Sự liên quan của các tác nhân virus đã biết trên một số loài dơi cụ thể gợi ý một sự lan truyền tác nhân virus gây bệnh từ dơi trong vai trò vật chủ chính sang người.. Với mục đích tìm h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ THU THỦY
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA MỘT SỐ VIRUS GÂY BỆNH CHO NGƯỜI TRÊN DƠI Ở
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ THU THỦY
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA MỘT SỐ VIRUS GÂY
BỆNH CHO NGƯỜI TRÊN DƠI Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : VI SINH VẬT HỌC
MÃ SỐ : 62 42 40 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS LÊ THỊ QUỲNH MAI
2 GS.TS PHẠM VĂN TY
HÀ NỘI – 2013
Trang 3MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
1.2 Dơi và vai trò truyền bệnh 9
1.3 Mốt số bệnh nhiễm trùng mới xuất hiện liên quan đến dơi 19
1.4.2 Kiểm soát vật chủ, vectơ, ổ chứa của tác nhân truyền bệnh 38
1.5 Các phương pháp phát hiện và xác định virus ở loài dơi 39
Trang 41.5.1 RT- PCR 39
2.3.2 Kỹ thuật hấp phụ miễn dịch liên kết enzym (ELISA) tóm bắt
IgG
49
2.3.4 Phương pháp xác định một số yếu tố liên quan đến khả năng
lây truyền virus từ dơi sang người
59
2.3.5.Phương pháp xử lý số liệu 59
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 59
3.1 Dấu vết kháng thể kháng các virus Nipah, SARS-CoV,
Banna, Viêm não Nhật Bản, Chikungunya ở loài Dơi tại Việt
Nam
61
3.1.3 Kết quả xác định một số tác nhân gây bệnh cho người liên 69
Trang 5quan đến dơi bằng phương pháp huyết thanh học
3.1.4 Mối liên quan giữa các virus gây bệnh truyền nhiễm cho người
với các họ/ loài dơi
90
3.2 Khả năng phơi nhiễm các virus có vật chủ là loài dơi ở một
số nhóm người có yếu tố liên quan về dịch tễ
98
3.2.1 Phát hiện kháng thể kháng virus Nipah ở mẫu huyết thanh
nguời bằng phương pháp huyết thanh học
99
3.2.2 Phát hiện kháng thể kháng SARS –CoV ở mẫu huyết thanh
nguời bằng phương pháp huyết thanh học
102
3.2.3 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến khả năng truyền virus
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BSL – 3 Biosafety level III (Phòng thí nghiệm an toàn sinh học
cấp độ 3)
(Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ)
cấy tế bào)
dịch hấp phụ gắn enzym)
quang)
hủy hoại 50% tế bào)
ứng chuỗi polymeraza phiên mã ngược)
đường hô hấp nặng)
Trang 7SHPT Sinh học phân tử
TCID50 Tissue culture infectious dose (liều gây nhiễm 50% tế
bào nuôi cấy)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.4 Kết quả xác định kháng thể IgG kháng virus Nipah bằng kỹ
3.10 Kết quả xác định kháng thể IgG kháng virus VNNB và
Chikungunya bằng kỹ thuật ELISA
Trang 9bằng phản ứng trung hòa (NT50) 3.13 Bảng tổng hợp kết quả các mẫu huyết thanh dơi chứa kháng
thể IgG kháng virus Nipah, SARS - CoV, Banna, JE và Chikungunya
94
3.14 Kết quả xác định kháng thể IgG kháng virus Nipah ở người
tình nguyện tại khu vực Tây Nguyên bằng kỹ thuật ELISA
99
3.15 Kết quả xác định kháng thể IgG kháng virus Nipah ở người
tình nguyện tại khu vực Tây Nguyên bằng phản ứng trung hòa
100
tình nguyện tại khu vực Tây Nguyên bằng kỹ thuật ELISA
101
3.17 Kết quả xác định kháng thể IgG kháng virus SARS-CoV ở
người tình nguyện tại khu vực Tây Nguyên bằng phản ứng trung hòa
103
3.18 Kết quả khảo sát bằng bộ câu hỏi in sẵn ở nhóm người tình
nguyện
106
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình Tên hình Trang
1.3 Rousettus leschenaultia - Dơi cáo nâu 12 1.4 Cynopterus sphinx- Dơi chó cánh dài 12 1.5 Scotophilus kuhlii- Dơi nâu 17 1.6 Chaerephon plicata – Dơi thò đuôi 18 1.7 Phân nhóm Henipah dựa trên phân tích vật liệu di truyền 22
1.11 Mô hình cấu trúc hạt virion của virus Banna, nhóm
Coltivirus
29
2006-2009
42
hang
46
Trang 112.7 Sơ đồ mẫu xét nghiệm ELISA trên huyết thanh dơi 53
3.2 Dơi thu thập theo tháng tại địa điểm nghiên cứu từ
2006-2009
68
3.3 Dơi cáo nâu có tên khoa học Rousettus leschenaulti
thuộc họ dơi ăn quả
74
CoV, Banna, VNNB và Chikungunya
95
3.5 Mẫu huyết thanh dơi chứa kháng thể trung hòa (NT50)
kháng virus Nipah và SARS- CoV
97
3.6 Kết quả khảo sát bằng bộ câu hỏi dành cho người tham
gia nghiên cứu tại Tây Nguyên
107
Trang 12
MỞ ĐẦU
Trong quá trình tồn tại, phát triển và tiến hóa của loài người, động vật luôn gắn bó mật thiết, không thể tách rời từ thời kỳ nguyên thủy đến cuộc sống hiện đại ngày nay Từ những loài động vật hoang dại là nguồn cung cấp thực phẩm trong thời kỳ nguyên thủy, thông qua các phương thức săn bắn, đến các động vật thuần hóa, trở thành vật nuôi trong gia đình, động vật luôn phát triển và tiến hóa đồng thời với sự phát triển và tiến hóa của loài người
Sự gắn bó mật thiết như vậy cũng chính là cơ chế để lây truyền bệnh từ động vật sang người hoặc ngược lại Một số bệnh, dịch bệnh trên người đã được xác định có nguồn gốc từ động vật như: bệnh dại, bệnh than, sốt tularemia, viêm não miền Tây sông Nile (West –Nile) và gần đây một số bệnh nhiễm trùng mới xuất hiện đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới như: cúm gia cầm (A/H5N1); viêm đường hô hấp cấp tính nặng SARS-CoV đều có các yếu tố liên quan đến các bệnh của động vật [10,34,116]
Bộ Dơi (Chiroptera) là bộ có số lượng loài nhiều thứ 2 trong lớp thú, với khoảng 1.100 loài, chiếm 20% trong tổng số 4.600 loài động vật có vú và phân bố rộng rãi trên thế giới [33, 74] Dơi được biết như một loài thú cổ đại nhất, xuất hiện khoảng 50-52 triệu năm trước đây [74] Kết quả phân tích di truyền học của các loài thú cho thấy dơi, ngựa, chó, cá voi là những động vật
có đặc điểm di truyền gần với các loài thuộc Bộ Linh trưởng (người, khỉ, vượn) Trong tổng số trên 60 loại virus được báo cáo có liên quan đến dơi thì
59 virus có vật liệu di truyền là ARN, được xác định là có khả năng tiềm tàng gây bệnh cho người Những tác nhân quan trọng được nhắc tới là: virus Lysa, virus Hendra, virus Nipah, SARS-CoV, Ebola Sự liên quan của các tác nhân virus đã biết trên một số loài dơi cụ thể gợi ý một sự lan truyền tác nhân virus gây bệnh từ dơi (trong vai trò vật chủ chính) sang người Để tìm hiểu phương
Trang 13thức lây truyền, vật chủ đầu tiên, khả năng gây bệnh, các yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh trong quần thể người rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên thế giới với mục đích cuối cùng là kiểm soát và ngăn chặn khả năng trao đổi tác nhân gây bệnh từ động vật (dơi) sang người [33, 147]
Tại Việt Nam, sự xuất hiện của dịch SARS năm 2003, cũng như sự lưu hành thường xuyên của bệnh dại, dịch hạch, viêm não đã cảnh báo nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng của các bệnh có khả năng lây truyền từ dơi Những đặc điểm về địa hình, địa lý, khí hậu, tập quán xã hội của nước ta cùng với các thông tin về phạm vi phân bố, sinh thái của dơi đã gợi ý khả năng dơi đóng vai trò ổ chứa tự nhiên của một số bệnh nhiễm trùng mới xuất hiện do căn nguyên virus tại Việt Nam [5, 6, 10]
Với mục đích tìm hiểu và đưa ra các thông tin chính xác về vai trò truyền bệnh của các loài dơi, góp phần định hướng các phương pháp phòng chống các bệnh nhiễm trùng do căn nguyên virus tại Việt Nam chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu sự lưu hành của một số virus gây bệnh cho người trên
dơi ở Việt Nam”
Với các mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định dấu vết kháng thể kháng các virus Nipah, SARS-CoV, Banna, Viêm não Nhật Bản, Chikungunya ở loài Dơi tại Việt Nam, 2006-2009
- Xác định khả năng phơi nhiễm các virus có vật chủ là loài dơi ở một số nhóm người có yếu tố liên quan về dịch tễ
Trang 14- Đột biến là nguyên nhân chủ yếu tạo ra các biến chủng mới
- Sự phá vỡ cân bằng sinh thái (phá rừng làm cho vật chủ chuyển đến vùng dân cư), di dân, làm cho virus chuyển từ cộng đồng nhỏ nơi hẻo lánh sang cộng đồng lớn, nơi đông đúc
- Lây truyền từ động vật sang người
1.1.1 Định nghĩa
Theo định nghĩa của WHO, bệnh có nguồn gốc từ động vật (zoonotic diseases) là một nhóm các bệnh truyền nhiễm được lây truyền tự nhiên giữa động vật có xương sống và người Người có thể bị phơi nhiễm các tác nhân gây bệnh từ động vật thông qua mối tương tác trực tiếp hoặc gián tiếp với động vật ốm, sản phẩm bài tiết hoặc môi trường nơi động vật sinh sống.Trong vài thập kỷ qua, trên 60% các tác nhân gây bệnh mới được ghi nhận có nguồn gốc từ động vật hoặc từ các sản phẩm của động vật Trong số đó 70% được ghi nhận có nguồn gốc từ động vật hoang dã [35, 103]
Tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng, vi khuẩn, nấm, virus hay một số tác nhân ngoại lai Hiện tại, các bệnh có nguồn gốc từ động vật đang được lưu tâm đặc biệt bởi vì đó là các bệnh đã không xác định được trong giai đoạn trước trong khi miễn dịch ở quần thể người bị thiếu hụt
1.1.2 Giả thuyết về sự xuất hiện và lây truyền bệnh
Trang 15Nguồn gốc của các bệnh lây truyền từ động vật sang người có thể xuất hiện từ thời kỳ tiền sử và trong suốt quá trình tiến hóa của loài người Các nghiên cứu cho rằng loài người trước đây sinh sống chủ yếu dựa vào săn bắn
và hái lượm, sống tập trung thành từng nhóm nhỏ gọi là các bộ lạc và rất ít tiếp xúc với các nhóm người khác Trong điều kiện đó, một loại bệnh xuất hiện trong nhóm, có thể lây truyền "hết lượt" các cá thể và sẽ không thể có cơ hội lây sang nhóm khác Để tồn tại, các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, nấm, hay virus sẽ phải là một tác nhân gây nhiễm mãn tính, có khả năng sống lâu trong cơ thể vật chủ hoặc phải tìm nơi cư trú mới cho bản thân mình để chờ
cơ hội tiếp theo và động vật hoang dã là mục tiêu của các tác nhân trên Tương tự, những vi sinh vật gây bệnh đang có mặt ở động vật hoang dã có điều kiện tiếp xúc, xâm nhập vào cơ thể người bằng nhiều con đường khác nhau, và con người trở thành đích cuối cùng (như bệnh dại, than, viêm não West- Nile và một số bệnh khác), nhưng cũng có khi người chỉ là vật trung gian mang mầm bệnh và mắc bệnh (SARS – CoV) [33, 35, 92]
Trên thực tế, việc lây truyền tác nhân gây bệnh từ động vật sang người gặp nhiều cản trở, đặc biệt đó là “rào cản loài” (species barrier) [93] được xác định dựa trên các sự khác biệt về di truyền, trao đổi chất…giữa các loài và đặc tính chuyên biệt của các tác nhân gây nhiễm Các tác nhân này phải thâm nhập vào cơ quan (tổ chức) đích, nhân lên và thích ứng vào một loài nào đó (không có “vũ khí” để tấn công loài khác) Tuy nhiên, có một số bệnh được xác định là có khả năng lây nhiễm cho nhiều loài với một số triệu chứng chung (bệnh cúm, bệnh dại, viêm não West Nile…) Ngoài ra, sự đa dạng của các tác nhân lây nhiễm (đặc biệt là virus) cho phép sự thích ứng của các tác nhân với nhiều loài mới HIV gây bệnh cho người là kết quả của sự đột biến của virus gây bệnh tương tự cho linh trưởng Sự “vượt qua rào cản loài” này
sẽ trở nên thuận lợi khi cơ hội tiếp xúc gần giữa người và động vật được tăng
Trang 16cường để đáp ứng nhu cầu thực phẩm hàng ngày cho sự phát triển nhanh của con người
Như vậy, yếu tố quan trọng đối với sự lây truyền của bệnh là sự tiếp xúc giữa con người với các động vật hoang dã trong những nơi họ tìm đến để săn bắn, hái lượm Nhiều nghiên cứu cho rằng hoạt động thâm canh trong trồng trọt và chăn nuôi cũng góp phần không nhỏ trong việc làm mất ổn định
và cân bằng của các ổ sinh thái, làm mất nơi cư trú của động vật hoang dã và bắt buộc chúng phải tiếp xúc với vật nuôi và với con người Sự thay đổi môi trường sinh thái diễn ra trong tự nhiên do tác động của con người đã làm tăng khả năng virus chuyển từ vật chủ này sang vật chủ khác, tạo cơ hội gây bệnh cho người Dịch viêm não ở Malaysia năm 1999 là do virus Nipah, một loại
virus thuộc họ Paramyxoviridae mà hoàn toàn không biết trước đó, gây ra
[79] Virus này ký sinh ở dơi, khi con người phá rừng làm đường cao tốc, dơi không còn nơi cư trú, đã bay đến đậu trên mái của chuồng lợn rồi lây bệnh cho lợn, sau đó nhiễm từ lợn sang người Như vậy chính con người đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các bệnh lây truyền này [30, 92]
1.1.3 Các bệnh lây truyền từ động vật
Theo y văn trên thế giới, những căn bệnh truyền nhiễm có liên quan đến bệnh của động vật được ghi nhận vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại Athens – Hy Lạp Từ đó đến nay, bệnh có nguồn gốc từ động vật ngày càng trở nên phổ biến và nguy hiểm hơn Ngày nay, quá trình lây truyền bệnh dịch
từ động vật sang người đã trở nên dễ dàng hơn, khi rào cản ngăn cách tự nhiên giữa con người và động vật bị phá hủy Con người đã chiếm chỗ cư ngụ của nhiều loại động vật hoang dã và các động vật giữa các vùng miền được vận chuyển khá tự do [27, 92, 109, 141]
Hiện tại, có khoảng trên 200 bệnh có liên quan đến bệnh của động vật
đã được xác định và đang lưu hành trên thế giới[45, 48, 89], các tác nhân bao
Trang 17gồm: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng…Một số bệnh do căn nguyên vi sinh vật thường được nhắc đến và gây quan ngại đến sức khỏe cộng đồng trên phạm vi toàn cầu được ghi nhận: dịch hạch, cúm, sốt xuất huyết Ebola, AIDS
thành phố của Việt Nam [4, 6, 11]
1.1.3.2 Bệnh dại
Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm được ghi nhận từ thời
cổ xưa, cách đây hơn 3000 năm Virus dại cũng gây dịch trên một số loài động vật: chó, mèo, dơi Chó nhiễm virus dại là nguồn lây nhiễm chủ yếu cho 98% bệnh nhân dại, và là nguy cơ đe dọa tính mạng trên 3,3 tỷ người [22, 142], chủ yếu tại các nước châu Á và châu Phi
Tại Việt Nam, theo thống kê chưa đầy đủ tại các TTYTDP trên toàn quốc, mỗi năm có từ 300.000 - 600.000 người bị súc vật cắn phải đi tiêm vắcxin phòng dại, đặc biệt có trên 500 người chết do lên cơn dại [1, 20]
Cùng với chó nuôi tại nhà, nhiều giống thú ăn thịt và dơi cũng có thể
lây truyền bệnh dại sang người Virus dại thuộc họ Rhabdoviridae, chi
Lyssavirus đã được phân lập từ nhiều loài dơi Năm 1930 ghi nhận tại Bắc
Mỹ, bệnh dại từ loài dơi hút máu lây truyền sang người Gần đây, đã có một
số trường hợp tử vong do nhiễm virus nhóm dại này xác nhận là Lyssavirus từ
dơi Úc hay Lyssavirus từ dơi châu Âu [44, 135]
Trang 181.1.3.3 Bệnh AIDS
Bệnh AIDS được Beatric Hahn [26] tại Đại học Alabama-Mỹ mô tả như một bệnh lây truyền từ động vật khi nghiên cứu 3 cá thể tinh tinh hoang dại châu Phi đông lạnh tại Trung tâm nghiên cứu Y sinh Quân Đội, Fort Detrik –Mỹ Các cá thể tinh tinh này đã được xác định dương tính với HIV năm 1985 Từ những kết quả nghiên cứu, Hahn đã xác định, một phân loài tinh tinh phổ biến tại châu Phi là vật chủ của virus tương tự HIV gây bệnh cho người [26] Các phân tích tiếp theo dựa trên “cây phả hệ” của các virus trên động vật linh trưởng đã chứng minh rằng HIV có nguồn gốc di truyền từ một virus của tinh tinh trong rừng rậm châu Phi Kết quả công bố vào năm 2000
và ngày nay bệnh AIDS đã lan rộng trên khắp thế giới với các con số thống kê: 42 triệu người trên thế giới nhiễm HIV trong đó 38.6 triệu người lớn (từ 15-49 tuổi), phụ nữ 19.2 triệu và 3.2 triệu trẻ em dưới 15 tuổi[137]
1.1.3.4 Bệnh sốt xuất huyết thể thận (hemorrhagic fever with renal
syndrome- HFRS)
Bệnh sốt xuất huyết thể thận (HFRS) được biết như sốt xuất huyết Hàn Quốc được ghi nhận lần đầu 1950, với trên 3000 trường hợp quân đội Liên hợp quốc được xác định nhiễm bệnh và tử vong khoảng 12% [39] Tác nhân
gây bệnh được xác định là virus Hanta thuộc họ Bunyaviridae, chi Hantavirus
có ổ chứa tự nhiên là chuột Virus được lan truyền thông qua chất thải của chuột, các loài gặm nhấm và có thể tồn tại trong môi trường nhiều năm Virus nhiễm mạn tính ở chuột và các loài gặm nhấm khác nhưng không biểu hiện triệu chứng và không gây bệnh Người nhiễm virus Hanta khi tiếp xúc trực tiếp với các chất thải của chuột, quá trình lây bệnh từ người mắc bệnh sang người lành chưa được ghi nhận Hiện tại sốt xuất huyết thể thận do virus Hanta vẫn được ghi nhận tại châu Á, Âu và Mỹ với khoảng 15.000 trường hợp mỗi năm [39, 99]
Trang 191.1.3.5 Bệnh sốt xuất huyết Ebola
Năm 1976, dịch sốt xuất huyết nguy hiểm đã xảy ra tại Zaire và Sudan với tổng số mắc được ghi nhận là 318 trường hợp, tử vong 88% Tác nhân gây bệnh không được xác định cho đến khi một vụ dịch khác xảy ra tại tỉnh Kikwit, Zaire năm 1995 với tổng số mắc là 315 trường hợp trong đó 244 trường hợp tử vong Virus Ebola đã được phân lập trên những mẫu bệnh phẩm năm 1995 và mẫu bệnh phẩm lưu giữ tại vụ dịch năm 1976 Virus
Ebola cũng như virus Marburg là thành viên của họ Filoviridae, chi Filovirus
Ổ chứa tự nhiên của virus Ebola hiện tại vẫn chưa được xác định chính xác, cho dù virus Ebola đã phân lập được trên các loài linh trưởng hoang dã tại châu Phi [58]
Tuy nhiên, giả thuyết về sự lây truyền virus từ khỉ hoặc các loài linh trưởng sang người vẫn được nhiều sự ủng hộ, người có thể nhiễm virus khi tiếp xúc với các dịch tiết, chất thải của động vật Sự lây truyền từ người sang người cũng được ghi nhận thông qua tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể (máu, nước tiểu, dịch nôn), những hạt dung khí, sol khí (aerosol) Hiện tại vắcxin phòng bệnh vẫn đang nghiên cứu phát triển, tuy nhiên các biện pháp phòng bệnh chủ động như: cách ly tuyệt đối bệnh nhân, sử dụng bảo hộ cá nhân, tiêu hủy bệnh phẩm, đồ dùng nhiễm bệnh…đã được WHO khuyến cáo thực hiện
để ngăn chặn lây truyền bệnh từ người sang người [136]
Ngoài ra, các bệnh viêm não do virus Hendra, Nipah, xảy ra tại các nước châu Á, châu Úc (Malaysia, Australia) hoặc bệnh dại, bệnh than, sốt mò, sốt lepto…là những bệnh đang lưu hành tại Việt Nam đã đưa ra các cảnh báo
về nguy cơ xuất hiện các bệnh nhiễm trùng “mới xuất hiện” (new emerging
infectious diseases) với nguy cơ tiềm tàng ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức
khỏe con người, tác động mạnh tới nền kinh tế cũng như xu hướng phát triển
của xã hội trong tương lai [27, 65, 67]
Trang 201.2 DƠI VÀ VAI TRÕ TRUYỀN BỆNH
1.2.1 Sinh thái, phân loại, phân bố về loài dơi
Dơi (Chiroptea) thuộc lớp thú hiện có mặt ở khắp nơi trên thế giới, trừ châu Nam Cực (hình 1.2), nhƣng tập trung chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới Bộ Dơi đứng thứ 2 sau bộ gặm nhấm (Rodentia), theo cây phát sinh chủng loại của Bộ dơi, đƣợc chia ra 2 phân Bộ: phân Bộ dơi lớn-
Megachiroptera, chỉ có 1 họ duy nhất là họ dơi quả - Pteropodidae; phân Bộ
dơi nhỏ - Microchiroptea, gồm 17 họ (hình 1.1) [33, 102, 116]
Hình 1.1 Cây phát sinh chủng loại của Bộ Dơi
(Nguồn: Science, 2005)
Trang 21Hình 1.2 Bản đồ phân bố dơi trên thế giới
(Chú thích: màu đỏ thể hiện sự có mặt của dơi)
(Nguồn: Hill và Smith, 1984)
Dơi thường cư trú tại tán cây, hốc cây, vách đá, các hang động, khe đá, kho tàng, tòa nhà cao tầng Nhiều loài dơi sống theo đàn lớn, một số loài sống thành nhóm nhỏ từ 3 đến 10 cá thể, rất ít loài dơi sống đơn lẻ [7] Dơi tiến hóa sớm, ít thay đổi (tính bảo tồn cao) so với các loài thú khác [116, 146]
1.2.2 Một số thông tin về khu hệ dơi của Việt Nam
Ở Việt Nam, khu hệ dơi đã bắt đầu được nghiên cứu từ thế kỷ XVIII Cho đến nay đã có gần 110 loài dơi thuộc 32 giống, 7 họ, 2 phân bộ (bảng 1.1) ghi nhận được ở Việt Nam [13, 17]
Trang 22Bảng 1.1 Hệ thống phân loại dơi trên thế giới và Việt Nam
STT
Tên khoa học Tên Việt Nam Thế giới Việt Nam
Giống Loài Giống Loài
BỘ DƠI- CHIROPTERA
Phân bộ dơi lớn- Megachiroptera
1 Pteropodidae Họ Dơi quả 42 186 7 13
Phân bộ dơi nhỏ- Microchiroptera
7 Rhinolophidae Họ Dơi lá mũi 1 77 1 18
8 Hipposideridae Họ Dơi nếp mũi 9 81 4 17
17 Vespertilionidae Họ Dơi muỗi 47 407 16 52
18 Molossidae Họ Dơi thò đuôi 16 100 1 1 Tổng cộng 202 1116 31 107
Một số họ dơi bao gồm Dơi quả - Pteropodidae, Dơi thò đuôi -
Molossidae, Phyllostomidae, và Dơi muỗi- Vespertilionidae có liên quan
nhiều tới một số virus gây bệnh ở người [33, 116] Có 3 trong số 4 họ dơi ghi nhận ở Việt Nam được nhắc đến như ổ chứa tự nhiên của một số virus gây
bệnh cho người Những họ dơi này đều có mặt ở hầu hết các tỉnh thành phố
thuộc Việt Nam [13, 17]
Trang 231.2.2.1 Họ Dơi quả- Pteropodidae
Dơi quả là một trong những họ có thành phần loài đa dạng và phong phú Với 186 loài hiện biết, chúng phân bố rộng khắp các vùng nhiệt đới của châu Âu, châu Á, châu Úc [76, 146] Hiện tại đã xác định được 13 loài (bảng 1.2) thuộc họ dơi này tại Việt Nam [13]
Bảng 1.2 Các loại dơi quả - Pteropodidae lưu hành ở Việt Nam
STT
Tên Phân bố Khoa học Việt Nam BB TB NB
1 Pteropus hypomelanus Dơi ngựa bé x x
2 Pteropus vampyrus Dơi ngựa lớn x x
3 Pteropus lylei Dơi ngựa Thái lan x
4 Rousettus leschenaulti Dơi cáo nâu x x x
5 Rousettus amplexicaudatus Dơi cáo xám x x
6 Cynoterus sphinx Dơi chó cánh dài x x x
7 Cynoterus brachyotis Dơi chó cánh ngắn x x x
8 Megaerops ecaudatus Dơi quả không đuôi bé x
9 Megaerops niphanae Dơi quả không đuôi lớn x x
10 Sphaerias blanfordi Dơi quả núi cao x x
11 Eonycteris spelaea Dơi quả lưỡi dài x x
12 Macroglossus minimus Dơi ăn mật hoa bé x
13 Macroglossus Sobrinus Dơi ăn mật hoa lớn x x x
Chú thích: BB: Bắc bộ; TB: Trung bộ; NB: Nam Bộ
Trang 24Hình 1.3 Rousettus leschenaulti - Dơi cáo nâu
(Nguồn: Chung-tong SHEK 2002)
Hình 1.4 Cynopterus sphinx- Dơi chó cánh dài
(Nguồn: Chung-tong SHEK, 2002)
Những loài dơi quả có kích thước lớn nhất, trọng lượng trung bình từ 100g-1000g tùy từng loài với sải cánh rộng từ 0,6m đến 1,7m Những loài dơi này có khả năng tiếp xúc gần gũi với người do tập tính ăn quả, mặt khác thịt của chúng có giá trị dinh dưỡng cao nên thường được con người sử dụng làm thức ăn, thuốc chữa bệnh tại một số khu vực Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam [16,46]
Trang 25Các loài dơi quả được coi là ổ chứa tự nhiên của nhiều loại virus có khả năng gây bệnh truyền nhiễm cho người như: nhóm Henipah, SARS- Corona, Ebola Các nhà khoa học đã tìm thấy sự lưu hành của những virus này trên
một số loài dơi quả như Pteropus vampyrus; Pteropus lylei; Pteropus
hypomelanus; Rousettus leschenaulti [51, 63, 76] Những loài này cũng được
xác định có mặt tại một số khu vực trên lãnh thổ Việt Nam
1.2.2.2 Họ Dơi muỗi – Vespertilionidae
Họ Dơi muỗi bao gồm những loài dơi cỡ nhỏ và cỡ trung bình trong số các loài dơi ăn sâu bọ Đây là họ dơi có số lượng loài lớn nhất và phân bố rộng khắp các lục địa, trừ hai cực của trái đất và một số đảo trên thế giới Trên thế giới đã có 407 loài thuộc 47 giống thuộc họ dơi này được phát hiện; trong
đó 53 loài thuộc 16 giống ghi nhận ở Việt Nam (bảng 1.3) [13] Đặc điểm đặc trưng của các loài trong họ dơi muỗi là phần mũi có cấu tạo đơn giản, không
có phần phụ và mắt rất nhỏ
Trang 26Bảng 1.3 Các loài dơi muỗi- Vespertilionidae lưu hành ở Việt Nam
STT Tên
Khoa học
Tên Việt Nam
Phân bố
BB TB NB
1 Myotis chinensis Dơi tai lớn x x
2 Myotis formosus Dơi tai đốm vàng x
3 Myotis siligorensis Dơi tai sọ cao x x
4 Myotis rosseti Dơi tai ngón lớn x
5 Myotis ater Dơi tai Nam á x x
6 Myotis mystacinus Dơi tai bụng trắng x
7 Myotis muricola Dơn tai chân nhỏ x x x
8 Myotis montivagus Dơi tai sọ lớn x
9 Myotis annectans Dơi tai mặt lông x
10 Myotis longipes Dơi tai diềm lông x
11 Myotis daubentoni Dơi ăn thuỷ sinh x x
12 Myotis horsfieldi Dơi tai cánh ngắn x x
13 Myotis hasselti Dơi tai Hát-xen x
14 Myotis adversus Dơi tai rậm lông x
15 Myotis ricketti Dơi tai chân dài x x
16 Myotis annamiticus Dơi tai Việt Nam x
17 Scotomanes ornatus Dơi đốm hoa x x
18 Scotophilus kuhli Dơi nâu x x x
19 Scotophilus heathi Dơi nghệ lớn x x x
20 Eptesicus serotinus Dơi nâu x
22 Tylonycteris pachypus Dơi chân đệm thịt x x x
23 Tylonycteris robustula Dơi rô-bút x x
24 Eudiscopus denticulus Dơi chai chân x
25 Pipistrellus ceylonicus Dơi muỗi Xây Lan x
26 Pipistrellus paterculus Dơi muỗi sọ nhỏ x x
27 Pipistrellus abramus Dơi muỗi sọ dẹt x x
28 Pipistrellus javanicus Dơi muỗi xám x x x
29 Pipistrellus coromandra Dơi muỗi nâu x x
Chú thích: BB: Bắc bộ; TB: Trung bộ; NB: Nam Bộ
Trang 27STT
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Phân bố
BB TB NB
30 Pipistrellus tenuis Dơi muỗi mắt x x x
31 Pipistrellus pulveratus Dơi răng cửa lớn x x
32 Pipistrellus cadornae Dơi vách mũi dài x x
33 Pipistrellus circumdatus Dơi muỗi đen x
34 Glischropus tylophus Dơi muỗi ngón lớn x
35 Nyctalus noctula Dơi ngón ngắn x
36 Hesperoptenus blanfordi Dơi răng cửa nhỏ x
37 Hesperoptenus tickelli Dơi răng cửa lớn x
38 Miniopterus schreibersi Dơi gập cánh dài x x
39 Miniopterus magnater Dơi cánh khiên x x
40 Miniopterus australis Dơi cánh dài bé x
41 Miniopterus pusillus Dơi cánh dài ni-cô-ba x x
42 Murina leucogaster Dơi mũi ống lớn x
43 Murina aurata Dơi mũi ống bé x
44 Murina tubinaris Dơi mũi ống lông chân x x
45 Murina huttoni Dơi mũi ống x
46 Murina cyclotis Dơi mũi ống tai tròn x x
47 Harpiocephalus harpia Dơi mũi ống cánh lông x x
48 Harpiocephalus mordax Dơi mũi ống sọ nhỏ x
49 Kerivoula picta Dơi mũi nhẵn đốm vàng x x
50 Kerivoula papllosa Dơi mũi nhẵn bé x x
51 Kerivoula hardwickei Dơi mũi nhẵn xám x x
52 Kerivoula flora Dơi mũi nhẵn lớn x
53 Arielulus aureocollaris Dơi muỗi cổ vàng x x
Chú thích: BB: Bắc bộ; TB: Trung bộ; NB: Nam Bộ
Trang 28Hình 1.5 Scotophilus kuhlii- Dơi nâu
(Nguồn: Chung-tong SHEK, 2002)
Nghiên cứu gần đây đã xác định một số loài trong họ dơi này có khả
năng truyền trực tiếp virus Dại hoặc giống dại (virus Lyssa) sang người tại
một số nước như châu Âu, Úc, Đông Nam Á (Thái Lan) Ngoài ra một số loài thuộc họ dơi này được cho là có khả năng tiềm tàng truyền virus viêm não
Nhật Bản sang người thông qua vectơ truyền bệnh là muỗi (Culex) [114, 129,
130]
1.2.2.3 Họ Dơi thò đuôi – Molossidae
Họ Dơi thò đuôi phân bố chủ yếu ở các nước thuộc vùng Đông Nam Á
và Ấn Độ Chúng thường ăn côn trùng (muỗi) Dơi thò đuôi sống chủ yếu trong các hang động lớn, mỗi đàn có từ khoảng vài trăm đến vài nghìn con và chỉ có một loài duy nhất thuộc họ dơi này Ở Việt Nam, loài dơi này phân bố chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc [13] Virus gây bệnh cho người tìm thấy
trong nhóm dơi này chủ yếu là virus Lyssa bao gồm một số genotype: virus dại (rabbies virus), virus dơi Lago (Lagos bat virus), virus Mokola Ngoài ra
một số tài liệu có đề cập đến sự hiện diện của virus gây viêm não St Louis trong loài Dơi thò đuôi [60, 133, 135]
Trang 29Hình 1.6 Chaerephon plicata – Dơi thò đuôi
(Nguồn: Henrik Brings)
1.2.3 Vai trò của loài dơi trong truyền bệnh
Trong số các bệnh nhiễm trùng mới xuất hiện có liên quan đến các bệnh động vật, phần lớn liên quan đến động vật hoang dã (71,8%) và tỷ lệ này vẫn tiếp tục tăng trong tương lai [78] Các tác nhân gây bệnh đã được xác định trong động vật móng guốc, động vật ăn thịt, động vật gặm nhấm, linh trưởng, dơi và một số loài động vật có vú khác Trong những năm gần đây, dơi được cảnh báo như ổ chứa tự nhiên, có khả năng vượt qua “rào cản loài” gây bệnh cho người, động vật nuôi, động vật hoang dại gây ra các bệnh nhiễm trùng mới Vai trò của dơi trong việc duy trì và phát tán của rất nhiều bệnh do căn
nguyên virus đã được ghi nhận bao gồm các virus thuộc nhóm Alphaviruses,
Trang 30loài linh trưởng [29,34] Sự liên quan giữa SARS-CoV; virus Dại gây bệnh
cho người và các virus Corona; virus gây bệnh dại ở một số loài dơi đặc trưng
cho thấy có sự đồng tiến hóa của một số loại virus trong vật chủ là dơi Theo giả thuyết, do tập quán sống thành bầy đàn lớn, nhiều loài trong cùng một khu vực địa lý, khả năng lây nhiễm chéo các virus trong một quần thể lớn các loài dơi có thể tạo ra những chủng virus mới, có khả năng vượt qua „rào cản loài‟ gây bệnh cho người thông qua vectơ, vật chủ trung gian [52, 92] Để kiểm soát các dịch bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện và tái xuất hiện lây truyền qua động vật đang có nguy cơ bùng phát hiện nay, việc tìm hiểu về ổ chứa tự nhiên, vật chủ khởi phát, vật chủ trung gian và những nhóm nguy cơ nhiễm bệnh cao là các hoạt động rất cần thiết
1.3 MỘT SỐ BỆNH NHIỄM TRÙNG MỚI XUẤT HIỆN LIÊN QUAN
ĐẾN DƠI
Các virus có khả năng truyền bệnh nhiễm trùng mới xuất hiện từ dơi
sang người được ghi nhận chủ yếu là các virus thuộc nhóm Dại, Henipah, SARS- CoV Các virus thuộc nhóm khác như Alpha, Flavi, Bunya, có thể
được truyền cho loài dơi thông qua côn trùng tiết túc, nhưng vai trò là ổ chứa
tự nhiên của loài dơi với các virus thuộc nhóm này vẫn chưa được khẳng
đến tử vong cho vật nuôi và con người
Hendra (HeV) được mô tả đầu tiên vào tháng 9 năm 1994 trong vụ dịch viêm đường hô hấp cấp ở ngựa ta ̣i Brisbane, Úc [75] Số trường hợp bị nhiễm được ghi nhận trong vụ dịch gồm 20 con ngựa và 2 người, trong đó 13 ngựa
Trang 31và 1 người được báo cáo là bị tử vong Việc giám sát động vật hoang dã đã
xác định loài dơi quả thuộc giống Pteropus (thường biết dưới tên Flying foxs)
là ổ chứa tự nhiên của virus Hendra (HeV) Người nhiễm bệnh do tiếp xúc
trực tiếp với ngựa nhiễm bệnh Kết quả này được khẳng định khi điều tra trường hợp bệnh nhân thứ 2 chết vì biến chứ ng viêm não do nhiễm HeV tại trang trại ngựa Mackay các h Brisbane, Úc 800km về phía Bắc vào tháng 8/1994 [63, 75] Việc điều tra d ịch tễ cho thấy , bệnh nhân khởi phát bệnh viêm màng não, sau khi tham gia khám nghiệm 2 con ngựa chết do viêm phổi
nă ̣ng vì nhiễm HeV
Tiếp theo, Nipah (NiV) được mô tả vào năm 1999 từ một vụ dịch lớn ở lợn và người ta ̣i bán đảo Penisular, Malaysia hơn 1 triệu con lợn bị tiêu hủy
để khống chế sự lây lan của dịch, trong 265 trường hợp người nhiễm bệnh được ghi nhận, 105 trường hợp tử vong [100] Đầu tháng 3 năm 1999, tác nhân gây bệnh được phân lập từ di ̣ch não tủy của bê ̣nh nhâ n viêm não và virus mới có tên là Nipah, gọi theo tên địa phương, được khẳng định là nguyên nhân của vu ̣ di ̣ ch Tiếp xúc trực tiếp với lợn bị ốm là đường nhiễm duy nhất cho người, một lần nữa dơi quả thuộc giống Pteropus (thường được
biết dưới tên Cáo bay- Flying foxs) được xác định là ổ chứa tự nhiên của virus
Nipah [77, 100]
Sự tái xuất hiện theo xu hướng mùa của virus NiV cũng được mô tả tại Banglades và Ấn Độ Việc nghiên cứu về các vụ dịch nhiễm virus Nipah tại Banglades cho thấy có một số điểm khác nhau đặc biệt so với ở Malaysia: tỷ
lệ tử vong cao hơn (70-90%), người nhiễm bệnh không có nhiều tiếp xúc trực tiếp với lợn ốm (hoặc các vật nuôi khác) mà lây nhiễm trực tiếp từ dơi sang người thông qua các thức ăn bị nhiễm (quả bị dơi ăn ), hiện tượng lây truyền
từ người sang người cũng được báo cáo [28, 40] Các nghiên cứu giám sát tiếp theo cũng xác định các minh chứng về sự lây truyền chéo của
Trang 32Henipavirus trong quần thể dơi quả thuộc giống Pteropus và các loài khác
liên quan phân bố trên toàn thế giới Gần đây, các kết quả nghiên cứu huyết thanh học cũng giúp các nhà nghiên cứu xác định các kháng thể trung hòa của
Henipavirus trong dơi lưu hành tại Trung Quốc và châu Phi [47, 123]
Các kết quả điều tra về huyết thanh ho ̣c cũng như các bằng chứng về virus học, dịch tễ học giúp các nhà khoa học đưa ra giả thuyết: loài dơi ăn quả
thuô ̣c giống Pteropus, phân bô ̣ Megachiroptera là vật chủ gố c, ổ chứa tự nhiên của Henipavirus (bao gồm cả virus Hendra và Nipah) [43]
1.3.1.2 Đặc điểm virus học
Phân tích trình tự gen M cho thấy virus thuộc chi Hennipavirus có liên quan đến nhóm Morbillivirus họ Paramyxoviridae Khi giải t rình tự hệ gen
virus phát hiện nhiều đặc điểm của HeV rất khác so vớ i ho ̣ Paramyxoviridae
và không có sự tương đồng so với cả 3 chi Morbillivirus, Respirovirus và
Rubulavirus Virus Nipah phân lập năm 1999, ban đầu ghi nh ận giống vớ i HeV khi kháng huyết thanh HeV (anti-HeV) có khả năng trung hòa NiV Kết quả trên gợi ý sự tương đồng rất cao về cấ u trúc gen và protein của NiV và
HeV Năm 2002, chi Henipavirus được công bố (hình 1.7), gồm 2 loại virus phân lâ ̣p được từ : người, ngựa, dơi và lợn trong vòng 10 năm gần đây ở khu vực châu Á, Tây Thái Bình Dương [43, 88]
Henipavirus có cấu trúc đa hình thái t ừ hình cầu đến hình s ợi, đườ ng kính nucleocapsid từ 18 đến 19nm, vật liệu di truyền là ARN sợi đơn (-) Khi quan sát bằng kính hiển vi điện tử , HeV có cấu trúc hai vòng khác thường ở lớp vỏ do có những cấu trúc lồi ở bề mă ̣t Khoảng 95% virion có cấu trúc 2 vòng tua và 5% có cấu trúc vòng tua bình thường với chiều dài 15 +/- 1nm và không giống vớ i virus Hendra, virus Nipah có 1 lớp cấu trúc lồi ở bề mă ̣t với chiều dài 17 +/- 1nm [42, 70]
Trang 33Hình 1.7 Phân nhóm Henipah dựa trên phân tích vật liệu di truyền
(Nguồn: Nature, 2003)
Tương tự, các virus thuộc họ phụ Paramyxovirinae, bộ gen của
Henipavirus được chia thành 6 đoạn protein trong đó có 3 đoạn protein tạo phức với ARN hệ gen (L, N, P) và 3 đoạn protein tham gia vào kết cấu vỏ (H,
M, F), tuy nhiên HeV và NiV có chiều dài bô ̣ gen lớn hơn và đo ạn protein H được thay thế là protein G (hình 1.8) Khi bô ̣ gen hoàn chỉnh của H eV được xác định, chiều dài là (18234 nucleotid) lớn hơn 2700 nucleotid (15%) so với
các virus họ Paramyxoviridae Kích thước bộ gen NiV từ 18246 nucleotid
đến 18352 nucleotid, lớn hơn so với HeV Protein N là chuỗi protein lớn nhất
trong cấu trúc hạt virus của nhóm Henipah, kích thước sấp xỉ 58 kDa và
protein tái tổ hợp N bộc lộ các vị trí kháng nguyên và nhận dạng kháng
Trang 34nguyên với kháng thể đặc hiệu Phân tích trình tự nucleotide gen N của virus Nipah cho thấy có sự đồng nhất ở cả người, lợn, mèo và chó [42, 117, 123]
Hình.1.8 Mô hình cấu trúc virion của virus Niv
(Nguồn: Swiss Institute of Bioinformatic)
1.3.1.3 Dịch tễ học truyền bệnh
Ổ chứa tự nhiên của Henipah là loài dơi , đặc biệt ở dơi quả -
Pteropodidae Các thử nghiệm huyết thanh cho thấy NiV phân tán rộng rãi
trong các loài dơi Pteropus ở Malaysia, đặc biệt là dơi quả Island (Pteropus
hypomelanus) và dơi qu ả Malayan (Pteropus vampyrus) NiV được phân lâ ̣p lần đầu từ nước tiểu của dơi qu ả Island và nước bo ̣t của các cá thể ăn quả khác và gần đây đã phân lập được từ dơi qu ả Lyle (Pteropus leyei) tại
Campuchia [68, 108] Dơi nhiễm HeV không có biểu hiện lâm sàng, trong khi
Trang 35ngựa sẽ biểu hiện suy hô hấp cấp và các triệu chứng về hệ thần kinh trung ương xuất hiện từ những ngày đầu của bệnh Phương thức lan truyền virus trong quần thể dơi vẫn chưa đư ợc giải thích rõ ràn g, tuy nhiên kháng thể kháng HeV được tìm thấy trong một số loài dơi quả lưu hành tại Queensland, nơi xuất hiện bệnh dịch năm 1994, ngoài ra, HeV còn phân lập được từ một loài dơi quả tại khu vực này không có sự khác biệt nhiều với các virus phân lập từ ngựa hoặc người [75, 77] Kết quả trên gợi ý một sự lây truyền virus từ dơi sang động vật (ngựa) thông qua thức ăn bị nhiễm nước tiểu, phân của dơi quả Những kết quả trên cũng ủng hộ cho giả thuyết về sự mang virus tự nhiên trong loài dơi quả và không có biểu hiện lâm sàng Sự nhiễm HeV trên ngựa tại Úc (1994) và nhiễm NiV trên lợn ta ̣i Malaysia (1998), được ghi nhận
là nguồn lây nhiễm đầu tiên của người [77, 100] Chưa tìm thấy bằng chứng virus lây truyền trực tiếp từ dơi sang người ta ̣i Úc hoặc Malaysia nhưng trong
vụ dịch ở Bangladesh dơi quả có thể đã truyền bệnh trực tiếp cho người [77, 134]
Sự lây truyền tác nhân virus từ vật nuôi (ngựa, lợn) sang người được xác định thông qua tiếp xúc trực tiếp gần với dịch tiết (nước mũi, nước bọt) của ngựa nhiễm bệnh (HeV) hoặc dịch tiết (mũi, họng ), nước tiểu của lợn nhiễm bệnh (NiV) Cho dù virus được phát hiện trong dịch tiết đường hô hấp, nước tiểu của bệnh nhân (NiV), nhưng chưa chứng minh được khả năng lây truyền từ người sang người của những virus này
Trang 36HKU1[91] Virus nhóm Corona được xếp vào nhóm các virus ôn hoà cùng với virus Rhino, tuy nhiên, một biến thể của virus này đã được nhắc đến trong
những năm gần đây đó là SARS-CoV(hình 1.9)
Hình 1.9 Phân nhóm Corona dựa trên phân tích vật liệu di truyền
(Nguồn: Nature, 2003)
Virus nhóm Corona được tập trung nghiên cứu kể từ khi dịch SARS- là
một loại bệnh xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới, 2003, WHO chính thức nhận được thông báo từ Trung Quốc về một vụ dịch viêm phổi nặng, nguy hiểm xảy ra tại tỉnh Quảng Đông tháng 11, 2002 [85, 122] Trường hợp nhiễm virus SARS-CoV ngoài Trung Quốc được ghi nhận tại Hồng Kông tháng 2/2003 Trong một thời gian ngắn (4 tháng) dịch SARS đã được ghi nhận xuất hiện tại 32 nước trên thế giới với 8422 trường hợp mắc trong đó có 916 trường hợp tử vong [139]
Tại Việt Nam, trường hơp nhiễm SARS-CoV đầu tiên được xác nhận vào ngày 26/2/2003, đó là thương gia Trung Quốc đến Việt Nam từ Hồng Kông Sau khi nhập viện (bệnh viện Việt –Pháp, Hà Nội), virus SARS-CoV
Trang 37từ bệnh nhân đã gây nhiễm cho các nhân viên y tế và bệnh nhân đang điều trị trong cùng bệnh viện Tổng số 63 trường hợp nhiễm và 5 trường hợp tử vong được ghi nhận tại Việt Nam trong vụ dịch SARS [2, 5] Hiện tại, SARS-CoV dường như không tái xuất hiện, nhưng dư âm của vụ dịch năm 2003 vẫn ám ảnh về mối nguy hiểm tới sức khoẻ cộng đồng cũng như những ảnh hưởng nặng nề tới kinh tế và xã hội trong phạm vi toàn cầu
1.3.2.2 Đặc điểm virus học
SARS-CoV thuộc họ Coronaviridae Coron theo tiếng La tinh có
nghĩa là vương miện Virus có hình cầu, đường kính từ 70-120 nm, vật liệu di truyền là ARN sợi đơn, (+), dài khoảng 30 kb, ở đầu 3‟ có gắn đuôi poly A (hình 1.10) Virus được bao bọc bởi vỏ lipoprotein hình thành trong quá trình nảy chồi của virus từ màng nội bào [42, 105]
Hệ gen bao gồm 5 gen trong đó một gen mã hoá cho các polymeraza (Pol) và 4 gen mã hoá cho 4 protein cấu trúc: gen gai (spike - S), gen vỏ (envelop - E), gen màng (membrane - M) và nucleocapsid (N) (hình 1.10) Các gen được xắp xếp theo thứ tự: 5‟ - Pol - S – E - M – N – 3‟ Protein S và
N được xem là đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào Vùng N là một protein với độ dài 422 aa, mặc dù trình tự aa
tương đồng ở protein N của SARS – CoV với virus Corona trên người là rất
thấp: giữa SARS- CoV và HCoV- OC43 là 32,7%, giữa SARS- CoV và HCoV- 229E là 21,3%, nhưng lại có trình tự bảo tồn cao (FYYLGTGP) xảy
ra ở ½ đầu N của tất cả các protein N virus nhóm Corona [42]
Kích thước ARN của virus SARS-CoV ngắn hơn so với các virus khác
cùng họ Coronaviridae khoảng 5 kb, sự thiếu hụt một lượng nucleotid mã
hoá cho một số enzyme chức năng trong vật liệu di truyền có thể là nguyên nhân làm cho độc tính của SARS-CoV biến đổi [38, 42]
Trang 38Người là ổ chứa và nguồn bệnh chính trong chuỗi mắt xích lây truyền
từ người sang người của virus SARS-CoV Nguồn gốc của virus nguy hiểm này vẫn chưa được xác định, tuy nhiên, gần đây một số nghiên cứu đã đưa ra
giả thuyết virus Corona gây bệnh SARS có nguồn gốc từ động vật hoang dã
như cầy hương, chó lông trúc, dơi nhưng đã bị biến đổi gen làm tăng tính độc
[38, 98] Tại Hồng Kông, các nhà khoa học đã phân lập được virus Corona từ
nước bọt và phân của cầy hương, các virus này có trình tự gen tương đồng
99% với SARS- CoV Tương tự, tại Trung Quốc, một nhóm virus Corona giống với SARS- CoV đã phân lập được từ các loài dơi lá mũi (Rhinolophus
Trang 39spp), trình tự hệ gen tương đồng 88-92% và virus này được gọi là SARS kiểu CoV Các nghiên cứu tiếp theo khẳng định SARS- kiểu CoV phân lập từ dơi là
hậu duệ của virus SARS- CoV cổ và hầu hết loài này mang virus SARS kiểu
CoV lại không bị bệnh Giờ đây, loài dơi lá mũi ở Trung Quốc được cho là ổ
chứa tự nhiên của loại virus này bởi vì đã tìm thấy một tỷ lệ đáng kể loài dơi mang virus SARS – CoV trước đó [94, 98, 122]
1.3.3 Nhóm Coltivirus
1.3.3.1 Đặc điểm chung
Virus Banna thuộc nhóm Coltivirus lần đầu tiên phân lập được từ bệnh
nhân có triệu chứng viêm não năm 1987 ở Xishuang Banna tỉnh Yunnan, Trung Quốc, năm 1992 Sau đó phân lập được thêm 2 chủng virus này từ bệnh nhân vùng Mengding cũng thuộc tỉnh Yunnan Ngoài ra cũng phân lập được virus này từ mẫu muỗi thu thập ở vùng Mending và Lancang, tỉnh Yunnan, Hainan, Gansu, Beijing và Shenyang, Trung Quốc Năm 1987, phân lập được tổng số 16 mẫu virus Banna từ 53 mẫu huyết thanh gia cầm, lợn ở Xishuang Banna tỉnh Yunnan [61, 62, 126]
Tại Việt Nam đã có những báo cáo ban đầu về virus Banna vào năm
2002, đã phân lập được virus này từ những mẫu muỗi Culex ở Hà Tây, Quảng
Bình Tuy nhiên các kết quả giám sát huyết thanh học cũng như phân lập virus trên người vẫn chưa có báo cáo [124]
Trang 4072-này có 7 protein cấu trúc bao gồm: VP1, VP2, VP3, VP4, VP8, VP9 và VP10 trong đó có 5 protein là cấu trúc lõi, VP9 và VP4 là những protein cấu trúc màng[61, 62, 83]
Hình 1.11 Mô hình cấu trúc hạt virion của virus Banna, nhóm Coltivirus
(Nguồn: Swiss Institute of Bioinformatic)
1.3.3.3 Dịch tễ học truyền bệnh
Nghiên cứu tại vụ dịch ở Yunnan Trung Quốc năm 1987 cho thấy
nhóm virus Colti đã được phát hiện ở nhóm gia cầm và động vật nuôi trong
nhà Do vậy vật chủ của virus Banna có thể là động vật có vú như lợn Các
nhà khoa học cũng cho rằng vectơ truyền bệnh của virus nhóm Seadornavirus
là muỗi Culex vishnui, Culex fuscocephalus, Anopheles vagus, virus nhiễm
vào lợn thông qua tuyến nước bọt khi hút máu Muỗi có chứa virus đốt người
sẽ truyền virus qua tuyến nước bọt và trở thành vật chủ mang virus [61, 126]