NGUYỄN THỊ MINH THỦY NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ INTERNET BANKING ĐẾN LÒNG TRUNG THÀNH VÀ TRUYỀN MIỆNG TÍCH CỰC THÔNG QUA SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN – TRƯỜNG HỢP C
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH THỦY
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ INTERNET BANKING ĐẾN LÒNG TRUNG THÀNH VÀ TRUYỀN MIỆNG TÍCH CỰC THÔNG QUA SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ
NHÂN – TRƯỜNG HỢP CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH THỦY
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ INTERNET BANKING ĐẾN LÒNG TRUNG THÀNH VÀ TRUYỀN MIỆNG TÍCH CỰC THÔNG QUA SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ
NHÂN – TRƯỜNG HỢP CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI TP HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: Quản Trị Kinh Doanh (Hướng nghiên cứu)
MÃ SỐ: 8340101
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN QUỐC TẤN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế về “Nghiên cứu tác động của chất lượng dịch vụ Internet Banking đến lòng trung thành và truyền miệng tích cực thông qua sự thỏa mãn của khách hàng cá nhân – Trường hợp các ngân hàng thương mại tại TP HCM” là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực
hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Phan Quốc Tấn
Các kết quả nghiên cứu chính của luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tất cả những phần kế thừa cũng như tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ vàtrích dẫn nguồn gốc rõ ràng trong danh mục tài liệu tham khảo
Ký tên
Nguyễn Thị Minh Thủy
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5 Ý nghĩa của đề tài 6
1.6 Bố cục của đề tài 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Các khái niệm 8
2.1.1.Khái niệm về chất lượng dịch vụ Internet Banking 8
2.1.2.Các thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking 11
2.1.3 Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến (E-Customer satisfaction) 13
2.1.4 Lòng trung thành của khách hàng trực tuyến (E-Customer loyalty) 15
2.1.5 Truyền miệng tích cực (Positive Word-of-Mouth - WOM) 16
2.2 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài 18
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ Internet Banking, sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến, lòng trung thành của khách hàng trực tuyến và truyền miệng tích cực 22 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Quy trình nghiên cứu 30
3.2 Thiết kế thang đo nháp 1 32
Trang 53.3.3.Nghiên cứu định lượng sơ bộ 38
3.4 Nghiên cứu định lượng chính thức 43
3.4.1 Chọn mẫu nghiên cứu 43
3.4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 44
3.4.3.Phương pháp phân tích dữ liệu 44
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
4.1 Mẫu nghiên cứu 48
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 50
4.3 Đánh giá giá trị thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA 50
4.4 Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA 51
4.4.1 Phân tích nhân tố khẳng định CFA cho các khái niệm trong mô hình nghiên cứu 52
4.4.2 Phân tích nhân tố khẳng định CFA cho mô hình tới hạn 54
4.5 Kiểm định mô hình nghiên cứu 56
4.5.1 Kiểm định mô hình lý thuyết chính thức 56
4.5.2 Kiểm định giả thuyết thống kê 57
4.5.3 Kiểm định ước lượng mô hình lý thuyết bằng Bootstrap 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 62
5.1 Tóm tắt nội dung của nghiên cứu 62
5.2 Thảo luận kết quả 63
5.3 Ý nghĩa và hàm ý quản trị của đề tài 64
5.3.1 Ý nghĩa của đề tài 64
5.3.2 .Hàm ý quản trị 65
5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 713
Bảng 3 1 Thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking 32
Bảng 3 2 Thang đo các sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến 33
Bảng 3 3 Thang đo lòng trung thành của khách hàng trực tuyến 33
Bảng 3 4 Thang đo truyền miệng tích cực 33
Bảng 3 5 Thang đo điều chỉnh các thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking 35
Bảng 3 6 Thang đo điều chỉnh sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến 36
Bảng 3 7 Thang đo điều chỉnh lòng trung thành của khách hàng trực tuyến 36
Bảng 3 8 Thang đo điều chỉnh truyền miệng tích cực 37
Bảng 3 9 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 40
Bảng 3 10 Kết quả EFA Chất lượng dịch vụ Internet Banking 41
Bảng 3 11 Trọng số nhân tố Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến, lòng trung thành trực tuyến, truyền miệng tích cực 42
Bảng 4 1 Bảng mô tả thống kê mẫu 48
Bảng 4 2 Đánh giá độ tin cậy các thang đo 50
Bảng 4 3 Kết quả phân tích EFA cho các khái niệm trong mô hình 51
Bảng 4 4 Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến 55
Bảng 4 5 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo 56
Bảng 4 6 Kết quả kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm nghiên cứu trong mô hình (chuẩn hóa) 58
Bảng 4 7 Hiệu quả tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp 59
Bảng 4 8 Kết quả ước lượng bằng Bootstrap với N=1000 61
Bảng 5 1 Giá trị trung bình các biến đo lường thành phần hiệu quả 67
Trang 8Bảng 5 2 Giá trị trung bình các biến đo lường thành phần thân thiện với người sửdụng 68Bảng 5 3 Giá trị trung bình các biến đo lường thành phần nhu cầu cá nhân 69Bảng 5 4 Giá trị trung bình các biến đo lường thành phần tổ chức trang web 70
Trang 9phát triển lòng trung thành của khách hàng và truyền miệng tích cực 18
Hình 2 2 Mô hình nghiên cứu về vai trò của chất lượng thiết kế trang web trong sự hài lòng và truyền miệng 19
Hình 2 3 Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ Internet Banking và ý nghĩa của nó đối với sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng trực tuyến 20
Hình 2 4 Mô hình Phân tích hành vi người tiêu dùng đối với dịch vụ Internet Banking 22
Hình 2 5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 28
Hình 3 1 Quy trình nghiên cứu 31
Hình 4 1 Kết quả CFA cho khái niệm chất lượng dịch vụ Internet Banking (chuẩn hóa) 52
Hình 4 2 Kết quả CFA cho khái niệm truyền miệng tích cực (chuẩn hóa) 53
Hình 4 3 Kết quả CFA cho mô hình tới hạn (chuẩn hóa) 54
Hình 4 4 Kết quả SEM cho mô hình chuẩn hóa 57
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: Lý do chọn đề tài, mụctiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp, ý nghĩa và kết cấu của đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra rất nhiều cơ hội và thách thức cho nềnkinh tế Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, nănglượng tái sinh Trong đó nổi bật nhất đó là lĩnh vực công nghệ thông tin với sự bùng
nổ của Internet kết nối vạn vật Theo số liệu trên trang Internetworldstats - một websitechuyên thống kê lượng người dùng Internet của các quốc gia trên toàn thế giới, tính tớigiữa năm 2017, Việt Nam đã có 64 triệu người dùng Internet, tương ứng với 67% dân
số cả nước Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet caothứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khuvực châu Á (Cổng thông tin điện tử- Bộ thông tin và truyền thông, 2017)
Theo báo cáo của Vũ Văn Điệp đăng trên web Tạp chí công thương (2017) thìInternet và thiết bị điện tử đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua hàng của ngườitiêu dùng, đặc biệt đối với người tiêu dùng trong độ tuổi 25-34 tuổi Trong khoảng 92triệu dân, có 58% người sử dụng Internet đã từng tham gia mua hàng trực tuyến và65% sử dụng smartphone để truy cập Internet Tính đến nay, Việt Nam có hơn 120triệu thuê bao di động, 95% sử dụng smartphone cho việc nghiên cứu sản phẩm, dịch
vụ trước khi đưa ra quyết định mua hàng và 60% đã từng mua hàng trực tuyến thôngqua smartphone (Vũ Văn Điệp, 2017) Điều này cho thấy, phương thức thương mạitruyền thống cần có sự chuyển dịch, thích ứng với quá trình mua hàng mới hiện naycủa người tiêu dùng
Ngày 30/12/2016, Thủ tướng chính phủ đã ký ban hành Quyết định số TTg phê duyệt đề án “Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giaiđoạn 2016 – 2020” do ngân hàng Nhà Nước xây dựng Các ngân hàng thương mại ởViệt Nam cũng đẩy mạnh các sản phẩm dịch vụ điện tử để thúc đẩy việc thanh toánkhông dùng tiền mặt điển hình như: Techcombank có chương trình “E-banking: Zero
Trang 112545/QĐ-Fee” miễn phí hoàn toàn các dịch vụ ngân hàng điện tử từ ngày 27/9/2016, TP bank cóchương trình “TP Bank – Live bank” một mô hình giao dịch trực tuyến hoạt động24/7, hay gần đây nhất là OCB tung ra OCB-OMNI ngân hàng hợp kênh đầu tiên tạiViệt Nam.
Với đặc tính là các giao dịch hoàn toàn được thực hiện thông qua mạng viễnthông và những thiết bị điện tử, sự ra đời của các dịch vụ ngân hàng điện tử đã mangđến nhiều lợi ích thiết thực cho cả khách hàng, ngân hàng, và toàn xã hội
Đối với ngân hàng, thông qua việc cung cấp và phát triển các dịch vụ ngân hàngđiện tử, các ngân hàng sẽ có thể dễ dàng tiếp cận với khách hàng hơn, mở rộng phạm
vi hoạt đông của mình, từ đó tiến hành các hoạt động để xúc tiến, giới thiệu sản phẩmđến khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn Bên cạnh đó, ngân hàngcũng có thể giảm được chi phí nhờ vào việc cắt giảm chi phí vận hành liên quan đếndịch vụ ngân hàng truyền thống tại quầy như: Nhân viên, kho quỹ, thuê văn phòng.Đối với khách hàng, nhờ vào việc truy cập dễ dàng vào hệ thống ngân hàng điện
tử tại bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu chỉ cần có kết nối mạng, khách hàng có thể tiếtkiệm được thời gian, chi phí và thực hiện giao dịch một cách nhanh chóng và hiệu quảhơn Ngoài ra, các ngân hàng điện tử hiện nay thường có thể liên kết với nhau trongnhiều dịch vụ, ví dụ: Dịch vụ chuyển tiền nhanh 24/7, các liên minh thẻ,… từ đó tạothuận lợi cho khách hàng trong việc thực hiện các giao dịch liên ngân hàng của mình.Đối với xã hội, cùng với sự phát triển của thương mai điện tử, sự ra đời của cácdịch vụ ngân hàng điện tử đã tạo ra một phương thức mới trong giao dịch ngân hàng,
từ đó góp phần trong việc thúc đẩy các hoạt động kinh tế, thương mại, dịch vụ và dulịch phát triển, tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng hợp tác kinh tế với khu vực và thếgiới
Thật vậy, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày càng trở thành một phương tiện rấtthiết yếu để ngân hàng cung cấp sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (Amin, 2016, Casado-Diaz & cộng sự, 2009) Bên cạnh việc chạy đua trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàngđiện tử, các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng tìm cách để cung cấp dịch vụ ngânhàng điện tử sao cho sao cho khách hàng thỏa mãn về chất lượng dịch vụ Chất lượng
Trang 12dịch vụ có một mối quan hệ tích cực với việc giữ khách hàng (Choudhury, 2013) Tầmquan trọng của sự thỏa mãn của khách hàng và chất lượng dịch vụ trong hỗ trợ sự pháttriển của ngân hàng được đặc biệt nhấn mạnh trong tài liệu nghiên cứu về ngân hàng(Adam & cộng sự, 2009) Các nhà quản lý ngân hàng biết rằng sự thỏa mãn của kháchhàng từ chất lượng dịch vụ là nguồn lợi thế cạnh tranh và lợi nhuận của ngân hàng(Anderson & cộng sự , 2011) Do đó, không có nghi ngờ về tầm quan trọng của sựthỏa mãn khách hàng và chất lượng dịch vụ là mục tiêu cuối cùng của các nhà cungcấp dịch vụ Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, sự thỏa mãn của khách hàng là chưa
đủ và các công ty không nên chỉ làm hài lòng khách hàng (Aksoy, 2014) Họ nên đảmbảo rằng khách hàng thỏa mãn và trung thành Ngày nay, nghệ thuật tiếp thị là biếnkhách hàng của một tổ chức vừa là đồng nghiệp bên trong tổ chức và cũng là nhữngngười ủng hộ bên ngoài của tố chức đó Vì vậy, các công ty cố gắng thiết lập mối quan
hệ lâu dài với khách hàng để tạo ra sự trung thành của khách hàng và để nâng cao khảnăng sinh lời
Trong những thập kỷ gần đây, cải thiện mối quan hệ lâu dài với khách hàng, cólợi nhuận cho công ty là thành công trong mối quan hệ của cả hai bên được các tác giảquan tâm (Barrutia, 2009) Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh trong thương mại điện tửngày càng tăng do ngày càng nhiều các công ty tham gia vào nó Vì vậy, rất khó đểtăng cơ sở dữ liệu khách hàng của một doanh nghiệp trực tuyến, và kết quả là sự pháttriển của lòng trung thành của khách hàng và truyền miệng tích cực (WOM) là hai mụctiêu chính nhằm vào các nhà quản lý trực tuyến Thật vậy, các nhà quản trị trong lĩnhvực trực tuyến từ lâu công nhận tầm quan trọng chung của cả hai khái niệm lòng trungthành của khách hàng và truyền miệng tích cực (WOM), bằng chứng là trong văn họctiếp thị đã có nhiều phân tích rộng rãi cả khái niệm về lòng trung thành (Collier, 2006,Oliver, 1997; Baker, 1992) và WOM (Bansal & Voyer, 2000; Ha, 2012) Lòng trungthành của khách hàng sẽ dẫn đến việc khách hàng ưu tiên mua sắm hơn trong tương lai(Cyr, 2008) và WOM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự lựa chọn của người tiêu dùng, đểcác công ty có một cơ hội tốt để tăng thị phần của họ bằng cách phát triển tích cựcWOM giữa các khách hàng (Bansal & Voyer, 2000; Cheema, 2010; Ha, 2012)
Trang 13Chính những lợi ích trên đã làm cho việc đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàngđiện tử, nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của kháchhàng, phát triển lòng trung thành của khách hàng và hành vi truyền miệng tích cực(WOM) của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng điện tử để đưa ra những chiếnlược phù hợp là việc làm rất có ý nghĩa.
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy có một số nghiên cứu trước đây về dịch vụ ngânhàng điện tử của các tác giả ngoài nước, điển hình như: Nghiên cứu vai trò của sự thỏamãn và tính hữu dụng của trang web trong việc phát triển lòng trung thành của kháchhàng và truyền miệng tích cực trong ngân hàng điện tử (Casalo & cộng sự, 2008),nghiên cứu này cho thấy sự thỏa mãn trong tương tác trước đó với trang web của ngânhàng đã có một ảnh hưởng tích cực đến sự trung thành của khách hàng và truyềnmiệng tích cực Ngoài ra, tính hữu dụng của trang web có một tác động tích cực đến sựthỏa mãn của khách hàng và lòng trung thành cũng liên quan đáng kể đến truyềnmiệng tích cực Nghiên cứu về Chất lượng dịch vụ Internet Banking và ý nghĩa của nóđối với sự hài lòng của khách hàng điện tử và lòng trung thành của khách hàng điện tử(Amin , 2016) Kết quả xác nhận rằng cả bốn thành phần (nhu cầu cá nhân, tổ chứctrang web, thân thiện với người sử dụng và hiệu quả của trang web) là các cấu trúcriêng biệt của chất lượng dịch vụ Internet Banking và mối quan hệ giữa chất lượngdịch vụ Internet banking, sự thỏa mãn của khách hàng điện tử và lòng trung thành củakhách hàng điện tử là rất đáng kể
Trong nước cũng có một số nghiên cứu về chất lượng ngân hàng điện tử theo tácgiả tìm hiểu như sau: Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: So sánh giữa mô hìnhSERQUAL và mô hình GRONROOS (Nguyễn Thị Phương Trâm, 2008), kết quảnghiên cứu cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử theo môhình GRONROOS thì phù hợp hơn trong bối cảnh Viêt Nam Nghiên cứu về thái độ và
ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long(Mai Văn Trí, 2014), kết quả nghiên cứu chỉ ra những nhân tố tác đông đến thái độ và
ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử Nghiên cứu của Phạm Thùy Giang (2014)phân tích hành vi người tiêu dùng đối với dịch vụ Internet Banking
Trang 14Theo tác giả nhận thấy, các nghiên cứu trước đây đa phần đều chỉ ra các thànhphần của chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, mối quan hệ của chất lượng dịch vụvới sự thỏa mãn, lòng trung thành, hay các yếu tố tác động đến ý định sử dụng củakhách hàng, ngoài ra cũng có nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng đối với dịch vụInternet Banking Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu vế mối quan hệ của chất lượngdịch vụ Internet Banking, sự thỏa mãn của khách hàng, lòng trung thành của kháchhàng và truyền miệng tích cực, nhận thấy đây là đề tài có ý nghĩa đối với hoạt độngkinh doanh của ngân hàng và ít được nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay, nên tác giả
chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của chất lượng dịch vụ Internet Banking đến lòng trung thành và truyền miệng tích cực thông qua sự thỏa mãn của khách hàng cá nhân – Trường hợp các ngân hàng thương mại tại TP HCM” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhắm đến các mục tiêu:
(1) Xác định các yếu tố thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking của các ngân hàng thương mại tại TP HCM
(2) Đo lường sự ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ Internet Banking đến lòng trungthành và truyền miệng tích cực thông qua sự thỏa mãn của khách hàng cá nhân của cácngân hàng thương mại tại TP HCM
(3) Đề xuất một số hàm ý cho những nhà quản trị ngân hàng trong việc nâng caolòng trung thành và truyền miệng tích cực của khách hàng thông qua chất lượng dịch vụInternet Banking và sự thỏa mãn của khách hàng cá nhân
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tác động của chất lượng dịch vụ Internet Banking
đến lòng trung thành và truyền miệng tích cực thông qua sự thỏa mãn của kháchhàng cá nhân đối với dịch vụ Internet Banking của các ngân hàng thương mại tại TPHCM
Trang 15Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn TP HCM
trong khoảng thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 9/2018
Đối tượng khảo sát: các khách hàng cá nhân đã từng sử dụng dịch vụ Internet
Banking của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP HCM
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu sử dụng hai phương pháp là phương pháp định tính vàphương pháp định lượng:
Phương pháp định tính: Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua việc tác
giả tổng quan lý thuyết các nghiên cứu đi trước, khai thác các nguồn thông tin thứ cấpphục vụ nghiên cứu để đề xuất mô hình nghiên cứu Tiếp theo, tác giả thực hiệnphương pháp thảo luận nhóm nhằm khám phá, điều chỉnh thang đo các thành phần củachất lượng dịch vụ Internet Banking, sự thỏa mãn, lòng trung thành và truyền miệngtích cực, cuối cùng là đưa ra bảng câu hỏi
Phương pháp định lượng: Dùng phương pháp thu thập thông tin thông qua khảo
sát bằng bảng câu hỏi Mục đích của nghiên cứu này nhằm khẳng định lại các thànhphần, yếu tố có giá trị cũng như độ tin cậy của các thang đo, đồng thời trả lời các mụctiêu nghiên cứu Trong phần nghiên cứu này sẽ bao gồm bước điều tra thử trên mẫunhỏ và điều chỉnh, sau đó thực hiện điều tra chính thức thông qua việc thực hiện khảosát các đối tượng khảo sát trên mẫu lớn hơn Đề tài có sử dụng phần mềm phân tích dữliệu SPSS 23.0 và AMOS 20.0 để thực hiện các thống kê mô tả, độ tin cậy của thang
đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích yếu tố khẳngđịnh (CFA), kiểm định mô hình cấu trúc phương trình tuyến tính (SEM)
1.5 Ý nghĩa của đề tài
Về lý thuyết
Đề tài này đã đóng góp một phần kiến thức vào nghiên cứu về: Chất lượng dịch
vụ Internet Banking, sự thỏa mãn, lòng trung thành và truyền miệng tích cực
Về mặt thực tiễn
Những kết quả thực tiễn mà nghiên cứu mang lại sẽ có ý nghĩa cho các nhà quảntrị trong ngành ngân hàng đưa ra những chính sách hợp lý để nâng cao lòng trung
Trang 16thành và truyền miệng tích cực của khách hàng cá nhân thông qua chất lượng dịch vụ Internet Banking
1.6 Bố cục của đề tài
Kết cấu của đề tài bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết: Giới thiệu các khái niệm, lý thuyết liên quanđến chất lượng dịch vụ Internet Banking, sự thỏa mãn, lòng trung thành và truyềnmiệng tích cực của người tiêu dùng cá nhân trên địa bàn TP HCM Lược thảo các côngtrình nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Internet Banking
2.1.1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ
Dịch vụ được định nghĩa là những hoạt động kinh tế mà sản xuất một sản phẩm
vô hình như giáo dục, giải trí, giao thông, bảo hiểm, thương mại, chính phủ, tài chính,
y tế, sửa chữa và bảo dưỡng (Shelash Al-Hawary và cộng sự, 2011) Chất lượng dịch
vụ là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và hiệu quả hoạt động của họ đối vớidịch vụ (Kuo & cộng sự, 2009) Nghiên cứu chất lượng dịch vụ bắt đầu vào năm 1980khi Gronroos phát triển mô hình đầu tiên để đo lường chất lượng dịch vụ (Saraei &Amini, 2012) Chất lượng dịch vụ thường được xem như là một giá trị toàn cầu (FeiLuoha & Ts Hshiung, 2011) vì vậy mỗi tổ chức đang cố gắng cung cấp chất lượngdịch vụ tốt nhất cho khách hàng Chất lượng dịch vụ có các tính năng chẳng hạn nhưtính vô hình, không đồng nhất, và không thể tách rời (Akram và cộng sự, 2014) Hơnnữa, chất lượng dịch vụ là một lĩnh vực quan trọng vì sự liên quan của nó đối với cáccông ty dịch vụ (Saraei & Amini, 2012) Các nghiên cứu trước đây cho thấy chấtlượng dịch vụ là điều kiện tiên quyết cho thành công và sự sống còn trong môi trườngcạnh tranh ngày nay, sự quan tâm đến chất lượng dịch vụ đã tăng đáng kể Chất lượngdịch vụ dẫn đến lòng trung thành của khách hàng và thu hút khách hàng mới, truyềnmiệng tích cực, sự hài lòng và cam kết của nhân viên, tăng cường hình ảnh doanhnghiệp, giảm chi phí và tăng hiệu quả kinh doanh (Akbaba, 2006) Do đó, chất lượngdịch vụ là một trong những yếu tố thành công quan trọng ảnh hưởng đến tính cạnhtranh của một tổ chức
Trong ngành ngân hàng, chất lượng có nghĩa là không chỉ đáp ứng, mà còn vượtquá mong đợi của khách hàng (Choudhury ,2013) Đó là lý do tại sao chất lượng dịch
Trang 18vụ được xem là một khía cạnh quan trọng trong ngành ngân hàng Hơn nữa, rõ ràng làqua nhiều năm, nhận thức của các khách hàng về chất lượng dịch vụ trong ngành ngânhàng đã được thay đổi rất nhiều (Talib & cộng sự, 2012) Một ngân hàng có thể phânbiệt mình với các đối thủ cạnh tranh bằng cách cung cấp dịch vụ chất lượng cao(Siddiqi, 2011)
Chất lượng dịch vụ là vô hình nên không dễ đo lường Trên thế giới đã có nhiềunghiên cứu đưa ra các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ Điển hình trong số đóphải kể đến là mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronroos (1984)với (1) chất lượng kỹ thuật là những gì khách hàng nhận được và (2) chất lượng chứcnăng là diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào Mô hình nghiên cứu củaParasuraman (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng củakhách hàng về dịch vụ mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họhưởng thụ Nhà nghiên cứu này đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ.Các câu hỏi được thiết kế ra để đo lường các khái niệm thuộc năm nhân tố bên trong
mô hình, đo lường mỗi khái niệm hai khía cạnh: khía cạnh mọng đợi về chất lượngdịch vụ và khía cạnh cảm nhận về dịch vụ mà họ thật sự nhận được, khi chất lượngmong đợi lớn hơn chất lượng thật sự nhận được, thì chất lượng dịch vụ được tính làthấp Hoặc có thể kể đến mô hình đánh giá theo kết quả thực hiện của Cronin & Taylor(1992) Tuy nhiên, được nhắc đến và sử dụng nhiều hơn là mô hình của Parasuraman
và cộng sự (1985 đến năm 1988) được đặt tên là mô hình SERVQUAL Bộ thang đoSERVQUAL nhằm đo lường sự cảm nhận về dịch vụ thông qua năm thành phần chấtlượng dịch vụ, bao gồm: Tin cậy (reliability), Đáp ứng (responsiveness), Năng lựcphục vụ (assurance), Đồng cảm (empathy), Phương tiện hữu hình (tangibles) Nhiềunhà nghiên cứu đã kiểm định thang đo này ở nhiều loại hình dịch vụ và nhiều quốc giakhác nhau Kết quả cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ không đồng nhất ởtừng quốc gia và từng thị trường Tuy nhiên, SERVQUAL vẫn được xem như là mộtthang đo rất hữu ích trong việc đo lường chất lượng dịch vụ bằng cách điều chỉnhthang đo cho phù hợp với từng nghiên cứu cụ thể
2.1.1.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Internet Banking
Dịch vụ ngân hàng qua Internet (Internet Banking)
Trang 19Internet Banking là một loại hình ngân hàng đại diện cho các dịch vụ ngân hàng
ở bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu trong môi trường trực tuyến thông qua việc tạo racác cơ sở để tăng tốc độ và hiệu quả của các dịch vụ (Amin, 2016) Internet Banking làmột phần của dịch vụ ngân hàng điện tử (Eletronic Banking hay còn gọi là E-Banking), dịch vụ ngân hàng điện tử là các dịch vụ ngân hàng mà được cung cấp thôngqua mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử, giúp cho khách hàng có thể
tự thực hiện giao dịch mà không cần đến quầy Trong dịch vụ Internet Banking, kháchhàng tương tác chủ yếu với trang web của ngân hàng Để truy cập vào dịch vụ InternetBanking, khách hàng cần đăng ký tên truy cập (Username) và mật khẩu (Password).Thông qua dịch vụ Internet Banking, khách hàng có thể thực hiện gần như toàn bộ cácgiao dịch mà không cần đến quầy như: Gửi tiết kiệm, chuyển khoản, thanh toán cáchóa đơn, xem sao kê về tài khoản, xem lãi suất, tỉ giá, biểu phí dịch vụ và thực hiệnnhững giao dịch khác
Chất lượng dịch vụ Internet banking
Trong bối cảnh thương mại điện tử, chất lượng dịch vụ Internet Banking đượcđịnh nghĩa là những đo lường và đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về chất lượngcủa các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua Internet (Bauer và cộng sự, 2006,Parasuraman và cộng sự, 2005) Dựa vào điều này, chất lượng dịch vụ InternetBanking đã được khái niệm hóa như là một cơ sở cho dịch vụ thông tin tương tác(Ghosh và cộng sự, 2004) Khái niệm chất lượng dịch vụ Internet Banking được mởrộng đến mức toàn cầu và chất lượng dịch vụ Internet Banking cần được xem xét trêntất cả các khía cạnh của giao dịch, bao gồm cung cấp dịch vụ, dịch vụ khách hàng và
hỗ trợ ( Rolland & Freeman, 2010) Các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ InternetBanking trước đây tập trung vào việc đo lường các yếu tố của trải nghiệm web, mốiquan hệ giữa trải nghiệm web, sự tin cậy, sự thỏa mãn của khách hàng, ý định sử dụng
và lòng trung thành (Rowley, 2006) Điều này nhấn mạnh vào vai trò của công nghệ
hỗ trợ cho dịch vụ đối lập với nghiên cứu chất lượng dịch vụ truyền thống nhấn mạnhyếu tố con người cung cấp dịch vụ (Jabnoun và Al-Tamimi, 2003) Do đó, các nhànghiên cứu lập luận rằng khung chất lượng dịch vụ được giới thiệu bởi Parasuraman vàcộng sự (1985) có thể không đạt được sự phù hợp trong trường hợp trực tuyến
Trang 20(Sahadev & Purani, 2008) Nghiên cứu của Herington & Weaven (2009); Ho và Lin(2010); Amin (2016) cho rằng chất lượng dịch vụ Internet Banking cần dựa trên yếu tốhiệu quả, tổ chức trang web
Vì vậy, trong nghiên cứu này, các thuộc tính của chất lượng dịch vụ InternetBanking được dựa trên quan điểm của Herington & Weaven (2009); Ho & Lin (2010);Amin (2016); các khía cạnh trong nghiên cứu đang đặt trọng tâm hơn vào tầm quantrọng của hiệu quả kỹ thuật và tổ chức của trang web, đề cao vai trò của công nghệ
2.1.2 Các thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking
Cho đến ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển các khái niệm về chấtlượng dịch vụ của các ngành công nghiệp khác nhau ở các nước (Anderson & cộng sự,2011; Carlson & O'Cass 2011) Ví dụ: Carlson & O'Cass (2011) nhấn mạnh rằngngười tiêu dùng đánh giá các khía cạnh khác nhau của dịch vụ Internet Banking để tạothành một đánh giá tổng thể về chất lượng dịch vụ Internet Banking Họ kết luận rằngthành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking, tức là chất lượng môi trường,chất lượng phân phối và chất lượng kết quả là tiền đề để đo lường chất lượng dịch vụInternet Banking toàn cầu
Trong nghiên cứu về các thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking,Zeithaml và cộng sự (2002), phát triển bộ thang đo gọi là e-SERVQUAL bao gồm: (1)Hiệu quả, (2) độ tin cậy, (3) hoàn thành, (4) bảo mật, (5) phản hồi, (6) bồi thường và(7) liên lạc Jayawardhena (2004) đề xuất năm thành phần để đo lường chất lượng dịch
vụ điện tử: (1) Truy cập, (2) giao diện web, (3) tin tưởng, (4) sự chú ý, và (5) sự tínnhiệm, và kết luận rằng khách hàng đã chỉ ra khái niệm chất lượng dịch vụ trong ngânhàng điện tử phần lớn được xác định bởi các yếu tố web Trong một nghiên cứu của(Parasuraman và cộng sự, 2005) kiểm tra chất lượng dịch vụ điện tử trên các trang webmua sắm, ông đề xuất bốn thành phần chất lượng dịch vụ như sau: (1) Hiệu quả; (2)hoàn thành; (3) sẵn có và (4) sự riêng tư Herington và Weaven (2009) đã tìm ra bốnchiều của e-SERVQUAL: (1) Nhu cầu cá nhân, (2) tổ chức trang web, (3) tính thânthiện và (4) hiệu quả; và tất cả các yếu tố được đánh giá đều và những yếu tố quantrọng để xác định chất lượng dịch vụ điện tử Collier (2006) đã sử dụng thang đo sáuchiều để đo chất lượng dịch vụ điện tử bao gồm: (1) Độ tin cậy, (2) khả năng phản hồi,
Trang 21(3) dễ sử dụng, (4) cá nhân hoá, (5) an ninh và (4) thiết kế trang web Theo Barrutia vàcộng sự (2009) đề xuất các thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử baogồm: (1) Khả năng tiếp cận (Accessibility), (2) dễ dàng (Easiness), (3) sự tin tưởng(Trust), (4) sự an toàn (Security), (5) thiết kế trang web (Website designing), (6) nội dungtrang web (Website content), (7) vận tốc (Speed), (8) phí (Commission) Theo Amin(2016) chất lượng dịch vụ Internet Banking bao gồm các thành phần: (1) Nhu cầu cánhân, (2) tổ chức trang web, (3) thân thiện và (4) hiệu quả.
Như vậy, có rất nhiều nghiên cứu về các thành phần của chất lượng dịch vụInternet Banking Trong đó, nghiên cứu của tác giả chọn kế thừa nghiên cứu của Amin(2016) bởi vì đây là nghiên cứu về chất lượng dịch vụ Internet Banking và có tính kếthừa các nghiên cứu trước đây của Herington & Weaven, (2009), Ho & Lin, (2010) và
đã được chứng thực trong bối cảnh Malaysia vào năm 2016 Malaysia và Việt Namcùng là các quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, cùng là thành viên của Diễnđàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), hai nước rất gần gũi về địa lý
và có nhiều nét tương đồng về văn hóa Ngoài ra, nghiên cứu của Amin (2016) còn chỉ
ra được chất lượng dịch vụ Internet Banking phần lớn được xác định bởi các yếu tốweb, đề cao vai trò của công nghệ hơn các yếu tố truyền thống về con người
Theo Amin (2016) chất lượng dịch vụ Internet Banking bao gồm bốn thànhphần: (1) Nhu cầu cá nhân, (2) tổ chức trang web, (3) thân thiện với người sử dụng(user friendliness) và (4) hiệu quả Và các thành phần này cũng được các nhà nghiêncứu khác chứng minh theo bảng 2.1 như sau:
Trang 22Collier (2006); Barrutia & cộng sự (2009); Amin
Thân thiện với người sử dụng Barrutia & cộng sự (2009); Amin (2016)
Zeithaml & cộng sự (2002); Parasuraman & cộng
Nguồn: Tác giả tổng hợp
2.1.3 Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến (E-Customer satisfaction)
2.1.3.1 Khái niệm về sự thỏa mãn
Khái niệm về sự thỏa mãn của khách hàng trong nhiều năm đã chiếm sự chú ýcủa các nhà nghiên cứu Oliver (1980) giải thích rằng sự thỏa mãn của khách hàng đềcập đến việc đáp ứng kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ Nếu kháchhàng nhận thức sự phù hợp hoặc thậm chí vượt quá sự mong đợi của họ về dịch vụ, họthỏa mãn, ngược lại thì khách hàng không thỏa mãn (Fullerton & Taylor, 2015, Oliver,
1993, Sharifi & Esfidani, 2014) Hiện nay, trong văn học tiếp thị việc xác định sự thỏamãn của khách hàng cần lưu ý đó là sự thỏa mãn trong một giao dịch hoặc sự thỏa mãntích luỹ (Boulding và cộng sự, 1993; Cronin & Taylor, 1994; Liébana-Cabanillas &cộng sự, 2013) Trong định nghĩa này, sự thỏa mãn tích luỹ là được xác định bằng cách
đo sự đáp ứng sự thỏa mãn và không thỏa mãn khách hàng với một sản phẩm hoặcdịch vụ qua thời gian (Parasuraman và cộng sự, 1994; Zeithaml và cộng sự, 1993), và
sự thỏa mãn giao dịch được định nghĩa là sự thỏa mãn với một sản phẩm hoặc dịch vụtrong một giao dịch đơn lẻ Cronin và Taylor,1994; Oliver, 1993) Parasuraman vàcộng sự (2015) chỉ ra sự thỏa mãn là kết quả của một quá trình mà khách hàng kíchhoạt nhiều sự tham khảo so sánh
Trang 23Ta có thể thấy nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn của khách hàng có thể được tìmthấy trong các nghiên cứu ở nước ngoài Trong đó, tác giả đồng thuận với quan điểmcủa Oliver (1993) giải thích rằng sự thỏa mãn của khách hàng đề cập đến việc đáp ứngnhu cầu và kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ.
2.1.3.2 Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến (E-Customer satisfaction)
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả chưa tìm giấy bản dịch chính xáccủa E-Customer satisfaction trong các tài liệu tại Việt Nam, tuy nhiên theo từ điểnbách khoa Việt Nam (Wikipedia) một số từ tương tự như E-service được dịch là dịch
vụ điện tử, E-commerce là thương mại điện tử Khái niệm dịch vụ điện tử là một ứngdụng nổi bật của việc sử dụng các công nghệ thông tin và truyền thông trong các lĩnhvực khác nhau Tuy nhiên, việc cung cấp một định nghĩa chính xác về dịch vụ điện tửrất khó thực hiện vì các nhà nghiên cứu đã sử dụng các định nghĩa khác nhau để mô tảdịch vụ điện tử Mặc dù có những định nghĩa khác nhau nhưng có thể lập luận rằng tất
cả đều đồng ý về vai trò của công nghệ trong việc tạo điều kiện cho việc cung cấp cácdịch vụ làm cho chúng trở thành các dịch vụ điện tử Trong khuôn khổ bài nghiên cứunày, tác giả chú trọng đến một lĩnh vực trong dịch vụ điện tử đó là dịch vụ Internetbanking, chứ không phải toàn bộ các dịch vụ điện tử, nên tác giả tạm dịch khái niệmE-Customer satisfaction là sự thỏa của khách hàng trực tuyến, để phù hợp với nghiêncứu của mình
Trong bối cảnh trực tuyến, Szymanski & Henard (2001) khái niệm hóa sự thỏamãn trực tuyến như là sự đánh giá của người tiêu dùng về kinh nghiệm giao dịch quainternet của họ so với kinh nghiệm giao dịch với cách truyền thống Tương tự,Anderson & Srinivasan (2003) giải thích sự thỏa mãn điện tử như là sự thỏa mãn củakhách hàng liên quan đến kinh nghiệm mua hàng trước đó của khách hàng với thươngmại điện tử
Nghiên cứu trước đây đã xác định được các yếu tố khác nhau để xác định sự thỏamãn của khách hàng trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng trực tuyến Một số tác giả gợi
ý rằng sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến được điều khiển bởi đặc điểm của trangweb (Anderson & Swaminathan, 2011; Bansal và cộng sự, 2004) và các thuộc tínhchất lượng trang web (Collier & Bienstock, 2006)
Trang 24Theo quan điểm này, Jeong và Lee (2010) đã giải thích rằng có năm yếu tố cóảnh hưởng đáng kể đến sự thỏa mãn trực tuyến là: (1) Sự đa dạng sản phẩm, (2) hữuhình, (3) phản hồi, (4) tương tác, và (5) sự ổn định Điều này có nghĩa là cách mà dịch
vụ được phân phối qua trang web đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sựthỏa mãn của khách hàng Casaló (2008) nhấn mạnh rằng khách hàng trực tuyến phầnlớn là thỏa mãn với khả năng truy cập internet, dễ sử dụng, hữu dụng và tin tưởng Dođó, nhận thức của người tiêu dùng tích cực (hoặc tiêu cực) về chất lượng trên cácthuộc tính dịch vụ điện tử sẽ dẫn đến sự thỏa mãn (hoặc không thỏa mãn) với dịch vụđiện tử được cung cấp thông qua trang web (Carlson & O'Cass, 2011)
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu trước đây đều có quan điểm chung rằng sự thỏamãn của khách hàng trực tuyến sẽ liên quan đến kinh nghiệm họ sử dụng trang web, vànhu cầu của họ có được đáp ứng bởi các thuộc tính của trang web hay không(Anderson & Swaminathan, 2011; Casaló, 2008; Bansal và cộng sự, 2000)
2.1.4 Lòng trung thành của khách hàng trực tuyến (E-Customer loyalty)
2.1.4.1 Lòng trung thành
Lòng trung thành có thể được định nghĩa là ý định hoặc khuynh hướng của kháchhàng mua lại sản phẩm dịch vụ từ cùng một tổ chức (Adam và cộng sự, 2009), lòngtrung thành là kết quả từ niềm tin rằng giá trị nhận được từ một người bán lớn hơn giátrị sẵn có từ các lựa chọn khác (Amod, 2015) Phát triển lòng trung thành là một mụctiêu truyền thống của các nhà quản lý (Adarsh, 2015) vì nó dẫn đến ý định mua hàngtrong tương lai Lòng trung thành đã được coi là một yếu tố quan trọng để đạt được sựthành công của công ty và tính bền vững theo thời gian (Kettinger và cộng sự, 1995),
và một số tác giả đã đề xuất lòng trung thành cũng dẫn đến sự ủng hộ cao hơn trongtruyền miệng tích cực (Szymanski & Henard, 2001) và mức độ nhạy cảm về giá thấphơn (Wong & Zhou, 2006)
Trong các nghiên cứu trước đây, có hai khía cạnh để đo lường lòng trung thànhcủa khách hàng, cụ thể là hành vi trung thành và thái độ trung thành (Piha vàAvlonitis, 2015) Sự trung thành về hành vi đề cập đến hành vi của khách hàng đối vớiquay lại mua sắm, do sở thích của họ về một thương hiệu hoặc dịch vụ cụ thể (Cyr,2008; Zeithaml và cộng sự, 1993) Thái độ trung thành phản ánh tình trạng cảm xúc và
Trang 25tâm lý của khách hàng tiếp tục mua hàng và giới thiệu cho người khác (Baumann vàcộng sự, 2012; Wong và Zhou, 2006).
Theo các lý thuyết được đề cập ở trên, lòng trung thành liên quan chặt chẽ đến ýđịnh của khách hàng gắn bó và sẽ quay lại mua hàng trong tương lai và lòng trungthành luôn là tiền đề cho các nhà quản lý trong việc duy trì khách hàng, phát triển bềnvững cho công ty (Cyr, 2008; Zeithaml và cộng sự, 1993; Edvardsson và cộng sự,2000)
2.1.4.2 Lòng trung thành của khách hàng trực tuyến (E-Customer loyalty)
Trong ngành ngân hàng trực tuyến, Anderson và Srinivasan (2003) đã xác địnhlòng trung thành của khách hàng trực tuyến là xu hướng của khách hàng tiếp tục sửdụng trang web cụ thể là: thường xuyên truy cập nó, và cho thấy độ gắn kết cao về thờigian với trang web đó Vì lý do này, Gera (2011) nhấn mạnh rằng kinh nghiệm tươngtác với trang web là ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng để trở lại trang web vàđưa ra kiến nghị cho người khác Tương tự, Caruana (2002) gợi ý rằng khách hàngthường phát triển thái độ đối với hành vi mua hàng dựa trên trên kinh nghiệm quá khứ
Do đó, tập trung vào lòng trung thành của khách hàng trực tuyến rất quan trọng đối vớiinternet banking để duy trì mối quan hệ với khách hàng Trong bối cảnh này, nhữngkhách hàng có lòng trung thành cao sẽ thường xuyên ghé thăm và giới thiệu cho ngườikhác (Amin và cộng sự, năm 2013), và điều này dẫn đến cam kết cao để mua lại mộtdịch vụ hoặc sản phẩm nhất quán trong tương lai (Anderson & Swaminathan, 2011;Melnyk & Bijmolt, 2015), và ngăn cản họ tạo ra truyền miệng tiêu cực (WOM) vàtruyền tải ấn tượng tích cực của họ đối với các khách hàng khác (Amin và cộng sự,2008; Caruana, 2002; Kou và cộng sự, 2009)
Vì vậy, trong nghiên cứu này, lòng trung thành của khách hàng trực tuyến là đềcập đến ý định quay lại trang web internet banking và xem xét sử dụng lại một dịch vụInternet banking ưu tiên trong tương lai (Amin và cộng sự, 2013; Zeithaml và cộng sự,2002)
2.1.5 Truyền miệng tích cực (Positive Word-of-Mouth - WOM)
Truyền miệng nói đến việc trao đổi suy nghĩ, ý tưởng hoặc nhận xét giữa haihoặc nhiều khách hàng hơn mà không ai trong số họ là các nguồn tiếp thị (Young Ha
Trang 262012) Trong quá trình này, khách hàng có xu hướng nói với người khác về cảm giáccủa họ về cả dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ (Casaló và cộng sự, 2008) Truyềnmiệng có thể được định nghĩa là một kiểu truyền thông không chính thức giữa các bênliên quan đến đánh giá hàng hoá và dịch vụ (Dichter, 1966) và nó đã được coi là mộttrong những lực lượng truyền thông mạnh trên thị trường (Bansal & Voyer, 2000)
Ở nhiều thị trường, khách hàng chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi ý kiến của các đồngnghiệp của họ (Young Ha, 2012) Nghiên cứu của Choudhury (2014) kiểm tra các yếu tốhiệu quả trong việc hình thành WOM trong các dịch vụ của hãng hàng không và nhữngphát hiện của họ cho thấy sự thõa mãn, tin tưởng, chất lượng dịch vụ, giá trị nhận thức vàlòng trung thành là những yếu tố hiệu quả trong việc hình thành WOM
về các công ty hàng không và đây là những yếu tố trực tiếp và gián tiếp có thể ảnhhưởng đến quyết định của khách hàng
Trong một nghiên cứu khác, Bansal và cộng sự (2000) đã cố gắng nghiên cứunhững ảnh hưởng của Word-of-Mouth so với tiếp thị truyền thống trong một trangmạng xã hội trên Internet Họ phát hiện ra sự WOM có hiệu quả chuyển tiếp đáng kểlâu hơn các hành động tiếp thị truyền thống
Như vậy, trong nghiên cứu này, WOM có thể được định nghĩa là một kiểu truyềnthông không chính thức giữa các bên liên quan đến đánh giá hàng hoá và dịch vụ(Dichter, 1966) và tầm quan trọng của WOM nằm ở thực tế là sự lựa chọn của ngườitiêu dùng thường bị ảnh hưởng bởi WOM, đặc biệt là khi việc mua hàng là quan trọng.Điều này được giải thích do thực tế là người tiêu dùng thích dựa vào các nguồn thôngtin cá nhân không chính thức (ví dụ: người tiêu dùng khác) trong quyết định mua hàngthay vì các nguồn chính thức từ công ty bán hàng như các chiến dịch quảng cáo(Bansal & Voyer, 2000) Truyền miệng tích cực là kiểu truyền thông không chính thứcnhưng có ý nghĩa tích cực giữa các bên liên quan đến đánh giá hàng hoá và dịch vụ.(Casaló và cộng sự, 2008)
Trang 272.2 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
2.2.1.1 Nghiên cứu về vai trò của sự thỏa mãn và sự hữu ích của trang web trong việc phát triển lòng trung thành của khách hàng và truyền miệng tích cực trong các dịch vụ ngân hàng điện tử của Casaló và cộng sự (2008)
Nghiên cứu này cho thấy sự thỏa mãn với các tương tác trước đó với trang webcủa ngân hàng đã có một ảnh hưởng tích cực đến cả lòng trung thành của khách hàng
và truyền miệng tích cực Ngoài ra, tính hữu dụng của trang web có một tác động tíchcực đến sự thỏa mãn của khách hàng và lòng trung thành cũng liên quan đáng kể đếntruyền miệng tích cực
Lòng trung thành
Sự hữu ích của website
Sự thỏa mãn
Truyền miệng tích cực
Hình 2 1 Mô hình vai trò của sự thỏa mãn và sự hữu ích của trang web trong việc
phát triển lòng trung thành của khách hàng và truyền miệng tích cực
Nguồn: Casaló và cộng sự, 2008
Trang 28hệ giữa đáp ứng cảm xúc và ý định truyền miệng tích cực.
Niềm vui
Sự thỏa mãn Nhận thức về chất lượng Thiết kế web
thông tin
Ý định truyền miệng tích cực
Sự phấn khích
Hình 2 2 Mô hình nghiên cứu về vai trò của chất lượng thiết kế trang web trong
sự hài lòng và truyền miệng
Nguồn: Young Ha và cộng sự, 2012
2.2.1.3 Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ Internet Banking và ý nghĩa của nó đối với sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng trực tuyến của Amin (2016)
Nghiên cứu này cho rằng bốn thành phần: Nhu cầu cá nhân, tổ chức trang web, tính thân thiện với người sử dụng và hiệu quả của trang web là các thành phần có quan
Trang 29hệ tích cực với chất lượng dịch vụ Internet Banking Phát hiện này còn cho thấy rằngmối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ Internet Banking với sự thỏa mãn và lòng trungthành của khách hàng trực tuyến là đáng kể.
Lòng trung thành
S hi u qu ự thỏa mãn ện ả
Hình 2 3 Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ Internet Banking và ý nghĩa của nó đối với sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng trực tuyến
Nguồn: Amin, 2016
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
2.2.2.1 Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử: so sánh giữa mô hình SERVQUAL và GRONROOS của Nguyễn Thị Phương Trâm (2008)
Mục đích chính của nghiên cứu này là điều chỉnh và bổ sung các thành phần củachất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, kiểm định và so sánh mối quan hệ giữa chấtlượng dịch vụ ngân hàng điện tử và sự thỏa mãn của khách hàng theo mô hìnhSERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985) và mô hình Chất lượng kỹ thuật/Chất lượng chức năng (Gronross,1984, 1990) Đó là sự kết hợp giữa chất lượng dịch
vụ ngân hàng điện tử theo mô hình SERVQUAL gồm năm thành phần: tin cậy, đápứng, năng lực phục vụ, đồng cảm và phương tiện hữu hình Và mô hình Chất lượng kỹ
Trang 30và năng lực phục vụ Mô hình Chất lượng chức năng/ Chất lượng kỹ thuật có 2 thànhphần chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật ảnh hưởng đến sự thỏa mãn củakhách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử, trong đó thành phần chất lượng
kỹ thuật tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng về dịch vụ nhiều hơn thành phầnchất lượng chức năng
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra được kết quả so sánh giữa hai mô hình Trong bốicảnh của nghiên cứu, tác giả kết luận áp dụng mô hình Chất lượng kỹ thuật/ Chấtlượng chức năng để đo lường sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngânhàng điện tử tốt hơn áp dụng mô hình SERVQUAL
Cuối cùng, mô hình lý thuyết này góp phần bổ sung vào hệ thống lý thuyết vềchất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử của các ngân hàng thương mại trên địa bànThành phố Hồ Chí Minh
2.2.2.2 Nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng đối với dịch vụ Internet Banking của các ngân hàng thương mại Việt Nam- Những khuyến nghị - Phạm Thùy Giang (2014)
Nghiên cứu của Phạm Thùy Giang (2014) phân tích hành vi người tiêu dùng đốivới dịch vụ Internet Banking (trên cơ sở áp dụng các mô hình Lý thuyết hành vi dựđịnh (TPB) của Ajzen (1991), Thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1985),
mô hình hệ thống thông tin thành công (ISS) của DeLone và McLean (1992) tại cácngân hàng thương mại Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố về mặt kỹ
Trang 31thuật của trang web như: Chất lượng hệ thống Internet Banking, chất lượng thông tintrên trang web đều có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng Internet Banking của kháchhàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Hình 2 4 Mô hình Phân tích hành vi người tiêu dùng đối với dịch vụ Internet
Banking
Nguồn: Phạm Thùy Giang, 2014
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ Internet Banking, sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến, lòng trung thành của khách hàng trực tuyến và truyền miệng tích cực
2.3.1 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ Internet Banking và sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến
Chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa vào hiệu quả thực tế của dịch vụ, thôngqua những thuộc tính đặc biệt của dịch vụ trong những bối cảnh cụ thể, trong khi đó sựhài lòng của khách hàng được đánh giá theo kinh nghiệm tổng thể về dịch vụ, trong đóchất lượng dịch vụ là một khía cạnh (Oliver, 1993)
Trang 32Trong các tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ, quan hệ nhân quả giữa chấtlượng dịch vụ ngân hàng và sự thỏa mãn của khách hàng là chủ đề của các cuộc tranhluận và không có sự đồng thuận về vấn đề này (Bahia & Nantel, 2000) Một số các nhànghiên cứu mô tả sự thỏa mãn của khách hàng như là tiền đề của chất lượng dịch vụ(Bitner và cộng sự, 1990; Carman, 1990; Parasuraman và cộng sự, 1985), và nhữngngười khác đã lập luận rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự thỏa mãn của kháchhàng (Amin & Isa, 2008; Cronin và cộng sự, 2000; Kashif và cộng sự, 2015; Sheng vàLiu, 2010; Yap và cộng sự, 2012)
Trong ngành ngân hàng, Herington và cộng sự (2009) đã nhấn mạnh rằng sự sẵncó của dịch vụ ngân hàng trực tuyến và sự thân thiện của người sử dụng dường nhưtương quan với sự thỏa mãn và trung thành của khách hàng Tương tự, Rolland vàcộng sự (2010) nhận thấy rằng khi chất lượng dịch vụ ngân hàng trực tuyến được đánhgiá cao, khách hàng có nhiều khả năng thỏa mãn với dịch vụ trực tuyến và do đó sẽ hàilòng hơn với cả ngân hàng cung cấp dịch vụ đó Bên cạnh đó, Anderson và Srinivasan(2003) lập luận rằng sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến có thể là được điều khiểnbởi đặc điểm trang web (ví dụ: dễ sử dụng), vì trang web là sự liên kết giữa kháchhàng và công ty Ngoài ra, Piha và cộng sự (2015) cho rằng mặc dù sự thỏa mãn củakhách hàng trực tuyến bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính trang web, người tiêu dùngkhác nhau sẽ bị ảnh hưởng khác nhau
Như đã trình bày ở mục 2.1.2, nghiên cứu của tác giả dựa trên các thành phần củachất lượng dịch vụ Internet Banking của Amin (2016) bao gồm: (1) Nhu cầu cá nhân,(2) Tổ chức trang web, (3) Thân thiện với người sử dụng (user friendliness) và (4)Hiệu quả Các thành phần này cũng xuất hiện trong các nghiên cứu trước đây, và đượcchứng minh có mối quan hệ với sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến như sau:
Nhu cầu cá nhân: Nghiên cứu của Zeithaml và cộng sự (2002); Parasuraman và
cộng sự (2005), những thành phần về chất lượng dịch vụ Internet Banking có điểmgiống nhau là liên quan đến các yếu tố an ninh và sự riêng tư cho các giao dịch cá nhâncủa khách hàng trực tuyến Trong nghiên cứu của mình Herington và Weaven (2009)nhóm các thành phần liên quan đến yếu tố an ninh và sự riêng tư đó lại thành một nhân
tố mới và đã đặt một tên gọi mới là “Nhu cầu cá nhân” và Amin (2016) một
Trang 33lần nữa chứng minh rằng “Nhu cầu cá nhân” là một thành phần của chất lượng dịch vụInternet Banking và góp phần giúp chất lượng dịch vụ Internet Banking tác động mạnh
mẽ đến sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến
Tổ chức trang web: Dựa trên các thành phần của chất lượng dịch vụ Internet
Banking trong nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự, 2005 Herington và Weaven(2009) đã đặt tên thành phần “Tổ chức trang web” cho các yếu tố liên quan đến đến sự
dễ dàng truy cập vào trang web đó Theo Herington & Weaven (2009) và Amin (2016)
tổ chức trang web là một thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking và gópphần giúp chất lượng dịch vụ Internet Banking tác động mạnh mẽ đến sự thỏa mãn củakhách hàng trực tuyến
Thân thiện với người sử dụng: Dựa trên các nghiên cứu trước đây về chất lượng
dịch vụ trong bối cảnh ngân hàng trực tuyến, và các thành phần của chất lượng dịch vụInternet Banking trong nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự, 2005 Herington vàWeaven (2009) đã đặt tên yếu tố liên quan đến sự dễ dàng của người dùng có thể điềuhướng trong trang web là thành phần thứ ba của chất lượng dịch vụ Internet Bankingvới tên gọi “Thân thiện với người sử dụng” Amin (2016) đã chứng minh rằng thânthiện với người sử dụng là một thành phần của chất lượng dịch vụ Internet Banking vàgóp phần giúp chất lượng dịch vụ Internet Banking tác động mạnh mẽ đến sự thỏa mãncủa khách hàng trực tuyến
Hiệu quả: Thành phần này được giữ nguyên so với nghiên cứu Parasuraman &
cộng sự (2005) Herington và Weaven (2009) và Amin (2016) đã chứng minh rằng:Hiệu quả là thành phần quan trọng nhất trong chất lượng dịch vụ Internet Banking gópphần giúp chất lượng dịch vụ Internet Banking tác động mạnh mẽ đến sự thỏa mãn củakhách hàng trực tuyến
Như vậy, qua những nghiên cứu trước đây, tác giả đồng ý với quan điểm của(Carlson và O'Cass, 2011; Rolland và cộng sự, 2010; Piha và cộng sự, 2015) là kháchhàng cảm nhận và đánh giá tích cực về chất lượng của các thuộc tính dịch vụ InternetBanking sẽ dẫn đến sự thỏa mãn với dịch vụ được cung cấp Từ những lập luận trên,giả thuyết nghiên cứu sau đây được tác giả đề xuất:
Trang 34Nhiều nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ tuyên bố rằng
sự thỏa mãn của khách hàng có mối quan hệ tích cực với ý định mua lại và lòng trungthành của khách hàng (Aksoy, 2014; Amin và cộng sự, 2013; Sharifi và Esfidani,2014; Zeithaml và cộng sự, 1993) Ví dụ, Amin và cộng sự (2016) nhận thấy rằng cómột mối quan hệ đáng kể giữa sự sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến và lòng trungthành của khách hàng trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng Dường như những ngườitiêu dùng thỏa mãn với dịch vụ ngân hàng trực tuyến có nhiều khả năng hơn để thamgia vào một mối quan hệ nhất quán với ngân hàng trực tuyến trong tương lai và chứngminh một hành vi trung thành hơn (Baker & Levy,1992; Wong và Zhou, 2006)
Tuy nhiên, khi sự không sự thỏa mãn được cảm nhận, khách hàng có thể khiếunại về dịch vụ và tham gia vào WOM tiêu cực (Caruana, 2002), và họ sẽ chuyển sangcác nhà cung cấp dịch vụ khác (Amin và cộng sự, 2011; Cheema và cộng sự, 2010;Wirtz và cộng sự, 2007) Theo nghĩa này, nếu ngân hàng trực tuyến không cung cấpcác kênh mà khách hàng cần, sẽ khó khăn nhiều hơn trong việc phát triển mối quan hệvới khách hàng của họ (Amin và cộng sự, 2013; Bloemer và cộng sự, 1998; Levy,2014) Kết quả là, khách hàng thỏa mãn với dịch vụ ngân hàng qua internet sẽ thể hiện
sự trung thành cao đối với ngân hàng của họ Vì lý do này, sự thỏa mãn của kháchhàng được coi là yếu tố quan trọng quyết định sự trung thành của khách hàng trựctuyến (Amin và cộng sự, 2013; Bloemer và cộng sự, 1998) Như vậy, tác giả đề xuấtgiả thuyết nghiên cứu sau đây:
H2: Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến có tác động tích cực đến lòng trung thành của khách hàng trực tuyến.
2.3.3 Mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến và truyền miệng tích cực
Trang 35Theo tài liệu rà soát, nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ tầm quan trọng của truyềnmiệng trong việc hình thành thái độ của người tiêu dùng (Finn, 2009), trong bối cảnh
ra quyết định mua bán (Bansal và Voyer, 2000) và trong việc giảm rủi ro liên quan đếnquyết định mua hàng (Melnyk và cộng sự, 2015) Hơn nữa, có bằng chứng từ các tàiliệu về mối quan hệ giữa sự thỏa mãn và mong muốn giới thiệu (ví dụ nhưParasuraman và cộng sự, 1988) Cụ thể hơn, như Young Ha (2012) đề cập đến việcxem xét động cơ của người tiêu dùng tham gia vào WOM có xu hướng làm nổi bật tầmquan trọng của sự thỏa mãn khách hàng như một yếu tố quyết định của WOM tích cực.Ngoài ra, sự không thỏa mãn liên quan đến ý định sử dụng WOM tiêu cực của kháchhàng Dichter (1966) báo cáo rằng ít nhất chín mươi phần trăm khách hàng không thỏamãn từ một công ty dự kiến sẽ thể hiện sự thất vọng của họ với tối thiểu là chín cánhân khác
Các nghiên cứu trước đây từng làm nổi bật vai trò quan trọng của sự thỏa mãntrong dự đoán các hành vi khác nhau của người tiêu dùng như WOM (Cheema và cộng
sự, 2010;) và ý định trung thành (Casaló và cộng sự, 2008; Rodgers và cộng sự, 2005).Các khả năng người tiêu dùng tham gia vào giao tiếp của WOM có liên quan chặt chẽđến mức độ thỏa mãn (Ladhari, 2007, Matos & Rossi, 2008; Ranaweera & Prabhu,2003) Trong bối cảnh bán lẻ-mua sắm, sự thỏa mãn là một tiền thân của WOM tíchcực Người tiêu dùng thỏa mãn có nhiều khả năng đề nghị các cửa hàng hoặc sản phẩmcủa mình cho người khác (Choudhury,2014) Young Ha và cộng sự (2012) từng chứngminh rằng sự thỏa mãn liên quan đến WOM tích cực Trong nghiên cứu của Arasli vàcộng sự (2005) đã chứng minh trong bối cảnh ở các ngân hàng Hy Lạp, sự thỏa mãntổng thể về chất lượng dịch vụ có tác động đến truyền miệng tích cực
Theo những phát hiện trên, tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu sau đây:
H3: Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến có tác động tích cực đến truyền miệng tích cực.
2.3.4 Mối quan hệ giữa lòng trung thành của khách hàng trực tuyến và truyền miệng tích cực
Trang 36Bansal và cộng sự (2000) nghiên cứu ảnh hưởng của lợi ích và sở thích mua sắmtrên sự thỏa mãn của khách hàng, lòng trung thành, và truyền miệng trong một bốicảnh thương hiệu bán lẻ Họ nhận thấy rằng lợi ích mua sắm tiện dụng xuất phát từniềm tin của khách hàng cho rằng các mục tiêu cụ thể cho một chuyến đi mua sắm sẽđược thỏa mãn và phản ánh tình cảm giá trị tâm lý của việc mua sắm, trong đó sự thỏamãn đã có ảnh hưởng một cách gián tiếp đến truyền miệng, và lòng trung thành có tácđộng trực tiếp đến truyền miệng Một số tác giả đã đề xuất lòng trung thành cũng dẫnđến cường độ cao hơn trong truyền miệng tích cực (Casaló, 2008) Cụ thể hơn, lòngtrung thành có thể được xem như một hành vi không ngẫu nhiên, được thể hiện theothời gian, phụ thuộc vào quá trình tâm lý và gần gũi với thương hiệu cam kết, và nó đãđược phân tích từ hai quan điểm khác nhau: thái độ và hành vi (Bloemer và Ruyter,1998) Thực tế này ngụ ý rằng khái niệm về lòng trung thành bao gồm một liên kết tâm
lý, dựa trên cảm xúc của khách hàng thúc đẩy sự gắn bó chung với người, sản phẩmhoặc dịch vụ của một tổ chức (Casaló, 2008), và hành vi dựa trên các khía cạnh nhưtần suất truy cập vào một cửa hàng hoặc tỷ lệ phần trăm chi phí (Cyr, 2008)
Sự trung thành phản ánh thái độ thích hợp đối với thương hiệu hoặc tổ chức(Baumann và cộng sự, 2012) Khách hàng trung thành thường giúp công ty bằng cáchnhấn mạnh đến các thuộc tính chính của sản phẩm đến những người khác Điều nàyđược thúc đẩy bởi thực tế rằng sự trung thành là kết quả của niềm tin rằng số lượng giátrị nhận được từ việc tiêu dùng một sản phẩm hoặc dịch vụ là lớn hơn giá trị khôngtiêu dùng (Casaló, 2008) Vì vậy, cá nhân có động cơ để duy trì trung thành với công
ty và để thúc đẩy nó bằng hành vi, ví dụ, hành vi truyền miệng tích cực (Young Ha,2012) Dựa trên những kết quả nghiên cứu trên, tác giả đề xuất rằng lòng trung thànhcó thể tác động tích cực đến truyền miệng trong lĩnh vực Internet Banking:
H4: Lòng trung thành của khách hàng trực tuyến có tác động tích cực đến truyền miệng tích cực.
Trang 372.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài và các tổng quan lý thuyết được trìnhbày ở trên, thông qua kết quả nghiên cứu định tính (phụ lục 1), tác giả đề xuất một môhình nghiên cứu như Hình 2.5 Mô hình này tác giả dựa trên nghiên cứu của Casalo vàcộng sự (2008), nghiên cứu của Young Ha và cộng sự (2012) và nghiên cứu của Amin(2016)
Trong mô hình, yếu tố chất lượng dịch vụ Internet Banking là một biến đa hướngbao gồm bốn thành phần được kế thừa bởi nghiên cứu của Amin (2016) bởi vì đây lànghiên cứu về chất lượng dịch vụ Internet Banking và có tính kế thừa các nghiên cứutrước đây của Herington & Weaven, (2009), Ho & Lin, (2010) và đã được chứng thựctrong bối cảnh Malaysia vào năm 2016 Malaysia và Việt Nam cùng là các quốc gianằm trong khu vực Đông Nam Á, hai nước rất gần gũi về địa lý và có nhiều nét tươngđồng về văn hóa Ngoài ra, nghiên cứu của Amin (2016) còn chỉ ra được chất lượngdịch vụ Internet Banking phần lớn được xác định bởi các yếu tố web, đề cao vai tròcủa công nghệ hơn các yếu tố truyền thống về con người, quan điểm này được đôngđảo các nhà nghiên cứu trước đây thừa nhận (Bauer và cộng sự, 2006, Zeithaml vàcộng sự ,2002; Parasuraman và cộng sự, 2005)
Lòng trung thành
Trang 38Hình 2 5 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 392.4.2 Các giả thuyết đề xuất
Từ cơ sở lý thuyết được trình bày ở trên và mô hình nghiên cứu đề xuất, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:
H1: Chất lượng dịch vụ Internet Banking có tác động tích cực đến sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến.
H2: Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến có tác động tích cực đến lòng trung thành của khách hàng trực tuyến.
H3: Sự thỏa mãn của khách hàng trực tuyến có tác động tích cực đến truyền miệng tích cực.
H4: Lòng trung thành của khách hàng trực tuyến có tác động tích cực đến truyền miệng tích cực.
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2, tác giả đã trình các khái niệm, lý thuyết liên quan đến chấtlượng dịch vụ Internet Banking, sự thỏa mãn, lòng trung thành và truyền miệng tíchcực Chương này cũng trình bày sơ lược các mô hình nghiên cứu trước đây, từ đó đềxuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đề nghị Chương 3 sẽ tiếp tục trình bàyphương pháp nghiên cứu
Trang 40CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 đã giới thiệu cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình, các giả thuyết nghiêncứu Chương 3 sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây dựngthang đo, bảng câu hỏi, cách thu thập dữ liệu và các bước phân tích dữ liệu
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện với mục đích là đo lường sự ảnh hưởng của chất lượng dịch
vụ Internet Banking đến lòng trung thành và truyền miệng tích cực thông qua sự thỏamãn của khách hàng cá nhân của các ngân hàng thương mại tại TP HCM Từ đó đềxuất những kiến nghị nhằm nâng cao lòng trung thành và truyền miệng tích cực củacác khách hàng cá nhân Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài này có 2 bước nghiêncứu: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định
tính, sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm (n =10) nhằm điều chỉnh mô hình nghiên cứu và
bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu cho phù hợp vớithị trường Việt Nam Kết quả nghiên cứu được điều chỉnh thành thang đo dự kiến.Thang đo dự kiến sẽ được kiểm định bằng định lượng sơ bộ với mẫu là 127 Thang đo
dự kiến sau khi được kiểm định bằng định lượng sơ bộ sẽ trở thành thang đo chínhthức của đề tài
Nghiên cứu chính thức: Nghiên cứu chính thức thực hiện bằng phương pháp
nghiên cứu định lượng Phương pháp này được thực hiện bằng cách phỏng vấn trựctiếp khách hàng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP.HCM Thông qua bảngcâu hỏi chi tiết nhằm đánh giá các thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giảthuyết đã được đặt ra bằng các kiểm định Cronbach’s Alpha, EFA, CFA, SEM Nghiêncứu chính thức được thực hiện tại TP.HCM từ tháng 07/2018 đến tháng 09/2018 Quytrình nghiên cứu được trình bày trong Hình 3.1 như sau:
Vấn đề nghiên cứu