Vì sự chưa hợp lý đó mà kinh tếthủy sản của Bến Tre phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; các cấp chínhquyền và ngành chức năng chưa triển khai hướng dẫn thực hiện đầy đủ nhữngquy đị
Trang 1TRẦN VĂN PHONG
“PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, PHÂN PHỐI CÔNG BẰNG NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2TRẦN VĂN PHONG
“PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, PHÂN PHỐI CÔNG BẰNG NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS VÕ TRÍ HẢO
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ KHAI THÁC PHÂN PHỐI NGHÊU TỰ NHIÊN 5
1.1 Phân phối lợi ích công bằng, phát triển bền vững trong khai thác nghêu tự nhiên. 5
1.1.1 Phân phối lợi ích công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên 5
1.1.1.1 Nguyên tắc công bằng 5 1.1.1.2 Nguyên tắc công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên8 1.1.2 Phát triển bền vững 9
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững 9 1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tự nhiên 10 1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững và phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên 13
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững 13 1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên để phát triển bền vững 15
1.2.2.1 Chủ trương, chính sách của Trung ương15 1.2.2.2 Chủ trương, chính sách của địa phương - tỉnh Bến Tre16 1.3 Quy định của pháp luật về việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên 17 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC, PHÂN PHỐI NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN TẠI BẾN TRE VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 20
2.1 Tổng quan đặc điểm của nghêu tự nhiên tại Bến Tre. 20
2.2 Quá trình phát triển các mô hình khai thác nghêu tự nhiên tại Bến Tre 22
2.3 Thực tiễn việc phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre 25
2.4 Những vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre liên quan đến phát triển bền vững. 28
2.4.1 Những vấn đề bất cập phát sinh trong quá trình khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tại Bến Tre. 28
Trang 42.4.1.2 Hạn chế của đặc tính “tập thể”của mô hình Hợp tác xã 312.4.1.3 Hạn chế về chính sách khoa học công nghệ và khuyến ngư 322.4.1.4 Bất cập trong vai trò của nhà nước đối với việc xúc tiến thương
mại, đăng ký chỉ dẫn địa lý 33
2.4.1.5 Bất cập về tình hình an ninh, trật tự 34
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 34
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÂN PHỐI CÔNG BẰNG NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN TẠI BẾN TRE, GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 38
3.1 Những vấn đề có liên quan đến quy định của pháp luật và những cơ chế, chính
sách của chính quyền địa phương 383.2 Phát triển Hợp tác xã khai thác nghêu bền vững 403.3 Ổn định tình hình an ninh, trật tự tại các Hợp tác xã nghêu để phát triển bềnvững 43
KẾT LUẬN 47
Phụ lục 1
Phụ lục 2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Trang 5Tôi tên là Trần Văn Phong – mã số học viên: 7701270088A, là học viên lớpCao học Luật Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên - Lý luận và thực tiễn pháp lý ở Bến Tre” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”).
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này làkết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướngdẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểmkhoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể,chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luậnvăn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Trần Văn Phong
Trang 6HTX: Hợp tác xã
LMHTX: Liên minh Hợp tác xã
ANTT: An ninh, trật tự
Trang 7về mặt xã hội Nếu quốc gia (địa phương) nào chỉ chú trọng phát triển về kinh tế
mà không chú trọng bảo đảm công bằng xã hội, thì sự phát triển về kinh tế sẽkhông bền vững
Thời gian qua, bên cạnh những thành công trong thực hiện mục tiêu côngbằng xã hội, Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng, còn phải đối mặt với nhiềuvấn đề xã hội đặt ra, trong đó có vấn đề phân phối chưa hợp lý của cải, cụ thể ởBến Tre là phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên Vì sự chưa hợp lý đó mà kinh tếthủy sản của Bến Tre phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; các cấp chínhquyền và ngành chức năng chưa triển khai hướng dẫn thực hiện đầy đủ nhữngquy định của pháp luật; người dân vùng ven biển chưa phát huy hết tinh thần,trách nhiệm trong quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên; chưaxác định đúng giá trị con nghêu để giảm nghèo, vươn lên làm giàu
Mặc dù quá trình khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên ở Bến Trecòn những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau Song, với nhữngchính sách, pháp luật hiện hành và những nguồn lực hiện có tại địa phương, nhất
là khả năng, điều kiện về yếu tố con người và nguồn lực nghêu do thiên nhiên ưuđãi, chắc chắn rằng nguồn lợi nghêu tự nhiên sẽ hướng đến sự phân phối côngbằng và góp phần phát triển kinh tế bền vững
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bến Tre là tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích tựnhiên khoảng 2.360 km2, được hợp thành bởi Cù lao An Hóa, Cù lao Bảo và Cù laoMinh, do phù sa của 4 nhánh sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông CổChiên bồi tụ thành Phía Bắc tỉnh Bến Tre giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phíaNam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, phía Đông hướng ra Biển Đông
Tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với haimùa rõ rệt: Mùa mưa khoảng từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô khoảng từ tháng 12đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000mm đến 2.300 mm,nhiệt độ trung bình trong năm từ 260C - 270C Với vị trí nằm tiếp giáp biển Đông,nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, có khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm,
có bờ biển dài trên 65km và vùng lãnh hải rộng hơn 26.000km2… Đây là điều kiệnthuận lợi, là thế mạnh để phát triển, sản xuất nông nghiệp, nhất là ngành thủy sản.Đặc biệt, hệ đa dạng sinh học vùng cửa sông ven biển rất phong phú (hơn 280 loàitảo đơn bào, 96 giống loài động vật nổi, 16 nhóm giống loài thủy sinh; với hơn7.130 ha rừng ngập mặn ven biển có 3.250 ha được bảo tồn …) là điều kiện thuậnlợi để nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản phát triển Cộng đồng dân cư vùngven biển từ hàng trăm năm qua đã gắn bó với nghề truyền thống này dựa vào nếpsống cộng đồng để sinh kế và làm chỗ dựa cho các hoạt động cách mạng qua cácthời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
Với tiềm năng về biển, tỉnh Bến Tre có cơ sở và điều kiện để khai thác, nuôitrồng và phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi nghêu Hiện nay, Bến Tre làmột trong những tỉnh đứng đầu cả nước về phát triển nuôi nghêu Toàn tỉnh hiện có
9 Hợp tác xã thủy sản nuôi nghêu với trên 11.042 hộ gia đình tham gia nuôi nghêu.Tổng diện tích đưa vào khai thác khoảng 4.878 ha (trong khoảng 7.200 ha có thểphát triển nuôi nghêu) Việc quản lý, bảo vệ, khai thác, bán sản phẩm nghêu tự nhiên
có sự tham gia của cộng đồng địa phương là tương đối toàn diện Hàng năm, nguồnlợi nghêu tại địa phương cho sản lượng rất lớn (dao động khoảng 5.000
- 15.000 tấn nghêu giống và thương phẩm) Hàng chục năm qua nghề nuôi nghêu ởtỉnh Bến Tre không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm và thu nhập ổnđịnh cho hàng chục ngàn dân nghèo ven biển, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảođảm an sinh xã hội, mà còn giúp hồi sinh nhiều vùng đất ven biển… Có thể
Trang 9khẳng định rằng, nguồn lợi nghêu tự nhiên đã đóng góp đáng kể cho nền kinh tế
-xã hội của tỉnh Đặc biệt, nghêu của tỉnh Bến Tre đã được Hội đồng Quản lý biểnquốc tế MSC (Marine Stewardship Council) thuộc Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thếgiới (WWF) cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn thương hiệu MSC
Tuy nhiên, hiện nay, do cơ chế chính sách và hình thức quản lý, khai thácnghêu còn có những vấn đề chưa hợp lý, hiệu quả mang lại chưa cao, phân phốithu nhập từ nguồn lợi nghêu tự nhiên còn nhiều bất cập; chưa có các văn bản,khung pháp lý hướng dẫn quy trình đồng quản lý trong ngành thủy sản, số lượngphương tiện khai thác nghêu ngày càng nhiều, với đa loại hình ngư, lưới cụ cókích thước mắt lưới không phù hợp, ảnh hưởng đến nguồn sống của nghêu giống,nghêu thương phẩm; nạn “nghêu tặc” còn diễn ra, gây bất ổn định trong quá trìnhquản lý, khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên; ý thức bảo tồn nguồn lợi nghêu tựnhiên của người dân để phát triển bền vững còn hạn chế; vấn đề biến đổi khí hậutoàn cầu và nước biển dâng đang diễn ra là những đe dọa, thách thức phải đốimặt… Những điều đó ít nhiều đã gây tổn thất nguồn lợi thủy sản nói chung vànghêu nói riêng, ảnh hưởng đến chu kỳ phát triển của hệ đa dạng sinh học, mấtcân bằng môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và đời sống kinh
tế của người dân…
Thời gian qua, mặc dù các cấp chính quyền đã có nhiều chủ trương, giảipháp để nguồn lợi nghêu tự nhiên được phát huy và đóng góp đúng thực chất choquá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là việc xóa đói giảm nghèo,nâng cao đời sống người dân vùng ven biển Nhưng thực tiễn còn đặt ra nhiềuvấn đề liên quan đến việc bảo đảm quản lý, khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiênlàm sao thật sự hiệu quả, phân phối bảo đảm thật sự công bằng, để người dântham gia nghề nuôi nghêu có thể bảo đảm sinh kế bền vững, khai thác và phânphối nguồn lợi nghêu bảo đảm công bằng theo hướng phát triển bền vững và thânthiện với môi trường… Quả thật, đây là vấn đề rất đáng quan tâm và cần phải cónhững giải pháp thật thiết thực, hiệu quả, kịp hời, để bảo đảm cho việc phát triểnbền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên ở Bến Tre
Xuất phát từ tình hình nêu trên, người viết chọn đề tài “Phát triển bền
vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên - Lý luận và thực tiễn pháp lý ở Bến Tre” để nghiên cứu làm luận văn Thạc sĩ luật.
2. Câu hỏi nghiên cứu
2.1 Nguồn lợi nghêu tự nhiên thuộc sở hữu của ai?
Trang 102.2 Ai có quyền khai thác, hưởng thụ từ nguồn lợi nghêu tự nhiên?
2.3 Những quy định nào của pháp luật để bảo đảm phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên và phát triển bền vững?
- Luận văn thạc sĩ, “Phân tích tình hình sản xuất kinh doanh ngành hàngnghêu trắng Bến Tre”, tác giả Lê Tân Thới, bảo vệ tại Đại học Cần Thơ, năm 2010;
-Luận án tiến sĩ, “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015”, tác giả Lâm Thanh Mẫn;
- Tham luận khoa học, “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản pháttriển hiện đại, hiệu quả bền vững”, của PGS – TS Hà Xuân Thông – Nguyên Việntrưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản;
- Tham luận khoa học, “Môi trường và vấn đề phát triển bền vững ngành thủy sản”, của Hoàng Hoa Hồng – Trường Đại học Nha Trang
Ngoài ra, còn có một số bài báo khoa học của các tác giả là nhà khoa học,cán bộ thực tiễn trong ngành thủy sản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đềtài
Các công trình và các bài nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ những vấn đề lýluận và thực tiễn pháp lý đối với hoạt động khai thác, phân phối nguồn lợi thủysản (trong đó có nghêu tự nhiên) để phát triển bền vững dưới các góc độ khácnhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứuriêng biệt, chuyên sâu về những nội dung mà chính sách, pháp luật quy định vềviệc phát triển bền vững, phân phối công bằng nguồn lợi nghêu tự nhiên và việc
áp dụng vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bến Tre Do đó, tác giả chọn nghiên cứu
đề tài này vừa nhằm kế thừa một số kết luận khoa học của các công trình, báo cáokhoa học nói trên, vừa nhằm bổ sung, làm sáng tỏ những vấn đề chưa được đềcập đến nhưng không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố,góp phần đưa việc quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên trênđịa bàn tỉnh trong thời gian tới thực hiện đúng quy định của pháp luật và hướngđến mục tiêu công bằng, phát triển bền vững
Trang 114. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những quy định của pháp luật về quản lý, khai thác, phân phối nguồn
lợi nghêu tự nhiên và thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này tại Bến Tre.Qua đó, làm rõ những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện và đề xuất, kiếnnghị một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện đúng những quy định của pháp luậttrong việc quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre,hướng tới mục tiêu bảo đảm công bằng và phát triển bền vững
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Những nội dung về phát triển bền vững, phân phối công bằng theo các chủtrương, chính sách, pháp luật có liên quan (Nghị quyết của Đảng, Luật Đất đai, LuậtThủy sản, Luật Hợp tác xã, Luật Tài nguyên và Khoáng sản, Luật Bảo vệ môitrường…) và tình hình quản lý, khai thác, phân phối nghêu tự nhiên tại Bến Tre
4.3 Phạm vi nghiên cứu
-Về nội dung:Tập trung nghiên cứu những nội dung về phát triển bềnvững, phân phối công bằng và thực trạng tình hình quản lý, khai thác, phân phốinguồn lợi nghêu tự nhiên
- Về thời gian: Từ năm 2009 đến 2017
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bến Tre
5. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được viết dựa trên các phương pháp nghiên cứu: Phương phápphân tích và tổng hợp; Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; Phương phápthống kê và so sánh; Phương pháp chuyên gia…
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Sau khi nghiên cứu, luận văn này góp phần chỉ ra những ưu điểm, hạn chế vànguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện pháp luật liên quanđến công tác quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên tại Bến Tre Từ
đó, người viết đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cơ bản với mong muốn hoàn thiện
hệ thống chính sách, pháp luật để áp dụng vào việc khai thác, phân phối nguồn lợinghêu tự nhiên hướng tới mục tiêu công bằng, phát triển bền vững
Trang 12CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ KHAI
THÁC PHÂN PHỐI NGHÊU TỰ NHIÊN
1.1 Phân phối lợi ích công bằng, phát triển bền vững trong khai thác nghêu tự nhiên.
1.1.1 Phân phối lợi ích công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên 1.1.1.1 Nguyên tắc công bằng
Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nó là sựbình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện dựa trên sự tựnguyện của các cá nhân Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ, tích cựctrong lĩnh vực kinh tế, mà còn đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa con người vớicon người trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức… Do vậy, nó vừa tạo nêntrạng thái ổn định của xã hội, vừa tạo nên những điều kiện cần thiết thúc đẩy xã hộiphát triển theo hướng tiến bộ Đồng thời, công bằng xã hội còn là điều kiện để mỗi
cá nhân có thể phát huy cao nhất năng lực vốn có cũng như được phát triển ngàycàng toàn diện hơn Việc xác định nguyên tắc công bằng để phát triển bền vững là cơ
sở quan trọng cho những bước tiếp theo của mỗi quốc gia
Sự phát triển của một quốc gia không chỉ thể hiện ở sự phát triển về kinh
tế, mà còn thể hiện ở sự phát triển về xã hội Sự phát triển về kinh tế và sự pháttriển về mặt xã hội có liên quan mật thiết với nhau Công bằng xã hội là một nộidung quan trọng trong sự phát triển về mặt xã hội Trong một xã hội có tình trạngbất công bằng, người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cựccủa mình; mặt khác, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này khôngtránh khỏi gây bất ổn định xã hội Vì vậy, nếu quốc gia nào chỉ chú trọng pháttriển về kinh tế mà không chú trọng bảo đảm công bằng xã hội, thì sự phát triển
về kinh tế của quốc gia đó sẽ không bền vững
Nguyên tắc phân phối lợi ích được hình thành trong mối quan hệ lợi ích giữangười với người, là thước đo để phân chia lợi ích chung của xã hội Thước đo nàyđược quy định bởi điều kiện kinh tế - xã hội của một phương thức sản xuất nhấtđịnh, trước hết là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nguyên tắc phân phối lợiích dựa trên cơ sở địa vị của các cá nhân trong quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản
xuất trở thành nguyên tắc phân phối chung của mọi phương thức sản xuất Trong khi
đó, công bằng xã hội cũng là một nguyên tắc phân phối lợi ích Khác với nguyên tắcphân phối nói chung, thước đo của nguyên tắc phân phối lợi ích
Trang 13công bằng chính là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ tươngứng giữa cống hiến và hưởng thụ với tiêu chí cống hiến ngang nhau thì hưởngthụ ngang nhau Hơn nữa, nếu nguyên tắc phân phối nói chung được thực hiệnbằng cách không dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện chung thì ngược lại, nguyêntắc phân phối lợi ích công bằng lại được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận tựnguyện của những cá nhân cùng tham gia vào một quan hệ lợi ích Vì thế, tácđộng của nguyên tắc phân phối công bằng tới hoạt động của con người khôngmang tính cưỡng bức, mà có tính tích cực Điều đó càng kích thích sự cống hiến
tự nguyện của mỗi cá nhân vào hoạt động chung của xã hội vì lợi ích của mình
và của cả cộng đồng Nói cách khác, nguyên tắc phân phối công bằng mà nộidung của nó là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cốnghiến và hưởng thụ đã khiến cho không một cá nhân nào cảm thấy mình bị thiệtthòi, mà còn thúc đẩy mỗi người tự nguyện làm việc nhiều hơn nữa Chính sự tựnguyện làm việc nhiều hơn nữa đó của mọi thành viên đã thúc đẩy xã hội tiếp tụcvận động và phát triển Theo nghĩa đó, công bằng xã hội là một động lực tích cựctạo nên sự vận động và phát triển mạnh mẽ của xã hội
Có thể nói, công bằng xã hội với tư cách động lực phát triển kinh tế - xãhội hoàn toàn mang tính khách quan, phổ biến và tất yếu Bởi vì, xã hội là kếtquả hoạt động của những con người có nhu cầu, lợi ích và mục đích riêng củamình, mà nhu cầu, lợi ích và mục đích đó của con người đều bị quy định bởihoàn cảnh bên ngoài, trước hết là hoàn cảnh kinh tế (đặc biệt là quan hệ kinh tếhay quan hệ lợi ích giữa người với người) Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể với mộthoàn cảnh kinh tế - xã hội nhất định, bao giờ cũng có một thước đo của côngbằng xã hội tương ứng làm căn cứ để xác định một tỷ lệ tương ứng cụ thể giữacống hiến và hưởng thụ cho mọi chủ thể cùng tham dự vào hoạt động của nền sảnxuất xã hội Ph.Ăngghen khẳng định: “Phương thức phân phối về căn bản là phụthuộc vào chỗ số lượng nào của sản phẩm được phân phối, và số lượng này, dĩnhiên thay đổi tùy theo sự tiến bộ của sản xuất và của tổ chức xã hội, do đó cảphương thức phân phối ắt phải thay đổi theo”
Thước đo nêu trên của công bằng xã hội còn là căn cứ cho các chủ thể tự đốichiếu với khả năng của bản thân mình để điều chỉnh nhu cầu và lựa chọn những lợiích phù hợp với lợi ích chung của xã hội Nếu mỗi cá nhân đều nhận thức đượcnguyên tắc của công bằng xã hội theo nghĩa trên thì xã hội luôn được ổn định vàphát triển Hơn nữa, vì công bằng xã hội luôn được thực hiện bằng một thước đo
Trang 14về mối quan hệ lợi ích giữa người với người trong xã hội, cho nên thước đo ấy cũngchính là cái để điều chỉnh hành vi của những cá nhân vi phạm quan hệ lợi ích chungcủa xã hội Tóm lại, thước đo của công bằng xã hội vừa là yếu tố kích thích sự cốnghiến của con người, vừa là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của xã hội và lợi ích củamỗi cá nhân trong xã hội ấy Mặt khác, xã hội có công bằng sẽ động viên, kích thích
sự cống hiến của các cá nhân, nghĩa là huy động được nhiều hơn nguồn nhân lực,vật lực, tài lực, trí lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ, tích cực trong lĩnh vựckinh tế mà còn đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa người và người trong cáclĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức,… để đảm bảo sự tương xứng giữa nghĩa vụ vàquyền lợi của các cá nhân hay các nhóm xã hội Nếu sự tương xứng giữa cốnghiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của con người được thực hiện trênmọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho mọi người đều được đối xử ngangbằng nhau, phù hợp với những cống hiến, tài năng, phẩm giá, trách nhiệm… của
họ, không ai bị thiệt thòi, không ai bị rơi vào cảnh bị đối xử bất công thì sựcông bằng xã hội sẽ không chỉ tạo ra trạng thái ổn định - điều kiện hết sức cầnthiết cho sự phát triển theo hướng tiến bộ của xã hội, mà còn tạo ra tâm lý xã hộilành mạnh, phấn khởi, có tác dụng kích thích tính tích cực, năng động của conngười trong hoạt động thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hướng tiến bộ Việc conngười được tôn trọng, được đối xử công bằng sẽ hình thành ở họ một động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, làm cho các quan hệ xã hội của conngười ngày càng trở nên tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn
Đây là nét khác biệt cơ bản giữa vai trò động lực của công bằng xã hội trongtiến bộ xã hội và vai trò động lực của nguyên tắc trao đổi ngang giá trong nền kinh
tế thị trường (với tính cách là công bằng trong lĩnh vực kinh tế) Đặc biệt, trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho quan hệ trao đổi ngang giángày càng có tính công bằng hơn Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ngày càng tạo ra nhiều cơ hội bình đẳng hơn cho tất cả mọi người có thể pháthuy được tính năng động của mình, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội;đồng thời, cho phép thực hiện các hình thức phân phối tương xứng với sự cống hiếncủa mỗi cá nhân trong xã hội Điều đó sẽ làm cho việc phân phối ngày càng trở nêncông bằng hơn Nhưng, việc tạo ra một xuất phát điểm bình đẳng cho mọi cá nhânlại là công việc của cả cộng đồng, trong đó Nhà nước đóng vai trò đặc biệt quantrọng Sự điều tiết của Nhà nước mới thực sự là “chìa khoá
Trang 15để đáp ứng những nhu cầu phức tạp và trái ngược nhau của xã hội” Sự điều tiết củaNhà nước phải được thực hiện bằng các chủ trương, chính sách phù hợp với thước
đo của công bằng xã hội, chứ không phải là được áp đặt một cách chủ quan Điềunày thể hiện ở chỗ, Nhà nước phải dùng những chính sách kinh tế - xã hội khác nhau
để điều chỉnh và tạo đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là dùng các chínhsách thu hút những nguồn lực về vốn, tài sản, hay lao động có chất lượng cao Bêncạnh đó, cần phải kết hợp chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xãhội Có như vậy mới thực sự làm cho công bằng xã hội trong điều kiện phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trở nên đầy đủ hơn Ngược lại,
sẽ là bất hợp lý và phản tác dụng nếu Nhà nước can thiệp quá sâu vào sự vận hànhcủa nền kinh tế bằng mệnh lệnh chủ quan hay điều tiết bằng cách phân phối mangtính cào bằng, bình quân chủ nghĩa Những can thiệp hoặc điều tiết như vậy chỉ dẫnđến chỗ làm triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế
Phân phối lợi ích một cách công bằng là yếu tố kích thích trực tiếp các chủthể tích cực tham gia vào những hoạt động cống hiến, đóng góp để thúc đẩy sựphát triển của nền kinh tế - xã hội Nói cách khác, nếu thước đo công bằng xã hộiphù hợp với lợi ích chung của xã hội - lợi ích được cấu thành từ những nhân tốchủ đạo của sự phát triển kinh tế - xã hội, sẽ góp phần rất quan trọng trong việchuy động mọi nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội Công bằng xãhội còn là điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy cao nhất năng lực của mình, pháttriển ngày càng toàn diện và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ
1.1.1.2 Nguyên tắc công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên
Hiện nay, qua nghiên cứu chưa thấy có quy định riêng hay một quy định cụthể nào về nguyên tắc công bằng trong khai thác nghêu tự nhiên Tuy nhiên, đã cónhững quy định liên quan đến công tác quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sảnnói chung (trong đó có nguồn lợi nghêu tự nhiên), cụ thể là các quy định về đồngquản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và quy chế quản lý khu bảo tồn biển
Việc đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản được quy định tại Điều 10của Luật Thủy sản sửa đổi năm 2017 Quy định này nhằm tạo cơ sở pháp lý để Nhànước giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản -một phương thức quản lý mới được nhiều quốc gia tiếp cận để quản lý hoạt độngthủy sản đặc biệt trong hoạt động quản lý nguồn lợi thủy sản Theo đó, người dân,Hội, Hiệp hội… tham gia cùng với chính quyền cơ sở quản lý hoạt động bảo vệnguồn lợi thủy sản, đồng thời nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân
Trang 16trong hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản, từng bước thực hiện chủ trương xãhội hóa, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý hoạt độngbảo vệ, khai thác, phân phối nguồn lợi thủy sản, là giải pháp hữu hiệu giảm xungđột lợi ích trong cộng đồng và góp phần phát triển bền vững Có thể thấy, đây làlần đầu tiên khái niệm đồng quản lý được quy định trong Luật Thủy sản sửa đổi,ghi nhận và khuyến khích các tổ chức cộng đồng tham gia, đó là kết quả củahàng chục năm thí điểm, rút kinh nghiệm nhằm ngày một hoàn thiện các phươngthức quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
1.1.2 Phát triển bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên vàTài nguyên thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triểncủa nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọngnhững nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” Kháiniệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987, nhờ Báo cáoBrundtland (còn gọi làBáo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED(nay là Ủy Ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển
có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đếnnhững khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Nói cách khác, pháttriển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng, vănhóa và con người phát triển, môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này,tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắttay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 5 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - vănhóa - con người - môi trường Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểutham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lạikhái niệm này và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chínhphủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùngvới bảo vệ môi trường
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi
là Hội nghị Rio+10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tạiJohannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng nhưcác chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của hơn 170 quốc gia đã tổng kếtlại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết
Trang 17sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự
đa dạng sinh thái Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tạiJohannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm
10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21
đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêunày bao gồm xóa đói nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiệnvới môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý cácnguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắnvới các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc giatham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tạimỗi quốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hànhđộng với Dự án VIE/01/021 “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị
sự 21 của ViệtNam”
Như vậy, khái niệm “Phát triển bền vững” được đề cập trong báo cáoBrundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hòa giải kinh tế vàmôi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nội dungkhái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị, xã hội, đặc biệt là bình đẳng,công bằng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là “tiếng chuông” hay nói cáchkhác là “tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại
Kể từ khi khái niệm này xuất hiện, nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự quan tâmcủa toàn nhân loại (các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, đảng phái chính trị,các nhà tư tưởng, các phong trào xã hội và đặc biệt là giới khoa học)
1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tự nhiên
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X
về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 xác định: “… phấn đấu để nước tatrở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủquyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kếthợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh vàbảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho pháttriển kinh tế biển…; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kểđời sống của nhân dân vùng biển và ven biển”
Tại Quyết định số 1445/2012/QĐ-TTg về “Quy hoạch tổng thể phát triểnngành thủy sản đến năm 2020” của Thủ tướng Chính phủ cũng nêu: “thủy sản phảiphấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn, tiếp tục phát triển vừa nhanh
Trang 18vừa bền vững” Điều này là hết sức khó khăn, vì cùng lúc phải phấn đấu trở thànhmột ngành kinh tế có sức cạnh tranh cao, vừa phải bảo đảm phát triển bền vững.
Trên cơ sở các nghị quyết và quyết định nói trên, quan điểm chung về pháttriển của ngành thủy sản là: nguồn lợi thuỷ sản phải được sử dụng lâu dài để vừathoả mãn được nhu cầu tăng thị phần xuất khẩu và mức tiêu thụ thuỷ sản nội địatrước mắt, vừa duy trì được nguồn lợi cho các kế hoạch phát triển kinh tế thuỷsản trong tương lai và cho các thế hệ mai sau Điều đó cũng là nguyên tắc pháttriển bền vững đối với nguồn lợi nghêu tự nhiên và vấn đề này có thể hiểu theocác khía cạnh cụ thể, đó là: Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chức năngcủa các hệ thống sinh thái có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triểnngành thuỷ sản nói chung và nguồn lợi nghêu tự nhiên nói riêng, ở thời điểm hiệnnay và trong tương lai; Phát triển nghề nuôi nghêu thật hiệu quả, bảo đảm lợi íchlâu dài và có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế về cáctiêu chí của ngành thủy sản nói chung, nghêu tự nhiên nói riêng; Bảo đảm lợi íchcủa các cộng đồng dân cư - những người có quyền hưởng thụ nguồn lợi nghêu tựnhiên, góp phần xoá đói giảm nghèo cho ngư dân; Tối ưu hoá việc sử dụng đamục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nước liên quan tới hoạt độngnuôi, quản lý, khai thác nghêu tự nhiên, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tácđộng của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi nghêu tự nhiên; Tăngcường tính cạnh tranh của nghêu tự nhiên với các sản phẩm thủy sản, góp phầnbảo đảm an ninh thực phẩm cho đất nước nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng,đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm nghêu
Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản nói chung, nghêu tự nhiên nói riêng, gópphần phát triển kinh tế -xã hội Điều tất yếu phải đặc biệt chú trọng đến công tácbảo vệ môi trường, trong đó có môi trường ven bờ biển; công tác kiểm soát môitrường phải phát huy được hiệu quả, để góp phần làm cho ngành nuôi thủy sảnnói chung, nghêu tự nhiên nói riêng phát triển bền vững cũng như cung cấp sảnphẩm sạch phục vụ đời sống con người Muốn làm được những điều đó, cần phảiquam tâm làm tốt các vấn đề như:
Dựa vào cộng đồng: Tổ chức và cá nhân những người nuôi nghêu phải xây
dựng nội quy đánh bắt trong vùng nhằm đảm bảo khai thác không cạn kiệt; hàngnăm, không khai thác hết lượng nghêu hiện có (chỉ nên khai thác khoảng 80%), màphải giữ lại một phần để duy trì sản lượng và khả năng tái tạo nguồn lợi hiệu quả.Thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản cùng
Trang 19với sự hỗ trợ tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân; tổ chức tuyên truyền,đào tạo nâng cao ý thức của cộng đồng trước những tác động của môi trường đếnnguồn lợi nghêu tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Ngư dân tự giác loại bỏ cácphương tiện cơ giới trong khai thác, hạn chế hủy diệt nguồn lợi nghêu tự nhiên.
Có thể nói rằng, vấn đề bảo vệ môi trường và nguồn lợi giống không chỉ lànguyên tắc trong sản xuất mà còn là yếu tố quyết định thị trường và thu nhập củacộng đồng ngư dân Môi trường hiện nay được hiểu ở một phạm trù rất rộng, liênquan đến đa dạng sinh học Đó là việc bảo tồn được tính đa dạng sinh học, baogồm hệ động vật thủy sinh và tất cả các hệ động thực vật cộng sinh với con giốngđược nuôi hoặc đánh bắt
Bảo tồn các hệ sinh thái quan trọng phục vụ phát triển thủy sản lâu dài.Tiến hành xây dựng các khu bảo tồn biển cũng như bảo tồn vùng nước nội địanhằm không làm thoái hoá và tổn hại đến đa dạng sinh học thuỷ sinh vật Bảo tồnnguồn gen và các hệ sinh thái nhạy cảm Bảo tồn các hệ sinh thái quan trọngphục vụ phát triển thủy sản lâu dài Đưa các vấn đề môi trường vào giai đoạn quyhoạch của quá trình phát triển thuỷ sản, xúc tiến quản lý tổng hợp và tăng cườngphối hợp liên ngành để giảm thiểu các tác động từ ngành khác vào nguồn lợinghêu tự nhiên Đẩy mạnh sản xuất sạch hơn trong các hoạt động sản xuất thủysản; tiến hành chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong khai thác thủy sản theohướng giảm dần các nghề tiêu tốn nhiều nhiên liệu, các nghề khai thác hủy diệt,không thân thiện với môi trường sang các nghề tiến bộ hơn; cấp giấy phép khaithác thủy sản cho các vùng nước và các loại nghề của các địa phương nhằm duytrì năng lực khai thác thủy sản hợp lý Áp dụng các công cụ giám sát kiểm soátmôi trường trong các hoạt động khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên (quan trắccảnh báo môi trường, đánh giá tác động môi trường, đánh giá tính bền vững củacác nghề kinh tế thủy sản )
Đảm bảo nguồn lợi: Từ việc xác định đúng ý nghĩa của môi trường trong
khai thác thủy sản, bằng mọi nỗ lực của mình, chính quyền các cấp và ngành chứcnăng phải có giải pháp giúp cộng đồng thực hiện chiến lược nuôi trồng khai thácnguồn lợi nghêu tự nhiên bền vững, có giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái đadạng sinh học ven bờ biển và tổ chức thực hiện có hiệu quả các biện pháp vừa bảotồn và ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm tránh thất thoát thấp nhất nguồn lợi nghêu
tự nhiên; đồng thời, thực hiện tốt việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường ven
bờ biển, điều quan trọng là có những giải pháp hữu hiệu hơn để vừa
Trang 20giảm tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản, vừa không tác động đếncuộc sống của ngư dân Điều đó góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồntài nguyên thiên nhiên của địa phương trong tương lai.
Năm 2009, con nghêu Bến Tre được Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới(WWF), Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế (MSC) cấp chứng nhận MSC, chứng chỉMSC có giá trị như một giấy thông hành, đảm bảo phát triển thủy sản an toàn và
là thương hiệu bảo hộ cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam Khi sản phẩm đượckhai thác, có bảo vệ môi trường thì giá cả bán ra sẽ được tăng lên Nghêu BếnTre đã trở thành biểu tượng con nghêu của Việt Nam trên thương trường quốc tế,bởi vì nghêu có kích cỡ thương phẩm lớn, chất lượng thơm ngon, đảm bảo antoàn thực phẩm, đặc biệt đã được Hội đồng bảo tồn biển quốc tế (MarineStewardship Council) cấp chứng nhận tiêu chuẩn MSC Vì thế, nghêu thịt chẳngnhững được tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu đi nhiều thị trường lớntrên thế giới như: EU, Bắc Mỹ, Hàn Quốc,…mang về giá trị lớn ngoại tệ Để bảo
vệ và phát triển con nghêu bền vững hơn nữa, trong thời gian tới cần tập trungtiếp tục duy trì chứng nhận MSC cho con nghêu Bến Tre đảm bảo phát triển ổnđịnh và bền vững; hằng năm, đều có các khuyến cáo về kích cỡ, thời điểm khaithác đối với Hợp tác xã nghêu, tăng cường quản lý khai thác nghêu giống tại cácHợp tác xã; phối hợp với các viện, trường xây dựng các mô hình nuôi nghêu bềnvững, hạn chế tình trạng nghêu chết xảy ra hàng loạt như những năm trước đây
1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững và phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên
Phát triển bền vững là khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển
về mọi mặt mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Kháiniệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗiquốc gia sẽ dựa vào đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng đểhoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển bền vững
Tuy quan điểm phát triển nhanh và bền vững mới được chính thức công
bố gần đây, nhưng tư tưởng của nó được thể hiện xuyên suốt trong đường lối pháttriển của Việt Nam Cụ thể là, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951)
và lần thứ VI (năm 1986) của Đảng đã đặt ra mục tiêu: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.
Trang 21Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng đã thông qua
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991 - 2000, nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa
và bảo vệ môi trường”; theo đó, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng
Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 187-CT về việc triển khai thực hiện kếhoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000
Ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW
về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng tiếp tục khẳng định:
“Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) và chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội chỉ rõ: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững,
tăng trưởng đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.
Đồng thời, qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII quanđiểm trên tiếp tục được khẳng định và trở thành những định hướng chủ trương,chính sách quan trọng về phát triển bền vững cho các ngành, các cấp (trong đó cóngành nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản) Đặc biệt, ngày 17 tháng 8 năm 2004,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 153/2004/QĐ-TTg về định hướngchiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (VA21Vietnam Angeda 21) - Đây làvăn kiện khung, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước nhằm thựchiện phát triển bền vững ở Việt Nam trong thế kỷ XXI Theo đó, quan điểm tổng
quát về phát triển bền vững của Đảng và Nhà nước ta đó là: “Phát triển bền vững
là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ cao liên tục trong thời gian dài dựa trên việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nhưng phải bảo đảm
sự cân bằng và bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội hiện tại nhưng không làm tổn hại đến thế hệ tương lai”.
Có thể khẳng định rằng, phát triển bền vững là một trong những mục tiêuthiên niên kỷ của thế giới và cũng là mục tiêu hàng đầu cho phát triển của ViệtNam Việc xác định nguyên tắc phát triển bền vững nói chung và việc xác địnhbền vững trong nuôi trồng thủy sản nói riêng là cơ sở quan trọng cho những bướctiếp theo của ngành nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, phát triển bền vững khôngphải dễ dàng đạt được trong thực tế, vì yếu tố phát triển luôn thay đổi, thậm chí
Trang 22thay đổi rất nhanh so với khả năng điều chỉnh của con người và các chủ thể quản
lý Do vậy, phát triển bền vững không chỉ là mục tiêu mong đợi mà còn là nhucầu và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, của cácngành kinh tế, vùng lãnh thổ và các địa phương Trong đó, phát triển bền vững sẽtập trung vào các vấn đề chính, đó là: Phát triển kinh tế để cải thiện chất lượngcuộc sống con người (cuộc sống lành mạnh và hiệu quả trong sự hài hoà vớithiên nhiên); Phát triển phù hợp về mặt môi trường (sử dụng hợp lý tài nguyênthiên nhiên, bảo vệ các quá trình sinh thái quan trọng, các hệ thống hỗ trợ cuộcsống con người và đa dạng sinh học); Phát triển công bằng trong phân phối lợiích từ sự phát triển (trong xã hội, giữa các thế hệ, giữa các quốc gia…)
Như vậy, tính bền vững trong các hoạt động thủy sản (trong đó có nghêu
tự nhiên) chính là thước đo về mức cân bằng giữa phúc lợi kinh tế, xã hội và môitrường; độ đo về trách nhiệm của các thế hệ hôm nay đối với các thế hệ mai sau
Có thể nói, nhìn từ góc độ môi trường, thủy sản “vừa là nạn nhân, vừa là thủphạm”; từ góc độ kinh tế, thủy sản “vừa đem lại hiệu quả kinh tế lớn, vừa chịurủi ro cao” và từ góc độ xã hội, thủy sản “vừa là công cụ xóa đói giảm nghèo hữuhiệu, vừa tác động phân hoá giàu nghèo nhanh” Cho nên, phát triển thủy sản bềnvững cũng chính là triển khai giải quyết đồng bộ ba mảng vấn đề: người dântham gia hoạt động thủy sản (xã hội), ngư nghiệp (kinh tế thủy sản) và ngưtrường (môi trường và nguồn lợi thủy sản) Tiềm năng phát triển thủy sản có thểcòn rất lớn nếu cơ sở nguồn lợi và các hoạt động sản xuất thủy sản được quản lý
và điều hành theo hướng hiệu quả và bền vững
1.2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên để phát triển bền vững
1.2.2.1 Chủ trương, chính sách của Trung ương
Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lầnthứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020 xác định: “… phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh
về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển…; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển”.
Trang 23Ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 153/2004/QĐ-TTg về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam(Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Tại Phần 2 của Chương trình đã xácđịnh rõ: Thủy sản là một trong những ngành kinh tế được xác định cần phải ưutiên nhằm phát triển bền vững Tại Quyết định số 1445/2012/QĐ-TTg về “Quyhoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2020” của Thủ tướng Chính
phủ cũng nêu: “thủy sản phải phấn đấu trở thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn, tiếp tục phát triển vừa nhanh vừa bền vững”.
Trên cơ sở các nghị quyết và quyết định nói trên, quan điểm chung về quản
lý, khai thác thủy sản (có nghêu tự nhiên) để phát triển bền vững là: nguồn lợi thủysản phải được sử dụng lâu dài để vừa thỏa mãn được nhu cầu trước mắt, vừa duy trìđược nguồn lợi cho các kế hoạch phát triển kinh tế thủy sản trong tương lai và chocác thế hệ mai sau Theo đó phải: Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn chứcnăng của các hệ thống sinh thái có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triểnngành thủy sản hiện nay và trong tương lai; Phát triển một ngành kinh tế thủy sảnhiệu quả, bảo đảm lợi ích lâu dài và có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộngđồng quốc tế; Bảo đảm lợi ích của các cộng đồng dân cư - những người có quyềnhưởng dụng nguồn lợi thủy sản, góp phần xoá đói giảm nghèo cho những ngườitham gia kinh tế thủy sản, cân bằng hưởng dụng nguồn lợi giữa các thế hệ; Tối ưuhóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên biển và đất ngập nước liênquan tới thủy sản, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và các tác động của các ngành khácđến tính bền vững của nguồn lợi thủy sản; Tăng cường tính cạnh tranh của các sảnphẩm thủy sản, góp phần bảo đảm an ninh thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của thịtrường tiêu thụ sản phẩm thủy sản
1.2.2.2 Chủ trương, chính sách của địa phương - tỉnh Bến Tre
Quán triệt những chủ trương của Đảng và Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhândân tỉnh Bến Tre đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trungương Đảng (khóa X) về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, xác định rõ mụctiêu và định hướng những nhiệm vụ trọng tâm cho ngành thủy sản tỉnh nhà phát triển
trong thời gian tới phù hợp với điều kiện của địa phương Về chính sách: Ủy ban
nhân dân tỉnh đã quyết định các chính sách về giao đất, giao rừng cho các Hợp tác
xã thủy sản quản lý, khai thác và ban hành cơ chế phân phối lợi nhuận, nâng caochất lượng cuộc sống cho cộng đồng, ban hành các quyết định về quản lý và
Trang 24khai thác có chú ý yếu tố bảo tồn nguồn lợi, bảo vệ môi trường và môi sinh…;
Các ngành chức năng phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện tham mưu cho
Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng các chính sách, chủ trương phù hợp với yêu cầu
bảo vệ và tái tạo nguồn lợi nghêu tự nhiên, môi trường, môi sinh và phát triểncủa cộng đồng (hướng dẫn áp dụng các cơ chế quản lý, nhất là cơ chế đồng quảnlý; hướng dẫn, tập huấn về nghiệp vụ chuyên môn quản lý kiểm soát thu hoạch,quản lý bệnh, quản lý môi trường, quản lý tài chính và thực hiện các chính sách
khuyến ngư, hỗ trợ thiên tai…); Ủy ban nhân dân các xã tổ chức thực hiện và
kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách Nhà nước đối với các Hợp tác xã,
ổn định tình hình trật tự xã hội, thực hiện cơ chế đồng quản lý nhằm nâng cao ýthức trách nhiệm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và nâng cao chất lượng cuộc sống
của cộng đồng dân cư tham gia quản lý khai thác nguồn lợi nghêu tự nhiên; Ban chủ nhiệm các Hợp tác xã thủy sản tổ chức quản lý, khai thác nguồn lợi theo qui định pháp luật và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan chuyên ngành; tổ chức
phân phối lợi nhuận và quản lý lao động theo cơ chế đồng quản lý, thực hiệnnhiệm vụ được phân cấp của cơ quan chuyên ngành và đảm bảo nguyên tắc hợppháp, công bằng, công khai, dân chủ
1.3 Quy định của pháp luật về việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên.
Liên quan đến việc khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên (mộttrong những nguồn lợi thủy sản), Quốc hội đã ban hành Luật Thủy sản, Luật tàinguyên và khoáng sản, Luật Hợp tác xã ; Chính phủ và các bộ, ngành cũng đã
có những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề này, đây là điều kiệnthuận lợi để chính quyền địa phương và những người dân tham gia có cơ sở pháp
lý để vận dụng thực hiện trong thực tiễn
Luật Thủy sản năm 2017 (trước đây là Luật Thủy sản năm 2004 và các Nghịđịnh của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản 2004), đây là văn bản phápluật có giá trị pháp lý cao nhất của ngành thủy sản, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vựchoạt động thủy sản bao gồm: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Khai thác thủysản; Nuôi trồng thủy sản; Quản lý tàu cá và cơ sở dịch vụ hoạt động thủy sản; Chếbiến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; Hợp tác quốc tế về hoạt động thủysản; Quản lý nhà nước về thủy sản… Luật Thủy sản là cơ sở pháp lý để phân địnhtrách nhiệm, tránh chồng chéo và có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành có liênquan như: giữa ngành Thủy sản với ngành Du lịch, Bộ Giao thông vận tải,
Trang 25Bộ Quốc phòng… trong thực hiện công tác quản lý, khai thác, phân phối nguồnlợi thủy sản.
Ngoài việc áp dụng Luật Thủy sản, Luật tài nguyên và khoáng sản, Luật Hợptác xã… thì các cấp chính quyền tỉnh Bến Tre cũng đã ban hành các văn bản
quy định những vấn đề liên quan đến công tác quản lý, khai thác, phân phối nguồnlợi nghêu tự nhiên, đó là: Nghị quyết số 01/2009/NQ-HĐND ngày 13/02/2009 củaHội đồng nhân dân tỉnh và Quyết định số 1207/QĐ-UBND ngày 04/6/2009 của Ủyban nhân dân tỉnh ban hành phê duyệt Đề án phát triển toàn diện 3 huyện ven biểntỉnh Bến Tre đến năm 2020 và các Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh số20/2010/QĐ-UBND ngày 07/7/2010 quy định về sản xuất giống, ương giống, khaithác nghêu giống, nghêu tự nhiên và nuôi nghêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh BếnTre; Quyết định số 29/2010/QĐ-UBND ngày 21/10/2010 quy định về khai thác vàbảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre và Quyết định số 31/2012/QĐ-UBND, ngày 22/10/2012 quy định phân công, phân cấp quản lý hoạt động thủy sảntrên địa bàn tỉnh Bến Tre… Đây là những cơ sở lý luận, căn cứ pháp lý quan trọng
để xác định chủ trương, biện pháp quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tựnhiên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Có thể khẳng định rằng, việc áp dụng các Luật Thủy sản, Luật Hợp tác xã,Luật tài nguyên và khoáng sản, Luật môi trường và các nghị định của Chính phủ,các thông tư hướng dẫn của các Bộ quản lý chuyên ngành… đã có tác dụng nângcao ý thức chấp hành pháp luật hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, nhưngđồng thời cũng chỉ ra một số quyền căn bản của tổ chức kinh tế hợp tác được vậndụng trong quá trình sản xuất nhằm khuyến khích và bảo vệ quyền lợi của cộngđồng
Như vậy, từ những cơ sở lý luận nêu trên khẳng định rằng, nguồn lợi thuỷ sảnnói chung, nguồn lợi nghêu tự nhiên nói riêng là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước thống nhất quản lý Tổ chức, cá nhân có quyền khai thác nguồn lợinghêu tự nhiên theo quy định của pháp luật Nguyên tắc hoạt động quản lý, khaithác, phân phối nguồn lợi nghêu tự nhiên là phải bảo đảm phát triển bền vững và cótrách nhiệm Khai thác phải gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi nghêu tựnhiên, gắn với bảo vệ môi trường; đồng thời, phải thích ứng với biến đổi khí hậu;chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ tác hại của thiên tai, phòng chống dịch bệnh, bảođảm an toàn thực phẩm Bảo đảm chia sẻ lợi ích, trách nhiệm của tổ chức, cá nhântrong việc hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng nguồn lợi nghêu tự
Trang 26nhiên hoặc hoạt động các ngành nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợinghêu tự nhiên Hoạt động quản lý, khai thác, phân phối nguồn lợi nghêu tựnhiên phải kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ chủ quyền và lợi íchquốc gia khu vực biên giới biển; tuân theo quy định của pháp luật có liên quan,đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC, PHÂN PHỐI NGUỒN LỢI NGHÊU TỰ NHIÊN TẠI BẾN TRE VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chẳng những Bến Tre đứngđầu về diện tích nuôi nghêu, mà chất lượng con nghêu ở Bến Tre cũng không nơinào sánh bằng1 Đó là lợi thế cho Bến Tre phát triển mạnh nghề nuôi nghêu để xuấtkhẩu, mang lại nguồn ngoại tệ không nhỏ cho địa phương; đồng thời, đây cũng lànghề xóa đói, giảm nghèo và giải quyết công ăn, việc làm cho hàng ngàn người dân
có thu nhập thấp ở địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà Tuynhiên, hiện nay Bến Tre chỉ khai thác được trên 50% tiềm năng diện tích hiện có,nếu được khai thác một cách triệt để, sản lượng nghêu thương phẩm ở Bến Tre cóthể đạt hàng trăm ngàn tấn/năm, mang lại nhiều lợi ích cho địa phương
2.1 Tổng quan đặc điểm của nghêu tự nhiên tại Bến Tre.
Bến Tre là tỉnh có diện tích nuôi nghêu và bãi nghêu giống tự nhiên đứng đầukhu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre: “Trữ lượng nghêu của toàn tỉnh Bến Tre ước
tính khoảng 216.000 - 456.000 tấn, khả năng khai thác là 150.000 - 312.000 tấn/năm, trong đó sản lượng chủ yếu là khai thác tự nhiên, còn sản lượng nuôi chỉ khoảng 20.000 - 50.000 tấn/năm” 2 Có thể thấy, Bến Tre là một tỉnh có nguồn trữ
lượng nghêu hết sức dồi dào, nhưng việc khai thác nghêu tự nhiên hiện nay toàn tỉnhchỉ khoảng trên 15.000 ha là chưa tương xứng với tiềm năng, trong đó huyện BìnhĐại (xã Thới Thuận và xã Thừa Đức) có diện tích lớn nhất là khoảng 5.400 ha,huyện Ba Tri (xã Bảo Thuận và xã An Thủy) gần 5.000 ha, huyện Thạnh Phú (xãThạnh Phong và xã Thạnh Hải) trên 3.700 ha Diện tích bãi nghêu bố, mẹ chủ yếunằm ở các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, khoảng 389 ha
Với lợi thế nằm sát bờ biển Đông, có chiều dài bờ biển khoảng 65 km, hìnhthành nên bãi bồi rộng lớn trải dài từ hyện Bình Đại, Ba Tri đến Thạnh Phú với diệntích trên 15.000 ha nằm trong vùng Plume nhiều phù sa, dưỡng chất của Sông
1ngheu.html
www.vca.org.vn/tin /13187-ben-tre-tim-giai-phap-phat-trien-vung-nuoi-2Tham luận của ông Huỳnh Văn Cung, CCT Chi cục Thủy sản Bến Tre
Trang 28Mê Kông3 Trong đó, có tổng diện tích đưa vào khai thác nghêu tự nhiên khoảng4.878 ha (trong khoảng 7.200 ha có thể phát triển nuôi nghêu).
Nghề nuôi nghêu ở Bến Tre có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ hình thức khaithác và nuôi tự phát của người dân ở các bãi bồi ven biển sang nuôi theo hìnhthức Hợp tác xã để đảm bảo quy trình kỹ thuật và quản lý môi trường Toàn tỉnhhiện có 9 Hợp tác xã thủy sản nuôi nghêu và 35 tập đoàn (Tổ hợp tác) nuôinghêu, tập trung chủ yếu ở ba huyện ven biển là Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú,
có trên 11.042 hộ gia đình tham gia nuôi nghêu
Hàng năm, nguồn lợi nghêu tại địa phương cho sản lượng rất lớn Sảnlượng thu hoạch bình quân khoảng 9.000 tấn/năm đối với nghêu thịt, cao điểmlên đến 37.000 tấn/năm; nghêu giống bình quân dao động từ 400 - 500 tấn/năm,cao điểm trên 1.000 tấn/năm và ngày càng phát triển với mật độ dày và quy môrộng hơn, sản lượng nghêu giống trong tỉnh có chiều hướng ngày càng tăng là doquá trình khai thác có chú trọng đến việc bảo tồn đàn nghêu bố mẹ Việc quản lý,bảo vệ, khai thác, bán sản phẩm nghêu tự nhiên có sự tham gia của cộng đồng địaphương là tương đối toàn diện
Nghêu Bến Tre là một trong những loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, đượcxuất khẩu và ưa chuộng trên nhiều thị trường thế giới, không chỉ bởi giá trị dinhdưỡng mà còn là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của EU;đặc biệt, từ năm 2009, các vùng nuôi nghêu ở Bến Tre được Hội đồng bảo tồn biểnquốc tế cấp chứng nhận thương hiệu MSC (Marine Stewardship Council), đây làđiều kiện thuận lợi để nâng vị thế con nghêu Bến Tre lên tầm cao mới, đồng thời làđiều kiện quan trọng để thu hút đầu tư phát triển nhanh và bền vững ngành chế biếnhải sản của Bến Tre Kể từ khi được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn thương hiệuMSC (nghề cá đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á được cấp chứngnhận này), nghề nuôi nghêu Bến Tre đã đạt được những lợi ích to lớn về môi trường,sinh thái, quản lý và cả về lợi ích kinh tế, đây cũng là cơ sở cho việc xác định mụctiêu và các phương pháp phát triển bền vững nghề nuôi nghêu Tuy nhiên, trước áplực cạnh tranh trên con đường thâm nhập vào thị trường EU và các nước, vùng lãnhthổ ở khu vực Châu Á (Nhật Bản, Singapore, HongKong…) con nghêu Bến Tređang đứng trước không ít khó khăn, thách thức mới
3phat-trien-ben-vung.html
Trang 29http://www.thesaigontimes.vn/164812/DBSCL-truoc-nhung-thach-thuc-ve-Những năm qua, tỉnh Bến Tre đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, thu hútđầu tư nước ngoài trong lĩnh vực thủy sản, trong đó có quản lý, khai thác nguồnlợi từ con nghêu, như: ưu đãi thuế suất, miễn giảm tiền thuê đất, mặt nước trongthời gian xây dựng dự án; cam kết sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn vàtin cậy cho các nhà đầu tư Thực tế đã triển khai các dự án liên quan đến connghêu như: Trại sản xuất giống tập trung mở rộng tại xã Thới Thuận, huyện BìnhĐại; khu sản xuất giống thủy sản tập trung tại xã Thừa Đức, huyện Bình Đại; khusản xuất giống thủy sản tập trung tại Cồn Bửng, thuộc xã Thạnh Hải, huyệnThạnh Phú… Đặc biệt, để đạt mục đích phát triển nghề nuôi nghêu hiệu quả vàbền vững, khai thác tốt tiềm năng đất đai, bãi bồi ven biển, đồng thời đảm bảo antoàn giống các loại nhuyễn thể hai mãnh vỏ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hànhQuyết định số 16/2009/QĐ-UBND ngày 10 tháng 9 năm 2009, quy định về việcsản xuất, ương giống và nuôi nghêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre; quyđịnh này cũng đã chỉ rõ từ khâu khai thác con giống đến việc ương nuôi congiống, cũng như việc nuôi nghêu thương phẩm và có những quy hoạch cụ thể cho
cả địa bàn nuôi, nhằm phát triển bền vững con nghêu của tỉnh trong tương lai,đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế và môi trường
2.2 Quá trình phát triển các mô hình khai thác nghêu tự nhiên tại Bến Tre
Từ năm 1980 trở về trước, người dân nơi đây chỉ dựa vào các bãi nghêugiống tự nhiên thu nhặt về làm thực phẩm hoặc mang đi bán lẻ ở các chợ nông thôn
để đổi lấy mắm, muối và một ít lương thực, thực phẩm về trang trải cho cuộc sốnggia đình Cuối những năm 1980 một số thương gia Hồng Kông, Đài Loan thông quacác doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản trong nước đến khảo sát đặt quan hệmua bán nghêu nhưng chỉ ở qui mô nhỏ lẻ theo dạng buôn chuyến thì phong tràonuôi nghêu bằng con giống tự nhiên mới bắt đầu phát triển Từ các bãi nghêu giống
tự nhiên ở xã Thạnh Phong huyện Thạnh Phú, xã Thới Thuận và xã Thừa Đức huyện Bình Đại người ta thu nhặt và mang đi rải nuôi ở các khu vực lân cận với quy
-mô, sản lượng phát triển lớn dần theo nhu cầu của thị trường tiêu thụ ở một vài quốcgia của Châu Á dưới dạng sản phẩm nghêu luộc cấp đông
Do đặc điểm con nghêu là nguồn tài nguyên sinh học có khả năng tái tạonhưng rất dễ bị tổn thương, nguồn lợi có thể bị cạn kiệt, môi trường thiên nhiên sẽsuy thoái nếu cộng đồng ngư dân không gắn liền việc khai thác sử dụng với bảo vệnguồn lợi Mặt khác, con nghêu còn là mặt hàng thủy sản xuất khẩu có giá trị