chủ tịch hội đồng quản trị hoặc Giám đốc doanh nghiệp phải xây dựng Quy chế quản lý vốn và tài sản để cụ thể hóa các quy định trong thông tư này đối với doanh nghiệp mình nhằm sử dụng các loại vốn vào họat động kinh doanh có hiệu quả DNNN chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các họat động kinh doanh trước pháp luật và trước các chủ nợ trong phạm vi vốn thuộc sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp
II Đầu tư vốn và giao vốn cho doanh nghiệp
- Nhà nước đầu tư vốn cho các DNNN mới thành lập ở những ngành, lĩnh vực quan trọng Trong quá trình kinh doanh, căn cứ vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp và khả năng ngân sách nhà nước, nhà nước xem xét đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết
- DNNN được Nhà nước giao vốn thuộc sở hữu nhà nước hiện có tại doanh nghiệp sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước
-
Trang 12III Huy động vốn
- DNNN còn phải tự huy động vốn dưới các hình thức : phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay vốn, nhận vốn góp liên kết và các hình thức khác để phát triển kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về việc huy động vốn
IV Quản lý sử dụng vốn và tài sản
- Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp
- Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán Phản ánh trung thực tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và quỹ để kinh doanh theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Trường hợp sử dụng các loại vốn và quỹ khác để kinh doanh thì phai theo nguyên tắc có hòan trả Doanh nghiệp được quyền thay đoi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn
- Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
- Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và bảo đảm nhiệm vụ thu nộp ngân sách nhà nước Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm : mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác
- Bảo toàn vốn và phát triển vốn
- Bảo toàn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của nhà nước về vốn đã đầu tư vào DNNN , tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát triển, tăng thu nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ với ngân sách nhà nước
Trang 131.3 Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn của DNNN và các nhân tố ảnh hưởng
Cùng với việc đổi mới các hoạt động kinh tế, tài chính để phù hợp với
cơ chế thị trường cách đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nói chung cũng có nhiều thay đổi : việc góp phần cung cấp sản phẩm cho xã hội, giài quyết công ăn việc làm, ổn định tình hình kinh tế – xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp cần xem các phương pháp :
Cơ sở xác định dựa trên doanh thu Căn cứ trên doanh thu hàng
năm, xác định các chỉ tiêu sau :
Hiệu suất sử dụng vốn =Doanh thu thuần/Tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu thuần/ Vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn lưu động = Doanh thu thuần / Vốn lưu động
Các nhân tố ảnh hưởng : phương pháp này do hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được biểu hiện bằng khối lượng công việc mà mỗi đơn vị tiền vốn hoàn thành nên các chỉ tiêu trên càng lớn thì biểu hiện hiệu quả càng cao, như vậy hiệu suất sử dụng vốn sẽ phụ thuộc vào hai nhân tố sau :
Doanh thu thuần :không phụ thuộc vào thuế gián thu như : thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng hay thuế xuất nhập khẩu, khi doanh thu thuần càng cao thì hiệu suất sử dụng vốn sẽ cao
Tổng số vốn sử dụng bình quân trong kỳ (hoặc vốn cố định, vốn lưu động) : do xác định doanh thu thuần nên cần loại trừ các chỉ tiêu không có tác động đến doanh thu thuần như : đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn, vốn đầu tư xây dựng cơ bản dở dang
Cơ sở được xác định dựa trên lợi nhuận (Lợi tức) mà vốn mang lại
(còn gọi là tỷ suất lợi nhuận) hàng năm, tính toán theo các chỉ tiêu sau:
Trang 14Tỷ suất lợi nhuận trên vốn = Lợi nhuận / Tổng vốn sử dụng bình quân hàng năm
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sở hữu = Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu
Trong đó :Lợi nhuận là lợi nhuận (lợi tức) mang lại hàng năm (không kể thu nhập bất thường và chi phí bất thường)
Các nhân tố ảnh hưởng : phương pháp này phản ảnh một đồng vốn trong kỳ và một đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ đã làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, từ đó lợi nhuận càn glớn thì hiệu quả càng cao, như vậy hiệu suất sử dụng vốn sẽ phụ thuộc vào 2 nhân tố sau :
Lợi nhuận mang lại hàng năm (không kể thu nhập bất thường )
Tổng vốn sử dụng bình quân hàng năm (hoặc Vốn chủ sở hữu) : Đối với vốn chủ sở hữu chỉ xác định : vốn cố định, vốn lưu động, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, quỹ phát triển kinh doanh do ngân sách nhà nước cấp, do có nguồn gốc từ ngân sách và doanh nghiệp bổ sung
Phân tích bảng cân đối kế toán : bảng cân đối kế toán phản ánh tình
hình tài sản doanh nghiệp theo kết cấu vốn và nguồn hình thành hiện có của một doanh nghiệp, bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu, đánh giá khái quát tình hình tài chính, trình độ quản lý và sử dụng vốn cũng như triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Khi phân tích bảng cân đối kế toán ta cần xem xét các vấn đề :
• Xem xét sự biến động của tổng tài sản cũng như từng loại tài sản (so sánh biến động giữa cuối kỳ với với đầu năm), qua đó thấy được qui mô kinh doanh, biến động kinh doanh
• Xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn, cơ cấu vốn đó tác động như thế nào đến quá trình kinh doanh
Muốn vậy, trước hết phải xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản, sau đó so sánh tỷ trọng của từng loại giữa cuối kỳ với đầu năm để
Trang 15thấy sự biến động của cơ cấu vốn Khi phân tích cần lưu ý đến tính chất và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp kết hợp với việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và và hiệu quả kinh doanh đạt được trong kỳ Có như vậy mới ra được các quyết định hợp lý về phân bổ vốn cho từng giai đoạn, từng loại tài sản của doanh nghiệp
• Khái quát mức độ độc lập (hoặc phụ thuộc) về mặt tài chính của doanh nghiệp thông qua việc so sánh từng loại nguồn vốn giữa đầu năm và cuối kỳ , tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng thì điều đó cho thấy khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp là cao, mức độ phụ thuộc về mặt tài chính đối với các chủ nợ thấp và ngược lại
1.4.Sự cần thiết phải đổi mới DNNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò chủ đạo của DNNN và tiếp tục đầu tư cho thành phần kinh tế này để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Chính phủ đã triển khai nhiều chủ trương , chính sách để tổ chức sắp xếp lại nhằm giảm về số lượng, tăng về chất lượng để tạo điều kiện cho DNNN phát huy được quyền tự chủ kin doanh, trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, nâng cao được hiệu quả hoạt động của DNNN và đã đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, hiện nay so với thời điểm năm
1995, các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, lợi nhuận, nộp ngân sách, khả năng cạnh tranh mở rộng thị trường của hệ thống DNNN có dấu hiệu trì trệ, giảm sút
ở một số ngành, địa phương, các DNNN thua lỗ kéo dài khó có khả năng tồn tại vẫn tiếp tục duy trì và không được sử lý dứt điểm, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả vẫn chiếm tỷ trọng lớn, tiến trình huy động vốn của toàn xã hội, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm cho người lao động, phát triển doanh nghiệp , nâng cao
Trang 16cạnh tranh, thay đổi cơ cấu tổ chức, quản lý của doanh nghiệp Qua hình thức đa dạng hoá sở hữu diễn ra với tốc độ chậm, cơ cấu DNNN chậm được đổi mới và bố trí còn quá phân tán , nănglực cạnh tranh trên thị trường khu vực cũng như quốc tế còn yếu kém
Nhìn chung, hoạt động của các DNNN trong những năm qua đã bộc lộ rất nhiều tồn tại và yếu kém do chưa thích nghi được với cơ chế thị trường Nếu không nhanh chóng đổi mới DNNN để làm nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì nền kinh tế Việt Nam sẽ có nguy cơ bị tụt hậu xa
so với sự phát triển của kinh tế thế giới và các nước trong khu vực
1.5 Kinh nghiệm đổi mới DNNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở các nước
1.5.1.Mục tiêu đổi mới DNNN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở các nước
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy : sau đại chiến thế giới thứ 2, các nước đã thành lập DNNN một cách tràn lan đặc biệt là ở các nước XHCN và các nước phát triển theo mô hình của Liên Bang Xô Viết (cũ) Đến những năm
1990, đa số các nước đã nhận ra rằng :kinh tế quốc doanh là kém hiệu quả, hoạt động trì trệ và chứa đựng nhiều tiêu cực Từ đó đến nay, tuỳ ở mức độ khác nhau, đa số các nước đang tìm cách đổi mới, cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh, những mục tiêu chính đòi hỏi Chính phủ các nước thực hiện cải cách, đổi mới quản lý doanh nghiệp hầu như là giống nhau :
Một là, để tạo động lực khuyến khích mạnh nhất nhằm nâng cao hiệu
quả thông qua việc tối ưu hoá các quyết định đầu tư của mình, tối đa hoá hiệu suất sử dụng của các sản phẩm đầu vào và tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp
Hai là, tạo động lực để tăng trưởng kinh tế, thực tế khi đa dạng hoá sở hữu DNNN được xem như là một hình thức nới lỏng quy chế thị trường, chính là
Trang 17do việc giảm sở hữu của Nhà nước đối với hệ thống doanh nghiệp sẽ dẫn đến Nhà nước không can thiệp sâu vào cơ chế thị trường, từ đó tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp nói chung sẽ đạt được sự tăng trưởng cao hơn nhờ vào sự nới lỏng các quy chế mang lại Khi đó các doanh nghiệp được sản xuất kinh doanh trong một môi trường bình đẳng trong phạm vi chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, rõ ràng và phù hợp
Ba là, bình ổn ngân sách, giảm tối đa rủi ro về ngân sách, do đó ngân sách sẽ bình ổn hơn Sẽ chấm dứt nhưng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kém hiệu quả Đây là mục tiêu quan trọng trong quá trình cải cách và đổi mới doanh nghiệp
Các mục tiêu cơ bản trên chỉ có ý nghĩa khi tiến trình đổi mới, cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh được gắn liền với môi trường của thị trường được nới lỏng quy chế, mở cửa và có tính cạnh tranh
1.5.2.Kinh nghiệm
Từ các mục tiêu trên, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNN, các nước đã đưa ra nhiều hình thức để thực hiện như : Tư nhân hoá hoặc một hình thức tương tự là cổ phần hoá DNNN ; Cho thuê DNNN ; Khoán tập thể cho người lao động ; Bán hoàn toàn DNNN ; Đấu thầu quản lý DNNN ; Sát nhập vào một DNNN khác ; Giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ lâu dài
a Đối với các nước Tây Aâu, chủ yếu áp dụng các giải pháp như :
Bán cổ phần của DNNN thông qua thị trường vốn; bán cho tư nhân và các công
ty tư nhân một phần vốn, tài sản của DNNN, phương pháp này được sử dụng khi DNNN gặp khó khăn cần bán đi tài sản, vốn mà người góp vốn quan tâm; bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên trong DNNN; bán xí nghiệp “ con “ thuộc xí nghiệp “ mẹ” hoặc bán từng bộ phận thuộc một ngành sản xuất chính Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở Ý, Tây Ban Nha, Pháp… và hầu hết là bán
Trang 18cho người nước ngoài Sau khi bán doanh nghiệp, Nhà nước dùng số tiền trên để mua cổ phần của công ty tư nhân trên thị trường chứng khoán, từ đó đã mở rộng ảnh hưởng và tăng thu nhập của Nhà nước
Kinh nghiệm của Đức: Chính phủ Đức đã áp dụng hàng loạt chính sách và chương trình thúc đẩy doanh nghiệp trong việc huy động các nguồn vốn Công cụ chính để thực hiện các chính sách và chương trình hỗ trợ này thông qua các khoản tín dụng ưu đãi , có sự bảo lãnh của Nhà nước Các khoản tín dụng này được ưu tiên đặc biệt cho các dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp, đổi mới công nghệ vào những khu vực kém phát triển trong nước Do còn nhiều doanh nghiệp không đủ tài sản thế chấp để được khoản tín dụng lớn, ở Đức còn phát triển khá phổ biến các tổ chức bảo lãnh tín dụng , những tổ chức này được thành lập và bắt đầu hoạt động từ những năm 1950 với sự hợp tác chặt chẽ của phòng thương mại, hiệp hội doanh nghiệp, ngân hàng và chính quyền liên bang Nguyên tắc hoạt động cơ bản là vì khách hàng, doanh nghiệp nhận được khoản vay của ngân hàng có sự bảo lãnh của tổ chức bảo lãnh tín dụng Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tổ chức này có trách nhiệm hoàn trả khoản vay đó cho ngân hàng Với cơ chế và chính sách như vậy, các doanh nghiêp ở Đức, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã khắc phục được nhiều khó khăn trong quá trình huy động vốn
b Đối với các nước ở Châu Á :
Trung Quốc: số lượng doanh nghiệp nhà nước ngành công nghiệp quá
nhiều , khoảng 300.000 doanh nghiệp nên Nhà nước rất khó quản lý, từ năm
1994, Trung Quốc thực hiện cải cách doanh nghiệp trong lĩnh vực giá cả, ngân hàng và tài chính, tập trung gổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước… và có được kết quả khả quan : ngân sách nhà nước giảm bớt gánh nặng, tăng cường năng lực quản lý điều hành doanh nghiệp dẫn đến tăng hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Trang 19Thái Lan : thực hiện các giải pháp : thanh lý, bán , khoán quản lý và cho thuê, không thành lập những doanh nghiệp nhà nước có cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân ngoại trừ những hoạt động có liên quan đến lợi ích xã hội và an ninh quốc gia Chính phủ cũng dành một số ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước như : được phát hành trái phiếu, được đăng ký chào bán cổ phiếu, ưu đãi về thuế, tín dụng, ưu tiên thị trường tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ vay vốn nước ngoài với lãi suất ưu đãi , đặc biệt đối với ngành nghề cần vốn lớn, hệ số rủi ro cao… được Nhà nước quan tâm hơn
Nhật Bản : Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn : Điều chỉnh cơ cấu cấp vốn từ các ngân hàng dành cho các doanh nghiệp quy mô lớn Ngân hàng trung ương, thành phố xem xét cơ cấu cấp vốn với tỷ trọng cao cho các doanh nghiệp quy mô lớn Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ : Nhật có chính sách đặc biệt nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, cản trở trong việc tăng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh như : khả năng tiếp cận tín dụng thấp, thiếu sự bảo đảm về vốn vay… Các biện pháp này được thực hiện thông qua Hệ Thống Hỗ Trợ Tín Dụng và các tổ chức Tài Chính Công Cộng, thành lập các Công Ty Tài Chính Nhân Dân, Hội Bảo Lãnh Tín Dụng do chính quyền đầu tư mà không cần thế chấp tài sản và công ty bảo hiểm tín dụng doanh nghiệp nhỏ Hệ thống hỗ trợ tín dụng giúp cho các DN tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng , tạo điều kiện cho họ vay vốn, và họ có thể được tài trợ một phần vốn để đổi mới máy móc, thiết bị, đượ chỗ trợ vốn lưu động dài hạn để mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh
Đài Loan : Đài Loan là vương quốc của doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự tăng trưởng kinh tế của Đài Loan gắn liền với sự phồn vinh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngay trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Đài Loan đã áp dụng nhiều biện pháp, chính sách khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp), các doanh nghiệp này tạo ra
Trang 20khoảng 40% sản lượng công nghiệp Để đạt được những thành tựu này, Đài Loan đã giành nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp này Bộ tài Chính quy định tỷ lệ tài trợ nhất định cho các doanh nghiệp này và có xu hướng tăng dần theo mỗi năm, đồng thời lập ra 3 quỹ : Quỹ Phát triển, Quỹ Sion-US, Quỹ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhận thức được khó khăn của các doanh nghiệp trong việc thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng, Đài Loan đã lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng, nguyên tắc hoạt động của Quỹ này là cùng chia xẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng, Quỹ đã bảo lãnh cho 1,3 triệu trường hợp vay với tổng số vốn vay rất lớn Ngoài ra Đài Loan còn áp dụng nhiều biện pháp như giảm lãi suất đối với các mục đích vay để mua sắm máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh, có chuyên gia đến giúp doanh nhằm tối ưu hoá việc tạo vốn và sử dụng vốn
Malaysia :Trong kế hoạch tổng thể 1991 – 2000, Chính phủ đã thông qua các chương trình hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp như : các chương trình về thị trường và hỗ trợ kỹ thuật, chương trình cho vay ưu đãi, chương trình công nghệ thông tin…Mục đích là nhằm giúp các doanh nghiệp có được một lượng vốn cần thiết để thúc đẩy tự động hoá và hiện đại hoá, phát triển các ngành sản xuất phụ tùng ô tô, linh kiện điện, điện tử, máy móc, nhựa, dệt… Chương trình này được thực hiện theo kế hoạch phân bổ hàng năm của Malaysia thông qua Quỹ cho vay ưu đãi, cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà sản xuất thuộc các lĩnh vực ưu tiên
c.Bài học kinh nghiệm từ đổi mới DNNN để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở các nước
Ở nước ta hiện nay , DNNN là nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế, theo đánh giá của phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam, tình trạng thiếu vốn đang là khó khăn lớn nhất đối với các
Trang 21doanh nghiệp, trước hết là do các doanh nghiệp thiếu tài sản để thế chấp ngân hàng, hơn nữa là hầu hết các khoản vay đều là ngắn hạn với lãi suất cao trong khi nhu cầu vốn của doanh nghiệp là liên tục Nhà nước nên khuyến khích phát triển các Quỹ tín dụng để tạo thêm kênh dẫn vốn cho các doanh nghiệp, bảo đảm vốn trung và dài hạn cho mục tiêu sản xuất kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp
Trong điều kiện về nguồn lực tài chính, con người, kỹ thuật, tài nguyên của đất nước ta có giới hạn, việc hỗ trợ những doanh nghiệp cực lớn là giải pháp nhanh nhất để công nghiệp hoá hiện đại hoá Tuy nhiên cũng cần chú trọng loại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, phát triển loại hình doanh nghiệp này chính là phương thức tốt nhất để huy động mọi nguồn lực trong xã hội
Qua những kinh nghiệm đổi mới quản lý DNNN ở một số nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, mặc dù các nước có trình độ phát triển kinh tế chênh lệch nhau , có đặc trưng riêng trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, song Chính phủ các nước này đều dành sự quan tâm đặc biệt trong chính sách hỗ trợ huy động vốn đối với các doanh nghiệp và đã thành công Đây cũng có thể coi là bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để tham khảo, vận dụng tìm ra giải pháp thích hợp giúp doanh nghiệp phát triển hơn nữa, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Trang 22CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NGÀNH
CÔNG NGHIỆP 3.1 Tổng quan công nghiệp Việt Nam
Từ một nước nghèo, kém phát triển lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá, song bằng những nỗ lực phi thường và chính sách đổi mới, mở cửa của nền kinh tế Việt Nam nên chỉ trong thời gian rất ngắn đã không những thoát khỏi khủng hoảng mà còn tự vươn lên trên con đường phát triển Những thành tích đạt được qua mười năm đổi mới có sự đóng góp không nhỏ của ngành công nghiệp Tăng trưởng công nghiệp đứng từ xuất phát điểm chỉ có 0,6% năm 1980 đến 6,07% năm 1990, giai đoạn 1991 – 2000 tăng lên trung bình khoảng 12,9%/năm, trong đó giai đoạn 1991 – 1995 tốc độ tăng trưởng cao nhất 17%/năm Năm 2000, ngành công nghiệp đã lấy lại đà tăng trưởng sau thời gian giảm sút do khủng hoảng, đạt mức 15,7% cao hơn chỉ tiêu đề ra
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp (%)
(nguồn : Tổng cục Thống Kê)
Khu vực DNNN có tốc độ tăng trưởng thấp nhất, do một số doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, hoặc cổ phần hoá chuyển sang khu vực có vốn đầu tư
Trang 23nước ngoài và khu vực ngoài quốc doanh Mặt khác, vì lịch sử để lại, DNNN
chiểm tỷ trọng lớn trong các ngành cơ khí chế tạo và sửa chữa, sản xuât hoá
chất, phân bón, dệt may, đó là những ngành đang khó khăn về thị trường tiêu thụ
sản phẩm Tuy nhiên vẫn đạt được nhịp độ tăng trưởng là có cố gắng rất lớn
Tỷ trọng công nghiệp đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công
nghiệp hoá, từ mức 22,7% GDP năm 1991 tăng lên 36,6% năm 2000 Trong khi
đó tỷ trọng nông nghiệp giảm tương ứng từ 38,7% xuống còn 24,3% năm 2000
Bảng 2.2.Cơ cấu theo thành phần kinh tế : (%)
(nguồn : Bộ Công Nghiệp)
Đầu tư giai đoạn 1991 – 2000, khoảng 632 ngàn tỷ đồng tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, (theo giá 1995 tương đương 57 tỷ USD), trong đó đầu tư cho công
nghiệp khoảng 284 ngàn tỷ đồng (tương đương 23,8 tỷ USD) chiếm 41,85% tổng
vốn, trong đó vốn đầu tư phân bổ cho khu vực nhà nước chiếm 54%
Nhiều lĩnh vực công nghiệp đã vượt qua thử thách gay gắt của cơ chế thị
trường dần dần đi vào phát triển và ổn định, xuất hiện thêm những ngành công
nghiệp mới như : điện tử, ô-tô, xe máy, sản xuất cấu kiện kim loại, phụ tùng,
một số ngành công nghệ cao đã bắt đầu hình thành như công nghệ thông tin,
công nghiệp phần mềm
Mặc dù có những chuyển biến đáng kể như vậy, nhìn chung công
nghiệp Việt Nam vẫn còn nhỏ bé so với tiềm năng phát triển của đất nước Xét
về chất, công nghiệp Việt Nam vẫn mang đậm nét đặc trưng của nền sản xuất
nhỏ, phụ thuộc nhiều vào lao động và khai thác tài nguyên.Về quy mô, doanh
Trang 24nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 91% tổng số doanh nghiệp cả nước, doanh nghiệp quy mô lớn chưa đến 9%
- Những tồn tại cơ bản trong phát triển có thể thấy rõ đó là : Hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước còn thấp, tốc độ phát triển chưa cao; không ít doanh nghiệp nhà nước vẫn còn ỷ lại vào sự bảo hộ, bao cấp của Nhà nước Năm 2000 Một đồng vốn nhà nước của DNNN làm
ra là 0,095 đồng lợi nhuận trước thuế trong khi một đồng vốn chủ sở hữu của các công ty cổ phần được chuyển đổi từ DNNN làm ra 0,19 đồng
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo chiếm hơn 40% giá trị sản xuất của ngành, chi phối hầu hết các lĩnh vực công nghiệp quan trọng Tuy nhiên, khu vực này hiện được đánh giá hiệu quả kinh doanh thấp Theo đánh giá chung, số doanh nghiệp thực sự kinh doanh có hiệu quả hiện chỉ chiếm chưa đến 40%, số doanh nghiệp không có hiệu quả bị thua lỗ liên tục chiếm 20%, còn lại hơn 40% là chưa có hiệu quả và nếu có lãi thì chỉ là tượng trưng
Những khó khăn chính của khu vực này là :
- Sản xuất phụ thuộc vào nguyên liệu thị trường, tiêu thụ sản phẩm khó khăn, tỷ lệ gia tăng qua chế biến công nghiệp thấp, tốc độ tăng trưởng có biểu hiện giảm sút, nợ khó đòi ngày càng lớn
- Khả năng đầu tư đổi mới sản xuất và công nghệ hạn chế Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, thiếu lao động lành nghề năng suất lao động thấp đang là trở ngại đối với khả năng cạnh tranh và hiệu quả của doanh nghiệp Đa phần DNNN hiện nay là kế thừa từ thời bao cấp với các đặc trưng : công nghệ lạc hậu
so với thế giới từ 10 đến 20 năm, thậm chí là 30 năm đối với ngành cơ khí Theo thống kê của Bộ Công Nghiệp, thiết bị của DNNN hiện nay có 26% của Liên Xô (cũ), 25% của các nước Đông Aâu, 20% của các nước ASEAN và Bắc Aâu, trên 18% là của các nước khác, còn trong nước chỉ chế tạo 11%, trong đó trình độ cơ khí hoá- tự động hoá chiếm 10%, mức độ hao mòn hữu hình từ 30% đến 50%
Trang 25Hậu quả là chưa tạo được nhiều sản phẩm quốc gia, sản phẩm mũi nhọn công nghệ cao
- Lao động thiếu việc làm và dôi dư trở thành một vấn đề lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp quy mô vẫn còn nhỏ , dàn trải, chồng chéo về ngành nghề và tổ chức quản lý
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp nhìn chung còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu mà cơ chế thị trường đòi hỏi
- Tình trạng phổ biến hiện nay là sản xuất mang tính tự phát thiếu quy hoạch, thiếu quản lý tập trung thống nhất, chưa tạo được mối liên kết và phân công giữa công nghiệp và thương mại, giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp Trung ương và doanh nghiệp địa phương, ngay cả trong cùng lĩnh vực sản xuất
Theo định hướng thị trường, Đảng và Nhà nước chủ trương từng bước thực hiện việc xoá bỏ chế độ chủ quản của các cơ quan hành chính nhà nước đối với doanh nghiệp; giảm bảo hộ, giao quyền tự chủ nhiều hơn cho doanh nghiệp; tăng cường hiệu lực quản lý và thực hiện pháp luật , tăng cường hiệu lực quản lý và thực hiện pháp luật, chuyển từ chế độ “ tiền kiểm” sang chế độ “hậu kiểm”; tạo môi trường thuận lợi và bình đẳng cho phát triển doanh nghiệp
Những điều chỉnh cần thiết theo hướng này cũng đã được thực hiện, nhưng nhìn chung, cơ chế chính sách vẫn chưa thực sự cải cách triệt để, toàn diện , chưa thoát khỏi cơ chế cũ làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh vừa theo mệnh lệnh hành chính, vừa theo cơ chế thị trường, vừa bao cấp vừa kinh doanh, vừa không đồng bộ
Trang 263.2 Đánh giá thực trạng doanh nghiệp nhà nước
3.2.1 Tiến trình thực hiện sắp xếp, đổi mới, phát triển DNNN
Từ năm 1986 đến nay, Chính phủ đã chỉ đạo tiến hành 3 đợt sắp xếp, thực hiện đổi mới, phát triển DNNN với 4 nội dung cơ bản là :
Đổi mới cơ chế chính sách quản lý DNNN nhằm tạo quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm đối với DNNN và thực sự hạch toán kinh doanh trong cơ chế thị
trường Trong đó, cơ chế, chính sách tài chính được đặc biệt quan tâm hoàn
thiện Các doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi, đảm bảo có lãi Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước Doanh nghiệp được giữ lại khấu hao cơ bản tài sản cố định để tái đầu tư, đổi mới máy móc ,thiết bị, được huy động vốn dưới mọi hình thức, cho phép thí điểm phát hành trái phiếu để vay vốn Khuyến khích doanh nghiệp tích tụ tập trung vốn cho sản xuất – kinh doanh thông qua chính sách trích và lập các quỹ doanh nghiệp Chính phủ đã thực hiện các giải pháp đặc biệt như dãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ, cấp bổ sung vốn đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển ngành nghề, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, doanh nghiệp còn tồn tại những di sản của lịch sử, doanh nghiệp thua lỗ trong sản xuất kinh doanh … vượt qua khó khăn và từng bước phát triển (Công ty Dệt nam Định, Công ty Dệt 8/3, Công ty Hoá chất và Phân đạm Hà Bắc, Công ty gang Thép Thái Nguyên, các Nhà máy Đường, các Công ty Cơ Khí…) Tuy vậy, cơ chế, chính sách vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tạo được môi trường tài chính đầy đủ và thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp, chính sách thuế còn nhiều bất hợp lý và thay đổi luôn Chính sách lãi suất chưa phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh Chưa xây dựng và phát triển được thị trường vốn để tạo ra sự vận động và chu chuyển vốn trong xã hội , đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp Chính sách phân phối tài chính đối với DNNN chưa
Trang 27tạo điều kiện thật sự để doanh nghiệp tự tích tụ vốn, chủ động tái đầu tư phát triển, giám sát của nhà nước vừa thiếu chặt chẽ, buông trôi, vừa bao biện Chức năng sở hữu và chức năng quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp còn thiếu rõ ràng
Tổ chức lại, củng cố và hoàn thiện tổng công ty nhà nước nhằm tập
trung nguồn lực các ngành then chốt mà DNNN cần nắm giữ để bảo đảm vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò điều tiết của nhà nước Các tổng công ty
đã cung cấp cho nền kinh tế 94% sản lượng điện, 97 sản lượng than, 63% sản lượng thuốc lá điếu, 59% sản lượng xi măng, 50% sản lượng giấy…Tuy nhiên vẫn bộc lộ một số nhược điểm : thiếu vốn nghiêm trọng, mô hình tổng công ty chưa thực sự tạo ra sự gắn kết tài chính, công nghệ, thị trường… giữa các đơn vị thành viên trong tổng công ty, giữa đơn vị thành viên với các tổ chức liên quan
Sắp xếp và cổ phần hoá DNNN nhằm các mục tiêu : huy động vốn
của toàn xã hội để đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp và tạo điều kiện để người lao động tham gia làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Qua 3 đợt sắp xếp, số đầu mối DNNN giảm xuống hơn 50%, từ hơn 12 ngàn DN xuống còn
6 ngàn DN trong đó sát nhập 3.100 ngàn DN, giải thể 3.350 ngàn DN, nhưng DNNN vẫn phát triển : tỷ trọng của DNNN trong tổng sản phẩm GDP tăng từ 36,5% (1991) lên 40,07% (1998), tương ứng, tỷ suất nộp ngân sách trên vốn nhà nước tăng từ 14,7% lên 27,89% ; tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước 6,8%(1993) lên 12,31% (1998) Việc sắp xếp DNNN góp phần tác động đến quá trình tích tụ và tập trung vốn Vốn bình quân cho 1 doanh nghiệp tăng từ 5,4 tỷ đồng (1993) lên hơn 18 tỷ đồng (1998)
Thực hiện các hình thức giao, bán,khoán cho thuê DNNN nhỏ để sử
dụng có hiệu quả tài sản của nhà nước, của xã hội, khắc phục tình trạng DNNN làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài
Trang 283.2.2 Nguyên nhân về những tồn tại, yếu kém của doanh nghiệp nhà nước
Ngoài nguyên nhân khách quan do lịch sử để lại không thể giải quyết trong thời gian ngắn; những tồn tại, yếu kém của doanh nghiệp nhà nước là do những nguyên nhân chủ yếu sau :
Nhận thức chưa thống nhất, chưa đầy đủ về vai trò doanh nghiệp nhà nước và chủ trương sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước
Nguyên nhân liên quan đến mức độ hoàn thiện của cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước :
- Chính sách tài chính, tín dụng tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, chưa tạo đủ điều kiện thuận lợi cũng như chưa đòi hỏi đúng mức để doanh nghiệp nhà nước tự chủ , tự chịu trách nhiệm, năng động trong sản xuất kinh doanh, tích tụ vốn cho đầu tư đổi mới công nghệ
- Việc giao vốn cho doanh nghiệp vẫn mang hình thức hành chính, chưa gắn quyền hạn, nghĩa vụ, quyền lợi rõ ràng Một phần vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp nhưng không sử dụng được vẫn chưa được giải quyết dứt điểm
- Chưa thí điểm được cơ chế quản lý vốn thông qua Công ty Đầu Tư Tài Chính Nhà Nước theo tinh thần Nghị Quyết Hội nghị Trung Ương lần thứ từ (khoá VIII)
- Chưa xây dựng và phát triển được đồng bộ thị trường vốn để tạo sự chu chuyển vốn trong xã hội được thông suốt, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp Chính sách lãi suất chưa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong những ngành nghề cần được ưu tiên phát triển
- Chế độ kế toán chưa tạo điều kiện và buộc doanh nghiệp hạch toán đúng kết quả kinh doanh, phương pháp tính giá thành còn tuỳ tiện không phản ánh đúng chi phí thực tế, vì vậy việc đánh giá hiệu quả kinh doanh không chính
Trang 29xác Nhà nước còn khống chế ràng buộc cụ thể nhiều khoản chi phí , nhiều quy định gò bó không phù hợp thực tế khiến doanh nghiệp rất khó chủ động trong sản xuất kinh doanh
- Chế độ phân phối thu nhập chưa tạo được động lực mạnh mẽ cả đối với cán bộ quản lý lẫn người lao động Nghị quyết Trung Ương lần thứ tư khoá VIII
đã đã đề cập đến chế độ phân phối : “Đổi mới chế độ phân phối, ưu tiên dành lợi nhuận để trả nợ vốn vay và tái đầu tư, gắn lợi ích và trách nhiệm vật chất với hiệu quả kinh doanh”, nhưng thực tế vẫn chưa được sửa đội như : Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm được lấy từ lợi nhận để lại doanh nghiệp, Thu sử dụng vốn lấy từ lợi nhuận để lại doanh nghiệp (nếu có lãi) Doanh nghiệp không được chủ động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định kỹ thuật lạc hậu hay không cần dùng trong dây chuyền sản xuất, phải qua cấp chủ quản đồng ý thanh lý nhượng
bán thì thời gian không đáp ứng được kịp thời nhu cầu đổi mới công nghệ
- Về đầu tư : Việc phân cấp, giao quyền quyết định đầu tư cho doanh nghiệp chưa phù hợp, rõ ràng, không gắn với trách nhiệm và chưa có cơ chế kiểm soát để đầu tư có hiệu quả Nhà nước vừa buông lỏng, vừa can thiệp quá
sâu vào quyền tự chủ đầu tư của doanh nghiệp
3.3.Thực trạng về sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp nhà nước ngành công nghiệp
Từ năm 2000 trở về trước, khi tình hình vốn và tài tài sản của doanh nghiệp nhà nước nói chung còn ít biến động là do tiến trình cổ phần hoá còn chậm, việc đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đang ở trong giai đoạn triển khai thực hiện, vì vậy việc khảo sát tình hình quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước cũng như ngành công nghiệp qua các năm 1998,
1999, 2000 là có thể phản ánh được thực tế