vđề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần dịch vụ thẻ smartlink×đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty tnhh in và giấy hạ long×đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty×đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tình hình tài chính của công ty cổ phần thương mại kỹ thuật an việt×đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình phátđịnh trong 5 10 năm tới×định hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn bảo mật httt cho công ty cổ phần dịch vụ tất thành×
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian hai năm học tập, nghiên cứu tại Viện Kinh tế và Quản lý trườngđại học Bách khoa Hà Nội, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáođến nay tôi đã hoàn thành khóa học thạc sỹ Quản trị kinh doanh Với lòng biết ơn
của mình, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo TS Nguyễn Đại
Thắng-người đã hướng dẫn em trong suốt thời gian nghiên cứu đến lúc hoàn thành luận vănnày
Đồng thời em xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo việnKinh tế và Quản lý; viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đãtruyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại trường vàluôn tạo điều kiện để em hoàn thành khóa học cùng bài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà cùngcác bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ em trong công tác thu thập số liệu cầnthiết để hoàn thành luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệpluôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Trang 2-Hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp khá phức tạp với nhiềuquan hệ nảy sinh Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Môi trường kinh doanh, trình độ của các nhàquản lý doanh nghiệp, trình độ quản lý tài chính Trước sự cạnh tranh quyết liệt giữacác thành phần kinh tế gây ra những khó khăn thử thách cho các doanh nghiệp.Trong bối cảnh đó, để khẳng định được mình, mỗi doanh nghiệp cần phải nắm vữngtình hình cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp luôn phải quan tâm đến tình hình tài chính vì
nó có quan hệ trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tài chính được sử dụng như một công cụ đánh giá tình hình tàichính, đánh giá rủi ro và hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp nhằm giúp cácnhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn sâu hơn, toàn diện hơn về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp mình Hơn thế nữa, phân tích tài chính có ý nghĩa cho việc ra cácquyết định tài chính bởi phân tích tài chính làm giảm đi sự linh cảm, sự chuẩn đoán
và trực giác thuần tuý, điều này góp phần nâng cao sự chắc chắn trong quá trình raquyết định
Không nằm ngoài mối quan tâm chung đó Công ty cổ phần Cảng Hồng Hàcũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh từ nhiều phía Để tồn tại, phát triển vàđứng vững trên thị trường thì một trong những vấn đề đang được công ty quan tâm làcông tác phân tích tài chính
Cũng chính bởi lí do đó mà em đã lựa chọn đề tài “Phân tích và đề xuất một
số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà ”
để nghiên cứu nhằm góp phần đáp ứng những đòi hỏi trên của thực tiễn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổphần Cảng Hồng Hà
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 3- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp trongcác lĩnh vực như: đầu tư, sản xuất, kế toán, tài chính, luật pháp và các chính sáchquản lý tài chính của Nhà nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung xem xét, phân tích đánh giá tình hìnhtài chính của Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà trên góc độ nhà quản trị doanh nghiệp,trong khoảng thời gian từ niên độ kế toán 2012 đến hết niên độ kế toán 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: Thông qua trao đổi, phỏng vấn các chuyên viên tài
chính của Công ty để nắm bắt cơ chế tài chính, phương pháp kê khai tài chính mà Công ty áp dụng
- Phương pháp điều tra: Điều tra thu thập số liệu, tài liệu liên quan đến tình
hình hoạt động tài chính của Công ty nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh: Dùng để xác định xu hướng và mức độ biến động
của các chỉ tiêu tài chính của Công ty
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đượckết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình tài chính của Công ty cổ phần CảngHồng Hà
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện tình hình tài chính tạiCông ty cổ phần Cảng Hồng Hà
3
Trang 4-CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, nói đến việc tiến hành sản xuất kinh doanh trongcác doanh nghiệp là nói đến một lượng vốn tiền tệ nhất định của doanh nghiệp, haycòn gọi đó là nguồn tài chính của doanh nghiệp Đó là yếu tố quan trọng và cũng làtiền đề trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Với từng loại hình doanh nghiệpkhác nhau mà các doanh nghiệp có các cách thức tạo lập số vốn tiền tệ khác nhau
Từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy mócthiết bị, mua vật tư, nguyên vật liệu,… để tiến hành sản xuất kinh doanh Khi tiêuthụ sản phẩm làm ra doanh nghiệp thu về tiền bán hàng, với số doanh thu bánhàng đó, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các chi phí tiêu hao, trả lương chongười lao động, nộp thuế,… số còn lại là lợi nhuận của doanh nghiệp, doanhnghiệp lại tiếp tục phân phối lợi nhuận này vào các quỹ với mục đích tái đầu tư.Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và
sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quátrình đó, phát sinh và tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao gồm dòng tiền vào
và dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt đông sản xuất kinh doanhthường xuyên của doanh nghiệp
Như vậy có thể nói: “Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp” Gắn với quá trình tạo lập,
phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểuhiện dưới hình thức giá trị tức là quan hệ tài chính doanh nghiệp Các quan hệ đó là:
- Quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp
Mối quan hệ này phát sinh khi Doanh nghiệp nộp thuế và các loại phí vào Ngânsách Nhà nước; Nhà nước cấp vốn kinh doanh (đối với các doanh nghiệp Nhànước) hoặc tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp với tư cách người gópvốn Nhà nước cung cấp cơ sở hạ tầng và tạo các điều kiện pháp lý cũng nhưđảm bảo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với chủ thể kinh tế khác
Trang 5Nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phức tạp và đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác; giữa doanh nghiệp với các nhàđầu tư, nhà cho vay; giữa doanh nghiệp với bạn hàng và khách hàng thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu; giữa doanh nghiệp với ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong quá trình doanh nghiệp phát sinh vay vốn, hoàn trả gốc, trả lãi cho ngân hàng
và các tổ chức tín dụng
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp bao gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban trong quá trình nhận tạm ứng, thanh toán tài sản; quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên chức trong quá trình phân phối thu nhập cho lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần
Có thể nói rằng quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp là các vấn đềtài chính có liên quan đến việc phân phối thu nhập và chính sách tài chính củadoanh nghiệp như: cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách cổ tức, sửdụng quỹ nội bộ của doanh nghiệp
Nói tóm lại, Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế biểu hiện bằng hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội Hay nói một cách khác tài
chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dựng các quỹ tiền tệphát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp
Như vậy có thể nói Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành của hệthống tài chính quốc gia và là khâu cơ sở của hệ thống tài chính
Tài chính doanh nghiệp bao gồm: tài chính của các đơn vị, tổ chức sản xuấtkinh doanh hàng hoá và cung ứng dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế
Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác thu hút các nguồn tài chính nhằmđảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò và chức năng của tài chính doanh nghiệp
a) Vai trò của tài chính doanh nghiệp
- Lựa chọn quyết định đầu tư
5
Trang 6-Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vàoquyết định đầu tư dài hạn với quy mô như quyết định đầu tư đổi mới công nghệ,
mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất và kinh doanh sản phẩm mới,…Để đi đếnquyết định đầu tư, đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc nhiều mặt về kinh
tế, kỹ thuật và tài chính Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chitiêu vốn cho đầu tư và thu nhập do đầu tư mang lại, hay nói cách khác là xem xétdòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu
tư về mặt tài chính Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giáhiệu quả tài chính của việc đầu tư
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn Tài chínhdoanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho từng hoạt động củadoanh nghiệp trong kỳ Tiếp đó, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứngđầy đủ, kịp thời và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Để có được cơ cấuvốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc nhiều mặt như kết cầu nguồn vốn hiện tạicủa doanh nghiệp, chi phí sử dụng từng nguồn vốn, phân tích điểm lợi và bất lợicủa từng nguồn vốn
- Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốnhiện có của doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn
ứ đọng và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thukhác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi phí phát sinh trong quá trìnhhoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập và cân bằnggiữa thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanhtoán các khoản nợ đến hạn
- Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
Phân phối lợi nhuận là việc giải quyết mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa cácbên có liên quan Việc phân phối và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp là cân đốilợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp và người lao động, qua đó góp phần quan trọngvào việc phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống người lao động
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 7Thông qua tình hình tiêu thụ, chi tiêu hằng ngày, các báo cáo tài chính, tìnhhình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tài chính của doanhnghiệp Qua phân tích, cần đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, những điểmmạnh, điểu yếu trong quá trình quản lý và dự báo tình hình tài chính của doanhnghiệp, từ đó giúp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định thích hợp và kịpthời để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính củadoanh nghiệp.
- Thực hiện kế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông quaviệc lập kế hoạch tài chính Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới có thểđưa ra các quyết định thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
b) Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Chức năng phân phối
Là chức năng đưa các nguồn tài chính, nguồn vốn, lợi nhuận sau thuế củadoanh nghiệp vào các quỹ để sử dụng cho các mục đích thích hợp theo kế hoạch tàichính của doanh nghiệp Nhờ có chức năng này mà doanh nghiệp có khả năng thuhút, khai thác các nguồn lực tài chính bên ngoài để hình thành nguồn vốn kinh doanhcủa doanh nghiệp mình, ngoài ra nó còn quyết định phương hướng đầu tư, tái đầu tư
và cách thức đầu tư của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc
Mục tiêu hoạt động cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận, để đạt được
mục tiêu này tài chính doanh nghiệp phải giám sát và dự báo hiệu quả quá trìnhvận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ và sử dụng các quỹ đúngmục đích đã đề ra Chức năng này có khả năng phát hiện những khuyết tật trongquá trình phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình này một cách phù hợp nhấtnhằm thực hiện tác mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp
1.1.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính
a) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Để đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp từ tài chính các nhà quản trị sử
dụng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE)
7
Trang 8-ROE – Return on Equity còn được gọi là sức sinh lời của vốn chủ sở hữu Chỉ
tiêu này phản ánh mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn chủ sở hữutrong kỳ.Tỷ số này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu có được bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế trong một kỳ phân tích Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biếnđộng về hiệu quả Chỉ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu càng lớn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Lợi nhuận sau thuế ROE =
Nguồn vốn chủ sở hữu bình quân
- Tỷ suất sinh lợi của tổng tài sản (ROA)
ROA – Return on Asset còn được gọi là tỷ suất thu hồi tài sản Chỉ tiêu này phản
ánh mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng tài sản tham gia vào hoạt động sản xuấtkinh doanh trong kỳ Hay nói cách khác chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của 1đồng giá trị tài sản bình quân mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh
có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ( Lãi ròng) Chỉ tiêu này đượctính như sau:
Lợi nhuận sau thuế ROA =
Tổng tài sản bình quân
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
ROS – Return on Sales, tỷ số này cho biết cứ một đồng doanh thu có được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (lãi ròng) Sự biến động của
tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả; tỷ số này càng cao cang hiệu quả.Hay có thể nói chỉ tiêu này phán ánh mức đóng góp lợi nhuận của mỗi đồngdoanh thu Nếu hệ số này dương có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh có lãi và ngượclại Nếu chỉ số này tăng có nghĩa là khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn hoặc(và) các cấp quản trị đang kiểm soát tốt chi phí, và ngược lại, nếu chỉ số này giảm cónghĩa là doanh nghiệp đang phải chiết khấu để bán hàng hoặc (và) đang mất kiểmsoát chi phí
Chỉ tiêu này phán ánh tỷ lệ thu hồi lợi nhuận trên doanh số bán ra và đượctính theo công thức:
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Trang 9b) Các chỉ tiêu phản ánh năng suất của tài sản
Để phản ánh năng suất của tài sản, các nhà quản trị sử dụng chỉ tiêu doanh thuthuần hoặc giá vốn hàng bán theo công thức sau:
Năng suất tổng tài sản = DT thuần
Tổng TS bình quânHoặc có thể sử dụng công thức:
Năng suất tổng tài sản = Giá vốn hàng bán
Tổng TS bình quânChỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản được sử dụng tạo ra bao nhiêu doanhthu thuần (hoặc giá vốn hàng bán) Chỉ tiêu này càng lớn thì tốc độ luân chuyển tàisản của doanh nghiệp càng nhanh, hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt và ngược lại
Tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn;trong mỗi loại tài sản lại có nhiều yếu tố thành phần khác nhau; do vậy chúng ta cóthể tính năng suất của từng loại tài sản thành phần
+ Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được sử dụng trực tiếp cho mục đích sảnxuất kinh doanh, nó trực tiếp tạo ra các yếu tố đầu vào và đầu ra của doanh nghiệpnhư nguyên vật liệu, công cụ, thành phẩm, hàng hóa,… chính vì vậy các nhà quản trịtiến hành đo lường hiệu quả tài sản ngắn hạn bằng công thức:
Năng suất tài sản ngắn hạn = DT thuần (Giá vốn hàng bán)TS ngắn hạn bình quân
Tỷ số này phản ánh 1 đồng tài sản ngắn hạn bình quân tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần (hay giá vốn hàng bán); tỷ số này còn nói rằng trong một kỳ phân tích tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng
Và để xác định vòng quay TS ngắn hạn, nhà quản trị sử dụng công thức:
Vòng quay tài sản ngắn hạn = Năng suất tài sản ngắn hạn365 ngày
Chỉ tiêu này cho biết để hoàn thành một vòng quay tài sản ngắn hạn cần baonhiêu ngày, chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng nhỏ vàngược lại
Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền, hàng tồn kho, khoản phải thu và tài sản ngắnhạn khác; vì vậy để chi tiết người ta có thể tính năng suất (vòng quay) các chỉ tiêuthành phần này
+ Năng suất sử dụng tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này phán ánh với mỗi đồng tài sản dài hạn được sử dụng trong kỳ sẽtạo ra bao nhiêu doanh thu thuần hoặc giá vốn hàng bán
9
Trang 10-Năng suất tài sản dài hạn = DT thuần (Giá vốn hàng bán)
TS dài hạn bình quânTrong một số trường hợp để phản ánh chính xác năng suất sử dụng tài sản dàidạn người ta đo bằng nguyên giá tài sản cố định (loại trừ yếu tố hao mòn lũy kế)
Doanh thu thuần Năng suất tài sản dài hạn =
Nguyên giá tài sản dài hạn bình quân
1.1.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có an toàn haykhông, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện thông qua các chỉtiêu cơ bản sau đây:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Là mối tương quan giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn, là thước
đo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Hệ số khả năngthanh toán hiện hành =
Tổng tài sản ngắn hạnNguồn vốn ngắn hạn
Tỷ số này cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản ngắn hạn có thể chuyểnđổi thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này lớn hơn hoặcbằng 1 thể hiện tất cả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ đều có tàisản đảm bảo
Hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ởmức độ thấp và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài chính cóthể xảy ra
Hệ số này cao hơn 1, cho thấy tại thời điểm phân tích doanh nghiệp sẵn sàngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu chỉ số này nhỏ hơn 1 báo hiệu khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp đang ở mức thấp, tiền ẩn những khókhăn về tài chính
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo khả năng trả nợ ngay các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ mà không cần bán đi vật tư hàng hóa
Hệ số khả năng
thanh toán nhanh =
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Nguồn vốn ngắn hạnNhìn chung hệ số này càng cao thì càng tốt, nhưng nếu quá cao cần xem xétlại, vì có thể xảy ra trường hợp hệ số cao do trong TSNH các khoản phải thu khó đòi
Trang 11chiếm tỷ trọng lớn Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanhnghiệp, gây tình trạng vòng quay của vốn chậm, phát sinh một số chi phí Do vậy,chỉ tiêu hệ số khả năng thanh toán tức thời được thiết lập, nhằm giúp chúng ta đánhgiá khả năng thanh toán trong ngắn hạn của doanh nghiệp loại trừ ảnh hưởng củahàng tồn kho và các khoản phải thu Hệ số này càng lớn càng thể hiện mức độ antoan trong thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời là thước đo khả năng thanh toán các khoản nợ bằng
số tiền doanh nghiệp hiện có Hệ số này được tính như sau:
Hệ số khả năngthanh toán tức thời =
Để đánh giá hệ số này chính xác cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối vớidoanh nghiệp tư vấn, nghiên cứu thì hệ số này lớn Ngược lại với doanh nghiệp xâylắp hệ số này tương đối nhỏ
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí, nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộpsau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng Hệ số khả năngthanh toán lãi vay phản ánh mối quan hệ giữa nguồn để trả lãi vay và lãi vay phải trả
Hệ số khả năngthanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vayLãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn vay đểtrả lãi cho các chủ nợ, nó thể hiện hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp Nóicách khác, hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho chúng ta biết được việc doanhnghiệp sử dụng nợ có hiệu quả đến mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận baonhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không Chú ý khi phân tích chỉ số này cần quantâm đến chính sách tài trợ của doanh nghiệp
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
1.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
- Tốc độ phát triển kinh tế
11
Trang 12-Có thể nói một nền kinh tế ổn định hay không đều có tác động không nhỏ tớidoanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn kinh doanh Nhữngbiến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh, những rủi ro
đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí lãi vay, tiền thuê nhàxưởng, máy móc, thiết bị hay việc tìm nguồn tài trợ
Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng với một tốc độ nào đó thì doanh nghiệp muốnduy trì và giữ vững vị trí của mình, cũng phải phấn đấu phát triển với nhịp độ tươngđương Khi doanh thu tăng lên, sẽ dẫn đến tăng tài sản, các nguồn phải thu và cácloại tài sản khác như vậy đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải tìm nguồn tài trợcho sự mở rộng sản xuất, sự gia tăng tài sản đó
Ảnh hưởng của giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế có ảnh hưởng lớn tới doanhthu, do đó cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận Cơ cấu tài chính củadoanh nghiệp cũng được phản ánh nếu có sự thay đổi về giá cả, sự tăng, giảm lãi suất
và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp dẫncủa các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khảnăng huy động vốn vay Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tìnhhình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư
- Sự cạnh tranh trên thị trường
Sự cạnh tranh trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, tài chính củadoanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại
và tăng trưởng trong một nền kinh tế đầy biến động Nếu doanh nghiệp đang hoạtđộng trong các linh vực có mức độ cạnh tranh cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tưnhiều hơn cho công tác đổi mới công nghệ, trang thiết bị và cải tiến, nâng cao chấtlượng sản phẩm, công tác quảng cáo và xúc tiến bán hàng,… sẽ ảnh hưởng lớn đếnvòng quay vốn và các chỉ số tài chính khác của doanh nghiệp
- Tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải ra sức cảitiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả năngthích ứng với thị trường, từ đó đề ra những chính sách phù hợp cho doanh nghiệp
- Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Các chính sách của Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách khuyến khíchđầu tư, chính sách xuất khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định,… là những yếu tố tácđộng lớn đến tài chính của doanh nghiệp
Trang 13Nếu các chính sách này ổn định thì sẽ thúc đẩy việc xác định và tính toánchính xác các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Việc ban hành và kiện toàn các bộLuật về kế toán, thống kê, tài chính, thuế của Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợicho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
- Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính
Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi doanhnghiệp có thể huy động và gia tăng các nguồn lực thông qua việc huy động vốn củacác cá nhân, tổ chức có nguồn vốn nhàn rỗi, hoặc có thể đầu tư các khoản tài chínhtạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp mình nhằm gia tăng lợi nhuận Sự phát triển củathị thường vừa làm đa dạng hóa các công cụ và hình thức huy động vốn, vừa làmtăng cơ hội đầu tư khác cho doanh nghiệp
1.1.4.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Những nhân tố bên trong là những nhân tố mang tính chủ quan của các doanhnghiệp Trong phạm vi nghiên cứu ta chỉ xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêutài chính doanh nghiệp qua một số nhân tố như sau:
a) Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Mỗi hình thức doanh nghiệp có một đặc điểm riêng biệt về tính pháp lý vànhững đặc điểm ấy có ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp như việc tổchức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh và phân phối lợi nhuận Hiện nay ở nước ta
có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau đây:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty cổ phần
- Công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
Hình thức pháp lý của doanh nghiệp chi phối đến việc tổ chức, huy động vốn,quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh Với một công ty TNHH thì vốn đượchình thành giới hạn trong các thành viên và lợi nhuận do các thành viên góp vốnhưởng Tương tự như vậy đối với một công ty cổ phần, vốn được hình thành từ các
cổ đông và có thể huy động vốn rộng rãi thông qua việc phát hành cổ phiếu trên thịtrường chứng khoán, đồng nghĩa với việc lợi nhuận các cổ đông được hưởng trên cơ
sở cổ tức được chia hàng kỳ,…
b) Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh
13
Trang 14-Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏtới chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặtkinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó được thể hiện như sau:
- Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh củadoanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh cũng như tỷ lệthích ứng để hình thành và sử dụng chung, do đó có ảnh hưởng tới tốc độ luânchuyển vốn, ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, hình thức thanh toán
- Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh: tính thời vụ vàchu kỳ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng vàdoanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn hạn thìnhu cầu vốn giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanhnghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp
dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng như trong việc tổ chứcđảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất ra nhữngloại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn tương đối lớn,doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốngiữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũngkhông được đều, tình hình thanh toán, chi trả cũng thường gặp khó khăn Cho nênviệc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằngtiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn
Ngoài ra, năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp, công nghệ sản xuất và trình
độ tay nghề của người lao động cũng ảnh hưởng đến năng suất, kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh, do đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp
c) Năng lực quản trị
Trong nền kinh tế hiện đại, năng lực quản trị của doanh nghiệp là một nhân tốquan trọng, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường Năng lựcnày bao gồm: khả năng lãnh đạo, khả năng ra quyết định và khó khăn về chuyênmôn Nhà quản trị có tầm nhìn, có thể hoạch định chiến lược đúng đắn có thể manglại thành công cho doanh nghiệp trong một thời gian dài
Mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đều luôn phụ thuộc vàokhách hàng và nhà cung cấp, mặt khác các khách hàng thường có nhu cầu khác nhau.Việc phát triển và giữ chân khách hàng đỏi hỏi doanh nghiệp phải có những chiếnlược riêng cho từng nhóm khách hàng, với chiến lược hợp lý cho từng phân khúc,
Trang 15từng nhóm khách hàng có thể tạo sự ổn định cho doanh nghiệp về sản xuất kinhdoanh cũng như về tài chính.
d) Công nghệ sản xuất
Công nghệ sản suất bao gồm phương thức, máy móc, thiết bị tiên tiến, hiệnđại cũng như trình độ bố trí, tổ chức sản xuất sẽ tạo ra những sản phẩm tốt, có tínhđồng đều cao cũng như tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm giúp cho sảnphẩm của doanh nghiệp có tính cạnh tranh hơn, góp phần tăng doanh thu và lợinhuận của doanh nghiệp Khi đó các chỉ số tài chính của doanh nghiệp sẽ tốt hơn vàthương hiệu của sản phẩm, của doanh nghiệp sẽ được củng cố và mạnh hơn
tố công nghệ hiện đại với con người có trình độ được đào tạo, sẽ gia tăng hiệu quả
sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Thực chất và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
a) Thực chất của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và
so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc phân tích báo cáotài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanhcũng như những rủi ro trong tương lai Hay có thể nói phân tích tài chính doanhnghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá, xem xét, kiểm tra, đốichiếu và so sánh số liệu tài chính trong quá khứ với hiện tại Thông qua việc phântích đó giúp nhà quản trị có thể đánh giá tiềm năng cũng như rủi ro trong tương lai,qua đó giúp đưa ra những quyết định quản trị hợp lý, kịp thời nhằm đạt được mụctiêu của doanh nghiệp
Phân tích tài chính cung cấp những thông tin hữu ích giúp kiểm tra phân tíchmột cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh, tìnhhình thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Những người quản lý tài chính khiphân tích tài chính cần cân nhắc tính toán tới mức rủi ro và tác động của nó tới
15
Trang 16-doanh nghiệp mà biểu hiện chính là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đốivốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở
đó, các nhà phân tích tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả hoạt độngkinh doanh nói chung, mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai.Ngoài ra, phân tích tài chính còn cung cấp những thông tin số liệu để kiểm tra giámsát tình hình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tếtài chính của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của xã hội thì việc phân tích tàichính càng trở nên quan trọng, bởi công tác phân tích tài chính ngày càng cho thấy
sự cần thiết của nó đối với sự phát triển doanh nghiệp Phân tích tài chính cho thấykhả năng và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp, do đó sẽ giúp cho côngtác dự báo, lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn, dễ dàng đưa ra các chính sáchtạo điều kiện cho công ty hoạt động
b) Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Kết quả của việc phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ được các nhàquản trị tài chính quan tâm mà còn là mối quan tâm của nhiều đối tượng khác liênquan đến hoạt động của doanh nghiệp Đó là những đối tác kinh doanh, Nhà nước,người cho vay, cán bộ công nhân viên Việc phân tích tình hình tài chính doanhnghiệp sẽ giúp cho các đối tượng quan tâm có những thông tin cần thiết cho việc raquyết định của mình trong mối quan hệ với doanh nghiệp
- Đối với những người quản lý doanh nghiệp
Hoạt động phân tích tài chính của những người quản lý doanh nghiệp đượcgọi là phân tích tài chính nội bộ Do ở doanh nghiệp họ nắm được đầy đủ và chínhxác các thông tin, kèm theo sự hiểu rõ về doanh nghiệp nên họ có lợi thế để phântích tài chính một cách tốt nhất Phân tích tài chính có ý nghĩa để dự báo tài chính và
là cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra quyết định phù hợp không chỉ trong vấn đề tàichính mà còn nhiều vấn đề khác Phân tích tài chính nội bộ thực sự cần thiết để xácđịnh giá trị kinh tế, các mặt mạnh, yếu và đưa ra những quyết định đúng đắn cho sựphát triển của một doanh nghiệp
- Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan Nhà nước có liên quan
Dựa vào các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích đánh giá, kiểmtra hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp cóthực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay không, có tuân theo pháp luật haykhông đồng thời sự giám sát này giúp cơ quan thẩm quyền có thể hoạch định chínhsách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một
Trang 17cách có hiệu quả Giúp Nhà nước đưa những kế hoạnh phát triển ở tầm vĩ mô saocho mang lại lợi ích thiết thực nhất.
- Đối với các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhân quan tâm trực tiếp đến cácgiá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thểphải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị gia tăng thêm củavốn đầu tư Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanhnghiệp Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận mà doanh nghiệp đạtđược theo tính toán trên sổ sách Dự kiến trước lợi nhuận sẽ đạt được là mối quantâm thực sự của nhà đầu tư Thông qua sự phân tích dựa trên các báo cáo tài chính,phân tích khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và sự phân tích diễn biến giá cả, các nhàđầu tư sẽ đưa ra các quyết định của chính mình
- Đối với ngân hàng, các nhà cho vay tín dụng
Những đối tượng này quan tâm đến khả năng thanh toán công nợ, khả nănghợp tác liên doanh của doanh nghiệp, cho nên cũng cần phân tích và đánh giá thựctrạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các chủ nợ, họ quantâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nếu đó là các khoản vay ngắnhạn, đối với khoản vay dài hạn họ phải tin chắc khả năng hoàn trả khi xem xét khảnăng sinh lời của doanh nghiệp Song quan trọng nhất đó là cơ cấu tài chính biểuhiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay
- Đối với các nhà cung cấp
Trong chuỗi cung ứng, doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khách hàng màcòn phụ thuộc vào nhà cung cấp Thông tin phân tích tài chính của doanh nghiệpgiúp nhà cung cấp biết khả năng thanh toán hiện tại và tương lai của doanh nghiệp,
để từ đó nhà cung cấp có thể cung ứng đầy đủ, kịp thời các yếu tố nguyên liệu vàchấp nhận cho doanh nghiệp mua chịu, thanh toán chậm hay không
- Đối với khách hàng
Đối với các khách hàng lớn thì khả năng sản xuất, chất lượng và sảnlượng của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu để quyết định có gắn bó lâudài với doanh nghiệp hay không Để đánh giá được điều đó, khách hàng phải căn
cứ vào khả năng sản xuất cũng như tiềm lực tài chính của doanh nghiệp quanhững chỉ số phân tích tài chính
- Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
17
Trang 18-Những người hưởng lương trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến tình hìnhtài chính, bởi lợi ích của họ gắn liền với hoạt động tài chính của doanh nghiệp.Người lao động quan tâm đến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xéttriển vọng của nó trong tương lai Những người đi tìm việc đều có nguyện vọng đượcvào làm việc trong các công ty có triển vọng với tương lai lâu dài để hy vọng có mứclương xứng đáng và chỗ làm việc ổn định.
Những nhà phân tích tài chính nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quảcủa hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai Phân tích tàichính là cơ sở để dự đoán tài chính Ngoài ra phân tích tài chính được ứng dụng theonhiều hướng khác nhau: Đưa ra quyết định phục vụ nghiên cứu hay để kiểm tra giámsát chặt chẽ hơn Hiện nay với sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp cùng với quátrình cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiến lược kinh doanh cụ thể hợp lý và chínhxác Phân tích tài chính sẽ có tác dụng to lớn trong việc thực hiện điều đó
Như vậy, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanhnghiệp dưới những gốc độ khác nhau Song nhìn chung họ đều quan tâm đến khảnăng tạo ra các dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợinhuận tối đa
1.2.2 Trình tự của quá trình phân tích tài chính
a) Thu thập thông tin
Thu thập thông tin từ mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyếtminh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch trong đó có nhữngthông tin nội bộ và những thông tin bên ngoài, từ thông tin kế toán đến các thôngtin khác… trong đó thông tin kế toán được xem là quan trọng nhất, được phản ánhtrong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, do đó phân tích hoạt động tài chínhtrên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
b) Xử lý thông tin
Khi đã thu thập được các thông tin cần thiết sẽ tính toán và phân tích cácthông tin ở những góc độ khác nhau phục vụ mục tiêu đã đặt ra Xử lý thông tin
là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán,
so sánh, giải thích, đánh giá và xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạtđược phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
Trang 19c) Dự đoán và ra quyết định
Mục đích của việc phân tích thông tin tài chính chính là để phục vụ choviệc dự đoán và ra quyết định Sau khi đã phân tích các thông tin tài chính thuthập được, căn cứ vào kết quả của phân tích, người sử dụng thông tin sẽ đưa ranhững dự đoán theo các phương pháp khoa học, từ đó nhà quản trị có thể ra cácquyết định chính xác, kịp thời phù hợp với tình hình của doanh nghiệp
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.3.1 Phân tích tính hiệu quả của tài chính
Phân tích hiệu quả tài chính là xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp
có hiệu quả hay không, do những nhân tố nào tác động và nguyên nhân gây ra nhữngtác động đó Việc phân tích này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư, nhàquản trị, các tổ chức tín dụng, các cổ đông, nó gắn liền với lợi ích của họ ở hiện tại
và trong tương lai
a) Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính tổng quát
Để trả lời câu hỏi: Tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả không? Chúng tatiến hành tính toán chỉ tiêu hiệu quả tổng quát: sức sinh lời nguồn vốn chủ sở hữu(ROE); tiếp đó so sánh chỉ tiêu tính toán giữa các kỳ nếu kỳ sau cao hơn kỳ trước thìkết luận kỳ sau hiệu quả hơn (hoặc ngược lại); so sánh với các doanh nghiệp cùngngành nếu cao hơn thì kết luận hiệu quả (hoặc ngược lại)
b) Phân tích các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến ROE
Chỉ tiêu hiệu quả tài chính tổng quát là sức sinh lời nguồn vốn chủ sở hữu (ROE) được xác định như sau:
LN sau thuế
Như vậy ROE chịu tác động của 3 chỉ tiêu thành phần:
ROE = ROS x Năng suất tổng tài sản x Nghịch đảo hệ số tự tài trợ
Phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu thành phần đến chỉ tiêu hiệu quảtổng quát là tiến hành tính toán 3 chỉ tiêu thành phần trên và xác định mức độ tácđộng của nó đến chỉ tiêu tổng quát đồng thời so sánh từng chỉ tiêu thành phần giữacác kỳ với nhau
Chỉ tiêu thành phần được đánh giá là tốt khi kỳ sau cao hơn kỳ trước vàngược lại Trong trường hợp tất cả các chỉ tiêu thành phần đều tăng thì chỉ tiêu nào
có tốc độ tăng cao nhất là chỉ tiêu đó tốt, chỉ tiêu nào có tốc độ tăng thấp nhất là chỉtiêu đó chưa tốt
19
Trang 20-c) Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu thành phần
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu sức sinh lợi doanh thu (ROS)
Thực chất là phân tích bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Thông qua BCKQKD, ta biết được tổng doanh thu và doanh thu thuần củadoanh nghiệp qua các năm biến động ra sao, chỉ tiêu doanh thu thuần tăng hay giảm,việc giảm doanh thu thuần là do hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán tăng hay docác khoản chiết khấu thanh toán tăng lên Nếu doanh thu thuần giảm do hàng bán bịtrả lại và giảm giá hàng bán tăng thì doanh nghiệp cần phải xem lại chất lượng sảnphẩm của mình đã đảm bảo chưa, nếu do chiết khấu thanh toán tăng thì xem xét tỷ lệchiết khấu công ty đưa ra so với các đơn vị cùng ngành có cao quá không? Nếu caoquá sẽ ảnh hưởng làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Thông qua BCKQKD, ta biết được chi phí của doanh nghiệp tăng hay giảm ởkhoản mục nào và lý do vì sao? Đồng thời cũng cho biết lợi nhuận trước thuế, lợinhuận sau thuế của doanh nghiệp đạt được từ các hoạt động trong năm và số thuế thunhập doanh nghiệp phải đóng vào NSNN
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tổng tài sản
Là phân tích sự biến động và cơ cấu của tài sản; qua phân tích cho biết năngsuất tổng tài sản tăng hay giảm do thành phần tài sản ngắn hạn hay tài sản dài hạn vànguyên nhân
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ số tự tài trợ
Chính là phân tích sự biến động và cơ cấu của nguồn vốn; qua phân tích chobiết nguồn vốn tài trợ cho tài sản tăng hay giảm do thành phần nguồn vốn vay haynguồn vốn chủ sở hữu và nguyên nhân của nó
1.2.3.2 Phân tích an toàn tài chínhcủa doanh nghiệp
Việc phân tích này nhằm mục đích xem xét tình hình tài chính của doanhnghiệp có an toàn hay không và do những nhân tố nào tác động? Nguyên nhân của
những tác động đó? Để trả lời cho những câu hỏi đó ta phải tiến hành tính chỉ tiêu hệ
số thanh toán hiện hành
Tài chính của doanh nghiệp được coi là an toàn khi chỉ tiêu thanh toán hiệnhành lớn hơn hoặc bằng 1 (hay nói cách khác là doanh nghiệp không được dùngnguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn Chỉ tiêu này có thể so sánh bằng 2cách:
Tài sản ngắn hạn / nguồn vốn ngắn hạn > 1
Hoặc:
Trang 21Tài sản dài hạn < nguồn vốn dài hạn (Nguồn vốn CSH + Vay dài hạn)
Thực chất là phân tích mối quan hệ (cân đối) giữa tài sản và nguồn vốn củadoanh nghiệp Nguyên tắc cân bằng tài chính đòi hỏi: tài sản dài hạn chỉ được tài trợbởi phần nguồn vốn dài hạn; tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn
Nếu NVNH < TSNH, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng 1 phầnnguồn vốn dài hạn để đầu tư cho tài sản ngắn hạn Đây là dấu hiệu an toàn đối vớidoanh nghiệp vì nó cho phép doanh nghiệp đương đầu với rủi ro có thể xảy ra nhưviệc phá sản của khách hàng lớn, việc cắt giảm tín dụng của các nhà cung cấp kể cảviệc thua lỗ nhất thời
Nếu NVNH > TSNH, chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng một phần nguồnvốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn Đây là hình thức tài trợ có nguy cơ manglại rủi ro tài chính cho doanh nghiệp Có thể do doanh nghiệp không thể tìm kiếmđược các nguồn tài trợ dài hạn để đáp ứng cho các nhu cầu đầu tư vào tài sản dài hạnnên đã phải lấy các nguồn tài trợ ngắn hạn để “chắp vá” cho những nhu cầu dài hạn
đó của mình Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần phải có những biện pháp đểnhanh chóng thoát khỏi tình trạng đó, chẳng hạn như thu hẹp quy mô của tài sản cốđịnh, hoặc phát hành trái phiếu, vay vốn các tổ chức tín dụng …
Ngoài ra để xác định mức độ an toàn của tài chính, người ta còn dùng thêm hệ
số thanh toán nhanh, hệ số thánh toán lãi vay Hệ số này dùng để đo lường mức độlợi nhuận có được do sử dụng vốn vay để trả lãi cho các chủ nợ Nói cách khác, hệ sốkhả năng thanh toán lãi vay cho chúng ta biết được việc doanh nghiệp sử dụng nợ cóhiệu quả đến mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận bao nhiêu, có đủ bù đắp lãivay phải trả không
1.2.3.3 Phân tích các đòn bẩy tài chính
a) Đòn bẩy kinh doanh DOL (đòn bẩy định phí)
Đòn bẩy kinh doanh hay đòn bẩy định phí là khái niệm phải ánh mức độdoanh nghiệp sử dụng chi phí cố định trong hoạt động kinh doanh của mình Doanhnghiệp có đòn bẩy kinh doanh cao khi tỷ trọng chi phí cố định trong tổng chi phí cao.Khi đòn bẩy kinh doanh cao, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về doanh thu có thể gây ra
sự thay đổi lớn về lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mức độ rủi ro trong kinh doanh Về thực chất,đòn bẩy kinh doanh phản ánh tỷ lệ thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vay phátsinh do sự thay đổi về sản lượng tiêu thụ
DOL = Mức thay đổi của Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (%) 21
Trang 22- EBIT: là lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh DOL cao chứng tỏ doanh nghiệp có mức độsinh lợi cao tuy nhiên rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ tăng tương ứng
Đòn bẩy kinh doanh là công cụ được các nhà quản lý sử dụng để gia tăng lợinhuận Trong các doanh nghiệp trang bị tài sản cố định hiện đại, định phí rất cao,biến phí rất nhỏ thì sản lượng hoà vốn rất lớn Tuy nhiên, một khi đã vượt quá điểmhoà vốn, đòn bẩy kinh doanh sẽ rất lớn Do đó, chỉ cần một sự thay đổi rất nhỏ củasản lượng cũng đã làm lợi nhuận gia tăng rất lớn Từ đó, ta có công thức đo lường sựtác động của đòn bẩy kinh doanh với sự gia tăng lợi nhuận như sau:
Tỷ lệ gia tăng lợi nhuậntrước thuế và lãi vay = DOL x
Tỷ lệ thay đổi vềsản lượng tiêu thụKhái niệm đòn bẩy kinh doanh cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệpmột công cụ để dự kiến lợi nhuận Nếu doanh thu của doanh nghiệp tăng lên vàdoanh thu đã vượt quá điểm hoà vốn chỉ cần tăng một tỷ lệ nhỏ về doanh thu là đã cóthể tăng lên một tỷ lệ lớn hơn về lợi nhuận
Tuy nhiên đòn bẩy kinh doanh như "con dao hai lưỡi", chúng ta biết đòn bẩykinh doanh phụ thuộc vào định phí nhưng khi chưa vượt quá điểm hoà vốn, ở cùngmột mức độ sản lượng thì doanh nghiệp nào có định phí càng cao thì sẽ lỗ càng lớn.Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp phải phấn đấu để đạt được sản lượnghoà vốn Khi vượt quá điểm hoà vốn thì đòn bẩy kinh doanh luôn luôn dương và nóảnh hưởng tích cực tới sự gia tăng lợi nhuận
Do đòn bẩy kinh doanh sẽ chỉ phát huy tác dụng khi doanh thu thuần vượt quadoanh thu hòa vốn, nên đề xác định lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi như thế nàovới mức sản xuất thì phải phân tích điểm hòa vốn của doanh nghiệp Điểm hòa vốn
là điểm mà tại đó mức doanh thu tạo ra bằng chi phí hoạt động mà công thức để tínhsản lượng và doanh thu hòa vốn được xác định như sau:
Trang 23b) Đòn bẩy tài chính DFL (đòn bẩy nợ)
Đòn bẩy tài chính là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụngcác khoản nợ vay có lãi suất tương đối ổn định trong cơ cấu vốn của mình Doanhnghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ trên tổng nguồn vốn củadoanh nghiệp cao Đòn bẩy nợ càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn
Đòn bẩy tài chính vừa là một công cụ thúc đẩy lợi nhuận sau thuế trên mộtđồng vốn chủ sở hữu, vừa là một công cụ kìm hãm sự gia tăng đó Sự thành công haythất bại này tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại khi lựa chọn cơ cấu tài chính.Khả năng gia tăng lợi nhuận cao là điều mong ước của các chủ sở hữu, trong đó đònbẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý ưa dùng
Đòn bẩy tài chính được xác định bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (EPS)với mức thay đổi tính bằng phần trăm của lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
DFL = Mức thay đổi tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (%)
Mức thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay (%)Hay
EBIT - ITrong đó:
sự thay đổi nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng làm thay đổi lớn tỷ lệ lợinhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ
23
Trang 24-sở hữu sẽ rất nhạy cảm với lợi nhuận trước thuế và lãi vay Về thực chất, đòn bẩytài chính phản ánh sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ trước
sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Như vậy, độ lớn của đòn bẩy tài chính được xem như là tỷ lệ thay đổi của tỷsuất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuậntrước thuế và lãi vay Tuy nhiên nó cũng giống như đòn bẩy kinh doanh, nó cũng là
"con dao hai lưỡi" Nếu tổng tài sản không có khả năng sinh ra một tỉ lệ lợi nhuận đủlớn để bù đắp các chi phí tiền lãi vay phải trả thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốnchủ sở hữu bị giảm sút Mặt khác vì phần lợi nhuận do vốn chủ sở hữu làm ra phảidùng để bù đắp sự thiếu hụt của lãi vay phải trả nên thu nhập của một đồng vốn chủ
sở hữu sẽ còn lại rất ít so với tiền đáng lẽ sẽ được hưởng Thêm vào đó đòn bẩy tàichính được các nhà quản lý sử dụng để gia tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốnchủ sở hữu theo công thức:
Tỷ lệ thay đổi về tỷ suất lợi nhuận
sau thuế trên vốn chủ sở hữu = DFL x
Tỷ lệ thay đổi lợi nhuậntrước thuế và lãi vay
Có thể nói đòn bẩy tài chính cung cấp cho các nhà phân tích một công cụquan trọng để dự kiến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu Cần lưu ý làkhi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn để trang trải lãi vay thì tỷ suất lợinhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bị giảm sút Nhưng khi lợi nhuận trước thuế vàlãi vay đủ lớn thì chỉ cần sự gia tăng nhỏ về lợi nhuận trước thuế và lãi vay đã có sựgia tăng lớn về tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu
c) Đòn bẩy tổng hợp (DTL)
Đòn bẩy tổng hợp là sự kết hợp của đòn bẩy tài chính và đòn bẩy kinh doanh.Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa chi phí cố định và chi phíbiến đổi Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh sẽ rất lớn ở những doanh nghiệp có chi phí
cố định cao hơn chi phí biến đổi Đòn bẩy kinh doanh chỉ tác động tới lợi nhuậntrước thuế và lãi vay, bởi lẽ tỷ số nợ không ảnh hưởng tới độ lớn của đòn bẩy kinhdoanh Còn độ lớn của đòn bẩy tài chính chỉ phụ thuộc vào tỷ số mắc nợ, không phụthuộc vào kết cấu chi phí cố định và chi phí biến đổi của doanh nghiệp Do đó, đònbẩy tài chính tác động tới lợi nhuận sau thuế và lãi vay Vì vậy, khi ảnh hưởng củađòn bẩy kinh doanh chấm dứt thì ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính sẽ thay thế đểkhuếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu khi doanh thu thay đổi Vì lẽ đó người ta có thểkết hợp đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính thành một đòn bẩy tổng hợp vớicách xác định sau:
Trang 25DTL = DFL x DLTHay
S – VC – F – I Trong đó:
độ phù hợp với doanh nghiệp mình để đạt được hiệu quả cao nhất
1.2.5 Các phương pháp dung để phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm hệ thống các công cụ
và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệbên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạt động tàichính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quátchung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: Phương pháp sosánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp thay thế liên hoàn, phương phápphân tích nhân tố, phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tàichính… kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định Tuy nhiên, trong phântích TCDN người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
a) Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướngphát triển và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này có cáctiêu chuẩn và điều kiện sau:
- Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh, Tùy theo yêucầu của phân tích mà chọn làm căn cứ thích hợp
- Điều kiện so sánh:
+ Tồn tại ít nhất hai đại lượng
25
Trang 26-+ Các đại lượng phải đảm bảo tính so sánh được, đó là sự thống nhất về nộidung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian vàđơn vị đo lường.
Trong phân tích tài chính các tỷ lệ tài chính được chia thành các nhóm tỷ lệ đặctrưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp:khả năng thanh toán, tốc độ luân chuyển, cơ cấu vốn, khả năng sinh lời Đó là cácnhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ lệ phản ánh hiệu quả hoạt động, tỷ lệ về cơ cấuvốn và nhóm tỷ lệ khả năng sinh lời
Phương pháp này có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càngđược bổ sung và hoàn thiện hơn, vì:
+ Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải thiện và cung cấp đầy đủ hơn,
là cơ sở đề hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ số củadoanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
+ Việc áp dụng công nghệ thông tin cho phép tích lũy dữ liệu và đẩy nhanhquá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
+ Phương pháp này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả số liệu phân tíchmột cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian hoặc theo từng giai đoạn
c) Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp được sử dụng để xác địnhmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này
có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích số, thương số và kết quả kinhtế
Phương pháp này được sử dụng khi chỉ tiêu phân tích có quan hệ với nhân tốảnh hưởng, thể hiện dưới dạng phương trình tích hoặc thương Nếu là phương trìnhtích thì các nhân tố được sắp xếp theo trình tự nhân tố số lượng đứng trước nhân tốchất lượng, trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hay nhiều nhân tố chất lượng thìnhân tố chủ yếu đứng trước nhân tố thứ yếu Khi đó để xác định mức độ ảnh hưởng
Trang 27của các nhân tố, ta tiến hành lần lượt thay thế số kỳ gốc của mỗi nhân tố bằng sốthực tế của nhân tố đó (nhân tố nào đã được thay thế mang giá trị thực tế từ đó cònnhững nhân tố khác giữ nguyên ở kỳ gốc); sau mỗi lần thay thế phải xác định đượckết quả của lần thay thế ấy, chênh lệch giữa kết quả đó với kết quả của lần thay thếngay trước nó là ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế.
Trong quá trình thay thế liên hoàn, trình tự của các nhân tố không được đảolộn Tổng đại số của mức độ ảnh hưởng của các nhân tố phải đúng bằng đối tượngphân tích
Trên đây là một số phương pháp phân tích tài chính phổ biến Mỗi phươngpháp đều có những ưu, nhược điểm nhất định Chính vì vậy, khi phân tích phải kếthợp giữa các phương pháp để có kết quả phân tích chính xác và đáng tin cậy nhất
để tiến hành việc phân tích và để xuất giải pháp nhằm cải thiện tình hình tàichính của Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà ở các chương tiếp theo
27
Trang 28-CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG
HỒNG HÀ
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
- Tên công ty: Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà
( HONG HA PORT JOINT STOCK COMPANY- HPC)
- Địa chỉ: Số 302- Phường Lê Lợi- Thị xã Sơn Tây- Thành phố Hà Nội
- Điện thoại: - Fax:
- Chủ tịch hội đồng quản trị: Ông Dặng Tài Hùng
- Giám đốc: Ông Tăng Minh Ngọc
Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà được thành lập trên cơ sở cổ phần hoá Công
ty Cảng Hà Tây cũ thuộc Sở Giao thông vận tải Hà Tây ( nay là Hà Nội) theo Quyết định số 1903/QĐ-UBND ngày 25 tháng 04 năm 2011 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội Công ty hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty
Cổ phần số 0500238339 do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp thay đổi lần thứ 1 ngày 04 tháng 7 năm 2011
- Vốn điều lệ 20.000.000.000 đồng
- Số lao động tính đến ngày 31/12/2014: ??? người
Công ty thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngànhnghề Công ty kinh doanh lĩnh vực thương mại về vật liệu xây dựng và kinh doanhdịch vụ bốc xếp, kho bãi và vận tải hàng hóa
- Trong lĩnh vực bốc dỡ hàng hoá: hàng hóa gì?
- Trong lĩnh vực cho thuê kho bãi: hàng hóa gì?
- Lĩnh vực vận tải hàng hóa đường thủy, đường bộ: hàng hóa gì?
- Lĩnh vực kinh doanh Vật liệu xây dựng: hàng hóa gì?
Trang 292.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyếnchức năng có đặc trưng cơ bản là : Vừa duy trì hệ thống trực tuyến giữa Giám đốc,Phó giám đốc với các phòng ban và đồng thời kết hợp tổ chức giữa các phòng banvới nhau
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty được bố trí như sau:
Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà
+ Xây dựng và kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộCông ty;
Ban kiểm soát
Phó giám đốc
Phòng Kế hoạch điều độ chính kế toán Phòng Tài Phòng Kinh doanh
Trang 30+ Xây dựng và trình Hội đồng quản trị chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn
và hàng năm, phương án đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị; liên doanh,liên kết, các phương án đầu tư kinh doanh, các giải pháp phát triển thị trường, quảngcáo, tiếp thị, công nghệ;
+ Ban hành quy chế tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, nội quy lao động, khenthưởng kỷ luật… theo quy định hiện hành của nhà nước;
+ Thực hiện đúng các chế độ, chính sách, đối với người lao động và các quyđịnh của nhà nước về vệ sinh lao động, an toàn lao động, bảo vệ môi trường, quốcphòng và an ninh quốc gia;
- Phó giám đốc: là người giúp giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực
hoạt động của Công ty theo sự phân công của Giám đốc
- Phòng Kinh doanh:
+ Tham mưu giúp việc cho Giám đốc trong các lĩnh vực nghiên cứu phát triểnthị trường, Marketing, liên doanh, liên kết mở rộng thị trường, mở rộng lĩnh vực kinhdoanh của Công ty;
+ Tham mưu cho Giám đốc trong công tác thương vụ, pháp chế
- Phòng Kế hoạch điều độ:
+ Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc về lĩnh vực kinh tế, nghiên cứu lập các
dự án đầu tư, phân tích và đưa ra các phương án khả thi của dự án Mở rộng pháttriển hoạt động sản xuất kinh doanh;
+ Bố trí, sắp xếp lịch bốc dỡ và vận chuyển hàng hoá cho các phương tiện ravào cảng, điều động nhân sự liên quan đến kế hoạch sản xuất, kế hoạch bốc dỡ, vậnchuyển hàng hoá;
Trang 31+ Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong công tác kế hoạch ngắn hạn,trung hạn và dài hạn.
- Phòng Tài chính kế toán:
+ Tham mưu giúp Giám đốc công ty tổ chức hướng dẫn, thực hiện công táctài chính, kế toán, thống kê, thông tin kinh tế ở Công ty theo quy định của pháp luật,đồng thời giúp Giám đốc giám sát việc thực hiện tài chính tại công ty;
+ Tham mưu cho Giám đốc trong việc quản lý, sử dụng, bảo tồn và phát triểnnguồn vốn của Công ty;
+ Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong việc phân tích tình hình tài chính,chiến lược tài chính của Công ty, lập kế hoạch, huy động và sử dụng các nguồn vốn
có hiệu quả
2.1.4 Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kinh doanh của Công ty
Viết lại mục này: Tài sản cố định của Công ty gồm những thứ gì? Tình trạng ra làm sao? (cụ thể: nhà làm việc, cầu cảng, cầu trục, xà lan, diện tích kho bãi, ô tô, cửa hang…)
Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà có trụ sở khang trang với đầy đủ tiện nghi tại
302 Lê Lợi- Thị xã Sơn Tây- Tp Hà Nội; chi nhánh tại Cảng Sơn Tây- Thị xã SơnTây- Hà Nội; chi nhánh tại Cảng Hồng Vân- Thường Tín- Hà Nội Công ty có chinhánh đặt tại hai cảng sông địa phương nên sẽ giúp cho Công ty có nhiều cơ hội đểcung cấp sản phẩm, dịch vụ của mình tới nhiều cá nhân, tổ chức và người tiêu dùnghơn
2.1.5 Đặc điểm lao động của Công ty
Viết lại mục này: tổng số lao động, cơ cấu lao động theo trình độ, ngành nghề…
Lao động và công nghệ là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó thamgia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm cho máymóc thiết bị trở thành lực lượng lao động trực tiếp Áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điềukiện tiên quyết để tăng hiệu quả kinh doanh, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vaitrò của con người Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao độngtác động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh Lực lượng lao động có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúngvào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng chính
31
Trang 32-lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, sáng tạo
ra sản phẩm mới với tính năng, kiểu dáng phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng,
làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Như vậy, lực lượng lao động
tác động trực tiếp đến năng suất lao động, trình độ sử dụng máy móc thiết bị, khả
năng tiêu thụ sản phẩm, và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì nhận
thấy được tầm quan trọng của lao động nên trong 2 năm vừa qua Công ty đã không
ngừng nâng cao chất lượng lao động, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân
lao động vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, thành thạo các kỹ năng trong quá
trình làm việc bằng cách: Cử nhiều cán bộ học chương trình đại học theo phương
thức vừa học vừa làm tại các trường như: Đại học Kinh tế quốc dân, Học viện tài
chính, Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh Ngoài ra, nhiều công nhân ưu tú
khác được Công ty cử đi học hoặc hỗ trợ 1 phần kinh phí để theo học các ngành nghề
như: lái xe, lái cầu trục, sửa chữa ô tô, hàn hơi đáp ứng cho sự phát triển lâu dài
của Công ty
Bên cạnh việc chú trọng vào yếu tố con người, công ty còn quan tâm đến việc
đầu tư máy móc trang thiết bị phục vụ cho việc kinh doanh vận chuyển và bốc dỡ
hàng hoá bởi lẽ có dây chuyền máy móc trang thiết bị hiện đại thì mới có khả năng
đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng Vì lý do đó nên ngoài các trục cẩu, máy
cẩu, các xe otô, các máy nâng, xúc hàng hoá cũ từ trước khi cổ phần thì năm 2013
công ty đã tiến hành đầu tư mua thêm 02 máy cẩu RDK, 03 máy xúc ủi, 03 xe tải, 01
dây chuyền băng tải hàng để phục vụ nhu cầu phát triển lâu dài và bền vững của
công ty
2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Viết lại mục này theo các số liệu: kết quả về hiện vật và giá trị của các lĩnh
vực kinh doanh năm 2013-2014
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh của công ty năm 2013 và 2014
Trang 33Tỷ suất LN/VĐL 3.54 5.54 2 56.5
(Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán công ty Cảng Hồng Hà)
Bảng trên không nói về tài chính.Từ bảng trên ta thấy hoạt động tài chính
của công ty tương đối tốt mặc dù trong năm 2013 công ty gặp nhiều khó khăn trongviệc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra là phải đạt doanh thu 24.436.472.000đồngnhưng công ty chỉ đạt được 87.51% so với kế hoạch là 21.385.021.259đồng Tuynhiên với nhiều nỗ lực và cố gắng, công ty đã tăng vọt 48.95% so với doanh thu thựchiện năm 2013 Lợi nhuận sau thuế 612.650.142 đồng, đạt 56.38% so với năm 2013.Thu nhập bình quân cũng được tăng lên 0.83% so với năm 2013
Để đạt được những kết quả trên là do sự chỉ đạo đúng đắn của Hội đồng Quản trị và
sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty
2.2 Một số đặc điểm có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty
Viết lại mục này theo kết cấu sau:
2.2.1 Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh
- Lĩnh vực kinh doanh vận tải hàng hóa đường sông, đường bộ thì ảnh
hưởng gì đến cơ cấu tài sản
- Lĩnh vực kinh doanh cảng sông và kho bãi thì ảnh hưởng gì đến cơ cấu
tài sản
- Lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng ảnh hưởng gì đến cơ cấu tài sản
2.2.2 Đặc điểm về khách hàng của Công ty
- Khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh vận tải hàng hóa đường sông,
đường bộ là ai? Có ảnh hưởng gì đến doanh thu, chi phí và tài sản của công ty
- Khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh cảng sông và kho bãi là ai? có
ảnh hưởng gì đến doanh thu, chi phí và tài sản của công ty
- Khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng là ai? Có ảnh
hưởng gì đến doanh thu, chi phí và tài sản của công ty
2.2.3 Đặc điểm về đối thủ cạnh tranh của Công ty
- Đối thủ trong lĩnh vực kinh doanh vận tải hàng hóa đường sông, đường
bộ là ai? có ảnh hưởng gì đến kết quả kinh doanh của công ty
- Đối thủ trong lĩnh vực kinh doanh cảng sông và kho bãi là ai? có ảnh
hưởng gì đến kết quả kinh doanh của công ty
33
Trang 34Đối thủ trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng là ai? có ảnh hưởng
gì đến kết quả kinh doanh của công ty
2.2.4 Đặc điểm về môi trường vĩ mô
- Môi trường kinh tế: tốc độ tăng trưởng, suy thoái,l ãi suất, lạm phát trong
2 năm vừa qua có ảnh hưởng gì đến tài chính của Công ty?
- Chính sách đầu tư, tiền tệ 2 năm vừa qua có ảnh hưởng gì đến tài chính của Công ty?
2.1.4.1 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh
Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngànhnghề Trong đó, Công ty kinh doanh lĩnh vực thương mại về vật liệu xây dựng, kinhdoanh bốc xếp, kho bãi và vận tải là chủ yếu Những năm gần đây tình hình kinh tế
bị suy thoái, nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục, nạn thất nghiệp gia tăng, thịtrường nhà đất giảm, bất động sản đóng băng , nhiều doanh nghiệp phá sản hoặcngừng hoạt động đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trước tình hình đó, Chính phủ đã có những biện pháp kiềm chế lạm phát, thắtchặt chi tiêu, tái cấu trúc nền kinh tế Nhưng tất cả chỉ dừng lại ở việc hạn chế,giảm bớt chứ chưa thực sự tháo gỡ được hết những khó khăn Và đối với hoạt độngcủa công ty cổ phần Cảng Hồng Hà cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng nóitrên
- Trong lĩnh vực bốc dỡ hàng hoá: Công ty dã phải cố gắng rất nhiều để duytrì sản xuất trong điều kiện lượng hàng hoá ít nhưng phải cạnh tranh với rất nhiều cácbến bãi tư nhân trong khu vực
- Trong lĩnh vực cho thuê kho bãi: Nhiều khách hàng truyền thống đã phải thuhẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động nên tỷ lệ cho thuê kho bãi đã bị giảm nhièu
- Lĩnh vực kinh doanh Vật liệu xây dựng: Công ty không thực hiện kinhdoanh, thương mại được do do thị trường xây dựng giảm sâu và không thu xếp đượcvốn
- Lĩnh vực vận tải: Công ty đã cố gắng rất nhiều để duy trì hoạt động nhưnghiệu quả không cao do giá cước vận tải giảm trong khi chi phí vận tải lại tăng
Tuy nhiên, trước những khó khăn, thách thức đó Hội đồng quản trị của công
ty và tập thể cán bộ nhân viên trong công ty đã luôn nỗ lực phấn đấu và từng bước
Trang 35vượt qua những khó khăn, giữ vững sản xuất và đạt được những kết quả nhất địnhnhư:
- Duy trì được việc làm ổn định cho người lao động và có được mức thu nhập
ổn định
- Thực hiện được đầy đủ các nghĩa vụ với nhà nước và người lao động
2.2 Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Cảng Hồng Hà
2.2.1 Tài liệu để phân tích tình hình tài chính của Công ty
Như chúng ta đã tìm hiểu ở chương 1 và đã biết phân tích tình hình tài chính sẽcung cấp một cách tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh của công
ty là hiệu quả và an toàn hay không Điều đó giúp cho nhà quản lý công ty thấy rõthực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và dự đoán được khả năngphát triển hay chiều hướng suy thoái của công ty làm cơ sở để đưa ra những giảipháp hữu hiệu trong việc tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của công ty
Để phân tích được tình hình tài chính của công ty chúng ta không thể thiếuđược các Tài liệu dùng để phân tích đó chính là các trích dẫn từ báo cáo tài chính củaCông ty trong 2 năm (2013 và 2014):
Bảng 2.2: BÁO CÁO KẾT QUẢ HĐKD CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG
Trang 3614 Lợi nhuận sau thuế (14=12-13) 417,654,337 612,650,141
(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà)
Bảng 2.3: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG
Tiền và các khoản tương
-4 Các khoản phải thu khác 3.677.495.435 3.682.654.370 99.071.526
0
Trang 372 Chênh lệch đánh giá tài sản 7.393.187.611 7.393.187.611
37
Trang 38(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà)
2.2.2 Phân tích hiệu quả tài chính của Công ty
2.2.2.1 Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính tổng quát
Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính tổng quát tức là chúng ta đi phân tích chỉtiêu tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu (ROE) Đây là chỉ số tài chính quan trọng nhất vàthiết thực nhất đối với chủ sở hữu Kết quả tính toán chỉ tiêu hiệu quả tổng quát: sứcsinh lời nguồn vốn chủ sở hữu (ROE) như sau:
Bảng 2.4 : Chỉ tiêu sức sinh lời nguồn vốn chủ sở hữu (ROE)
(a)
Năm 2014 (b)
Chênh lệch Tuyệt đối (c= b-a)
(%) (=c/a)
1 Lợi nhuận sau
(Nguồn: Báo cáo tài chính Công ty cổ phần Cảng Hồng Hà)
Công ty Cảng Phà Đen là 1 trong những công ty mạnh trong lĩnh vực cảngsông Hoạt động kinh doanh trong những năm vừa qua của Công ty Cảng Phà Đenluôn đạt hiệu quả cao Do vậy, chỉ tiêu ROE của Công ty Cảng Phà Đen được lựachọn làm tài liệu để so sánh với chỉ tiêu ROE của Công ty Cảng Hồng Hà
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu(ROE) của công ty Cảng Hồng Hà trong năm 2013 không phải là thấp, bằng 3,87%(cứ một trăm đồng vốn đầu tư vào vốn chủ sở hữu tại Công ty có thể góp phần tạo rađược 3,87 đồng lãi cho chính chủ sở hữu), chỉ tiêu này vẫn cao hơn chỉ tiêu ROE củaCông ty Cảng Phà Đen (bằng 3,53%) Vậy tài chính năm 2013 của Công ty CảngHồng Hà được coi là hoạt động có hiệu quả
Trang 39Tuy nhiên, năm 2014 chỉ tiêu ROE của công ty Cảng Hồng Hà lại có sự tăngmạnh so với năm 2013 ( từ 3,87% lên 5,61%) và thấp hơn so với ROE của Công tyCảng Phà Đen (6,2%) ROE của công ty Cảng Hồng Hà tăng lên như vậy là do lợinhuận sau thuế của công ty tăng (lợi nhuận sau thuế năm 2014 tăng 46,69% so vớinăm 2013), trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty lại tăng nhẹ (tăng1,37%) Điều này thể hiện hiệu quả tài chính của công ty Hồng Hà là tương đối tốt.
2.2.2.2 Phân tích các chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến chỉ tiêu ROE
Phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu thành phần đến chỉ tiêu hiệu quảtổng quát là tiến hành tính toán 3 chỉ tiêu thành phần và xác định mức độ tác độngcủa nó đến chỉ tiêu tổng quát đồng thời so sánh từng chỉ tiêu thành phần giữa các kỳvới nhau
Bảng 2.5: Chỉ tiêu thành phần ảnh hưởng đến sức sinh lời nguồn vốn chủ sở
hữu ST
T Chỉ tiêu
Đơn
vị tính Năm 2013 Năm 2014
Chênh lệch Tuyệt đối (%)
Trang 40-Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy ROE của Công ty năm 2014 tăng 44,96% so vớinăm 2013 ROE của công ty tăng lên như vậy là do ảnh hưởng của 3 nhân tố: ROS(Doanh lợi sau thuế trên doanh thu), năng suất tổng tài sản và nghịch đảo hệ số tự tàitrợ Trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của ROE thì ta thấy chỉ có duynhất nhân tố năng suất tổng tài sản là tăng và 2 nhân tố còn lại thì giảm.
Nhân tố năng suất tổng tài sản của công ty năm 2014 cao hơn so với năm
2013 là 0,43 vòng tương ứng 0,61% Sự gia tăng này chứng tỏ các tài sản của công
ty có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi, không bị giam giữtrong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và như vậy đông nghĩa với việcdoanh thu của công ty cũng được tăng lên từ 19.873.976.421 đồng năm 2013 lên31.260.678.639 đồng năm 2014 tương ứng 57,29% Tuy nhiên nhân tố ROS- Lợinhuận biên hay lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thì lại bị giảm sút từ 2,1% năm
2013 xuống còn 1,96% năm 2014 tương ứng giảm 6,7% do công ty đã tăng chi phítrong hoạt động xúc tiến kinh doanh bằng cách đưa ra giá cả cạnh tranh trong mọilĩnh vực kinh doanh của mình Điều này trái ngược với nguyên lý muốn tăng ROSthì phải tăng LNST bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng giá bán Mặc dù nhân tố nàygiảm sút nhưng lại không đánh giá được đúng năng lực sinh lời thực sự của công ty
Nhân tố nghịch đảo hệ số tài trợ năm 2013 của Công ty là 2,71 lần; năm 2014
là 5,57 lần Như vậy, nhân tố nghịch đảo hệ số tài trợ năm 2014 giảm 0,14 lần tươngứng giảm 5,17% so với năm 2013 Sở dĩ có sự tăng nhẹ như vậy là do Công ty đãmạnh dạn sử dụng nhiều vốn vay trong cơ cấu vốn Đây là một cơ sở để có được lợinhuận cao Chỉ số nợ cao tức VCSH bình quân cao là một minh chứng về uy tín củacông ty đối với các chủ nợ Tuy nhiên chỉ số nợ cao làm cho khả năng thanh khoảngiảm và rủi ro tài chính cũng sẽ tăng
Doanh thu của công ty năm 2014 tăng 57,29% so với năm 2013 Tuy nhiên,tốc độ tăng của tổng tài sản vẫn thấp hơn tốc độ tăng của doanh thu nên làm cho chỉtiêu năng suất tổng tài sản năm 2014 tăng 0,61% so với năm 2013 Điều này thể hiệncông ty đã sử dụng tốt các tài sản có sẵn của mình, do đó hiệu quả sử dụng vốn vàsức sinh lời của đồng vốn trong Công ty vẫn được tăng trưởng tương đối tốt Nhưvậy tình hình tài chính của công ty vẫn an toàn
Phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu thành phần đến ROE ( viết them mục này theo gợi ý sau)
Căn cứ số liệu Bảng 2.9 và đẳng thức Dupont thứ nhất