2.2.3 Tăng trưởng kinh tế với việc nâng cao phúc lợi xã hội 502.2.4 Tăng trưởng kinh tế và vấn đề xóa đói giảm nghèo 55 2.3 Đánh giá việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN VĂN HẢI
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN VĂN HẢI
PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ
CÔNG BẰNG XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU
ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Chuyên ngành
Mã số
: Kinh tế chính trị
: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC:
GS TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Văn Hải là học viên cao học khóa 23 chuyên ngành Kinh
tế chính trị của Trường Đại học Kinh tế TPHCM Tôi xin cam đoan luận văn caohọc với đề tài: “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾVỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊNĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và nguồn trích dẫn rõ ràng, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Luậnvăn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Trọng Hoài
Tác giả luận văn
NGUYỄN VĂN HẢI
Trang 4Chương 1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 7
1.1.1 Tăng trưởng kinh tế; Phát triển kinh tế; Chất lượng tăng trưởng kinh
1.1.2 Các chỉ tiêu đo tăng trưởng kinh tế. 8
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. 9
1.1.4 Vai trò của tăng trưởng kinh tế. 10
1.2.1 Công bằng xã hội. 12
1.2.2 Các tiêu chí cơ bản đo lường công bằng xã hội. 13
1.3.1 Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công
Trang 5Quan điểm của Simon Kuznets (1901-1985) 17
1.3.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 21
1.3.2.3 Tăng trường kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển
1.4 Kinh nghiệm ở trong và ngoài nước về giải quyết mối quan hệ giữa
1.4.1 Kinh nghiệm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. 27
1.4.2 Kinh nghiệm thành phố Cần Thơ. 28
1.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 29
1.4.4 Kinh nghiệm của Đài Loan 30
Chương 2 Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công
2.2 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở TP.HCM
2.2.1 Lao động, việc làm, thu nhập và mức sống của người dân trong quá
trình tăng trưởng ở TPHCM. 40
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế và vấn đề phân hóa thu nhập. 45
Trang 62.2.3 Tăng trưởng kinh tế với việc nâng cao phúc lợi xã hội 50
2.2.4 Tăng trưởng kinh tế và vấn đề xóa đói giảm nghèo 55
2.3 Đánh giá việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
2.3.1 Những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công bằng xã
hội và tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM. 57
2.3.2 Những hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội và tăng trưởng
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện công
bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế ở TP.HCM. 58
Chương 3 Gợi ý các giải pháp cải thiện mối quan hệ giữa tăng trưởng
3.1 Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
3.1.1 Chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố về quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội. 61
3.1.2 Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
hội trên địa bàn Thành phố. 62
3.2 Những định hướng và nhiệm vụ cơ bản để giải quyết mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên địa bàn Thành phố. 65
3.2.1 Những định hướng cơ bản. 65
Trang 73.2.2 Những nhiệm vụ chủ yếu. 65
3.3 Gợi ý một số giải pháp cơ bản nhằm cải thiện mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Thành phố - giai đoạn 2016-2025. 67
3.3.1 Nhóm giải pháp chung 67
3.3.2 Nhóm giải pháp cụ thể 68
3.3.2.1 Nhóm giải pháp về nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng
kinh tế.
3.3.2.2 Nhóm giải pháp về thực hiện công bằng xã hội trong tăng trưởng
Danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.11 - Chi tiêu đời sống bình quân đầu người một tháng theo giá
Trang 9Bảng 2.12 - Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo nhóm thu
Bảng 2.14 - Thu nhập bình quân (TNBQ) đầu người một tháng chia theo
Bảng 2.15 - Chi tiêu bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.3 - Cơ cấu kinh tế TPHCM giai đoạn 2006-2014 (tính trung bình) 37
Biểu đồ 2.5 - Vốn đầu tư cho khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo và y
Biểu đồ 2.8 - Tích lũy bình quân tháng/người phân theo thành thị nông thôn 49Biểu đồ 2.9 - Tích lũy bình quân tháng/người phân theo nhóm thu nhập giai
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Vấn đề nghiên cứu.
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã và đang là vấn đề mà nhiều nhàkinh tế trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Đối với nước ta, một quốc giađang trên con đường hội nhập quốc tế, có nhiều thời cơ cũng như thách thức trongphát triển đất nước thì vấn đề giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội càng trở nên cấp thiết Quan điểm nhất quán củaĐảng ta về việc gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội đã đượchoàn thiện qua các kỳ đại hội sau khi đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Đảng ta khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triểnvăn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượngcuộc sống của nhân dân”1, và “…thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từngbước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triểnnhanh, bền vững”
Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không
là vấn đề đơn giản Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội luôn có mối quan hệbiện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề cho quá trìnhthực hiện công bằng xã hội và một khi công bằng xã hội được thực hiện sẽ tạo điềukiện cho tăng trưởng kinh tế Thực tiễn ở một số nước cho thấy, nếu tuyệt đối hóa
về mặt tăng trưởng kinh tế, thực hiện tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà khôngquan tâm giải quyết đến vấn đề công bằng xã hội sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề
và ngược lại nếu quá chú trọng về vấn đề công bằng xã hội mà không quan tâm đếntăng trưởng kinh tế sẽ triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, từ đó làm cho xã hội trìtrệ, lệ thuộc, bất công tiếp tục xảy ra… Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, tất yếu phải gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trongquá trình phát triển
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011 Văn kiện Đại hội đại biểu lần XI Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Trang 11Nước ta, trải qua gần 30 năm tiến hành đổi mới kinh tế, tốc độ tăng trưởngkinh tế tương đối ổn định, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, đời sốngnhân dân càng được nâng cao và đất nước đang từng bước thoát nghèo, đó là thànhtựu to lớn không thể phủ nhận Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới(WTO), bên cạnh những cơ hội lớn thì cũng đặt ra nhiều thách thức, nguy cơ lớntrong đó có vấn đề bất bình đẳng xã hội Đây là một trong những vấn đề bức thiếtđòi hỏi phải được quan tâm giải quyết.
Thành phố Hồ Chí Minh (Thành phố; TP.HCM), một trung tâm kinh tế, vănhóa, khoa học, là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong cả nước,đồng thời thực hiện khá tốt vấn đề công bằng xã hội, như giải quyết xóa đói giảmnghèo, nâng cao mức sống người dân… Song, trong thực tiễn vẫn còn phân hóagiàu - nghèo giữa các nhóm dân cư, giữa thành thị và nông thôn; tăng trưởng nhanhnhưng vẫn còn các khu vực chậm phát triển, đặc biệt những khu vực ngoại ô thànhphố có mức sống không ổn định, tỷ lệ người nghèo vẫn chưa giải quyết bềnvững…
Vì vậy, cần nghiên cứu, nắm vững cả mặt lý luận và thực tiễn vấn đề tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội, từ đó tìm ra giải pháp nhằm bảo đảm tăngtrưởng kinh tế song vẫn thực hiện được công bằng xã hội Có như vậy mới đảmbảo cho Thành phố phát triển bền vững
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Phân tích mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: Nghiên cứu điển hình trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh” để làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số nước trong việc giải quyết mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội và bài học rút ra cho Thành phố
Trang 12- Phân tích và đánh giá thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên địa bàn Thành phố - giai đoạn 2006-2014.
trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên địa bàn Thành phố trong giai đoạn 2016-2025
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
TP Hồ Chí Minh
luận và thực tiễn về việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở
Thành phố
Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, quan điểm của Đảng ta về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội vàcác chính sách xã hội Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu nhưphương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả
Nguồn tài liệu: sách chuyên khảo, giáo trình kinh tế, các bài viết trên tạp chíkhoa học - xã hội, hội thảo… xoay quanh vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội Số liệu trong niên giám thống kê tình hình kinh tế xã hội tại Thành phố; cácbáo cáo về kinh tế xã hội của Cục Thống kê Thành phố, các Nghị quyết, báo cáocủa Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh…
5 Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là một trong những đề tài thu
hút quan tâm nghiên cứu của các nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà kinh tế học, như: Lê
Trang 13Xuân Bá - Nguyễn Thị Tuệ Anh, Tăng trưởng kinh tế Việt Nam (15 năm - 1991-2005);
TS Vũ Thị Vinh, Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay; PGS, TS Phạm Thị Ngọc Trầm, Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều
kiện nước ta hiện nay; Vũ Thị Ngọc Phùng, Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam; Hoàng Đức Thân, Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta; PGS TS.
Trần Nguyễn Tuyên, Gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Tỵ, 2010 Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội
ở Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia.
Ngoài ra, đã có các luận án, luận văn đề cập rất nhiều về vấn đề này, như luận
án tiến sĩ: Nguyễn Tấn Hùng, Phương pháp phân tích mâu thuẫn và sự vận dụng
nó trong nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta: Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
Viện Triết học, 1999; Nguyễn Xuân Phong, Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, luận văn thạc sĩ, Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Tuấn Anh, Quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2012.
Bên cạnh đó, có các bài báo thuộc nhóm nghiên cứu này được đăng tải trongcác tạp chí khoa học như: Bùi Quang Bình, 2014 Đổi mới mô hình tăng trưởng
kinh tế Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Những vấn đề Kinh tế
& Chính trị Thế giới Số 2 tr.74-80 Đinh Sơn Hùng và Mã Văn Tuệ, 2011.Tăng
trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đôi điều lý luận và thực tiễn Bản tin – Kinh tế và
Xã hội Số: quý 3 tr 2-4 TP.HCM: Viện Nghiên cứu và Phát triển Thành phố Hồ Chí
Minh Hoàng Ngọc Hòa, 2006 Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về gắn tăng
trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội Lịch sử Đảng, số 12 - tr.37-42 Lý Thị
Huệ, 2014 Mai Ngọc Cường, 2013 Một số vấn đề xã hội
Trang 14nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội ở nước ta: thực trạng và khuyến nghị Kinh tế & Phát triển 2013, số
196 tr.22-27 Nguyễn Hữu Dũng, 2011 Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển ở nước ta đến năm
2020 Kinh tế & Phát triển, số 163 tr.9-14 Nhìn một cách khái quát, hầu như các
công trình này đều tiếp tục làm rõ các khái niệm: Tăng trưởng kinh tế; tiến bộ,công bằng xã hội và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng
xã hội ở Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
Tóm lại, phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội đã
có nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế quan tâm tiếp cận, nghiên cứu dưới nhiều giác độkhác nhau Tuy nhiên, theo tôi, giữa vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
công trình nào được đề cập và nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống cả về lý luận
và thực tiễn Kế thừa các công trình mà các tác giả trên đã nghiên cứu và đề cập, tác giả
đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề thực hiện tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh - lý luận và thực tiễn thông qua đề tài luậnvăn thạc sĩ kinh tế
6 Ý nghĩa nghiên cứu.
trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đặc biệt là việc thực hiện vấn đề này ở Thành
phố
ngành trong việc giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
7 Kết cấu của nghiên cứu.
Gồm có: Mục lục, phần mở đầu, nội dung chính, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của đề tài được chia làm ba chương Chương 1, trình
Trang 15bày cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Chương 2, phân tíchmối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại Thành phố giai đoạn2006-2014; Và Chương 3, đưa ra gợi ý một số giải pháp cơ bản giải quyết mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Thành phố trong giai đoạn 2025
Trang 162016-Chương 1
Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội.
1.1 Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế.
1.1.1 Tăng trưởng kinh tế; Phát triển kinh tế; Chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Khái niệm tăng trưởng kinh tế được các tác giả đề cập với nhiều cách khác
nhau, theo quan điểm của kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy môsản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánhvới thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng “Tăng trưởng kinh tế dưới dạngkhái quát, là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩmquốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định (thường tính cho một năm)” (BộGD&ĐT, 2002)
Phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ, thường bao hàm những thay đổi
toàn diện hơn liên quan đến những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, thể chế Mộtkhái niệm khác thường được đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đó là phát triểnbền vững Phát triển bền vững là tăng trưởng được duy trì mà không làm giảm trữlượng của các nguồn lực hiệu quả (Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2013, trang 19)
Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Các chuyên gia của Ngân hàng thế giới cho rằng: Tăng trưởng chưa phải làphát triển, song tăng trưởng lại là một cách cơ bản để có phát triển và không thể nóiphát triển kinh tế mà trong đó lại không có tăng trưởng kinh tế
Chất lượng tăng trưởng kinh tế, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất
về chất lượng tăng trưởng Nhìn chung, khái niệm về chất lượng tăng trưởng đượchiểu như sau: Chất lượng tăng trưởng bao gồm tăng trưởng kinh tế, phát triển vàphát triển bền vững, liên quan đến ba thành tố: kinh tế, xã hội, và môi trường Một
Trang 17nền kinh tế có chất lượng tăng trưởng tốt khi có tăng trưởng kinh tế cao và ổn định,chất lượng cuộc sống người dân nâng cao, và môi trường được bảo vệ bền vững(Thomas và cộng sự (2000), trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 58).
1.1.2 Các chỉ tiêu đo tăng trưởng kinh tế.
1.1.2.1 Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product - GDP).
Là chỉ tiêu phổ biến được dùng để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh
tế GDP được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuốicùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoảngthời gian nhất định (thường là một năm)
Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta, tháng 5/2015Chính phủ có quyết định phê duyệt đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổngsản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Gọi tắt là GRDP)nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch số liệu GDP giữa Trung ương và địa phương
1.1.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product - GNP).
Tổng sản phẩm quốc dân - GNP đo lường tổng thu nhập do công dân mộtnước kiếm được bất kể dịch vụ yếu tố của họ được cung cấp ở nước nào GNP bằngGDP cộng với thu nhập ròng từ nước ngoài Khi GNP thực tính theo đầu người tănglên, chúng ta có thể kỳ vọng phúc lợi của người dân tăng lên
1.1.2.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người
là các chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế Nó cho thấy xu hướng của quy môsản lượng tăng lên hay giảm đi và nếu tăng thì tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳkhác nhau Các chỉ tiêu này được tính theo công thức:
Trong đó:
Trang 18- X có thể là GDP thực, GNP thực, GDP thực tế bình quân đầu người, hoặc GNP thực tế bình quân đầu người.
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục nền kinh tế phảiphát huy có hiệu quả những yếu tố cơ bản sau:
(1) Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng tăng để mở rộngquy mô sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại để phát triểntheo chiều sâu Cần phải có chính sách thu hút vốn trong nhân dân, vốn từ nướcngoài… để đầu tư cho sản xuất kinh doanh
(2) Tăng về số lượng và chất lượng lao động Để phục vụ cho tăng trưởngkinh tế phải tăng về số lượng và đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vìvậy, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, thậmchí là quyết định đối với tăng trưởng kinh tế
(3) Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốcgia Đây là yếu tố riêng của mỗi quốc gia và không phải nước nào cũng có trình độkhai thác, sử dụng đúng đắn và có hiệu quả những yếu tố này Do đó cần phải cóchính sách khai thác cho phù hợp nhằm đảm bảo phát triển bền vững
(4) Yếu tố dân số có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Dân số đông làmcho tiêu dùng xã hội phục vụ đời sống nhân dân cao dẫn đến đầu tư cho sản xuấtlàm tăng trưởng kinh tế giảm xuống Ngược lại, nếu mức tăng dân số quá thấp làmthiếu hụt nguồn nhân lực cũng ảnh hướng đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, tăng dân
số một cách hợp lý là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào tăng trưởngkinh tế
(5) Thể chế và tham nhũng Thể chế được xem là nguyên nhân sâu xa, mangtính cơ bản quyết định sự khác nhau về mức độ tăng trưởng và phát triển kinh tếgiữa các quốc gia bên cạnh vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn vật chất và công nghệ(Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 212) Theo nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế thể
Trang 19chế có tác động đến vấn đề tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Thể chế của mộtquốc gia là yếu tố quyết định trong vấn đề định hướng, điều hành phát triển kinh tếcủa quốc gia đó Ở các quốc gia đang phát triển, khung thể chế thiếu minh bạch vàkhông hoàn thiện tạo ra nhiều rào cản mang tính độc quyền hơn là cạnh tranh, hạnchế cơ hội hơn là mở rộng chúng, đồng thời khiến cho có ít đầu tư vào giáo dục đểtăng năng suất, v.v (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 215).
Tham nhũng là một trong những yếu tố được xem là thất bại của thể chế,tham nhũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế bởi vì nó có khả năng bópméo thị trường và phân bố nguồn lực (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 225)
(6) Khoa học - công nghệ: Áp dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng tư liệu sản xuấttiên tiến, hiện đại, thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và phát triển sảnphẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất Vai trò của khoa học - công nghệ ngày nayhết sức to lớn để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, có tác động nhất định đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện mọi hoạt động của đời sống xã hội
chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả “lao động” và “vốn” trong một hoạtđộng cụ thể hay cho cả nền kinh tế TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật
và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về sốlượng của đầu vào mà còn tuỳ thuộc vào chất lượng các yếu tố đầu vào là lao động
và vốn Tăng TFP giúp cho tăng trưởng bền vững, tăng trưởng có chất lượng cao
(8) Quản trị nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế Nhà nước có thể can thiệpvới tác động khác nhau lên các yếu tố duy trì nền tảng của tăng trưởng kinh tế Nhànước thông qua chính sách kinh tế xã hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.1.4 Vai trò của tăng trưởng kinh tế.
Có tăng trưởng kinh tế mới khắc phục được tình trạng đói nghèo của quốcgia, khắc phục được tình trạng lạc hậu, nâng cao đời sống vật chất tinh thần củangười dân, xóa bỏ dần các phong tục tập quán lạc hậu
Trang 20Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như nângcao mức sống nhân dân, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện các mặt ansinh xã hội,…
Tăng trưởng kinh tế cao tạo tiền đề vật chất cho việc củng cố an ninh, quốcphòng, củng cố chính trị, ổn định xã hội
Tăng trưởng kinh tế cũng có mặt trái của nó là làm phân hóa giàu nghèo ngàycàng tăng và có thể kéo theo vấn đề tội phạm Nếu quá chú trọng đến tăng trưởngkinh tế với tốc độ nhanh thì dễ dẫn đến không kiểm soát được nguồn tài nguyên vàmôi trường, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên và môi trường bị xâm hại gây tổnthất lâu dài về sau
Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc - UNDP (1996) đã nêu năm loạităng trưởng kinh tế xấu:
quả của nó chỉ đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo thì ít được hưởng,khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng Đây là loại tăng trưởng có tác động làm gia tăngbất bình đẳng trong thu nhập của dân cư
mở rộng cơ hội có thêm việc làm, hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp vớinhững công việc có năng suất thấp, trong khu vực nông nghiệp và khu vực không chínhthức Loại tăng trưởng này có tác động làm tăng bất bình đẳng do người lao động không
có việc làm và trở nên yếu thế trước các biến đổi xã hội
đi kèm với việc mở rộng nền dân chủ hay việc trao đổi thêm quyền lực cho dân, dập tắtnhững đòi hỏi được tham gia nhiều hơn của cộng đồng vào các quyết sách liên quan đếnđời sống xã hội Loại tăng trưởng này có tác động làm gia tăng bất bình đẳng về vị trí xãhội
Trang 21(4) Tăng trưởng kinh tế không gốc rễ Là tăng trưởng kinh tế khiến cho nềnvăn hóa, đời sống tinh thần của con người ngày càng khô héo Tăng trưởng này có tácđộng làm gia tăng bất bình đẳng về mặt xã hội.
hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến Tăngtrưởng có tác động làm gia tăng bất bình đẳng giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương
ra vài ý kiến về công bằng xã hội như sau:
Theo các nhà kinh tế, công bằng xã hội được phân biệt thành công bằngngang và công bằng dọc: Công bằng ngang là đối xử như nhau với người có đónggóp như nhau; Công bằng dọc là đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm sinhhoặc có các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau: sự khác nhau về nghềnghiệp; sự khác nhau về giáo dục đào tạo… Công bằng ngang được thực hiện bởi
cơ chế thị trường còn công bằng dọc cần có sự điều tiết của chính phủ nhằm thu hẹpkhoảng cách bất bình đẳng xã hội Kết hợp tốt công bằng dọc và công bằng ngang
sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự
Theo quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, muốn có công bằng xã hộithực sự thì phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động và điều đó chỉ
có trong chủ nghĩa xã hội Bởi vì, trong xã hội đó, chế độ công hữu mới được thiếtlập, cho nên mới có xuất phát điểm bình đẳng trong quan hệ phân phối đảm bảocông bằng xã hội Nguyên tắc phân phối theo lao động được thực hiện là: “Cùngmột lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội dưới một hình thức này thìanh ta nhận trở lại của xã hội dưới hình thức khác” (C Mác và Ăngghen, 1995,trang 34), nghĩa là, mỗi một người sản xuất sẽ được nhận trở lại của xã hội một số
Trang 22lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấpcho xã hội Như vậy, trong xã hội chủ nghĩa, sức lao động là cái duy nhất mà người
ta cung cấp cho xã hội và những vật phẩm tiêu dùng cá nhân là cái duy nhất màngười ta có quyền sở hữu
Công bằng xã hội hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ngang bằng nhau trongmối quan hệ giữa người và người dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ vàquyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ Hay nói cách khác: Công bằng xã hội đượchiểu là sự bình đẳng trong việc tiếp cận và lựa chọn những cơ hội cho mọi ngườitrên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội
1.2.2 Các tiêu chí cơ bản đo lường công bằng xã hội.
1.2.2.1 Chỉ số phát triển con người – HDI.
Chỉ số HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người trên phươngdiện sức khỏe, tri thức và thu nhập Ba chỉ tiêu thành phần của HDI phản ánh cáckhía cạnh khác nhau gồm:
Trang 23HDI là giá trị trung bình chung của 3 chỉ số thành phần về sức khỏe, tri thức
và thu nhập
1.2.2.2 Đường cong Lorenz.
Đường Lorenz do nhà thống kê người Mỹ - Conrad Lorenz xây dựng năm
1905, là biểu đồ biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân số khác nhau và tỉ lệ thu
nhập nhận được khác nhau
Trục hoành thể hiện tỉ lệ % cộng dồn của dân số
Trục tung thể hiện tỉ lệ % cộng dồn của thu nhập mà mỗi phần trăm dân số
nhận được
Thu nhập cộng dồn (%)
D100
Đường 450 cho biết ở bất kỳ điểm nào trên đường này đều phản ánh tỉ lệ
phần trăm thu nhập được đúng bằng tỉ lệ phần trăm dân số
Đường cong Lorenz cho thấy mối quan hệ giữa tỉ lệ phần trăm dân số và tỉ lệ
phần trăm trong tổng thu nhập nhận được trong một khoảng thời gian nhất định
Trang 25Các trường hợp có thể xảy ra:
dạng OCD
hình vẽ và nằm trong khu vực giữa đường 450 và đường OCD
trong phân phối thu nhập có xu hướng giảm
đẳng trong phân phối thu nhập tăng
1.2.2.3 Hệ số Gini
Hệ số Gini được phát triển bởi Corrado Gini (1884-1965), nhà thống kê họcngười Ý Hệ số Gini được tính từ đường cong Lorenz dùng để chỉ mức độ bất bìnhđẳng trong phân phối thu nhập
Dựa vào đường cong Lorenz để xác định hệ số Gini:
Trong đó:
Lorenz)
- : diện tích tam giác nằm dưới đường 450 trừ đi diện tích hình A
Các trường hợp xảy ra đối với Hệ số Gini:
Hệ số Gini = 0: hoàn toàn bình đẳng trong phân phối thu nhập
Hệ số Gini = 1: hoàn toàn bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
0 < Hệ số Gini < 1: xuất hiện tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thunhập
Trang 26Ngoài ra, hệ số Gini còn được tính bằng công thức sau:
Hệ số Gini =
Trong đó: n : tổng nhóm hộ dân cư
: thu nhập bình quân hộ dân cư: thu nhập bình quân của các nhóm dân cư giảm dần
Giá trị của hệ số Gini đi từ 0 đến 1 Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới,
hệ số Gini tốt nhất thường xoay quanh 0,3
1.2.2.4 Tiêu chuẩn “40” của Ngân hàng thế giới
Năm 2002, WB đề xuất chỉ tiêu đánh giá bất bình đẳng là tiêu chuẩn “40”.Tiêu chuẩn này xác định tỉ lệ thu nhập trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số
có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội
Nếu thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội:
1.2.2.6 Chỉ số nghèo khổ.
Là tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với tổng dân số Sựnghèo khổ không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp mà còn là hệ quả của phânphối thu nhập không công bằng
Trang 27Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo WB đưa rachuẩn nghèo tuyệt đối dưới 1 USD/người/ngày (theo sức mua tương đương – PPP)đối với các nước có thu nhập trung bình lớp dưới Đối các nước có thu nhập cao thìchuẩn nghèo tuyệt đối được xác định là 14,40 USD/người/ngày (UNDP - 1997).
ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn2011-2015 thì hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; hộ nghèo ở thành thị là hộ cómức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ
6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
1.3.1 Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Quan điểm của Simon Kuznets (1901-1985): Simon Kuznets là nhà kinh tế
học người Mỹ, năm 1955 ông đưa ra mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm xemxét mối quan hệ giữa thu nhập (GNP/người) và tình trạng bất bình đẳng trong phânphối thu nhập Theo ông, bất bình đẳng là một hệ quả của quá trình tăng trưởng kinh
tế Giai đoạn đầu, khi GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng tăng, đến giaiđoạn trình độ phát triển cao, khi GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng lạigiảm đi, lúc đó thu nhập và phúc lợi có xu hướng được phân phối công bằng hơn.Kuznets đã thể hiện quá trình trên trong mô hình chữ U ngược
Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets
Gini
GNP/người
Trang 28Hạn chế trong mô hình của Simon Kuznets là ông không giải thích được haivấn đề quan trọng: Một là, nguyên nhân cũng như bản chất cơ bản dẫn đến tìnhtrạng bất bình đẳng Hai là, phạm vi khác biệt giữa các nước về xu thế thay đổi nàytrong điều kiện họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng vàbất bình đẳng.
Quan điểm của Athur Lewis (1915-1991).
Authur Lewis là nhà kinh tế học người Jamaica, ông nghiên cứu và đưa ra
mô hình nhị nguyên Ông cho rằng, xuất phát từ sự di chuyển lao động giữa hai khuvực nông nghiệp và công nghiệp sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Theo ông, tình trạng bất bình đẳng sẽ tăng lên trong giai đoạn đầu và sẽ giảm
đi khi nền kinh tế đạt tới một trình độ phát triển cao Trong giai đoạn đầu của quátrình phát triển kinh tế tồn tại hai khu vực: khu vực công nghiệp với tiền lương cao
và khu vực nông nghiệp với tiền lương thấp Do đó, việc mở rộng qui mô sản xuấtkhu vực công nghiệp sẽ thu hút một số lượng lớn lao động từ nông nghiệp, và nhà
tư bản chỉ trả lương công nhân ở mức thấp Như vậy, thu nhập của nhà tư bản vừatăng lên do qui mô sản xuất mở rộng, vừa tăng lên do lao động của công nhân đemlại Giai đoạn sau, bất bình đẳng giảm do khi lao động dư thừa được thu hút hết vàothành thị - công nghiệp và dịch vụ thì lúc này lao động trở nên khan hiếm trong sảnxuất Cung lao động giảm, cầu lao động tăng lên đòi hỏi phải tăng tiền lương chongười lao động Điều này sẽ làm cho bất bình đẳng giảm
A Lewis kết luận, bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng trưởng kinh tế
mà còn là điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế Các nhà tư bản và nhóm người
có thu nhập cao sẽ phải nhận được nhiều hơn vì họ là những người sử dụng phầntiết kiệm của mình tạo ra nguồn tích lũy mở rộng sản xuất
Quan điểm của Ngân hàng thế giới.
Theo WB, nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng là do sự bất côngtrong vấn đề sở hữu mà đặc biệt là vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất Vì vậy, cần phảiphân phối lại các thành quả của tăng trưởng kinh tế, sao cho cùng với thời gian,phân phối thu nhập dần dần cải thiện Nó bao gồm phân phối của cải (tài sản) và
Trang 29phân phối lại từ tăng trưởng kinh tế Ở các nước đang phát triển, chính sách phânphối lại tài sản bao gồm: chính sách cải cách ruộng đất; chính sách nhằm tăngcường cơ hội giáo dục cho nhiều người.
Các chính sách tăng trưởng mà không tính đến khía cạnh phân phối thu nhập
và phân phối cơ hội, cũng như không gắn với xóa đói giảm nghèo bền vững sẽ khóduy trì được tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Một khi chú trọng đến chất lượngtăng trưởng, thì khía cạnh phân phối và xóa đói giảm nghèo không thể giải quyết chỉbằng chính sách tái phân phối thu nhập trực tiếp Các biện pháp gián tiếp nhằm tạo
cơ hội cho người nghèo có thể tham gia nhiều hơn quá trình tăng trưởng mới là cầnthiết Do đó, đầu tư cho giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường có tác động tích cực tớiviệc hình thành vốn con người và vốn tài nguyên Đây là hai yếu tố có ảnh hưởngtới hoạt động sản xuất và thu nhập của người nghèo
Quan điểm của C Mác (1818-1883).
Thông qua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đương thời, C Mác đãthể hiện những tư tưởng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xãhội
C Mác đưa ra khái niệm tổng sản phẩm xã hội là toàn bộ sản phẩm mà xãhội sản xuất trong năm Về mặt giá trị nó bao gồm C + V + M Trong đó C là giá trịcủa toàn bộ các tư liệu sản xuất mà xã hội đã sử dụng, V + M là giá trị xã hội mớitạo ra, là thu nhập quốc dân của xã hội
C Mác chỉ ra rằng trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng củamình, người công nhân tạo ra giá trị mới là v+m Người công nhân chỉ nhận được vdưới dạng tiền công, còn nhà tư bản lấy giá trị thặng dư (m) Nguồn gốc của bấtbình đẳng này xuất phát từ quan hệ sở hữu, xây dựng chế độ công hữu là giải pháp
cơ bản nhất để giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trước khi đổi mới, nước ta thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chỉvới hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất Cơ
Trang 30chế quản lý bao cấp của thời kỳ này đã kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chấtlượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông.
Từ sau đổi mới năm 1986, quan điểm bao trùm, nhất quán gắn tăng trưởngkinh tế và thực hiện công bằng xã hội được Đảng ta khẳng định: “Tăng trưởng kinh
tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và trongsuốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tưliệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọingười đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”2
Qua các kỳ đại hội tiếp theo, Đảng ta vẫn kiên định quan điểm trên về kếthợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Đại hội Đảng lần thứ XI đã kếthừa, bổ sung và phát triển chủ trương, quan điểm về thực hiện kết hợp tăng trưởngkinh tế và công bằng xã hội: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với pháttriển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chấtlượng cuộc sống của nhân dân” Và “…thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hộitrong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảmphát triển nhanh, bền vững” 3
Quan điểm của Đảng bộ và Chính quyền TP Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Quán triệt quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xãhội ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển Đảng bộ TP.HCMđưa quan điểm này vào nghị quyết đại hội: “…gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ,công bằng xã hội trong suốt quá trình phát triển” 4 Quan điểm này tiếp tục đượckhẳng định và tiến thêm một bước là nâng cao chất lượng tăng trưởng: “Phát triểnkinh tế nhanh, bền vững, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng pháttriển kinh tế tri thức và tăng trưởng xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996 Văn kiện đại hội Đảng VIII, trang 19.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011 Văn kiện đại hội Đảng lần XI Trang 99.
4 Đảng bộ TP.HCM, 1996 Văn kiện đại hội Đảng bộ TPHCM lần VI.
Trang 31cao năng lực cạnh tranh, khoa học - công nghệ, tri thức, nguồn nhân lực chất lượngcao và thông tin phải là động lực, yếu tố đầu vào, tạo ra giá trị gia tăng của hànghóa, dịch vụ Nâng cao sự đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởngGRDP”5.
Tóm lại, từ các quan điểm trên ta thấy: bất bình đẳng là hệ quả của quá trìnhtăng trưởng kinh tế, đồng thời là điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế; Nguyênnhân cơ bản của bất bình đẳng là do bất công trong sở hữu mà đặc biệt là sở hữu về
tư liệu sản xuất Xây dựng chế độ công hữu là giải pháp cơ bản để giải quyết bấtbình đẳng trong xã hội, đồng thời cần phải thực hiện phân phối lại các thành quả củatăng trưởng kinh tế Quan điểm của Đảng ta là: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liềnvới tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình pháttriển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫnkhâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội pháttriển và sử dụng tốt năng lực của mình
1.3.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
1.3.2.1 Tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo.
Nghèo là một khái niệm có nhiều mặt, không có một khái niệm duy nhất vềnghèo Ở Việt Nam, khái niệm về đói nghèo thường được sử dụng là khái niệmđược đưa ra tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu
bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mànhững nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quáncủa từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
Như vậy, có thể hiểu “nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện.Chẳng hạn như thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản đểbảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người
5 Đảng bộ TP.HCM, 2015 Văn kiện đại hội Đảng bộ TPHCM lần X Trang 24.
Trang 32có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị tổnthương trong các mối quan hệ xã hội do không được người khác tôn trọng…”(Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2013, trang 115).
Nguyên nhân của nghèo đói rất đa dạng, có những nguyên nhân mang tínhkhách quan như chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh…, cũng có những nguyên nhânmang tính chủ quan từ bản thân người nghèo, như sinh nhiều con, ít học vấn, thiếu
nỗ lực vươn lên trong cuộc sống,…
“Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo có mối quan
hệ biện chứng Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiện (vật chất) để giảm nghèo.Ngược lại, giảm nghèo là nhân tố bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế mang tính bềnvững” (Vũ Thị Vinh, 2014, trang 45)
Có thể nói nguyên nhân đầu tiên của đói nghèo là kinh tế không có sự tăngtrưởng Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để tạo tiền đề vật chất cho sự xóa đói,giảm nghèo Khi thành quả của tăng trưởng được phân phối công bằng, hợp lý thìtăng trưởng nhanh làm cho mức thu nhập tăng lên tạo điều kiện cải thiện chất lượngcuộc sống như kéo dài tuổi thọ, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em và tình trạng suy dinhdưỡng, giúp cho giáo dục và văn hóa phát triển, tạo công ăn việc làm
Thực vậy, tăng trưởng kinh tế sẽ đem lại nhiều việc làm hơn cho các hộ giađình nên có quan hệ trực tiếp đến mức sống của họ Những hộ gia đình có nguồnthu thất thường luôn phải chịu áp lực của cảnh nghèo cũng như luôn cảm thấy thiếu
an toàn về mặt kinh tế, nếu mức độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững thì cơ hội
có việc làm ổn định sẽ được đáp ứng, song song đó các chính sách công (chính sáchgiáo dục, y tế, kết cấu hạ tầng…) được thực hiện và các khoản phúc lợi xã hội đốivới họ cũng được cung cấp
Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững tạo ra những cơ hội để người nghèo tiếpcận được các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh và hưởng thụ được từ thành quảcủa tăng trưởng kinh tế Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao, nhà nước có sức mạnh vậtchất, tài chính cho các vùng, các địa phương khó khăn phát triển kết cấu hạ tầngkinh tế, xã hội cơ bản Người nghèo nhờ đó có cơ hội thoát khỏi đói nghèo Những
Trang 33chính sách công có thể đến được với người nghèo thông qua những hỗ trợ có mụctiêu và họ cũng có thể tăng được tài sản của mình, đặc biệt là trong giáo dục và y tế.Các chương trình mục tiêu và những chính sách phát triển nguồn nhân lực khôngthể thực hiện được nếu không có tăng trưởng kinh tế bền vững Mặt khác, tăngtrưởng kinh tế với chất lượng cao và bền vững, tạo điều kiện nhiều hơn cho pháttriển các ngành nghề ở nông thôn và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằmtạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nghèo.
Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nghèo đói vừa có tính đồng thuận vừa cótính mâu thuẫn Trên một phương diện nào đó xét về mặt ngắn hạn khi phân phốimột phần thu nhập cho chương trình xóa đói giảm nghèo thì nguồn lực dành chotăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện về dài hạn thì kếtquả xóa đói giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bềnvững Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo thìgiảm nghèo là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế Trong nềnkinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế chịu sự tác động của các qui luật kinh tế như: quiluật giá trị, qui luật cung cầu, cạnh tranh, lợi nhuận, năng suất lao động, thì giảmnghèo lại chịu sự tác động của qui luật phân hóa giàu nghèo, vấn đề phân phối thunhập, lao động, việc làm Trong quá trình vận động, các yếu tố, quy luật tác độnglên tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có thể theo chiều hướng trái ngược nhau.Tăng trưởng kinh tế làm cho quy luật phân hóa giàu nghèo diễn ra mạnh mẽ hơndẫn đến giảm nghèo sẽ khó khăn hơn Hoặc nếu chạy theo lợi nhuận để bảo đảmtăng trưởng kinh tế thì việc đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế sẽ khóthực hiện được Mặt khác, nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển là trở ngạilớn đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển
Để tăng tính đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đòi hỏi nhànước phải có sự can thiệp trên cở sở tôn trọng các qui luật khách quan Nhà nước cóvai trò rất quan trọng đối với việc tăng tính đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế vàgiảm nghèo bằng cách đưa ra hệ thống các chính sách vĩ mô có vai trò hỗ trợ tiềmlực, hình thành môi trường thuận lợi để người nghèo tiếp cận các nguồn lực phát
Trang 34triển chung của đất nước Những chính sách này có thể là: Chính sách tài chính;Chính sách tiền tệ; Chính sách tín dụng cho người nghèo; Chính sách y tế, dân số;Chính sách giáo dục dạy nghề; Chính sách an sinh xã hội…
1.3.2.2 Bất bình đẳng và nghèo đói trong tăng trưởng kinh tế.
Một khái niệm có liên quan chặt chẽ đến đói nghèo là sự phân hóa trong phânphối, hay thường gọi là bất bình đẳng
Bất bình đẳng và công bằng xã hội:
Về mặt công bằng xã hội, bất bình đẳng có thể được xem như là một dạngnghèo trên phương diện phân phối Thông thường, khi nền kinh tế tăng trưởngnhanh thì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập lớn từ đó dẫn đến tình trạng đóinghèo của một bộ phận dân cư trở nên gay gắt Điều này có nghĩa là phân phối thunhập công bằng hơn có thể làm giảm nhẹ vấn đề nghèo đói
Bất bình đẳng lớn trong phân phối thu nhập có thể dẫn đến tình trạng kinh tếkém hiệu quả Thể hiện ở những nhóm có thu nhập thấp sẽ không có điều kiện đểtiết kiệm và đầu tư mặc dù tỉ lệ tiết kiệm trong thu nhập thường cao hơn người giàu.Bất bình đẳng cao khiến việc phân bổ các nguồn lực kém hiệu quả Như người ta sẽđầu tư vào giáo dục bậc cao nhiều hơn là giáo dục cơ bản Ngoài ra, bất bình đẳngchứa đựng những bất ổn xã hội cũng như tính đoàn kết Xã hội có bất bình đẳng cao
có khuynh hướng củng cố quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị của nhóm giàutrong khi đó những thứ liên quan đến phúc lợi người nghèo thì khó cải thiện
Bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
Về mặt tăng trưởng kinh tế, quan niệm về bất bình đẳng phức tạp hơn SimonKuznets - nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng bất bình đẳng ở một quốc gia sẽ tăngdần ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế và chỉ giảm dần khi quốc gia ấyđạt đến một mức phát triển nhất định Luận điểm này được trình bày bằng hình vẽdưới dạng chữ U ngược Theo hình vẽ, bất bình đẳng có khuynh hướng gia tăngtheo sự gia tăng của thu nhập bình quân trong giai đoạn đầu nhưng sau đó giảm dầnkhi thu nhập tăng cao hơn Kuznet cho rằng bất bình đẳng là cần thiết cho phép
Trang 35người giàu có thể tiết kiệm để đầu tư nhiều hơn và có thể làm tăng trưởng nhanhhơn.
Tuy nhiên, quan điểm của Kuznets có một số người không đồng ý, do mứcthu nhập mà tại đó bất bình đẳng bắt đầu giảm xuống chưa được xác định nên ta cóthể nhìn thấy nhiều mức bất bình đẳng khác nhau ở cùng một mức thu nhập bìnhquân đầu người Vì thế họ cho rằng định chế và chính sách phát triển của chính phủ
có vai trò quan trọng trong việc giảm bất bình đẳng hơn là một giai đoạn phát triểnhay một mức thu nhập bình quân nào đó Thậm chí nếu quá trình tập trung vốn banđầu làm gia tăng bất bình đẳng thì chính phủ có thể hạn chế nó bằng các chính sáchhợp lý của mình
Giải quyết nghèo đói hay bất bình đẳng thu nhập suy cho cùng cũng là giảiquyết vấn đề tăng trưởng kinh tế như thế nào và có đảm bảo bền vững hay không.Nghiên cứu tăng trưởng kinh tế mà không giải quyết đồng thời vấn đề nghèo đói vàbất bình đẳng thu nhập thì chắc chắn rằng trong mỗi bước đường của tăng trưởngkinh tế sẽ vấp phải những khó khăn trong thực hiện sự đồng thuận xã hội về mụctiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, huy động tối đa nguồn lực trong dân,cũng như việc san sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế, thậm chí khi đó tăngtrưởng kinh tế sẽ bị giảm sút và chửng lại
Khi nói đến tăng trưởng kinh tế cũng hàm chứa vấn đề nghèo đói và bất bìnhđẳng thu nhập bởi tăng trưởng kinh tế tự nó luôn có sẵn câu trả lời cho một loạt cáccâu hỏi như tăng trưởng kinh tế vì ai, bởi ai, bằng cách nào và ai là người được lợi
từ tăng trưởng kinh tế cũng như việc chia sẻ lợi ích đó được thực hiện như thế nào.Chìa khóa để hiểu rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thunhập nằm ở ba vấn đề quan trọng sau:
nhập trong quá trình phát triển
cũng như của năng lực thể chế và phụ thuộc vào những khuynh hướng cũng như
Trang 36những cú sốc từ bên ngoài Các nước rất khác biệt về những điều kiện và chính sáchkhác nhau tác động đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập.
thiện bất bình đẳng thu nhập là một mục tiêu chung, nhưng cần chú ý linh hoạt về chínhsách đối với những nội dung tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập loại trừ nhau có thểxảy ra trong các trình độ phát triển khác nhau
1.3.2.3 Tăng trường kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển bền vững.
Những chính sách xã hội năng động với thể chế hợp lý sẽ tạo điều kiện giữvững ổn định chính trị, giảm các xung đột lợi ích và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Việc thực hiện các chính sách xã hội chính là đầu tư vào nguồn lực con người Conngười vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng phục vụ của sản xuất Các chínhsách xã hội như giáo dục, y tế, bảo hiểm… giúp cho con người có tri thức, có sứckhỏe, có cuộc sống yên lành… sẽ làm tăng tính tích cực, sáng tạo, tăng năng suấtlao động, từ đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chính sách nâng cao thu nhậpkhông những cải thiện mức sống của những người yếu thế mà còn kích cầu khảnăng thanh toán, từ đó đẩy mạnh sản xuất
Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có lộ trình phát triển kinh tếtương tự như Việt Nam cho nhiều bài học thực tiễn trong việc giải quyết tốt mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội Những nội dung chính sauđây:
về thể chế kinh tế theo kế hoạch, cản trở sự phát triển sản xuất, mục tiêu lúc đó được xácđịnh là tập trung giải phóng lực lượng sản xuất Nhưng nếu tập trung quá nhiều vào tăngtrưởng GDP, coi nhẹ các vấn đề xã hội sẽ cản trở đa số người hưởng lợi từ tăng trưởngnày Mức thu nhập thấp của số đông công chúng dẫn tới làm suy yếu dài hạn nhu cầutrong nước, tác động tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của lực lượng lao động Chonên, phát triển xã hội là điều kiện quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế và phải nhanhchóng chuyển từ chủ trương ưu tiên phát triển kinh tế
Trang 37so với phát triển xã hội, sang thực hiện chủ trương phát triển hài hòa giữa kinh tế và
xã hội
khuyến khích những người, những vùng có điều kiện làm giàu trước Nhưng khi kinh tếthị trường đã phát triển, lại xuất hiện những nhóm lợi ích khác nhau được hưởng lợi khácnhau từ thành quả phát triển Tăng trưởng kinh tế đạt được bằng sự tổn thất của mộtnhóm xã hội và sự tăng tiến của nhóm xã hội khác ít hơn, xuất hiện tình trạng phân chiadân cư thành những nhóm có quyền lực lớn và những nhóm chịu thua thiệt Mặc dùnhóm dân cư ưu thế có qui mô nhỏ hơn nhưng lại thu lợi lớn hơn, họ có quyền lực trongtay và sở hữu những quyền lực mạnh Nhóm quyền lực này không chỉ có thể bảo vệ tốtlợi ích riêng của họ, mà còn phát huy ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách Sựphân cực giàu - nghèo tăng nhanh, khiến cho nhóm bị thiệt thòi cảm thấy tuyệt vọng, làmyếu cơ sở của sự ổn định xã hội Vì thế, cần phải đặt ra mục tiên bình đẳng hơn, côngbằng hơn
túy quốc hữu bị thu hẹp lại, thì khoảng cách giàu - nghèo cũng mở rộng Sự chênh lệchthu nhập thực sự giữa dân cư đô thị và nông thôn có khoảng cách lớn Chính phủ phải sửdụng công cụ phân phối lại như là một đòn bẩy để điều tiết phân phối thu nhập quốc dân,làm thu hẹp chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
chính trị, xã hội sẽ cản trở quá trình cải cách hệ thống kinh tế Bởi sự xuống cấp về đạođức xã hội, sự thiếu vắng lòng tin và hệ thống an sinh xã hội nghèo nàn tạo ra khó khănlớn, cản trở phát triển
1.4 Kinh nghiệm ở trong và ngoài nước về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
1.4.1 Kinh nghiệm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh đi đầu trong phát triển kinh tế, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhờ tận dụng lợi thế so sánh Tốc độ
Trang 38tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người trong những năm gần đây khácao (GDP tăng bình quân gần 13%/năm) Tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt chẽ vàhài hòa với công bằng xã hội Bài học kinh nghiệm được rút ra là:
Một là, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao đồng thời nâng cao chất lượngtăng trưởng, chú trọng việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, nâng cao năng suất lao động,đầu tư vào tiến bộ công nghệ và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hai là, thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sáchphát triển Tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo, tăng cường kết cấu
hạ tầng và đô thị hóa
Ba là, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả của cơ quan công quyền và cán bộcông chức: đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, tạo điều kiện chonhân dân tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách
1.4.2 Kinh nghiệm thành phố Cần Thơ.
Trong những năm qua, thành phố Cần Thơ đã đạt được những thành tựu nổibật trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.Kinh tế giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao (tốc độ tăng GDP giai đoạn 2006-2010
là 15,13%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; chất lượng tăng trưởng,năng lực cạnh tranh từng bước được cải thiện, thu nhập dân cư ngày càng tăng
Cần Thơ không chỉ triển khai các chương trình hỗ trợ giải quyết việc làm màcòn vận động và tạo điều kiện cho công nhân, viên chức, lao động được học tậpnâng cao trình độ học vấn và tay nghề Việc nâng cao phúc lợi xã hội (như về giáodục đào tạo, y tế, công tác đền ơn đáp nghĩa…) cho nhân dân được thực hiện khátốt Công tác xóa đói giảm nghèo được các quận, huyện vận dụng linh hoạt vớinhiều nguồn lực, tạo điều kiện giúp người nghèo từng bước khắc phục khó khăntrong cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, tiến tới xây dựng kinh tế gia đình bền vững;đồng thời hạn chế thấp nhất việc tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới
Trang 391.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản Từ sau Thế chiến thứ II, Nhật Bản đã có
phát triển kinh tế vượt bật, để đạt được thành công đó Nhật Bản đã tiến hành cácchính sách sau đây:
- Thứ nhất, thực hiện cuộc cách mạng ruộng đất Nội dung cơ bản của cải
cách ruộng đất là chuyển quyền sở hữu ruộng đất phát canh cho những tá điền đã từngtrồng trọt trên mảnh đất đó… Qua cuộc cải cách, tình trạng bất bình đẳng về sở hữuruộng đất đã giảm bớt, từ đó kích thích tính tích cực của nông dân, nhờ đó tăng thêm thunhập và mở rộng thị trường trong nước
- Thứ hai, dân chủ hóa lao động Bằng cách ban hành các đạo luật về lao
động, như Luật Công đoàn (1945) nhằm đảm bảo quyền tổ chức công đoàn Cùng vớiđạo luật, phong trào công đoàn phát triển nhanh chóng, tỉ lệ công nhân tham gia tăng từ3,2% (1945) lên 46,2% (1950) (Lê Văn Sang và Kim Ngọc, 1999, trang 23); Luật điềuchỉnh quan hệ lao động (1946) quy định việc giải quyết tranh chấp lao động;… Cuộc cảicách dân chủ hóa lao động thực sự đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ởNhật Bản vào thời điểm đó
- Thứ ba, khuyến khích phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ để tạo nhiều cơ hội việc làm, toàn dụng cho lao động xã hội Sau chiến tranh thế giới lần II, Nhật Bản tập
trung các nguồn lực cho phát triển kinh tế, lúc này có tới 13,5 triệu người thất nghiệp,chiếm 30-32% tổng số người có khả năng lao động (Lê Bộ Lĩnh, 1998, trang 71) Ngoài
ra, Chính phủ Nhật Bản còn hỗ trợ cho các xí nghiệp vừa và nhỏ phát triển bằng cáckhoản tín dụng ưu đãi và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt
Thứ tư, đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực Nhật Bản đã cải
cách sâu rộng hệ thống giáo dục các cấp nhằm phát triển nguồn nhân lực trongnước Chính phủ đầu tư lớn cho giáo dục, như năm 1950, chi 5% thu nhập quốc dâncho giáo dục công cộng, đến năm 1973 là 5,3% và năm 1976 là 6,6% (Lê Văn Sang
và Kim Ngọc, 1999, trang 34)
Thứ năm, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập Nhật Bản đã
thực hiện nhiều chính sách để điều tiết thu nhập, như tạo việc làm, trợ cấp thất
Trang 40nghiệp,… Các chính sách phân phối công bằng thu nhập của Nhật được thực hiện theo hướng phải tương ứng với trình độ chung của nền kinh tế.
- Thứ sáu, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu quả Nhật Bản sử
dụng một số cơ chế, cách thức quản lý hành chính khách quan, như:
Một là, tuyển mộ và đề bạt phải dựa trên năng lực và phải có tính cạnh tranhcao Hằng năm, cơ quan nhân sự quốc gia mở 3 kỳ thi nhằm tuyển chọn quan chức
và viên chức nhà nước Chế độ thi tuyển công khai làm cho quan chức nhà nước có
sự tin tưởng, tôn trọng xã hội, góp phần ngăn cản tham nhũng, thiên vị
Hai là, quyền lợi quan chức được đảm bảo ở mức họ không thể bán rẻ vị trícủa mình cho nhóm lợi ích riêng biệt nào đó
Ba là, nhiệm kỳ quan chức lãnh đạo ngắn nên tránh về tiêu cực, về đặcquyền, đặc lợi…
Cùng với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm hạn chế những quyết định thiếuminh bạch của quan chức, những cơ chế trên góp phần xây dựng đội ngũ quan chức
có đủ năng lực và đạo đức để duy trì được chất lượng tăng trưởng kinh tế trongtương đối dài
1.4.4 Kinh nghiệm của Đài Loan Hệ số Gini của Đài Loan thời kỳ
1953-1960 là 0,440, nhưng sau thập niên 1970-1980 hệ số giảm xuống chỉ còn 0,289 (Lê
Bộ Lĩnh, 1998, trang 121) Để đạt được điều này Đài Loan đã sử dụng các chínhsách sau:
Thứ nhất, cải cách ruộng đất và bình đẳng trong thu nhập Đài Loan tiến
hành cải cách ruộng đất năm 1949 với mục tiêu là khuyến khích nông dân phát triểnsản xuất bằng cách trao đất cho họ Sau cải cách, 92% nông dân có ruộng đất và họ
sử dụng khoảng 90% diện tích canh tác (Lê Bộ Lĩnh, 1998, trang 125) Cải cáchruộng đất tạo ra cơ hội cho một lượng lớn dân cư có thu nhập
Thứ hai, chương trình hỗ trợ nông nghiệp Đài Loan thực hiện hàng loạt
chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp như kiện toàn tổ chức nông hội, xây