1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI SGD NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI TRONG THỜI GIAN TỚI

22 306 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Hướng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Thẩm Định Tài Chính Dự Án Tại Sgd Ngân Hàng Tmcp Hàng Hải Trong Thời Gian Tới
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng
Chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại bài luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 36,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung trong những năm vừa qua công tác thẩm định dự án tại SGD đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, điều này được thể hiện rõ ràng qua sự tăng lên củadoanh số tín dụng đầu tư và không có tìn

Trang 1

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI SGD NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI TRONG THỜI GIAN TỚI

I Đánh giá về chất lượng công tác thẩm định nói chung và thẩm định tài chính dự án vay vốn nói riêng tại SGD.

Nhìn chung trong những năm vừa qua công tác thẩm định dự án tại SGD

đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, điều này được thể hiện rõ ràng qua sự tăng lên củadoanh số tín dụng đầu tư và không có tình trạng nợ xấu trong 2 năm 2006,

2007 ; tuy dư nợ tăng lên nhưng vẫn đảm bảo các khoản vay an toàn, có hiệuquả, số dự án thẩm định, số dự án cho vay, doanh số thu lãi hay lợi nhuận đềutăng lên, tín dụng trong lĩnh vực sản xuất luôn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấutín dụng tại SGD

Bảng 2.1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SGD GIAI 2006 - 2008

Trang 2

1 Kết quả đã đạt được.

1.1 Nội dung thẩm định tài chính

Trước đây khi đánh giá dự án thường chỉ quan tâm đến khía cạnh tàichính mà không đánh giá về tình hình doanh nghiệp, từ đó dễ dẫn đến tình trạngkéo dài thời gian đầu tư hay việc gặp khó khăn trong việc thu hồi khoản cho vay

vì không năm bắt được tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh hay tư cách,năng lực quản lý của doanh nghiệp Hơn nữa, phân tích khía cạnh tài chính lạichỉ thường tập trung và một vài chỉ tiêu đơn giản như mức sinh lợi, nguồn trả

nợ và không quan tâm tới khái niệm giá trị thời gian của tiền

Hiện nay, phương pháp thẩm định đã mang tính khoa hoc, có hệ thống vàtheo một quy trình đầy đủ Nội dung của thẩm định dự án được quy định rõtrong Quy chế cho vay của MSB, theo đó kỹ thuật thẩm định đã hoàn thiện về

cả phương pháp luận và thực tiễn Hệ thống chỉ tiêu bao trùm lên nhiều khíacạnh dự án, từ các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính để phân tích tình hình doanhnghiệp đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án như NPV, IRR, thời gian hoànvốn và các nội dung, khoản mục trong các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, quantâm đến cơ cấu tổng vốn đầu tư, thời điểm rót vốn để đảm bảo sử dụng vốn hiệuquả cho cả hai bên

Khi thẩm tra tổng dự toán vốn đầu tư, tại SGD luôn chú ý kiểm tra tínhchính xác và đầy đủ của các chỉ tiêu, thông số chi phí của dự án như chi phíchuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư, chi phí sản xuất ban đầu nhất là vốnlưu động, chi phí lãi vay trong thời gian thực hiện đầu tư; sau đó là khâu thẩmtra thiết kế, kiểm tra khối lượng các công việc và thông tin về giá theo đơn giában hành hoặc theo đơn giá thị trường tùy vào từng loại công việc Bên cạnh đóviệc đảm bảo tính an toàn của nguồn vốn cũng đã được chú trọng hơn thông quacác cam kết, ràng buộc về thời gian, khối lượng vốn rót theo tiến độ dự án

Việc quyết định lựa chọn tỷ suất chiết khấu được dựa trên các phân tíchrủi ro, khả năng sinh lời của dự án và việc lựa chọn cơ cấu vốn

Không những thế, phương pháp tính, công cụ phân tích cũng ngày được

Trang 3

nâng cao như vấn đề giá trị thời gian của tiền, lãi suất chiết khấu, phân tích độnhạy một chiều, hai chiều đặc biệt là việc chọn yếu tố biến động, mức độ biếnđộng ngày càng sát với thực tế của dự án.

Thẩm định trước khi cho vay được tiến hành nhiều nội dung của doanhnghiệp và của dự án để đánh giá chính xác nhất tính khả thi của dự án Ngoài raviệc theo dõi, kiểm soát trong thời gian cho vay và sau khi cho vay cũng đãđược quan tâm hơn thông qua việc kiểm tra quá trình thực hiện dự án, kiểm tratình hình hoạt động của doanh nghiệp theo định kỳ, điều này đã góp phần làmgiảm khả năng phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu

1.2 Đội ngũ cán bộ

Cán bộ tín dụng là nhân tố quyết định chất lượng của công tác thẩm định,

vì vậy nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cán bộ tín dụng là vấn đề luôn đượcphía SGD quan tâm Đội ngũ cán bộ ở đây trẻ, có chuyên môn, trình độ từ đạihọc trở lên, có kiến thức tốt về kinh tế, kỹ thuật, hiểu biết thị trường Bên cạnh

đó, các cán bộ tín dụng còn được thường xuyên trau dồi kiến thức thông qua cáckhóa học ngắn hạn do ngân hàng MSB phối hợp tổ chức về quy trình, nội dungthẩm đinh, quản lý rủi ro tín dụng, các quy chế, văn bản tín dụng mới để nângcao năng lực phân tích, đánh giá dự án

1.3 Công nghệ và thông tin

Ngân hàng TMCP Hàng Hải cũng như SGD luôn chú trọng tới nâng caochất lượng trang thiết bị nhằm đáp ứng tốt nhất cho hoạt động của SGD Hiệnnay, ngân hàng đã trang bị các máy tính hiện đại, đảm bảo mỗi người đều cómột máy có kết nối internet, cài đặt các chương trình phần mềm tính toán phục

vụ cho công tác thẩm định, tìm kiếm thông tin, liên lạc, lưu trữ hồ sơ được dễdàng hơn từ đó xây dựng kho dữ liệu chung để làm cơ sở so sánh, đánh giá các

dự án Ngân hàng cũng đã xây dựng hệ thống đánh giá xếp loại doanh nghiệpdựa trên các tiêu chí tài chính và phi tài chính thông qua phần mềm tự động, cácchỉ tiêu đánh giá được xây dựng khá chi tiết như việc chấm điểm theo phân chianguồn vốn, lao động, doanh thu thuần, ý thức thực hiện trách nhiệm đối với nhà

Trang 4

nước; chấm điểm theo quy mô, theo kết quả phân tích các chỉ tiêu tài chính.Ngoài ra, Phòng Khách hàng Doanh nghiệp còn được trang bị cơ sở hạ tầng kháđầy đủ, đảm bảo môi trường làm việc hiệu quả cho mọi người.

Công tác tìm kiếm thông tin ngày càng được chú trọng, nguồn thông tin

từ đó thu thập được ngày càng phong phú để giúp cho việc đánh giá dự án chínhxác hơn Trước đây thông tin chủ yếu do phía khách hàng cung cấp dựa trên cácbáo cáo hoạt động kinh doanh, kết hợp với kiểm tra thực tế vì vậy độ tin cậykhông cao, thiếu chính xác Còn hiện nay, nguồn thông tin đã được hỗ trợ nhiều

từ các tài liệu phân tích trong nước, ngoài nước, thông tin thị trường, các vănbản luật và nhất là việc sử dụng thông tin qua Trung tâm thông tin tín dụngQuốc gia CIC của Ngân Hàng Nhà Nước là một kênh thông tin đáng tin cậy,cập nhật và đầy đủ về tình hình hoạt động, diễn biến dư nợ của khách hàng

1.4 Tổ chức điều hành

Công tác điều hành, quản lý quy trình thẩm định khá hiệu quả, với việcxây dựng tương đối hoàn chỉnh nội dung, quy trình này được quán triệt thựchiện nghiêm túc tới mọi chi nhánh Bên cạnh đó, công tác tái thẩm định, quản lýrủi ro cũng được nâng cao, nhất là đối với các dự án có vốn lớn Hàng năm, theođịnh kỳ các dự án đều được tiến hành tái thẩm định để đánh giá dự án theonhững thông tin mới cập nhật, có ảnh hưởng trực tiếp tới dự án và khả năng thuhồi khoản vay của ngân hàng

2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu nhưng công tác thẩm định tài chính dự

án tại SGD vẫn không phải tránh khỏi những thiếu sót dẫn đến hiệu quả hoạtđộng tín dụng còn chưa cao như việc nhiều dự án phải bổ sung vốn đầu tư, dãntiến độ, tỷ lệ nợ xấu tuy có giảm nhưng giá trị tuyệt đối không giảm Nhữnghạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và cả chủ quan

2.1 Hạn chế trong quá trình phân tích nội dung thẩm định tài chính dự án

Tuy quy trình, nội dung, hệ thống chỉ tiêu phân tích mới chỉ tương đốihoàn chỉnh, đôi khi việc thực hiện, tiến hành theo quy trình, hệ thống chỉ tiêu lại

Trang 5

không được thực hiện đầy đủ, mang tính thủ tục, nhiều khi chấp nhận một cáchthụ động con số, chỉ tiêu do dự án đưa ra mà không có sự kiểm tra, phân tích tỉ

mỉ Các nội dung tính toán đều có liên quan đến việc ước tính doanh thu, chi phí

và từ đó làm cơ sở để tiến hành phân tích hiệu quả tài chính dự án, tuy nhiêncác khoản mục để ước tính doanh thu, chi phí lại chưa được thống nhất Ví dụnhư việc thẩm định vốn lưu động ròng của dự án Vốn lưu động ròng đây là mộtphần vốn trung hạn thường bị chủ dự án bỏ qua và nhiều khi trong quá trìnhthẩm định cũng không xét tới, hơn nữa nếu có xem xét thì lại chưa đúng tiêuchuẩn, bởi thay vì tính vốn lưu động ròng lại tính vốn lưu động, vô tình bỏ quaphần tự tài trợ của nợ ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Hơn nữaviệc tính toán trong nhiều dự án không có cơ sở để so sánh giá cả, chi phí, đặcbiệt ít khi xét tới sự biến động giá cả nên dòng tiền giữa các năm được thiết lậpnhư nhau và hầu hết các dự án đều có lãi ngay trong năm đầu tiên

Thứ hai, đó là việc tính toán chi phí cơ hội vào trong chi phí của dự án,điều này hầu như ở mọi dự án đều bỏ qua, tuy chi phí cơ hội không phải là mộtkhoản thực chi nhưng việc tồn tại của nó thể hiện được chi phí chủ đầu tư đã hisinh để thực hiện dự án đã chọn, việc đưa chi phí cơ hội trong tính toán chi phí

sẽ đảm bảo cho lợi ích nhỏ nhất của dự án sinh ra cũng bù đắp được kỳ vọngđầu tư cho chủ đầu tư nếu thực hiện dự án khác Tuy nhiên thực tế giá trị nàythường rất khó ước lượng hoặc nếu có ước lượng thì cũng không đảm đảo sựchính xác

Thứ ba là việc xác định lãi suất chiết khấu của dự án, trong các dự án đềuchấp nhận lãi suất cho vay chính là lãi suất chiết khấu mà không xem xét tới cơcấu vốn của dự án, thực chất lãi suất chiết khấu phải được ước tính bằng sốtrung bình của chi phí sử dụng vốn của các bên; việc chấp nhận lãi suất ngânhàng làm lãi suất chiết khấu là vô tình coi rủi ro của ngân hàng cũng chính là rủi

ro của dự án

Thứ tư đó là việc ít quan tâm thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án,trong khi đó khía cạnh kỹ thuật sẽ quyết định công suất hoạt động, chi phí máy

Trang 6

móc thiết bị, chi phí tiêu hao nguyên vật liệu, thời gian khấu hao, chi phí vậnhành đây chính là các yếu tố cấu thành trực tiếp lên việc tính toán, cân đốidòng tiền dự án Trong khi đó đối với hầu hết các dự án mới chỉ thụ động chấpnhận các thông số kỹ thuật mà chủ đầu tư đưa ra chứ ít khi thẩm định lại nhưthẩm định về công suất, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, nhất là giá cả đốivới những máy móc, thiết bị nhập khẩu, thẩm định chuyển giao công nghệ.

Ngoài những thiếu sót trên còn phải kể tới sự thiếu sót trong việc thiết lập

hệ thống các chỉ tiêu định mức tiêu chuẩn cho các chỉ tiêu hiệu quả tài chínhcho từng ngành, hiện nay để đánh giá các chỉ tiêu này mới chỉ dừng lại ở việcước lệ, chung chung đánh giá so sánh dựa trên kinh nghiệm là chủ yếu Tuy đãxây dựng phần mềm đánh giá xếp hạng doanh nghiệp nhưng nguồn số liệuthông tin để chấm điểm lại là một vấn đề cần xem xét

2.2 Hạn chế về đội ngũ cán bộ tín dụng và phân công công việc

Mặc dù rất chú trọng tới khâu tuyển chọn, đào tại cán bộ tín dụng nhưngvẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại Yêu cầu đặt ra của công tác thẩm định

dự án đối với một cán bộ tín dụng không chỉ dừng lại ở việc biết tính toán cáchiệu quả tài chính dự án mà đòi hỏi có một kiến thức tổng hợp về tất cả các khíacạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính của dự án, bên cạnh đó phải biết phân tích,

dự báo rủi ro, nắm bắt được những thay đổi của thị trường Để có thể đáp ứngđược toàn bộ các yêu cầu trên thực tế là rất khó khăn vì vậy cần phải có sự tổchức, phối hợp tốt giữa các cán bộ tín dụng Tuy nhiên hiện nay việc phân côngquản lý dự án theo ngành, lĩnh vực cho cán bộ tín dụng còn chưa rõ ràng, nhất làkhi đội ngũ cán bộ ở đây đa số rất trẻ, tuy có kiến thức chuyên môn nhưng kinhnghiệm lại chưa đúc rút được nhiều thì hạn chế này càng cần phải được quantâm giải quyết

2.3 Hạn chế của thông tin, công nghệ.

Mối quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp, khối lượng thông tin liên quantới dự án cũng ngày càng tăng lên, để đánh giá tính khả thi của mỗi một dự án,công tác thu thập thông tin càng trở nên quan trọng Thông tin càng đầy đủ,

Trang 7

nguồn thông tin càng đáng tin cậy thì việc phân tích càng trở nên dễ dàng vàchính xác Tuy nhiên, nguồn thông tin do dự án cung cấp từ hồ sơ xin vay vốn,

từ luận chứng kinh tế - kỹ thuật và nhất là các bản báo cáo tài chính không phảilúc nào cũng phản ánh chính xác tình trạng thị trường, tình hình hoạt động củadoanh nghiệp bởi bản thân công tác thu thập thông tin của các doanh nghiệpđang còn rất hạn chế, mang tính chất ước lượng, thủ tục; các chỉ tiêu trong báocáo tài chính thì thường không có sự so sánh với mức trung bình của ngành, hơnnữa còn phải nói đến tác động của chính sách kế toán có thể điều chỉnh linh hoạt

để che giấu tình hình thực tế, có thể ví dụ như việc áp dụng các phương thứckhấu hao và phương pháp xác định tồn kho khác nhau sẽ dẫn đến chi phí khácnhau Doanh nghiệp có thể chọn khấu hao nhanh để tiết kiệm chi phí khấu haohay kéo dài thời gian khấu hao hoặc hạ thấp tỷ lệ khấu hao; phương pháp xácđịnh tồn kho khác nhau như FIFO (nhập trước xuất trước) hay LIFO (nhập sauxuất trước)

Không những thế các thông tin này luôn luôn biến đổi, nhất là thông tin

về doanh thu, chi phí; khi phân tích tín dụng các cán bộ tín dụng thường căn cứtrên những số liệu cũ, nếu không xử lý các thông tin, không thu thập thêm cácthông tin từ thị trường và không có khả năng phân tích, dự báo rủi ro thì kết quảthẩm định sẽ thiếu khách quan, không đáng tin cậy

Việc áp dụng các phần mềm tính toán trong phân tích hiệu quả tài chính

là công cụ quan trọng để nâng cao độ chính xác, rút ngắn thời gian thẩm định,hiện nay mới chỉ áp dụng chủ yếu là phần mềm Excel để thiết lập các bảng tính,trong khi đó phần mềm áp dụng cho công tác đánh giá rủi ro lại đang còn hạnchế, chưa có một phần mềm đặc dụng để đánh giá rủi ro trong các dự án nhưphần mềm Risk Master

2.4 Hạn chế về thời gian, thủ tục thẩm định

Theo quy định của MSB, thời hạn tối đa để thẩm định là 20 ngày phải trảlời khách hàng đồng ý hoặc từ chối cho vay, tuy nhiên trong thực tế thời giannày kéo dài hơn nhiều, điều này sẽ làm mất đi cơ hội đầu tư của doanh nghiệp

Trang 8

trong thời gian đợi kết quả phê duyệt của ngân hàng.

Ngoài vấn đề thời gian thì những thủ tục, giấy tờ liên quan đến việc thẩmđịnh còn đang khá phức tạp Các báo cáo thẩm định nhiều khi mới chỉ dừng lại

ở việc hướng dẫn thủ tục hành chính mà chưa có sự đánh giá, phân tích sâu vềkhía cạnh thị trường, kỹ thuật, công nghệ nhất là việc đánh giá rủi ro khoản vaycòn đang khá sơ sài

Những hạn chế trong công tác thẩm định đã cho thấy nguyên nghân xuấtphát từ phía công tác tổ chức thẩm định tại ngân hàng, tuy nhiên những hạn chế

đó còn là hậu quả của các yếu tố xuất phát từ phía hoạt động chỉ đạo của cácban ngành chức năng và từ phía các doanh nghiệp

2.5 Nguyên nhân

2.5.1 Nguyên nhân khách quan

Hiện nay cơ chế quản lý nhà nước đối với tổng thể phát triển nền kinh tế

đã có nhiều chuyển biến tích cực xong vẫn còn một số vấn đề cần được xem xétlại Thứ nhất là sự yếu kém trong công tác quy hoạch Công tác quy hoạch đượccoi như là người chỉ đường cho định hướng phát triển của nền kinh tế, cho từngvùng, địa phương, cho từng ngành và từ đó xây dựng nên các định mức, tiêuchuẩn để tiến hành xây dựng dự án, tuy nhiên những định hướng đó vẫn chưamang tính cụ thể, chủ trương của nhiều cơ quan ban ngành lại vẫn thường xuyêntồn tại nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình trạng đầu tư chồng chéo, đầu tư theophong trào mà không quan tâm tới tính khả thi của ngành, địa phương ví dụ nhưviệc yếu kém trong công tác quy hoạch cảng thêm vào đó các địa phương lạiđua nhau xây dựng nên dẫn đến tình trạng các cảng mới thì không sử dụng hếtcông suất mà các cảng lớn cũ như cảng Sài Gòn lại luôn trong tình trạng tắcnghẽn Bên cạnh đó, tầm nhìn quy hoạch phát triển kinh tế đáng lẽ phải mangtính chất lâu dài thì lại không ổn định, các quy hoạch chồng chép nhau khiếncho nhiều dự án phải dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng ví dụ như dự

án phát triển Hải Phòng trở thành trung tâm thuỷ sản vùng duyên hải Bắc Bộ,nhưng khi một số dự án đã đổ vốn vào dự án thì phải dừng lại vì thay đổi trong

Trang 9

quy hoạch sử dụng đất

Thứ hai là việc các ban ngành chưa quan tâm tới việc xây dựng một hệthống thông tin thị trường, giá cả, thông tin về các chỉ số phát triển của từngngành, thông tin rủi ro trong hệ thống ngân hàng nên vẫn chưa có cơ sở so sánh,đánh giá cho công tác thẩm định, dẫn đến tình trạng nhiều dự án treo vì khôngnắm bắt được thông tin thị trường Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn thiếu nhữnghướng dẫn cụ thể về kỹ thuật thuật thẩm định, mà mới chỉ có một số văn bảnhướng dẫn hành chính

Thứ ba là việc chưa tạo hành lang quản lý thống nhất giữa các doanhnghiệp đã tạo ra kẽ hở để các doanh nghiệp không thực hiện đúng theo quy định,như quy định kiểm toán bắt buộc đang còn khá hạn chế đối với những doanhnghiệp nhà nước mà đây lại là đối tượng chủ yếu của ngân hàng Hơn nữa, cácthông tin hoạt động tài chính ngầm của các công ty lại rất khó nắm bắt mặc dùnhà nước luôn có các chính sách minh bạch hoá các thông tin doanh nghiệpnhưng thực tế vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn Chính vì vậy đã làm chongân hàng rất lúng túng trong việc xử lý các thông tin doanh nghiệp Bên cạnh đóviệc thay đổi thường xuyên các quy định của nhà nước cũng làm các ngân hàng

tỏ ra rụt rè với nhiều dự án đang nằm trong diện thay đổi

Nguyên nhân khách quan thứ hai đó là rủi ro từ việc biến động các chỉtiêu vĩ mô, biến động từ các yếu tố bên ngoài như điều kiện môi trường, thờitiết, văn hoá xã hội Các chỉ tiêu vĩ mô như tình hình phát triển kinh tế đất nước

và thế giới, các chỉ tiêu lạm phát hay sự biến động tỷ giá đều có ảnh hưởng trựctiếp tới doanh thu, chi phí đầu vào của dự án; trong trường hợp xấu có thể làmảnh hưởng đến kế hoạch thu hồi nợ của ngân hàng

2.5.2 Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp

Hạn chế của các doanh nghiệp hiện nay đó là chưa chú trọng tới công táclập dự án, các phân tích đang còn chưa cụ thể vào từng khía cạnh Nguồn khaithác thông tin thị trường nghèo nàn, các thông tin mới chỉ tổng hợp từ cácphương tiện truyền thông báo chí, chưa có một kho số liệu thị trường, số liệu

Trang 10

ngành để tham khảo Thông số kỹ thuật đưa ra nhiều khi chưa dựa trên năng lực

có thể tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp hay của đất nước, đội ngũ côngnhân viên bị hạn chế về năng lực và trình độ nên hiệu quả sử dụng không cao.Các phân tích hiệu quả tài chính vẫn đang còn khá sơ sài, chưa nhận thức đúng

về các khái niệm giá trị thời gian của tiền, lãi suất chiết khấu, dòng tiền phùhợp, đôi khi còn nhầm lẫn giữa dòng tiền dự án với lợi nhuận kế toán Khả năngtiêu thụ của dự án được ước lượng bình quân theo số liệu tự thống kê mà khôngxét đến nguồn lực để đạt được khả năng đó

Nguyên nhân dẫn đến việc một số các doanh nghiệp thường cố tình làmsai lệch giá trị doanh nghiệp bởi vì theo quy định của ngân hàng khi doanhnghiệp muốn vay vốn đầu từ thì phải có ít nhất 20% vốn đối ứng nhưng khôngphải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được Ngoài năng lực về vốn đốiứng, không ít doanh nghiệp còn cố tình đưa ra những bản báo cáo tài chínhkhông phản ánh đúng giá trị doanh nghiệp mà chỉ nhằm tạo dựng lòng tin ở phíangân hàng như việc khai khống giá trị vật tư hàng hoá, tài sản, sử dụng tài sản

để thế chấp vay nhiều nơi hoặc vay nơi này trả nơi khác mà không công khai Tất cả những mặt tiêu cực này nếu phía ngân hàng không có sự xử lý thông tinthường xuyên thì sẽ gây mất an toàn đối với việc thu hồi nợ

Qua quá trình tìm hiểu, phân tích trên cho thấy hoạt động thẩm định dự

án đầu tư tại SGD tuy đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể nhưng vẫn khôngtránh khỏi những vướng mắc cần giải quyết, những hạn chế đó bắt nguồn từ cảphía ngân hàng lẫn phía doanh nghiệp và nguyên nhân khách quan mang tính vĩ

mô Ngân hàng cần nhìn nhận các hạn chế đó một cách khách quan để tìm giảipháp khắc phục, cùng với đó là tiếp tục phát huy những thế mạnh hiện có đểnâng cao năng lực cạnh tranh

II Định hướng trong hoạt động tín dụng và công tác thẩm định dự án

Trong thời gian qua, tuy vừa củng cố tổ chức và đồng thời phát triển mạnhkinh doanh, Maritime Bank vẫn là một trong các NHTMCP có chất lượng hoạt

Trang 11

động hàng đầu của Việt Nam Khối lượng khách hàng lớn và truyền thống vẫnluôn được duy trì, chất lượng dịch vụ vẫn luôn được đảm bảo

Đến cuối tháng 6/2008 trong tình hình khó khăn của nền kinh tế nói chung

và đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng nhưng Maritime Bank vẫn là mộttrong các NHTMCP có các chỉ số đảm bảo về an toàn hoạt động

Là một chi nhánh hàng đầu của MSB, SGD phải luôn luôn giữ vữngnhiệm vụ trung tâm đầu mối cho hoạt động của ngân hàng, dựa trên chiến lược,định hướng phát triển của MSB để từ đó đưa ra kế hoạch phát triển của SGD.Mục tiêu phát triển đến 2011 của MSB:

o Tổng tài sản: 80.000 tỷ

o Vốn điều lệ: 5.500 tỷ

o ROE mục tiêu: 24% năm

o Cơ cấu tài sản: Đầu tư tín dụng 60%; đầu tư tài chính 32%

o Cơ cấu tín dụng:

 50% khách hàng doanh nghiệp ngoài quốc doanh

 25% khách hàng doanh nghiệp quốc doanh

Ngày đăng: 18/10/2013, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SGD GIAI 2006 - 2008 - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI SGD  NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI TRONG THỜI GIAN TỚI
Bảng 2.1 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SGD GIAI 2006 - 2008 (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w