1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu một số chỉ số sinh lý và hóa sinh của cư dân các tỉnh duyên hải miền Trung tiếp xúc với hóa chất trừ sâu lân hữu cơ : Luận án TS. Sinh lý động vật: 1 05 16

165 42 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 24,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phàn loại mức độ nhiễm độc HCTS cùa công nhân phun HCTS bằng máy phun dựa trên hoạt tính ChE trong máu Hoạt tính ChE trong máu ờ các bệnh nhân bị nhiễm độc năng và ngộ độc cấp HCTS được

Trang 1

TRẦN THỊViỌC AN

NGHIÊN CỨU MỘT s ố CHỈ s ố SINH LÝ VÀ HÓA SINH CỦA CU DÂN CÁC TỈNH DUYÊN

CHẤT TRỪ SÂU LÂN HỮU c o

CHUYÊN NGÀNH: SINH LÝ ĐỘNG VẬT

MÀ SỐ: 1 05.16

LUẬN ÁN TIẾN Sỉ SINH HỌC

H A NỘI - 2006

Trang 2

IRAN THỊN<;<)(/ AN

HÒA SINH CỦA Cư DÂN CÁC TỈNH DUYÊN HẢI

TRỪ SÂU LÂN HỮU c ơ

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của liêng tôi.Các sô liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

'TT* / _ • ’

Tác giá

Trần Thị Na,ọc An

Trang 4

CHUƠNG I TỔNG QU/.N TÀI LIỆU

1.1 Tmh hình sử dụng và nhiễm độc hóa chất trừ sâu ở Việt nam

1.2 Độc tính cùa hóa chất trừ sâu

1.2 ỉ Các con đường xâm nhập vào cư thê của hóa chất trừ sâu

1.2.2 Các biêu hiện nhiễm độc hóa chất trừ sâu

1.3 Ảnh hưởng của hóa chất trừ sâu lên các hệ cơ quan

1.3.1 Ảnh hưởng của HCTS lên hệ thần kinh

1.3.2 Ảnh hướng lèn hệ tuần hoàn

1.3.3 Anh hướng ỉẽ hệ hô hấp

1.3.4 Ảnh hường lên hệ sinh dục

1.3.5 Anh hưởng của HCTS lè hệ miễn dịch, hệ gen, các tuyến

nội và ngoại tiết1.3.6 HCTS gây nguy cơ ung thư

1.4 Ảnh hướng của HCTS lên chức nãng gan, thận và các chí số huyết học1.4.1 Ảnh hướng của HCTvS lên cấu trúc của gan, thận và các chi số

ỉ 5.1 Đối với nhiễm độc HCTS lãn hữu cơ

1.5.2 Đối với nhiễm độc clo hữu cơ

2.1 Địa điểm nghiên cứu

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu trên người

2.2.2 Nghiên cứu trên động vật

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3 ỉ Đo lượng HCTS trong không khí

2.3.2 Đo lượng HCTS trê da

2.3.3 Đo các chi sô hóa iih cùa những cư thể tiếp xúc với HCTS

Trang 5

2.3.8 Định lượng ACE 52

3.1 Môi trường lao động của những người tiếp xúc với HCTS ở 10 tinh miền

3.1.2 Nồng độ HCTS trong không khí vùng thở và trên da người

3.2.1 Tinh hình bệnh tật của những người tiếp xúc HCTS tại

3.3.1 Ảnh hướng HCTS lẳn hữu cơ lên hoạt tính ChE ờ các đôi tượng

3.3.3 Ảnh hường của HCTS lân hữu cơ lẻn hoạt tính CHE của công nhân

3.3.4 Thay đổi hoạt tính ChE ở các trường hợp nhiễm độc nặng và ngộ độc

3.3.5 Sự phục hồi hoạt tính ChE ờ những người ngừng tiếp xúc

3.4.1 Ảnh hướne của HCTS lên một sỏ chi sổ đánh aiá chức

Trang 6

nhiễm độc 84

3.4.5 Anh hường cúa HCTS lên hormon sinh dục LH (Luteonizing Hormone)

FSH (Foliculate Stimulating Hormone) Testosteron và tinh dịch đổ của

3.6 Mối liên quan giữa hoạt tính ChE và hàm lượng HCTS trong nước tiêu ờ cơ thế

4.2.1 Ảnh hưỡng của HCTS lên các chỉ sô' hóa sinh liên quan đến

DANH MỤC CÁC CÔNG TÌNH CỦA TÁC GIẢ

Trang 7

chuột (mg/Kg)

chất trừ sâu, đồng ruộng và nông trường 10 tỉnh Duyôn hải Miổn Trung từ Quảng Bình đến Binh Thuận vào mùa nắmg

kho phân xưởng sản xuất và nơi phun hoá chất trừ sâu

hoá chất trừ sầu ở Miển Trung

xúc với hoá chất trừ sâu tại các tỉnh Miền Trung

người tiếp xúc với hoá chất trừ sâu tại các tỉnh Miền Trung

Trang 8

Phàn loại mức độ nhiễm độc HCTS cùa công nhân phun

HCTS bằng máy phun dựa trên hoạt tính ChE trong máu

Hoạt tính ChE trong máu ờ các bệnh nhân bị nhiễm độc

năng và ngộ độc cấp HCTS được điều trị tại các bệnh viện

ở Miền Trung

Sự thay đổi hoạt tính ChE trong máu cùa những người tự tử

bằng HCTS theo thời gian điều trị

Sự tự phục hổi hoạt tính ChE (jimol acetylcholin/40jilmáu /15'/

37l,C) trong máu theo thời gian ngừng tiếp xúc với HCTS ở

những người phun HCTS bằng bình phun tay

Tỷ lệ % SỐ người có hoạt tính ChE binh thường nhưng còn

các triệu chứng lâm sàng nhiễm độc HCTS

Hàm lượng SGOT, SGPT, GGT trong máu nhữno người bị

nhiễm độc HCTS (n = 271)

Phân loại giá trị các chỉ số SGOT, SGPT, GGT của những

người nhiễm độc năng và ngộ độc cấp HCTS theo các mức

khác nhau

Kết quả xét nghiôm viôm gan siôu vi A, B và c ờ những

người tiếp xúc với HCTS có SC.OT, SGPT, CiGT > 100

Ư /l

Hàm lượng PAL và bilirubin ờ những người nhiễm độc vừa

các chi số PAL bilirubin toàn phần, bilirubin trực tiếp ờ

những người nhiễm độc HCTS vừa và nặng (11-602)

Trang 9

Hàm lượng ure, creatinin trong huyết thanh, nước tiểu, và

hệ số thanh lọc creatinin của thận ở ngưừi bị nhiễm độc

HCTS vừa và năng

Tỷ lệ % và giá trị các trị số ure, creatinin, hệ sô' thanh lọc

creatinin của thận ở những người nhiễm độc HCTS vừa và

nặng chia theo mức độ khác nhau

Tỷ lô người có albumin và căn lắng trong nước tiểu bình

thường và bệnh lý trong số 43 người tiếp xúc với HCTS có

chức nâng thận suy giảm

Hàm lượng đường niêu và đường máu ờ những người tiếp

xúc với HCTS

Các chì số huyết học cùa 602 người bị nhiễm HCTS

(n=602)

Tỷ lộ (%) người bị nhiễm độc HCTS ờ mức độ bình thường

và bất thường của các chỉ số huyết học (n=602)

Thời gian máu chảy, máu đổng của những người nhiễm

Trang 10

102

Tỷ lệ số người bị nhiễm độc vừa và nặng có biến động các

chỉ số sinh lý theo hướng bệnh lý

Hàm lượng LH, FSH và testosteron ừ những người bị

ĩ loạt tính ChE (UI/l) ờ trẻ sơ sinh có mẹ bị nhiễm HCTS

Hoạt tính ChE (UI/1) cuả thỏ con có mẹ bị nhiễm HCTS

Hoạt tính ChE của những người tiếp xúc với HCTS không

nước chanh (mỗi nhóm 30 người)

Hoạt tính ChE (ƯI/1) cuả thỏ chứng và thỏ được uống

vitamin c liểu lOmg/kg/ngày khi tiếp xúc với wolfatox

5mg/m3 không khí

Hàm lượng paranitrophenol trong nước tiểu và hoạt tính

ChE trong máu thỏ uống parathion mỗi lần 0,2g/kg/2 lẩn

cách nhau 4 giờ (n=20)

Trang 11

\1Ỏ ĐẨU

Nham nâng cao năng suát và bảo vệ cây trỏng tránh sự phá hoại của côn trùnư gâv bệnh, rất nhiều loại hoá chất trừ sâu đã được sứ dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ớ Việt Nam Hoá chất trừ sâu (HCTS) còn được đùng để ngăn chạn và tiêu diệt các vectư truyền bệnh nhơ sốt xuất huyết, sốt rét dịch hạch, viêm não Nhật Bán, Ngoài ra việc nsirời ta sử dụng HCTS đè háo quân lương thực, thực phẩm dã gây không ít nguv hiếm đén tính mạng và sức khoe người tiêu dùng, làm cho mỏi trường bị ô nhiễm, ánh hưởng đủn hệ sinh thái Ảnh hướng của HCTS đồn sức khoe người sử dụng và cộng đổng đã được quan tâm nghiên cứu ớ Việt Nam trong thời gian qua 'lại miển Bắc các tác già Nguyễn Duy Bảo Bùi Vãn ích Nguyễn Quang Thọ và cộng sự ị 1, 20, 31]

đã đánh giá tình hình ỏ nhiễm mòi trường, không khi' và sức khoẻ con người

do sir (lụng hoá chất báo vệ thực vật irong nóng nghiệp Nguyễn Thu Ngọc Diệp Trần Bích Ngọc [4] đã kháo sát dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong một sỗ loại rau ớ trung lâm và vùng ven Thành phò Hổ Chí Minh Riêng khu vực miền Trung chưa được nghiên cứu kỹ

Ngày nay các nghiên cứu về ảnh hương của HCTS lên các chức năng của cơ thế ngày càng nhiều [1.4, 14 20 22 31 32, 38, 41] Cùng với sự phát triẽn của khoa học kỹ thuật, níiùnh nông nghiệp cũng phát triển với nhiều loại cây trổng và nhiều chúng loại HCTS đã được sử dụng rộng rãi, việc quản lý các hoá chất bảo vệ thực vật trớ nên phức tạp và còn nhiều bất cập, đã ánh hướng đón môi trường sòng và sức khoé cộng dỏng

Mạt khác trong quá trinh sử dụng líCTS, do chưa nãrn vừng về kỹ thuật

sứ dụng và độc tính của nó đối với con người và môi trường, đã gày nhiều trường hợp nhiễm độc cấp và mạn tính và một số trường hợp đira đén tử vong [5 8 9 | I im hiếu ánh hướng cùa HCTS lên các chi sô sinh lý hóa sinh cùa

Trang 12

cứa ỉ ICTS.

kiện kinh tế thố nhưỡng không (lược thiên nhiên ƯII đãi là những yếu tố bát lợi tác động lên mức độ nhiễm độc HCTS, do đó, sau một thời gian tiếp xúc với HCTS một sỏ' người đã bị nhiẻm độc nặng phái điều trị Đè góp phán đám bào an toàn cho mỏi trường và sức khỏe khi tiếp xúc với HCTS, việc nghiên cứu tìm hiếu ành hướng của HCTS lên sức khoe cũa ne ười tiếp xúc với HCTS

là nhiộm vụ cấp bách Xuất phát từ những yOu cầu, nhiệm vụ trên và trong phạm vi hoạt động của Viện Pasteur Nha Trang từ Quảng Bình đến Bình 'ỈTiuủn, chúng tỏi thấy cần thiết tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của HCTS lân hữu cơ lén các chỉ số sinh lý, hóa sinh của cư dân miền Trung trong điểu kiện kinh tê và tiểu vùng khí hậu cụ ihế ở đây Trên cơ sớ những kết quà thu dược sẽ góp phần đề ra biện pháp phòng chống hữu hiệu sự ngộ độc cấp tính

và mạn tính HCTS nhàm bảo vệ sức khóe cho những người tiếp xúc với HCTS, cho cộng đổng và cho các thê hệ mai sau

Mục tiêu cùa luận án là : đánh giá vi mỏi trường, tinh hình bào hộ lao động, sự hiến đổi các chí sô sinh lý, hóa sinh của những người tiếp xúc nghề nghiệp với HCTS ở các tỉnh miên Trung Việt Nam, (lồng ihời nêu các biện pháp hạn chế tác hại cùa HCTS I0n cơ thế bị nhiẻm độc

Đc đạt mục tièu này, cần giải quyết mộc sô nhiệm vụ sau:

1 Nghiên cứu các yếu tô vi inôi trường và tình hình bảo hộ lao động cho những người tiêp xúc nghề nghiệp với HCTvS ớ các tỉnh miền Trung Việt Nam

2 Tim hiểu ánh hướng của HCTS lên một sổ chi số sinh lý, hóa sinh, đánh giá chức nâng gan thận, hệ máu tuân hoàn, hô hấp thán kinh, miễn dịch ớ người tiếp xúc

Trang 13

3 Tim biện pháp khả thi để hạn chế tác hại của HCTS cho những người

bị nhiễm độc cấp và mạn tính HCTS

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình sứ dụng và nhiẻm độc hoá chất trừ sau ở Việt Nam.

Theo điều tra cùa Phạm Cổng Hội năm 1991 [14] và Bùi Văn ích năm

1992 [20] thì từ nám 1975 đến 1989 các cơ sở gia công HCTS của Việt Nam

có khá năng cung ứng cho nhu cẩu trong nước khoáng 10.000 đen 20.000 tấn được gia cổng chê biên từ 30() đến 4.000 tấn nguyên liệu nhập khẩu [15] Từ nãm 1990 đến nay, ngoài sò lượng IICTvS sân xuất trong nước, la còn nhập HCTS từ nhiều nưóc trên trên thê giới [15, 2 9 1 với số lượng hàng năm như sau:

1991 nhập 12.800 tấn với giá trị 22,5 triệu USD

1993 nhập 10.000 tán với giá trị 15 triệu USD

1997 nhập 37.000 tấn với giá trị 65 triệu U SD

2000 nhập 112.000 tấn với giá trị 258 triệu USD

Theo thông kê của Bộ Nône Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 1991 các loại ỈỈCTS clo hữu cơ bị cám sử dụng như DDT, 666 còn Lindan và Thiođan chí còn được sử dụng với số lượng rất hạn chế Các loại lân hữu cơ như metaphos háu như khỏng còn trên thị trường do độc tính cao và thay vào

đó là các hóa chất mới ít độc như nhóm pyrethroit, carbamat, trebon, (theo [16]) Theo Nguyền Quang Thọ năm 2000 nhu cầu sử dụng HCTS lăng lôn

2 đôn 3 lán (nám 1995 trung hình 0,425 kg/ha, năm 20CX) trung hình 6 kg/ha) [31] Hiện nay, tại Viột Nam lưu hành khoảng Ỉ00 loại HCTS Như vậy, việc đùng HCTS trong vùng nông, lâm nghiệp và y tê là khá phổ bièn nhằm hạn chế sự gâv hại của côn trùng đế háo vệ cây trồng, tăng năng suất và bảo vệ sức

thuật và an toàn khi sứ dụng ỉ ICỈ S [17 117Ị nhắm tránh sự nhiẻm độc HCTSánh hưứng đến sức khoé ntiười tiếp xúc và môi trường sỏna

Trang 15

Nhữníỉ nám gán đây tình hình nhiễm độc HCTS ớ nước ta đã cliẻn ra ở mức đáng lo ngại và trên một diện rộng Sự nhiễm độc HCTS đã lan rộng ra ngoài vùng nông nghiệp, ngay trong các khu cóng nghiệp và trong các thành phô do ăn phái rau, quá có sử dụng HCTS quá tiêu chuẩn cho phép [4, 13) Vì lợi nhuận kinh tế, người trồng rau đã thu hoạch rau liền ngav sau khi phun thuốc, thậm chí còn ngâm các loại rau quả vào HCTS để rau quả được đẹp hơn nên đã gây nhiều vụ ngộ dộc dẩn đến tử vong [4 29ị Các trường hợp ngộ độc

và tử vong do HCTS ở Việt Nam, trong vài chục năm gần đây được trình bày trên bảng 1.1

Bảng 1.1 Tình hình nhiẻm độc hoá chất trừ sâu ở Việt Nam

4899

í 38)

Trang 16

1.2.Độc tín h của hoá chất trừ sâu.

Ngoài tác dụne, diệt côn trùng m ạnh, HCTS có độc tính cao đới với người và gia súc, gia cầm, dễ gâv nhiểm độc cấp tính và dẫn đến tử vong HCTS gíìy nhiễm độc khỏng những qua đường tiêu hoá mà còn

trực tiếp với HCTS Có những loại HCTS rất dễ phân huỷ trong môi trường như loại lân hữu cơ, còn loại chlor hữu cơ tồn tại trong đất lâu dài, tích luỹ trong cư thể người và súc vật [55, 111) Một số HCTS còn nhiễm vào thực phẩm, vì vậy biện pháp đề phòng cần chú ý không phải chỉ là phòng nhiễm vào cơ thể một lượng lớn trong một lần, gây nhiễm độc cấp tính, mà phải phòng việc nhiễm từng lượng nhỏ trong nhiểu lần do thực phẩm và nguồn nước bị ô nhiễm [4, 13, 32, 35]

Không phải các HCTS có độc tính như nhau đối với người và súc vật, mà độc tính được xác định theo liểu gây chết 50% số động vật thí nghiệm trong vòng 14 ngày, ký hiệu là LD50 (Dose Lethal 50%) HCTS lân hữu cơ LD50 < 50mg/kg thể trọng là loại có độc tính cao nguy hiểm nhất cho người như: Parathion, Nevinphos, Demeton, [122] Phẩn lớn những trường hợp nhiễm độc cấp tính chết người là do tiếp xúc với các HCTS trôn đây Nhóm HCTS có LD50 = 50 - 500mg/kg thể trọng là nhóm độc vừa như Diazinon, Baytex Nhóm ít độc hơn ià nhóm HCTS lân hữu cơ có LD50 > 500ing/kg gồm Malathion, Menizon Hai nhóm này được sử dụng Iihiểu hơn [101, 111] HCTS lân hữu cơ được hấp thụ nhanh chóng vào cơ thể qua niêm mạc đường tiêu hoá, hô hấp và qua da, sau đó xâm nhập hộ thốn^ tim mạch và các cơquan khác Ớ gan HCTS được chuyển hoá thành hợp chất khác có độc tính mạnh hơn, thường là do hiện tượng oxv hoá, ví dụ ở gan parathion bị oxy hoá thành paraoxon có độc tính mạnh hơn parathion [94, 101] Những HCTS ít nguy hiểm hưn là những chất có tác dụng làu dài đối với côn Irùng, nhung lại

bị phá huỷ ngay trong cơ thê động vật máu nóng và người HCTS và các sản phàm phán giãi được đào thài ra khỏi cơ Ihể qua thận, nhừ vậy có thể chẩn

Trang 17

đoán nhiễm độc liCTS bàng sự hiện diện của chúng trong nước tiếu Ví dụ chán đoán nhiễm độc parathion bàng cách định lượng paranitrophenol trong nước liêu [74],

1.2.1 ( ’ác con đường xâm nhập vào cư thê cíía hóa chát írừ sâu.

-Qua da :

IIC1S thấm qua da vào cơ thể do tiếp xúc trực tiếp trong khi làm việc mà không có dụng cụ bao hộ lao động Chỗ da bị tiếp xúc với HCTvS sẽ phản ứng

đỏ và có nhữnt! not sần sùi rất cỉỗ nhầm lẩn với bệnh eczema [84] Khi nhiệt

độ lăng cao, cơ thể tiết ra nhiều mồ hổi, do trong mồ hòi có lipid, hoà tan nhanh HCTS làn hữu cơ giúp chứng được háp thụ dẻ dàng qua da vào các mao mạch và thâm vào máu để đi khắp cơ Ihê [83J Sự thấm nhiễm qua da thường xuyên cũng dễ gây nên nhiễm độc mạn tính, đổng thời nơi da bị dính HCTS cũng tạo nén những tốn thưcmg tại chỗ rát lâu khỏi, mặc dù đã ngưng tiếp xúc với HCTS [96]

-Qua dường tiêu h ó a

I i d ’s nhiẻm qua dường liêu hoá có the do ăn uống nhầm HCTS, do uống

ỉ ICTS tự tử do hút thuốc lá trơng khi đang tiếp xúc với HCTS mà không rửa tay sạch, hoặc do thực phẩm, rau quá có dư lượng HCTS quá mức cho phép [4

13, 32] Các HCTS thấm qua tế bào biếu mô vào mao trạng ruột và sau đó về gan đế chuyên hoá và phân tán đi kháp cơ thế [82]

-Qua đường hò hấp j

HCTS vào đường hò hâp do hú khòng khí bị ỏ nhiễm HCTS Trong không khí HCTS ở dưới dạng khí dung, các hạt nhỏ li ti sẽ được đưa đẻ dàng vào phổi Phổi có điện tích tiếp xúc lớn do cấu tạo bỡi nhiều phê nang, nên ỈICTS hảp thụ vào máu một cách dẻ dàng, sau đó về gan sẽ dược chuyến hoá thành chất khác và theo máu lưu thòng đi kháp cơ thế [79 82]

Tuy ỉ ICTS vào cư thế bàng các đường khác nhau, nhtrnu cuối cùng dược

chuyến hóa ờ gan và phân tán đi kháp cơ thế

Trang 18

1.2.2 Các biếu hiịMi nhiềnì độc hoá chát trừ sáu.

Các HCTS lán hữu cơ là một trong nhữnti nhỏm HCTS được sản xuất sớm nhất Các hợp chất lủn hĩai cơ tan mạnh trong dung mỏi hữu cơ, trong lipid, ít tan trong nước, ít ổn định, phán huv nhanh trong đất và trong cây trồng [I22| Tất cá các hơp chất lân hữu cơ có tác dụng ức chế hoạt tính enzym eholinesterase (Chí.:), làm ứ đọng acetvlcholin gảv độc cho cơ thể

Ị 114 Ị Đôi với cơ thế, độc tính tuy thuộc từng loại HCTS luỳ thuộc nồng độ của chúng, và một sô yêu tò khác Jacque Descotes [54], Francais Testud [ 120 Ị thuộc bệnh viện Edouard Herricot Lyon Pháp đã phán loại các HCTS dựa trên LDSt) của chúng bằng dường uổng như sau:

Bâng 1.2 Phàn loại HCTS theo độ nguy hiểm LI)*, chuột (mg/kg).

Trang 19

Đói với người, độc tính thay đổi tuỳ loại làn hĩru cơ LDsu=3(X)mg/kg thủ’ trọng đối với parathion 25g/kg với Dia/.inon và 60g/kg với Malathion Dựa trên mức độ nhiễm độc và hoạt tính ChH, Jacques Descotes Ị54 Ị đã đưa ra các triệu chứng nhiễm độc như sau:

- Nhiẻm độc nhẹ: nhức đáu mệt mói, sút cán khó ngủ ãn không ngon, khó chịu, hoa mát

- Nhiễm độc vừa: buồn nôn cháy nước bọt, nước mắt, đố mồ hôi đau bụng, nôn mửa ròi loạn nhịp thứ và các triệu chứng thán kinh nhu rối loạn tinh thán, co cơ trơn, tim đập chậm, hạ huyết áp, co thát phê quàn gđy khó thở

- Nhiẻm độc nâng: khi hoạt tính ChE giâm đến 80% các triệu chứng nhiẻm độc vừa nói trên táng dần, tiêu chảy, rối loạn trí nhớ bloc tim tăng đường huyết, liệt cơ, nhát là cư hô hấp, gây khó thớ, hôn mê dản đến tử vong

Trang 20

EÌác co đỏng tử khó thớ, rối loạn thủn kinh trung ương và chức nàng vận dộng Nêu xâm nhập qua da sẽ xuát hiện co giật, ở nơi tiếp xúc có tiị ứng da giống eczem a, nhtrng triệu chứng ròi loạn thần kinh trung Ương không nghiêm trọng Nêu xâm nhiỊp theo đường tiêu hoá sẽ gây nôn co thắt ruột và tiêu chày [35 9 2 Ị Như vậy, nhiễm độc cấp tính HCTS gây nên nhừng rối loạn giông như nhiễm độc nấm m uscarin và nhiễm độc nicotin.

• Triệu chứng nhiẻm độc m uscarin hay còn gọi là cường phó giao cảm v

Bao gồm các triệu chứníỉ buồn nôn, mật tái đổ mổ hôi, chàv nước mát, sùi bọt mép, cơ bụng co cứng, nỏn mửa co đổng tử nhịp tim chậm, huyết áp giám, tiết dịch kèm co thát phê quản dẫn tới cơn khó thở dạng hen giống triệu chứng lâm sàng của phù phổi cấp [35 59Ị

• Triệu chứng nhiễm độc nicotỉn 0

Gồm co giật, co cứng cơ rói liệt cơ và nhanh chóng lan đến cơ hỏ hấp nhịp tim nhanh, răng huyết áp và xuất hiện các dấu hiệu tổn thương thần kinh trung ương như nhức đáu chóng mặt lẫn lộn và cuối cùng dần đến hôn mê [35,93 103]

Một triệu chứng nhiễm độc khác ỡ những người bị nhiễm độc HCTS có thê gặp là rối loạn tiêu hoá và chuyển hoá [119] làm cơ the sút cán và mệt mỏi Trong trường hợp này rất khó chẩn đoán

Nhiều cồng trình nghiên cứu còn cho thấy HCTS đã ành hưởng đến hệ thông các tuyên tiêu hoá [106ị làm rối loạn tiết dịch tiêu hoá [60 123 Ị gây tiêu chảy với triệu chứng giống bệnh nhiễm trùng ị 124]

1.2.2.2 Nhiẻm độc mạn tính.

Nhiễm dộc mạn lính HCTS lân hữu cơ ihirờne xây ra ớ những công nhân sán xuất, pha chẽ và những người phun l KTS trong nông, lâm nghiệp do phái tièp XÚC thirờnỵ xuyên với í ÍCTS Nhiềm (lộc mạn tính còn có thê do tiêu thụ

Trang 21

giác nặng đấu giâm trí nhớ, ăn không ngon, mất ngũ Ở một số trường hợp có rối loạn ỉiiiềi thần và trí tuệ mờ mắt, run tay và một sổ triệu chứng thần kinh khác giống như viêm ihần kinh ị35, 73, 89 92 93, 100].

Có nhiéu tác giá cho ràng HCTS lân hữu cơ phản huỷ nhanh chóng trong mòi trường cũng như trong cơ thể nên khó có khả nâng gây ní*n nhiễm độc mạn tính [39] Tuy nhiên trên thực tế, tiếp xúc nhiều lần liên tục với HCTS do nghé nghiệp, làm cho ChE giám nhanh hơn hồi phục, HCTS được tích luỹ irong cơ thè làm giám hoạt tính ChE liên tục sây nên các triệu chứng nhiễm độc không nặne nhưng kéo dài Các công trình nghièn cứu của Viện Y học Lao dộng đã kháng định điều đó [35] Qua điều tra nghiên cứu trên 128 công nhân phun HCTS lân hữu cơ của một số nổng trường ở miền Bấc các lác giả nhận thấy các triệu chứng thường gặp là nhức đầu (59,2%), mất ngủ (34,3%), trí nhớ giảm sút (16,4%), chóng mặt, choáng váng (10,9%), rối loạn thán kinh thực vật (37,5%), sẩn ngứa ( 11,7%) và giảm hoạt tính ChE [13, 35]

1.2.2.3 Cư chè nhiẻm độc.

Các HCTS lân hữu cơ vào cơ thể theo 3 đường: đường tiếp xúc qua da dường hô hấp và đường tiêu hoá Sau khi vào cơ thế sẽ đến gan, ớ đó chúng được chuyòn hóa thành chất có độc tính tăng lôn gấp nhiều lán so với chất han đáu và được đưa vào máu, ức chế hoạt tính ChE làm ứ đọng acetylcholin, gủy suy hó hấp, suy luđn hoàn, rối loạn quá trình chuyển hoá do thiếu oxy trầm trọng irong các mỏ của cơ thể [8 1 ]

'ITieo Prank C.Lu và cộng sự ị 1011 thì mức đô nhạy cảm với HCTS lân hữu cơ tuỳ thuộc vào tuổi của người tiếp xúc, những người lớn tuổi và trẻ em

có mức độ nhạy câm cao và sự bài tiết của thận kém nên dề bị nhiễm độc hơn nhữnti nẹười ire khoe

Trang 22

một phán phân tử oxy bị hoà tan trong nước, phẩn khác xăm nhập vào tế bào[42] Trường hợp tế bào bị phá hủy do nhiễm độc HCTS, các lưới nội bào tương bị chia ra nhiều mảnh nhỏ và nhiểu microsom làm cho hoạt động của enzym bị thay đổi gây ảnh hưởng đến các phản ứng oxy hoá khử trong các chu trình chuyển hóa Đó là một phần cơ chế của sự nhiễm độc tế bào được chứng minh bới Hodgson và Dauteman (theo f 101]) Cơ chê nhiễm độc HCTS lân hữu cơ quan trọng nhất vẫn là sự ứ đọng acetylcholin Acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh, sau khi hoàn thành nhiệm vụ acetylcholin sẽ được enzym Cholinesterase thuỷ phân thành Cholin và acid acetic, nếu không được phán giải acetylcholin sẽ là chất độc cho cơ thể [109].

Cholinesterase

(chát trung gian)

Acẽtyl e n z y m - ► acid acetic

Các HCTS sẽ được biến đổi ở gan, nhờ các enzym trong lưới nội nguyên sinh, sự biến đổi này còn xảy ra ở các mô khác như da, tế bào lympho trong máu lưu thông, thân, phổi, nhau thai [122] Ngoài ra còn có một vài phản ứng biến đổi phụ thuộc vào sự xúc tác của các enzym ngoài tế bào,

Sự chuyên đổi các HCTS trong cơ thể dựa trên:

- Sự xúc tác của enzym trong microsom

- Sự xúc tác của enzym không phải từ microsom

- Do phán ứng sinh tổng hợp

Ví dụ : Parathion khi vào cơ thê được biến đổi thành paraoxon, chất này ngăn cản sự hình thành Acetylcholinesterase, làm ứ đọng acetylcholin và

Trang 23

gây độc cho cơ thổ [ 122] Có thể tóm tắt cơ chế này như sau:

Sự ức chế hoại tính ChE của HCTS lân hữu cơ đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu [52, 72, 90], Tuy nhiôn vai trò và hoạt tính cùa pseudochoỉinesterase và các esterase khác trong cơ thê vẫn chưa được biết đến Hiện nay người ta coi sự có mặt của pseudocholinesterase trong huyết thanh như một bằng chứng về sự hiện diộn của HCTS lAn hữu cơ.[ 112, 118] Hode;e và Strener ( theo [122]) dựa vào giá trị LD50 cho rằng HCTS lân hữu cơ thuộc loại có độc tính cao theo đường tiêu hoá (LD5Ù <50mg/kg)

Cơ chế thám nhiễm HCTS theo dường tiêu hoá

Các HCTS được hấp thu qua các nhung mao màng nháv ruột có đường kính khoảng 4A° Sự khuếch tán các chất qua màng tế bào được thực hiộn theo

cơ chc di chuyển giông các phân tử hoà tan như ure, methanol [92] Sự di chuyển này tuỳ thuộc vào gradient nồng độ và bị giới hạn khi trọng lượng phân từ > 500 Sự khuếch tán này trở nên dỗ dàng khi HCTS gắn với phân tử protein vận chuyển hoặc qua đường thực bào [114] Các HCTS sau khi qua miộng xuống dạ dày, theo quy luật nói trên những loại có pH acid yêú sẽ được hấp thụ dễ dàng dưới dạng không ion hoá bửi vì acid của dạ dày là acid mạnh Theo Brodie và Hagben (theo [92]), nếu HCTS có tính acid yếu sẽ được hấp thu mạnh ở dạ đày, còn nếu ngược lại sẽ không được hấp thu 0 ruột cơ chê hấp thu cũng giốn^ ở dạ dày nhưng, vì khổng có acid, nên nếu HCTS có tính quá acid hoặc quá kiềm cũng không được hấp thu ( Iheo [92J) Lưu lượng máu

Trang 24

cũng là nguvên nhân làm tăng hav giảm sự hấp thu Roel và cộng sự ( theo [81]) cho rằng sự hấp thu qua đường tiêu hoá chủ yèu là dạng bụi liếp xúc trực tiếp vào tay và vào miệng, nếu ăn uống và hút thuốc sau khi tiếp xúc với HCTS mà không lửa tay, hoặc thức ăn, nước uống bị nhiễm HCTS cũng là đường chính dẫn đến sự ni»ộ độc qua đường tiêu hóa [4, 13, 35, 94], Uống lẩm thuốc và uống HCTS tự tử là những trường hợp đặc biệt.

Cơ chê Ihấm nhiễm HCTS qua dường hô hấp

Sự thấm nhiễm HCTS qua đường hô hấp cũng rất quan trọng, do bề mặt các phê nang của phổi có diện tích lớn (vào khoảng BOrrr) Không khí phế nang và máu Irong mao mạch phổi chỉ cách nhau bởi một màng mỏng khoảng 0,2 - 0,5 Ịiirụ do đó sự hấp thu HCTS qua Ihành phế nang vào máu diễn ra dễ dàng, và nhanh chóng [50] Tính độc càng tăng khi phối hợp Iihiều loại HCTS với nhau [101]

Cơ chê thấm nhiễm HCTS qua da

Ở các nước chậm phát triển, HCTS thường thấm qua da do tiếp xúc trực tiếp với HCTS mà không có găng tav và quần áo bảo hộ lao động đúng qui cách Chúng Ihấm vào da qua hai đường chính là đường qua tế bào biểu bì và đường qua lỗ chân lông [110] Thấm qua tẻ bào biểu bì không nhanh chóng bằng thấm qua lỗ chân lông, tuyến mổ hôi và tuyến nhờn Sự thấm nhiễm qua

da nhanh hav chậm tuỳ thuộc vào trọng lượng phân tử và mức độ ion hoá của HCTS, tuỳ thuộc vào dung môi hoà tan, nồng độ HCTS và diện tích da tiếp xúc Lớp tầng thượng bì là hàng rào chắn sự thãm nhiễm HCTS qua da Nhiệt

độ và pH của da và sự lưu thông, máu ngoại vi cũng ảnh hưởng đến mức độ thủm nhiễm Sự gán các HCTS vào các protein của tế bào biểu mô đóng vai trò quan trọng trong việc phát (riển của bệnh eczema nơi da bị tiếp xúc với HCTS [II, 122] Juehau ( theo [82]) đã khảo sát và đưa ra nhạn xét rằng các HCTS tan trong lipid được hấp thụ rất nhanh chóng qua da vì mànc tế bào biểu bì là màng lipoid Hàng rào máu não và hệ thống nhau thai là hai hàng

Trang 25

cơ có nồng độ cao có thê gây ngộ độc toàn thân Các HCTvS sau khi thấm nhiễm vào cư thể sẽ chuyển hoá và thải ra ngoài qua đường bài tiết nước tiểu,

mổ hôi, mật, khí thỏ ra, lông, móng tay, nước bọt và các dịch tiết khác như dịch tiêu hoá [82]

Ngoài ra HCTS còn gây tác hại tại chỗ như làm tổn thương tế bào da, tế bào ổng tiêu hoá, tế bào đường hô hấp Kết quả của sự nhiễm độc là lan rộng

đi kh ắp CƯ thể đến các CƯ qu an như gan, thận, hệ thần kinh, hệ sinh sản, hộ miễn dịch và hộ gen [81J

Tác dụng độc của HCTS lên cơ thể theo hai chiều, chiều thuận nghịch và chiểu không thuận nghịch Chiểu thuận nghịch là những ảnh hưởng sẽ biến mất sau khi cơ thể loại bỏ chất độc bằng nhiều cách như đùng thuốc điểu trị, tránh xa nguồn gây nhiễm độc giảm ảnh hưửng của HCTS lên enzym chơlinesterase Còn những ảnh hưởng không thuận nghịch là sự nhiễm độc không phục hồi được như ung thư, đột biến gen, xơ gan, huv hoại tế bào thần kinh [101] Ảnh hưởng thuận nghịch khi mức độ nhiễm độc nhẹ với nồng độ thấp và thời gian tiếp xúc với HCTS ngắn, rtgưựe lại nhiễm độc không thuận nghịch khi thời gian nhiễm độc kéo dài hoặc nồng độ HCTS quá cao [122]

Sự nhiẽm độc liên quan với nhiều yếu lô tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Tim hiểu các yếu tố tác động để có thể hạn chế là cách làm giảm sự ngộ độc HCTS Nổng độ HCTS trong môi trường chung quanh người tiếp xúc cũng ảnh hưởng rất lớn đến mức độ nhiễm độc Do đó việc xác định nồng độ HCTS trong không khí, trong thực phẩm, trong máu, trong nước tiểu là rất cần thiết í 101, 122] Nghiên cứu sự tổn thương sinh học và biến đổi các chỉ số sinh lý bằng cách khám sức khoẻ tổng quát và xét nghiệm định kỳ là rất cần thiết trong việc phònẹ chống ngộ độc HCTS [37 89]

1.3 Ảnh hưởng cùa hóa chất trừ sau lén các hẹ cơ quan.

Trang 26

1.3.1 Ảnh hướng cùa HCTS lén hệ thán kinh

Triệu chứnti đầu tiên của nhiẻm độc 1ỈCI S là các rồi loạn cùa hệ thđn kinh do sự ứ dọng acetylcholin [52, 58], vì aceiylcholin sau khi đèn màng sau synap sẽ dược enzym choiinesterase thuý phân thành cholin và acid acetic không độc HCTS làn hữu cơ có khả năng làm mất hoại tính thủy phân của enzvm cholinesterase Do đó sự táng cường và kco dài tác dụng của acetycholin lên các synap thán kinh sẽ giiy rối loạn chức năng của hệ thần kinh [109Ị vì vậy nhiẻm độc làn hữu cơ ỉà nhiễm độc acetylcholin nội sinh [56 57Ị HCTS lân hữu cơ đề tan trong lipid nên nó nhanh chóng xâm nhập vào svnap thần kinh trung ương và ngoại vi, gây rối loạn hoạt động của cơ vàn, gây rung cơ và liệt cơ nguy hiểm nhất là liệt cơ hô hấp và đây ià một trong những nguyên nhân dẩn đến tử vong [35, 49, 54] Tabcrshavv và Cooper (theo 1122]) cho biết rỏi loạn hoặc giám trí nhớ kéo dài trên 6 tháng chiếm 38% trong số 114 người được nghiên cứu Ảnh hưởng của HCTS đối với thần kinh rất nhanh chóng Nghiên cứu irên công nhân trổng rau tiếp xúc với mevinphos và phosphamidon sau vài giờ đã thấy có triệu chứng mệt mỏi, mờ mắt, chóng mặt buồn nôn nhức đầu nin lay chân, phài đến hai hoặc ba tháng sau mới mất hắn các triệu chứng trên , nếu nặng hơn thì bị choáng váng, động kinh, rối loạn trí nhớ và suy hô hấp [122Ị

Các I ICTS thường gây rối loạn hoạt động phản xạ có điều kiện như phản

xạ vận động tự vệ có điều kiện và phàn xạ mớ lộ [71 96J Trong irường hợp ăn nhấm hoặc uống HCTS tự tử hoặc sau thời gian dài nhiễm độc mạn tính chỉ cần tiếp xúc với mộỉ lượng nhỏ HCTS cũng có the bị ngộ độc cấp [35] Nhiễm độc cấp thè hiện ở hai mức độ vừa và nặng Nhiẻm độc cấp nặng thường biểu hiện bàng đau đấu dữ dội khỏne nhận biết rõ ràng, chóng mặt, co giật và cuối cùng hỏn mò dần đến lử vong, trong trường hợp nhẹ hơn biếu hiện thần kinh không rõ rà ne [104 106 118 ] Theo Paul Padovani và Robert Miranda

Ị 119] thì lất cà các 1ICTS đều eâv ròi loạn chức nãnu của hệ thẩn kinh

Trang 27

Trường hựp nhẹ rất khó phân biệt với các bệnh khác vì triệu chứng không rõ ràng, do đó tốt nhất phải định lượng acetylcholinesterase trone máu [74].

Hoạt lính điên não bị biến đổi khi cơ thể bị nhiễm các HCTS là tăng biên (tộ các sóng nhanh và giảm biên độ sóng chậm [33Ị Nhiổu công trình nghiên cứu ( theo [68]) cho (hây khi bị nhiễm lân hữu cơ, điện não đổ bị rối loạn và xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như đau đáu, chóng mặt và rối loạn giấc ngủ (theo[33J) MỘI số tác giả cho biết các HCTS làm biến đổi mạnh hoạt động thần kinh cấp cao và có tác dụng làm cường hệ M-cholin, sau đó cường

hệ N-choỉin, làm tim đập chậm rồi lại đập nhanh [35, 124], HCTS lân hữu cơ cũng làm ảnh hưởng đốn sóng điện não, điổu này đã được chứng minh khi cho động vật Ihí nghiệm uống HCTS lân hữu cơ, thấy có sự biến đổi bất bìrh thường của điộn não đồ [122]

Thí nghiệm Irên Ihỏ bị nhiễm HCTS, Vũ Thị Trâm [33] cho thấy điện não

đổ động vật bị nhiễm HCTS có sự lảng thành phẩn các sóng delta và tela; sóng alpha và bêta biến đổi không đáng kể , các HCTS gây rối loạn hoạt động thần kinh cấp cao, kéo dài thời gian hình thành phàn xạ vận động dinh dưỡng có điểu kiện [33, 122]

Jean Davis Rawn [108] nghiên cứu trên chó và chuột cống cho thấy HCTS ngoài tác dụng lên receptor N-cholin và M-cholin, còn tác dụng lên receptor M2 - choi in Có sự phát hiộn thú vị là khi trong nước tiểu có paranitrophenol , người bị nhiễm độc HCTS bị nhức đầu, nghĩa là khi tiếp xúc với HCTS lân hữu cơ mà bị nhức đẩu thì xét nghiệm sẽ tìm thấy paranitrophénol Irong nước tiểu [122]

Nhiều nhà nghiên cứu [71, 122] dùng kính hiển vi điện tử nghiên cứu các sợi thần kinh và quan sát thấy sự thay đổi ở Iihững sựi thần kinh có myelin

trục tế bào thần kinh ngoại biên, liên kết với màng sợi trục cho ra phức chất oxon - màng sợi trục Các chất tham gia phản ứng là protein, lipid và các

Trang 28

en/ym cùa màn 12 chúng làm nhiễm độc thản kinh vận động gãy nén co giật, liệt và đưa đến tứ vone ị82 88J v ề phương diện sinh lý học điện não được coi là chỉ sò có độ Ún cậy cao trong phát hiện nhiễm độc HCTS Nhiéu tác già [S1 82] cho thấy HCTS có tác dụng ức chê hoạt tính điện của các tế bào não, quá trình ức chế xay ra ớ cả các cấu trúc nàm sâu dưới vó não như thè’ lưới, vùng dưới đói Nếu liếp xúc dài ngày với HCTS sẽ thấy rõ ánh hướng ức chế của nó đôi với hệ thần kinh, nó làm tăng thành phan sóng chậm và giảm thành phấn sóng nhanh, lang thành phần sóng chậm cùng nghĩa với tăng ức chê các

ngoại vi, HCTS gây ức chế đản truyền xung động qua synap vì HCTS làm mất tác dụng của acetylcholin tại synap thán kinh cơ [5, 70 102]

1.3.2 Ảnh hưưng lén hệ tuần hoàn

Khi bị nhiễm độc cấp HCTS, triệu chứng phát hiện dễ dàng nhất ỉà tăng huyết áp rồi sau đó huyết áp giảm mạnh trước khi tử vong, rối loạn nhịp tim tim co bóp mạnh làm tùng huvêt áp, VI HCTS gây rối loạn hoạt động của các trung khu điểu hoà tuần hoàn, gây triệu chứng giống bệnh nghẽn mạch [35

12 3 Ị Điện tim cũng là một chi sô sinh lý dược các nhà nghiên cứu quan tâm khi khảo sát ảnh hưởng cùa HCTS [101 122Ị Trong trường hợp nhiễm độc mạn tính HCTS không có những biến đổi rõ ràng trong hoạt tính điện của tim chí có giao động nhỏ ở vài thời điểm, nhưng vẫn nằm trong giới hạn bình thường [33, 119] Trong trường hợp nhiễm độc cấp 1ỈCTS thì những hiểu hiện rối loạn nhịp tim thể hiện rất rỏ trên điện tâm đổ, thỉnh thoảng có những cơn

co thát cơ tim và hoạt động của van tim cũng bị ảnh hưởng 1104, 107, 123].Theo Peter Viccellio [71] trên điện lâm đổ, đoạn vST và sóng T bất thường QT kéo dài, rối loạn hoạt độnc điều khiển tim của hệ thán kinh thực vật làm tim độp không đều giám lưu lượng tim và lưu lượng mạch vành, bloc nhĩ thất, ức ché trung tâm vận mạch, gây trụy mạch và ctưa đèn lử vong [43 MỊ

Trang 29

1.3.3 Anh hướng lẽn hệ hỏ hấp

Ảnh hirớng của 1 KTS lẽn hệ hô hấp là do sự rối loạn chức năng điều hoà ciia ihan kinh phó giao cám làm tăng tiết dịch ớ phê quàn, co ihál cơ trơn phê quán, gây khó thớ giâm thông khí hô hấp nếu nặng cổ thế bị liệt cơ hô hâp và đưa đến tử vong [35, 98 ị

Sự xâm nhập HCTS vào đường hò hâp có ihê được xcm như liếp xúc trực liếp vì sỏ lượng các phế nang rát nhiều nên diện tích tiếp xúc với HCTS của phổi rát lớn (khoảng 8()m: ) đổng thời khoảng cách giữa máu trong mao mạch

và khí ớ phế nang rất nhó dã tạo điều kiện thuận lợi cho các hạt li ti HCTS trong không khí hàp thụ một cách dẻ dàng để vào máu Nếu hàm lượng HCTS trong khône khí thớ cao có thế gây phàn ứng tại chỗ như viêm loét mô phổi và

co giật lụi chỗ giống như tiếp xúc trực tiếp qua da [I01J Trong pha nicotin của nhiễm độc cấp tinh HCTS do tác dụng lên hệ N-cholin, gây co cơ trưn phê quàn và liệt cơ dẫn đến suy hô hấp nếu không cứu chữa kịp thời sẽ dẫn đến tử vong [35 122] HCTS cũng táng tiết dịch trong phế quản và trong phổi gây nên phù phổi, khó thớ íàm tế bào các mỏ và não thiếu oxy, cơ thể tím tái và rối loạn hô hấp, phải cấp cứu nhản tạo ngay bảng tay trước khi dùng thuòc và đặt ông khí quan hô hấp hỏ trợ dồng thời hút các chất dịch tràn ngập trong phê quản Ị 35, 124J HCTS lân hữu cơ còn có lác dụng lỏn cơ quan khứu giác ở mũi Qua nghiên cứu của trường Đại học Washington (theo [106Ị) thấy có sự nhạy cảm lâu dài với mùi HCTS đôi khi còn dị ứng với mùi HCTS khiến người

ta không thè tiếp xúc với ỉ ỈCTS lần nữa và cũng như với một vài loại hoá chất khác Mộl lác dụng khác cùa HCTS lên hệ hô hấp là co thắt phế quản dạng hen suyễn mà một vài lác giả đã nghĩ đến có the do cơ chế dị ứng HCTS, và

1.3.4 Anh hướng lẽn hệ sinh dục

Vơoecđ và cộne sự thí nghiệm trẽn chuột cống trons thời gian hai nám trong vùng khòng khí có hơi đichlorvos 5 míỉ/tn' khóne k h í thấy những con

Trang 30

chuột này giảm khả năng sinh sản ( theo [ 122]).

Tiền Giang cho thấy, trong số 149 phụ nữ làm mộng có tiếp xúc với HCTS, có

4 ca bị sẩy thai, chiếm 2,6%, ở Cần Thư 6 thủ kho HCTS là nữ có 1 thủ kho của trạm hoá chất bào vệ thực vật huyện Thốt Nốt bị sẩy thai Ở Khánh Hoà qua điều tra trên 406 phụ nữ tiếp xúc với HCTS tác giả thấy có 20 người sẩy thai I lần chiếm 4,92%, sẩy thai 2 lần là 3 người, chiếm 0,7% Ở Thừa Thiên Huế tác giả thấy trong sỏ 18 phụ nữ tiếp xúc với HCTS có I phụ nữ bị sẩy thai Như vậy trên 4 tỉnh được điều tra cho thấy trong sô 579 phụ nữ tiếp xúc với HCTS có 29 ngưừi bị sẩy thai, chiếm 3.97% Điều nẩy chứng tỏ HCTS đã ành hưởng đến thai nghén, HCTS có thể xuyên qua rau thai và tác dụng lên thai nhi HCTS còn tác động lên các tiiyến sinh dục, nhất là tuyến siiih dục nữ làm giảm sự tiết oestrogen, gây rối loạn kinh nguyệt [83]

Nhiều tác giả ( theo[l 15]) đã nghiên cứu tác dụng độc hại của HCTS lên loài hài cẩu ử bờ biên Miami bang Florida Hoa Kỳ cho thấy HCTS đã làm tổn thương tuyến sinh dục, gâv rối loạn sinh sản Nhiều công trình thử nghiệm trôn chó với HCTS [70 83 86, 1 16] cho thấy HCTS ảnh hưởng đến chức năng sinh sản do không đù lượng hormon sinh dục Deichmann và cộng sự quan sát những người làm việc với HCTS thấy có sự rối loạn chức năng hệ sinh dục, kinh nguyệt không đều ở phụ nữ và yếu sinh lý ở nam giới (theo [ 122])

Cùng ý tưởng trên, nhóm nghiên cứu của Heinricks và cộng sự đã tiêm dichlorvos cho chuột đang mang thai, thấy thai bị chết và sau đó chuột vô sinh hoàn toàn (theo [122]) Theo OMS [116] nếu chuột đực đang thời kỳ sung sức uống dichlorvos liều tối đa 25mg / kg thể trọng trong 4 ngày thấy có rối loạn

rõ ràn^ chức nâng sinh dục Sau đó nhiều tác giả [86, 122] đã nghiên cứu trôn chuột cho tiếp xiíc với hơi dichỉorvos 5mg / m' không khí trong hai năm

(theo [122]) trong một điều tru dịch tễ học những người tiếị) xúc với HCTS

Trang 31

thấy có sự bất bình thường các honnon Í SI1 LH, testostcron vù cũng có bất hình thường trong xét nghiệm tinh đồ với tang tỉ lệ tinh Irùng dị dạng và ui ám nhẹ sỏ lượng tinh trùng trong Im m ’ cũng như thê tích tinh dịch trong mội lẩn xuất tinh.

1.3.5 Ảnh hưưng của HCTS lên hệ miẻn dịch, hẹ gen, các tuyên nội

và ngoại t iế t

Trong công trình nghiên cứu trẽn những người liếp xúc với HCTS Worthing [85] cho ràng HCTS đã làm suy giâm miễn dịch khi thí nghiệm trên chuột lang, làm chuột dễ mắc các bệnh dịch và giảm trọng lượng cơ thè Khi nghiên cứu trên một nhổm người trồng trọt có tiếp xúc với HCTS bàng các xét nghiệm hoá sinh học, độc chất học và sinh học phân tử, Wagner [78] đã phát

và các tế bào bất thường gây ung thư Hiện nay đã có phương pháp thi' nghiệm nhanh đó phát hiện các tế bào gốc gâv ung thư và mất đoạn ADN do HCTS gày nỏn [78] Tuy vản còn chưa biết rõ cơ chế gâv ung thư của HCTS, người ta cho ràng ung thư có thó do di truyền hoặc do tác động của các vếu tô bẽn ngoài trực tiếp lên tẻ bào làm cho tê bào phân chia và phát triển mạnh thành những khôi II Littlefield và cộng sự (theo[ 1011) đã thí nghiệm trên 24.000 con chuội cho tiếp xúc với HCTS trong một thời gian dài nhimg cũng chưa xác định được liều ngưỡng gây ung thư cùa HCTS Street và Sharma quan sát trên những người tiếp xúc với MCTS và với động vật thí nghiệm gây nhiỗm HCTS qua da thấy có sự suy giảm miẻn dịch và có nguy cơ ung thư (theo [60])

Nguy cơ une thư được Weil và cộng sự thí nghiệm lại trên chuột với DDT và trcn chó với Aldrin, cho thấy điéu đó là khảng định (theo [101J)

Casida đã làm một thí nghiệm khác với o méthvlphosphat và phosphanat trên chuột đã tìm thấy 7-méthyl guanin trong nước tiêu do guanin của ADN bị rnéthyl hoá và cho ra 7-méthvl guanin và đó là cơ chê để giải thích hiện urợng

Trang 32

biến dị gcn của ỉ ỈCTS làn hữu cơ (theo [1011).

Các 11CTS tác động làm tăng hoạt động cùa các tuyên như tuycn nước bọt, tuyên mổ hôi tuyên lộ tuyên vên, tuvến thượng thân, tuyến giáp, làm tàng tiết dịch và rối loạn tiết niệu [43, 79 94, 98J

Ngoài ra ánh hướng lâu dài của nhiẻm độc HCTS lân hữu cơ còn làm tổn thương và suy yếu các tế bào cơ do các cơ bị kích thích quá mức và bị tổn thương Các chất trong tế bào cơ bị mất đi và một phần của tế bào cơ bị hoại

tử đổng ihời tâng co thát cơ trirn ớ phế quản, gây liệt cơ hỏ hấp, khi sự suy yêu cơ không còn cục bộ mà xảv ra toàn thân [35 63] Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sự nhiễm độc HCTS nậng hay nhẹ, nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào con đường tiếp xúc và tùy loại HCTS [30, 41, 44] Đối với HCTS lân hữu cơ, nếu tiếp xúc qua đường tiêu hoá thì nhiỏm độc xảy ra rất nhanh, chỉ vài phút sau đã có biêu hiện nhiễm độc [33] và phàn ứng chậm của cơ thè có thể xuất hiện sau 10 hoặc 20 nám như ung thư [72, 107J Sự nhiễm độc có thể xảy ra tại chỗ hoặc xảy ra trên toàn thân, phản ứng tại chỗ là do tác động của HCTS lèn tê bào da té bào ống tiồti hoá và tê bào nhu mô phổi, làm huỷ hoại tế bào tại nơi bị tiếp xúc [35 36 107Ị Nhiẻm độc toàn thân xảy ra khi chất độc được hấp thụ, chuyển hoá và phùn phối đến tất cả các bộ phận của cơ thể, ví dụ HCTS lân hííii cơ tác dụng lên hộ thần kinh phó giao càm và được tích trữ ở gan ớ thận, còn DDT tác dụng vào hệ thần kinh trung ương và tích trữ ở mô

mỡ ị 101 ] Các ánh hướng của IICTvS có thẻ phục hổi như hoạt tính ChE, hoặc không phục hồi như đột biên gen hoặc ung thư, húy hoại tế bào thần kinh hoặc

xơ gan [48 60] Trong nghiẽn cứu độc chất, để đánh giá mức độ nhiễm độc người ta ỉhường thám dò chức nã ne cùa gan và thận vì các phương pháp thảm

dò này đơn gián và chính xác ị47J

1.3.6 HCTS gàv nguy cơ ung th ư

Các ảnh hướng nghiêm trọng của HCTS có thể là tạm thời như buồn nôn tiau đâu và lâu dài như ánh hướng lén thán kinh, gan, thận, hoặc đe dọa

Trang 33

cuộc sông như ung thư Phần lớn các chất gây ung thư cho người đểu gây ung thư cho ít nhất một loài vật Nhưng những chất gáy ung thư trong các thí nghiệm trên các động vật đều chưa được chứng minh trong các nghiên cứu dịch tê học là chất gây ung thư đối với con người, vì chúng ta không thế dùng phương pháp độc chất học đê thử nghiệm trên người Đó cũng là lý do khó khán trong việc khảng định khả năng gây ung thư cho người của các HCTS

Ị 105] Do đó, phòng bảo vệ môi trường California Hoa Kỳ đã đề nghị phương pháp thử nghiệm theo nguyên tắc như trình bày ở hình 1.1

Hình 1.1 Đồ thị tính tiếm năng gây ung thư (theo [116])

Hộ số độ dốc ung thư là giới hạn trên của độ dốc đường thẳng liên quan đến tiếp xúc (liều) đối với xác suất có nguy cơ ung thư Đường thẳng có độ dốc càng lớn, hoặc hệ sô độ dốc ung thư càng lớn, tiềm năng gây ung thư càng lớn

Trèn cơ sở này Voogd và cộng sự (theo [122]) đã nghiên cứu trên chuột cho tiếp xúc với hơi dichlovos ^mg/riV không khí trong hai nãm đã phát hiện tiềm năng gâv ung thư của dichlovos Trong trường hợp này nguy cơ gáy ung

Trang 34

thư cá với ne ười do tiếp xúc với HCTS được dự háo háng cách nhân hệ sô độ đốc ung ihư với liéu đưa vào hàng nám gây nhiễm độc mạn tính Và gánh nặng ung thư của con người trong xã hội đươc tính bàng cách nhân dự háo ung thư với sô' lượng người tiếp xúc Khả năng gây ung thư trên chuột của các loại HCTSđược trình bày trên hảng 1.3.

Báng 1.3 Ảnh hương gây ung thư của các HCTS chính (theo [122]).

Việc đánh giá nguy cơ gảy ung thư trên người của HCTS cần nghiẽn cứu

kỹ vổ mặt dịch tẻ học trên con người và kháng định lại trên động vật thí nghiệm , đế có kết luận đúng đán và thận trọng, vì HCTS đang đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ thực vật nhằm tăng năng suất cây trổng và chống lại các vectơ gày bệnh báo vệ sức khoé cho cộng đổng (99,116]

Trang 35

1.4 Ảnh hướng cuá HCTS lên chức nănịĩ gan, thíỊm và các chi số huyết

Khi trị sô CiOT và GPT trong huyết thanh lãng, đồng thời táng theo (Kì I và giảm lifting protein irong máu, đây là biểu hiện của tốn thương tê bào gan, đưa đến tình trạng suy dinh dưỡng ứ những người bị nhiễm HCTS Ị 107, 124] Nếu bị ngộ độc cấp HCTS thì chức năng gan sẽ giảm đi rất nhanh và giâm thường xuyên, có nghĩa là các chỉ sỏ GOT, CÌPT và GGT tăng quá mức bình thường

Theo Charles Hachet (theo [101]), HCTS rất nguy hiểm đồi với con người vì nó ảnh hưởng đèn cơ chế tẽ bào và tác dụng lên các phân tử protein Protein giữ nhiều chức năng quan trọng khác nhau như: vận chuyển vật chất, tạo hình, xúc tác phân ứng, là kháng thể chống lại vi trùng và virus Vì vậy, khi các protein không hoàn chỉnh về cấu trúc ihì chức năng của nó cũng thay đổi và đưa đến tình trạng mát cân bằng cùa hoạt động sống ị 2 95J Các HCTS gây xung huyết và phù nề gan, thoái hóa tế bào gan, gan bị nhicm mỡ vù có nhiều khòng bào ớ tê bào gan [ 124]

Einzvm cholinesterase là một enzvm có nguồn gòc từ gan, do đó khi gan

bị lổn thương thì sự tổng hợp enzym cholinesterase cũng giám theo 1118J

! KTS làm ciám hoạt tính của en/ym này, làm giảm khả năng thúy phân

Trang 36

acetylcholin của eiizym cholinesterase và gây ứ đọng acetylcholin, dẫn đến gâv độc thần kinh Ị 106, 109, 112] Theo Pascal Dieusaert [118], khi tiếp xúc với HCTS lân hữu cơ thường xuyên và kéo dài làm cho hoạt tính enzym cholinesterase không phục hồi được, sẽ xuất hiện các triệu chứng nhiỗm độc mạn tính Khi đó chỉ cần tiếp xúc với một liều lượng không lớn lấm HCTS cũng có thể gây ngộ độc cấp tính Đó là lý do giải thích cơ chế nhiễm độc cấp tính của HCTS lân hữu cơ [35] Nếu tế b à o gan tổn thương lAu ngày có thể làm

xơ tế bào gan và dẫn đến ung thir gan, viêm gan hoặc rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng 1103, 104]

Thông thường gan là nơi xảy ra phản ứng oxy hóa để chuyển hóa các chất độc thành chất không độc cho cơ thể, nhưng các HCTS lân hữu cơ như parathion, malathion, diazinon được chuyển hóa ở gan lại tạo thành các oxon rất độc cho cơ thể Các oxon kết hợp dễ dàng với enzym choỉinesterase làm enzym này không thể thủy phân được acetylcholin, do đó cơ thể bị nhiễm độc acetylcholin với 3 giai đoạn: giai đoạn muscarin, giai đoạn nicotin và giai đoạn có triệu chứng tổn thương thần kinh trung ương [21, 22, 33, 35, 61] Theo Paul Padovani và Robert Miranda [119] thì Iihiẻm độc HCTS lân hữu cơ

có thổ được xác định sớm, nếu dựa vào sự giảm hoạt tính của enzym cholinesterase Những nghiên cứu tìm hiểu các triệu chứng nhiễm độc m«ạn tính cùa HCTS trên động vật thí nghiệm Yarbrough [86] cho thấy, HCTS vào

cơ thể trước tiên gây rối loạn hệ thống phản ứng oxy hóa, làm ứ đọng các chất chuyển hóa trung gian có hại cho cơ thể, gây thiếu hụt các chất cần thiết, làm

cơ Ihé bị suy nhược Các thí nghiệm trên hải cẩu ở bờ biển Miami của hội các nhà hoá học Mỹ [75] cho thấy HCTS ảnh hưởng lên gan, làm tổn thương các

bản Cùng mục đích trên Street và Shamia (theo [122]) đã thí nghiệm trên chuột thì thấy gan bị nhiỗm mỡ Imai ( theo [122]) đã lập lại thí nghiệm với chuột còn tỉ trắng cho uống Fenthiori 50 mg/kg thê trọriiz/4 ngày một lần trong mội năm đã gây rối loạn bài tiết sắc tố mật

Trang 37

dehydrogenase, acid ascorbic và các enzym khác, nhưng không có dấu hiệu

bilirubin tronẹ máu ị33] hoạt tính của glvcuronidase giảm ở trong gan nhưng lăng trong huyếl (hanh khi chuột cống bị nhiễm paralhion với nồng độ thấp0.25 mg/ngày Nhưng khi thử nghiệm trên chuột với paraoxon và những anticholinesterase khác không thu được kết quả như trôn [69, 82] Khi tiêm vào màng bụng chuột cống một liều 50 mg/kg malathion và 40 mg/kg diazinon thì thấy tăng hoạt tính của phosphoglucometase, glycogen phosphorylase và hexokinase đổng thời giảm hoạt tính của cholinesterase và hàm lượng glycogen trong lê bào, tăng lactose và glucose trong máu [115, 118J Potas và D’Angelo (theo [82]) nhận thấy rằng khi hoạt tính en/ym

thì sẽ kéo theo hiện tượng tan máu, làm gia tăng nồng độ phosphatidyỉcholin trong máu Brezinski cho chuột nhiễm lân hữu cơ Ihấy sự bài liếl catecholamin trong nước tiểu tăng lên cũng giông như trường hựp ở người ( theo [82])

Trong trường hợp thí nghiệm với parathion thì crcatinin trong huyết thanh, creatin phosphokinase và glutamic oxalacetic transaminase (GOT) trong huvết thanh thường tăng cao, và GPT sẽ tãng sau đó, nhưng khi gan có dấu hiệu tổn thương tạm thời thì sẽ tăng đồng thời bilirubin trong huyết thanh và urobilinogen trong nước tiểu [81, 82, 124] Nhiều nhà nghiên cứu [80, 82, 121] đã không giải thích được tại sao sau khi chết do ngộ độc parathion mà hoạt tính enzym cholinesterase vẫn bình thường, mẫu máu được lấy bằng cách

mổ từ thi và đo hoạt tính cholinesterase sau khi chết 12 giờ và nguyên nhân chết được khảng định vì trong dạ dày của từ thi có parathion Thomas B Gaines (theo [82]), đã lộp lại thí nghiệm này vứi chuột cống Irắng nhưng khống thu được kết quà Sau đó Edson và cộnẹ sự (theo [82]) cũnẹ lập lại thí

Trang 38

nehiệm nhưng thát bại Sự thất hại của thí nghiệm đã khỏĩiíi giãi thích được

cơ chê tác đụne cùa en/.vm cholinestcra.sc trong trường hợp nàv

Dressel và cộng sự (iheo 1122Ị) đã Ihí nghiệm trên chó với đia/inon thấy

có sự tâng nồng độ aldolase, glucose, phosphatase kiểm, amylase và lipase trong huyết thanh Điểu này chứng tỏ có sự suy giảm chức náng gan và các tuyên nội tiết [65]

1.4.2 Ảnh hưứng cúa hóa chát trừ sâu lẽn các chi sổ hóa sinh liên quan đến chức nâng thận

Những khảo sát về hóa sinh học, dịch tẽ học của khơa bénh nghể nghiệp thuộc Viện Đại học Nantes 1121] cho thấy HCTS đã gáy rối loạn chức năng thận và tăng tiết nước tiêu, gày tổn thương ống thận và đản đèn hư thận, hệ sô' thanh lọc cùa thận bị biến đỏi do táng creatinin trong huyết thanh Cũng nhir gan, thận là nơi lọc và đào thái chất độc của cơ thế Nêu bị nhiềm độc HCTS chức năng của thận bị rôi loạn và hậu quả là thận hị suy và hư thận [78, 83

101 Ị Koller (theo [ 119]) thí nghiệm trên chó với malathion thì thấy tế bào gốc trong thận bị tổn thư<yng Với một nhóm người thừ nghiệm tự nguyẽn đã dừng carbaryl liều 0.12mg / kg / ngày trong 6 tuẩn thấy rôi loạn chức năng thận, tỷ

sò acid amin / creatinin tăng lèn chứng tỏ có sự tái hấp thu acid amin ở ông thận và rối loạn này khỏng nhìn thấy khi dùng liều ().06mg/kg/ngày [101] 'ITií nghiệm với dia/inon trên chó thấy xuất hiện glucose và albumin trong nước liêu Điều này chứng tỏ có sự suy giâm chức năng tái hấp thu của ống thận, sẽ ãnh hưởng tới sự bài tiết HCTS và kéo đài lác động của chúng trong

Trang 39

VC máu và cơ quan lạo m áu thành phần m áu n&oại vi cũ n g thay đổi, ức chê cơ quan tạo máu làm giám dòng hồng cầu gây thiêu máu Đáv cũng là nguyên nhân gây thiếu máu cư tim, khiến tim phủi co bóp mạnh, nêu Ihường xuvên sẽ đưa đen suy tim không thể phục hổi [35], [86] Một sò HCTS như malthion làm đao lộn hệ miỏn dịch, suy giám sự hình thành kháng the giảm lượng đại thực bào rối loạn hoạt động của tuyến giáp và hạch lympho [97, 101 107J.Trone trường hợp nhiễm độc cấp tính H C T S, xét nghiệm máu cho thấy

có sự ròi loạn cơ chê đông máu và phân giải Fibrin, thời gian máu chảy và máu đông kéo dài, giảm lượng oxyhemoglobin vì thiếu oxyl 115 122Ị Trong một nshiên cứu trên chuột, trone 2 nám cho tiếp xúc với khổng khí có hơi dichlorvos 5mg/m' không khí thấy có sự thav đổi chromatin trong tế bào gốc cùa huyết cáu

D’Angelo (theo [122]) cho ràng khi hoạt tính enzym choi inesterase trong huyết thanh giám từ 40 - 60% thì sẽ kéo theo hiện tượng tan máu, làm gia tăng nồng độ phosphatidylcholin Hiện tượng này là do tác đỏng irực tiếp của HCTS lẽn quá trình chuyển hóa hổng cầu Thiêu máu do nhiễm độc HCTS là tình trạng thiếu máu do HCTS làm suy giảm chức nàng gan, thận, chức năng của tuyên yên và do thiếu protein trong huyết thanh và các nguyẻn liệu tạo máu [81 82, 122], lượng huyết sắc lố giám, giảm yếu tô kích thích lạo máu erythropoietin Ị33 67]

Như dã nói ở trên, nhiẻm độc HCTS làm rối loạn chức năng của các tuyến sinh dục, gây thiêu hụt các horm on sinh dục nam và nữ, VI các horm on này có lác dựng tàng cường chất tạo máu, do đó đã dản đến tình trạng thiêu máu [49, 117 Ị Như vảy, tác dụng gây thiêu máu của HCTS không những tác động trực tiếp lên tế bào máu và cơ quan tạo máu mà còn chịu tác động đo sự suy giảm chức nãnụ của thận, tuvến vôn và tuyên nội tiết

Vì vậy việc phục hổi trị sô bình thường của các tế bào máu và huyết sắc

tố là sự phổi hơp điều trị đồng hộ và làu dài [60 75 122]

Trang 40

1.5 Tác dụng dưực lý cùa các thuoc phòng và diêu trị nhiẻm độc hóa chất trừ sâu

1.5.1 Đói với nhicm độc hóa chất trừ sàu lân hữu c ơ

Như chúng ta đà biết HCTS lân hữu cơ gây cường hệ cholinergic với các triệu chứng: buồn nôn, tím tái, đổ mổ hòi, chảv nước mat, sùi bọt mép, chuột rúl co đổng từ, huyết áp giám, tiết dịch kèm iheo co thát phê quản đẫn đến khó thớ dạng hen, và uiòng phù phổi cấp do đó nguyên tác điều trị chủ yêu là

ức chế hệ phó giao cám Đây là phương pháp cổ điển, nhưng vẫn còn nguvên giá trị

Ngay sau động tác hồi sức hô hấp, nghía là sau khi bệnh nhán bớt tím lái, phải tiến hành tiôm sulfat atropin liều cao từ 2 - 4 mg vào tĩnh mạch, cứ 10 -

30 phút tiêm một lán cho đến khi da mặt hết tím tái, phải theo dõi giãn đổng

tử Atropin có lác đụng lèn các triệu chứng nhiễm độc muscarin và làm giảm hiệu quả gây dộc của acetylcholin đối với thần kinh trung ương, nhưng không

có tác dụng lứn các triệu chứng nhiễm độc aicotin Phải tiêm sui fat atropin cho đén khi các triệu chứng trôn biến mất (khoáng từ 24 đôn 48 giờ), nên thận trọng khi dùng, vì nếu quá liều sẽ gây nhiễm độc atropin với triệu chứng

ngược lại triệu chứng muscarin [7, 8 35, 4 6 ].

Oxim là loại thuốc điều trị phục hồi hoạt tính enzym cholinesterase, tác dụng đặc hiệu này bổ sung cho atropin, loại thông dụng nhất là 2-Pam (iodomethylat de pyridin-2-aldoxim) Ở Châu Âu, người ta Ihường dùng là sulfomethylat d'alpha-pyridyladoxim hav còn gọi là pralidoxim bán ra thị trường với tên contrathion (7676 R D) đóng lọ chứa 200 mg dạng bột pha trong dung dịch đắng trương NaCl tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da, tiẽm bẩp hay uống tùy theo tình trạng nhiễm độc nặng hay nhẹ [35,69 88ị

Mũi tiêm đáu tiên 200 - 400 mg tiêm tĩnh mạch lml/phút hoặc truyền tĩnh mạch nhỏ giọt pha trong duntí dịch glucose hoặc NaCI đảng trươnu irong

20 phút Sau 20 - 30 phút, tiêm mũi thứ 2 cũng cùng liều lượng như mũi tiêm

Ngày đăng: 15/09/2020, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w