Mặt khác, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngân hàng nhà nước Việt Nam đến năm 2015 ngân hàng Công thương xây dựng thành một ngân hàng thương mại chủ lực và hiện đại, đạt trình độ tiên t
Trang 13.1/ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH BẮC GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.1/ Định hướng phát triển
Năm 2010 là năm thứ hai trong giai đoạn phục hồi kinh tế, đòi hỏi các ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng Công thương Chi nhánh tỉnh Bắc Giang nói riêng cần thể hiện sự nỗ lực hơn nữa, chung tay góp sức cho đất nước phục hồi
đà tăng trưởng ấn tượng như giai đoạn trước 2008 Mặt khác, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngân hàng nhà nước Việt Nam đến năm 2015 ngân hàng Công thương xây dựng thành một ngân hàng thương mại chủ lực và hiện đại, đạt trình độ tiên tiến của khu vực, hoạt động kinh doanh đa năng, có hiệu quả cao, an toàn, bền vững, tài chính lành mạnh, có công nghệ cao, chất lượng nguồn nhân lực và quản trị ngân hàng đạt mức tiên tiến, có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực và quốc tế
Quán triệt chỉ đạo của Ban lãnh đạo ngân hàng Công thương Việt Nam tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2010, ngân hàng Công thương Chi nhánh tỉnh Bắc Giang dự kiến các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2010 cần thực hiện như sau:
Các chỉ tiêu kinh doanh cụ thể:
Dư nợ cho vay đạt 740 tỷ đồng, tăng 209 tỷ đồng (tăng 39,3%) so với năm 2009
Nguồn vốn huy động đạt 1.200 tỷ đồng, tăng 221 tỷ đồng (tăng 22,5%)
so với năm 2009
Tỷ lệ nợ xấu : Không phát sinh
Thu dịch vụ: đạt 3,7 tỷ đồng
Lợi nhuận (đã trích dự phòng rủi ro): đạt 15 tỷ đồng
Tài chính kinh doanh tiếp tục có lãi, đủ quỹ tiền lương, thưởng theo quy định Căn cứ vào định hướng phát triển chung của ngân hàng Công thương Việt Nam, Chi nhánh cũng đã xác định cho mình hướng phát triển riêng để phát huy được những thuận lợi cũng như khắc phục
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trang 2những khó khăn tồn tại
Định hướng đó bao gồm:
o Các biện pháp điều hành chung:
Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy tổ chức của chi nhánh đảm bảo phải đủ mạnh, bố trí thêm cán bộ cho phòng nghiệp vụ, thực hiện phong cách giao dịch văn minh, lịch sự, cung cấp tiện ích và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch nhằm thu hút khách hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh
Bám sát định hướng, mục tiêu kinh doanh năm 2010 của ngân hàng Công thương Việt Nam, tích cực khai thác tối đa các tiện ích dự án hiện đại hoá ngân hàng, tiếp tục triển khai nối mạng thanh toán điện tử trực tiếp với các khách hàng lớn nhằm thu hút nguồn vốn và phát triển dịch
vụ ngân hàng hiện có và sản phẩm mới như: dịch vụ thanh toán Dịch
vụ ngân quỹ, dịch vụ cho thuê két sắt, tư vấn môi giới kinh doanh chứng khoán - bất động sản, phát triển dịch vụ thẻ…
Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác tự kiểm tra, kiểm soát nghịêp vụ để phát hiện và chỉnh sửa kịp thời những tồn tại, sai xót phát sinh trong từng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng các hoạt động, đảm bảo kinh doanh an toàn và hiệu quả
Thực hiện tốt các chính sách khách hàng: Trên cơ sở nắm bắt và nghiên cứu kỹ các chính sách cơ chế ưu đãi của các ngân hàng thương mại khác đang thực hiện, diễn biến thị trường từ đó đưa ra đối sách, cơ chế phù hợp, hiệu quả để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh Tăng cường đa dạng và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, quảng cáo để thu hút thêm khách hàng mới
o Các biện pháp tăng trưởng nguồn vốn:
Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, áp dụng cơ chế lãi suất linh hoạt, tiếp tục mở rộng các hình thức tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm trả lãi tích luỹ theo số tiền gửi, tiết kiệm có thưởng
Tiếp tục điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn hợp lý theo hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn từ dân cư, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ, quản lý tốt rủi ro lãi suất, giảm thấp lãi suất đầu vào, tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao
Trang 3năng lực tài chính
Quan hệ tốt với các khách hàng truyển thống của ngân hàng như: Kho bạc nhà nước, các tổ chức bảo hiểm xã hội , quỹ hỗ trợ, các dự án, các đơn vị có nguồn thu thường xuyên thuộc ngành điện, nước, bưu điện…
để thu hút tiền gửi và cung cấp các dịch vụ ngân hàng
Làm tốt công tác thanh toán, tăng cường nâng cao chất lượng các dịch
vụ tiện ích cho các tổ chức, thực hiện việc chi trả lương cho cán bộ công nhân viên của tổ chức đó để thu hút thanh toán qua chi nhánh, tận dụng nguồn tiền gửi tạm thời nhàn rỗi
o Các biện pháp tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng
Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nghiệp vụ, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, cần kiểm tra trước, trong và sau khi cấp tín dụng, coi trọng chất lượng tín dụng Thường xuyên bám sát các đơn vị có nợ quá hạn, có các biện pháp xử lý nợ đạt hiệu quả
Tiếp tục duy trì kết hợp mở rộng tín dụng với các doanh nghiệp vay vốn truyền thống, tín nhiệm tại chi nhánh, tăng cường tiếp cận cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu quả, các đối tượng vay phục vụ nhu cầu đời sống tiêu dùng
Tập trung phân tích tài chính của các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng, làm tốt công tác phân loại khách hàng, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro theo đúng quy định
Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nghiệp vụ, đi đôi với nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra trước, trong và sau khi cấp tín dụng, coi trọng chất lượng tín dụng Thường xuyên bám sát các đơn vị có
nợ quá hạn, có các biện pháp xử lý nợ đạt hiệu quả
Từng bước chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ thông qua chất lượng và hiệu quả công việc được giao Thực hiện phân loại cán bộ, triển khai mạnh mẽ công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ ở trong và ngoài nước, phấn đấu 100% cán bộ tối thiểu có bằng đại học và tiếp tục mở rộng các lớp học ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ ngân hàng theo thông lệ quốc tế, đáp ứng những nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Phối hợp tác nghiệp tốt giữa các phòng nghiệp vụ chuyên môn, gắn công
Trang 4tác tín dụng với huy động vốn, kinh doanh ngoại tệ với thanh toán quốc
tế, dịch vụ ngân hàng… đáp ứng tối đa nhu cầu khách về thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ…
Tiếp tục hát huy truyền thống đơn vị anh hùng lao động thời kỳ đổi mới của ngân hàng Công thương Việt Nam, truyền thống đoàn kết giữa chuyên môn - Chi bộ Đảng - Công đoàn Tập thể cán bộ công nhân viên chức chi nhánh thi đua phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ, các mục tiêu đã đề ra Xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh xuất sắc
3.1.2/ Quan điểm của chi nhánh về hiệu quả hoạt động tín dụng tại Chi nhánh
Hiệu quả tín dụng được xét trên góc độ doanh nghiệp và ngân hàng Về phía doanh nghiệp, vay vốn có hiệu quả là phải đáp ứng được yêu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình và hoạt động đó phải đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất trả gốc và lãi được cho ngân hàng Hiệu quả này được thể hiện thông qua hiệu quả kinh doanh của đơn vị và tình hình thực hiện trách nhiệm với ngân hàng
Ngân hàng cho vay có hiệu quả thể hiện ở chỗ bù đắp được chi phí trả lãi của việc huy động vốn và các chi phí có liên quan khác và phải đem về lợi nhuận cho ngân hàng Hiệu quả hoạt động của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào khả năng thu hồi an toàn của mỗi đông vốn bỏ ra theo đúng kỳ hạn ghi trong hợp đồng Như vậy, hoạt động tín dụng chỉ thực sự mang lại hiệu quả cao khi mà hiệu suất sử dụng vốn cao, an toàn và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Do vậy, Chi nhánh luôn mong muốn hoạt động tín dụng đạt được hiệu suất sử dụng vốn cao để mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng nhưng bên cạnh đó không được coi nhẹ yếu tố an toàn
3.2/ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
Về tổng quan, kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được kết quả cao tăng uy tín trong khách hàng và tăng vị thế trên thị trường hoạt động Hoạt động tín dụng tại Chi nhánh cũng hoà vào dòng chảy chung đó, phát triển khá mạnh và tạo nguồn thu nhập không nhỏ cho ngân hàng, tuy nhiên để tín dụng ngân hàng ngày càng phát triển hơn nữa, số tiền sử dụng để cho vay chiếm tỷ trọng lớn hơn phát triển tương xứng với tổng nguồn vốn huy động thì vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng được đặt ra là rất cần thiết với ngân hàng Vậy phải làm gì để nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng Công thương Chi nhánh tỉnh Bắc Giang? Xuất phát từ những nghiên cứu của mình về thực trạng hoạt động tín dụng (nhận định những mặt đạt
Trang 5được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân) tại Chi nhánh, trong thời gian thực tập tại ngân hàng Công thương Chi nhánh tỉnh Bắc Giang tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh như sau:
Trước khi trình bày các giải pháp tôi xin được nhắc lại:
Những tồn tại chính trong hoạt động tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng Công thương tỉnh Bắc Giang:
Chất lượng thẩm định, phân tích tài chính khách hàng còn nhiều tồn tại
Tỷ trọng cũng như quy mô tổng dư nợ tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh giảm
Hiệu suất sử dụng vốn còn thấp
Những mặt tích cực cần phát huy:
Ngân hàng quan hệ tín dụng rất tốt đối với các doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức, đơn vị lớn
Tăng trưởng tín dụng khá cao, nhất là tín dụng ngắn hạn
Nguồn vốn huy động ngày càng tăng
Vòng quay vốn tín dụng khá cao, tốc độ luân chuyển vốn nhanh
Hệ thống giải pháp này nhằm phát huy những mặt mạnh trong hoạt động tín dụng và đồng thời cũng khắc phục những mặt còn tồn tại trong hoạt động tín dụng tại Chi nhánh
3.2.1/ Nâng cao năng lực phân tích tài chính khách hàng
Chi nhánh nên hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính khách hàng.
Thông qua việc cải thiện năng lực đánh giá khách hàng, ngân hàng sẽ xây dựng được một hệ thống thông tin có chất lượng cao hơn, thực chất hơn và đem lại hiệu quả trực tiếp trong việc cải thiện chất lượng nợ của ngân hàng Từ đó nâng cao được uy tín và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Thông tin dù có hoàn thiện đến mức nào cũng không thể nói lên điều gì nếu như nó không được qua xử lí đánh giá Để thông tin phát huy được tác dụng về việc phản ánh tình hình tài chính khách hàng thì vấn đề lựa chọn và hoàn thiện phương pháp phân tích là rất quan trọng Phương pháp phân tích đang được sử dụng tại Chi nhánh là phương pháp tỷ trọng, phương pháp so sánh, và kết hợp cho điểm tín dụng Chỉ với các phương pháp nêu trên là chưa đủ để có thể phân tích đánh giá khách hàng một cách chính xác, mà chi nhánh nên áp dụng thêm phương pháp phân tích Dupont, bản chất phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lời của doanh nghiệp thành một tỷ số chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với
Trang 6nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số thành phần đối với tỷ số tổng hợp đó và từ đó nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp
Ví dụ như phân tích chỉ tiêu:
ROE: Doanh lợi vốn chủ sở hữu.
ROA: Doanh lợi doanh thu.
FL: Hệ số đòn bẩy tài chính.
ROE =
ROA =
FL =
Khi đó: ROE = ROA * FL
Với sự phân tách các chỉ tiêu phân tích theo cách trên thì ROE đạt giá trị cao tức tỷ lệ lợi tức dành cho các chủ sở hữu công ty cao chưa chắc đã xuất phát từ ROA cao – tức là hiệu quả sử dụng tài sản cao mà nó có thể do hệ số đòn bẩy tài chính quá cao (cho dù tỷ lệ ROA có thể đạt mức thấp) như vậy rủi ro có khi cho vay với các doanh nghiệp này nếu chỉ đánh giá mức lợi nhuận thu được dựa vào ROE là rất lớn
Hoặc:
ROE = NPMM * AU * FL
Với:
NPMM: Tỷ lệ sinh lời hoạt động.
AU: Hiệu suất sử dụng tài sản.
Lợi nhuận sau thuế Tổng vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản
Tổng tài sản Tổng vốn chủ sở hữu
Thu nhập sau thuế Tổng thu nhập từ hoạt động Thu nhập từ hoạt động Tổng tài sản
Trang 7Cách phân tích trên đã cho thấy ROE có giá trị không chỉ phụ thuộc vào hai nhân tố như trên mà nó chịu ảnh hưởng của ba nhân tố tác động, bằng việc bóc tách các chỉ tiêu cần phân tích như trên rõ ràng đã chỉ ra bản chất của vấn đề cần phân tích để từ đó có những nhận định và quyết định chuẩn xác về việc cấp tín dụng cho khách hàng, lựa chọn được các khách hàng tốt
Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính khách hàng: cán bộ tín dụng tại Chi
nhánh không chỉ đơn thuần phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà cần:
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ để nhìn nhận chính xác được tình hình tài chính thực sự của doanh nghiệp Cán bộ tín dụng xem xét kỹ mức tồn quỹ, nếu mức tồn quỹ quá nhỏ thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp khi đến hạn bị đe doạ nhưng nếu quá lớn thì làm giảm khả năng sinh lời từ vốn vay đó Ngoài ra cũng cần nghiên cứu luồng tiền ra vào doanh nghiệp trong thời gian nhất định từ đó có các quyết định thích hợp lựa chọn được đối tượng cho vay tốt làm giảm thiểu rủi ro tín dụng có thể xảy ra
Nghiên cứu kỹ lưỡng thuyết minh báo cáo tài chính trong đó cần tập trung nắm rõ chế độ hạch toán áp dụng tại đơn vị và kiểm tra tính sơ bộ, logic, hợp
lý của số liệu trên BCTC
Đi sâu phân tích báo cáo tài chính hơn nữa, khi phân tích Bảng cân đối kế toán ngân hàng đã phân tích các chỉ tiêu vốn lưu động ròng, nhưng chưa lập bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn để phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn Nên lập ra để thấy những trọng điểm đầu tư vốn và những nguồn vốn chủ yếu hình thành
để đầu tư, xác định được hướng đầu tư của doanh nghiệp và mức độ hợp lý của các khoản tài trợ từ đó đưa ra các đánh giá sát với thực tế
3.2.2/ Nâng cao chất lượng thông tin đầu vào phục vụ cho công tác phân tích tín dụng
Thông tin đầu vào là yếu tố rất quan trọng đối với ngân hàng trong việc phân tích tài chính khách hàng Những thông tin này có vai trò quyết định xem liệu doanh nghiệp, khách hàng có đủ điều kiện được vay vốn hay không, khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng là bao nhiêu Nếu không có điều kiện xuống trực tiếp cơ sở thì phải xem xét kỹ các báo cáo tài chính Thông qua các báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng
sẽ phân tích số liệu, tính toán các chỉ số Tuy nhiên các báo cáo tài chính đôi khi cũng không phản ánh tính thực tế của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp thường có
xu hướng báo cáo tốt hơn tình hình thực tế để lấy lòng ngân hàng về khả năng trả nợ
Trang 8của mình.
Phải có sự kiểm tra của cơ quan kiểm toán độc lập với các doanh nghiệp trước khi gửi các báo cáo tài chính cho ngân hàng Tuy nhiên, khó áp dụng trong giai đoạn hiện nay do thói quen, do kiểm toán ở nước ta chưa phát triển cụ thể là để được kiểm toán phải mất chi phí kiểm toán cao và thời gian dài
Nhằm đảm bảo đủ thông tin cần thiết cho việc đánh giá tài chính, khách hàng
có thể thiết lập hệ thống thông tin đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau Ngân hàng đã thiết lập hệ thống thông tin lưu trữ về khách hàng có quan hệ tín dụng bao gồm: Tên khách hàng, lĩnh vực hoạt động, số lần có quan hệ tín dụng với ngân hàng, quy mô thời hạn của khoản vay, tình hình hoàn trả gốc và lãi, xếp hạng tín dụng Nhưng ngân hàng nên mở sổ theo dõi khách hàng vay vốn theo nghề kinh doanh hoặc theo loại hình doanh nghiệp để dễ dàng hơn trong quản lý và không tốn thời gian cho việc kiểm tra các thông tin khách hàng xin vay lần sau
Ngoài ra cán bộ tín dụng có thể thu thập thông tin từ mạng INTERNET, từ báo tạp chí, từ các phương tiện truyền thông và sàng lọc các nguồn thông tin đó
để hình thành nên hệ thống thông tin phục vụ cho công tác phân tích tài chính khách hàng
Ngoài ra ngân hàng cũng có thể thu thêm thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng CIC Thông tin về tài chính của CIC chủ yếu được lấy từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp Căn cứ vào thông tin tài chính thu được CIC tiến hành xây dựng một
số chỉ tiêu phân tích cơ bản như: Chỉ số thanh khoản, chỉ số hoạt động, chỉ số phản ánh cơ cấu vốn, chỉ số về lợi tức Sau đó lượng hoá các chỉ số trên để tính toán lượng hoá các chỉ tiêu trên để tính điểm và xếp loại tài chính doanh nghiệp Khi phân tích các chỉ số tài chính đã có tính đến yếu tố ngành, quy mô doanh nghiệp Đây là nguồn thông tin khá đầy đủ, chính xác lại đã qua quá trình tổng hợp, phân tích nên ngân hàng có thể khai thác hợp lý và có hiệu quả
Ngân hàng cũng phải thường xuyên đối chiếu thông tin do khách hàng cung cấp với thông tin từ các cơ quan tài chính khác (thuế, kế toán, công an) hoặc các bạn hàng đối tác của doanh nghiệp Nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp cung cấp các thông tin không thống nhất cho các bên liên quan với mục đích trục lợi gây thiệt hại cho người sử dụng thông tin trong đó có ngân hàng Vì vậy, ngân hàng phải thiết lập mối quan hệ với các cơ quan nói trên, có kế hoạch cụ thể về cách thức, thời gian và nội dung đối chiếu kiểm tra thông tin
3.2.3/ Tuân thủ chặt chẽ hơn biện pháp bảo đảm tín dụng
Trang 9Trên thực tế, ngân hàng còn có thể cải thiện tỷ lệ nợ khó đòi bằng cách giám sát chặt chẽ hơn vấn đề về tài sản đảm bảo khi vay Bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn chân chính cũng còn tồn tại nhiều doanh nghiệp thành lập với mục đích lừa đảo Do vậy Chi nhánh không chỉ căn cứ vào khả năng tài chính của khách hàng, thông qua các báo cáo tài chính để tiến hành cho vay mà còn phải áp dụng các hình thức đảm bảo tiền vay Đây được coi là nguồn trả nợ thứ hai khi khách hàng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đã vay ngân hàng
Để tài sản đảm bảo thực sự trở thành nguồn trả nợ thứ hai của khách hàng, hạn chế rủi ro tín dụng thì cần nâng cao chất lượng việc đánh giá tài sản đảm bảo Hiện nay việc đánh giá tài sản đảm bảo tại Chi nhánh vẫn còn mang tính chủ quan, chưa mang tính chuyên môn cao, chưa tính tới nhiều yếu tố tác động đến giá trị tài sản Vì vậy, trong điều kiện có thể Chi nhánh nên thành lập các tổ định giá thường xuyên tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng có cơ hội tìm hiểu sâu về tài sản đảm bảo Đồng thời yêu cầu khách hàng thường xuyên cung cấp thông tin về tài sản đảm bảo
3.2.4/ Nâng cao công tác tổ chức đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tín dụng
Trong bất kỳ một ngành nghề, lĩnh vực hoạt động nào, con người luôn là nhân tố mang tính chất quyết định, tương tự trong hoạt động tín dụng con người đóng vai trò quan trọng trong tất cả các khâu: Thẩm định dự án, quyết định cho vay, thu hồi nợ Do vậy, việc tiếp tục nâng cao hơn nữa trình độ nghiệp vụ của cán
bộ tín dụng nhằm xử lý công việc một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn, đảm bảo được tiến độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như của doanh nghiệp
Khi cán bộ có trình độ lý luận vững vàng, dày dặn kinh nghiệm và tinh thông nghiệp vụ, việc đánh giá khách hàng một cách chuẩn xác hơn và quản lý vốn vay chặt chẽ hiệu quả hơn Việc đào tạo tại chỗ nhằm nâng cao trình độ và nhận thức cho cán bộ công nhân viên để đổi mới phong cách, lề lối làm việc, có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu công việc Tổ chức các buổi nói chuyện, luận đàm về các quy định của Nhà nước và các vấn đề hiện đang là điểm nóng trong xã hội Đồng thời tổ chức các buổi thảo luận khuyến khích cá nhân đề xuất ý tưởng mới về nghiệp vụ cũng như các hoạt động khác Những ý kiến khả thi đề nghị xây dựng vào đề cương chi tiết để nghiên cứu và dần đưa vào áp dụng rộng rãi Tiếp tục tổ chức thi tay nghề trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo cụ thể nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, văn hoá doanh nghiệp giúp cho mỗi cán bộ có khả năng giao tiếp, xử
Trang 10lý tốt công việc hiện tại cũng như thích ứng với lộ trình hội nhập và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng của ngân hàng Công thương Việt Nam trong tương lai
Song song với đào tạo nghiệp vụ phải thường xuyên củng cố tâm lý cho cán
bộ tín dụng Công tác tín dụng đòi hỏi những cán bộ tín dụng không chỉ có năng lực chuyên môn mà cũng cần có khả năng quyết đoán, một bản lĩnh vững vàng và đạo đức nghề nghiệp để loại trừ những tiêu cực từ bên ngoài Cán bộ tín dụng phải luôn nên cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ quyền lợi chung và luôn hết lòng vì công việc Cán bộ tín dụng phải tạo cho khách hàng sự tin tưởng, thuận tiện và thái độ phục vụ nhiệt tình cùng với những lời tư vấn có giá trị đồng thời việc bố trí cán bộ một cách hợp lý sẽ là động lực để cán bộ phấn đấu đồng thời khai thác tối đa năng lực sở trường của từng cán bộ
Đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ nhân viên không bao giờ là việc làm vô ích Đó là tiêu chí mà Chi nhánh luôn phấn đấu vì sự nghiệp phát triển chung của ngân hàng Công thương Việt Nam và của Chi nhánh nói riêng
3.2.5/ Tăng cường hoạt động giám sát tín dụng và thực hiện tốt việc kiểm tra, kiểm soát nôi bộ ngân hàng
Giám sát tín dụng:
Để giảm rủi ro tín dụng cho hoạt động của mình Chi nhánh cần tăng cường công tác giám sát tín dụng Đây là việc kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay với mục đích sớm phát hiện ra các khoản vay có vấn đề để tìm hướng giải quyết nhằm hạn chế rủi ro tín dụng Về phương thức giám sát Chi nhánh nên áp dụng một cách tổng hợp nhiều phương thức:
Phân tích báo cáo tài chính theo định kỳ: Với các khách hàng vay thường xuyên hoặc thời gian cho vay tương đối dài, Chi nhánh sẽ yêu cầu gửi các báo cáo tài chính định kỳ để ngân hàng phân tích kịp thời phát hiện được những thay đổi đáng chú ý trong khả năng trả nợ của khách hàng
Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng: thông qua hoạt động của tài khoản tiền gửi và tài khoản vay (doanh số phát sinh Nợ, Có của tài khoản) sẽ phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm, lưu chuyển tiền tệ, sử dụng vốn vay và trả nợ
Thực địa và kiểm soát địa bàn hoạt động kinh doanh, nơi cư trú của khách